1 CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TỚI TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CỔ PHIẾU NIÊM YẾ T TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.... Các yếu tố tác động tới tính thanh kho
Trang 1-o0o -LUẬN VĂN THẠC SĨ
TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TỚI TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CỔ PHIẾU NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
NGUYỄN MẠNH LINH
Trang 3-o0o -LUẬN VĂN THẠC SĨ
TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TỚI TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CỔ PHIẾU NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Ngành: Tài chính – Ngân hàng – Bảo hiểm Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
Họ và tên: Nguyễn Mạnh LinhNgười hướng dẫn: GS TS Nguyễn Thị Mơ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC HÌNH VẼ BẢNG BIỂU v
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU vi
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TỚI TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CỔ PHIẾU NIÊM YẾ T TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 7
1.1 Khái niệm, nguyên tắc, vai trò của công bố thông tin trên Thị trường chứng khoán và phân loại thông tin được công bố 7
1.1.1 Khái niệm, nguyên tắc và vai trò của công bố thông tin trên Thị trường Chứng khoán 7
1.1.2 Phân loại thông tin được công bố 14
1.2 Tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của cổ phiếu niêm yết trên Thị trường Chứng khoán 15
1.2.1 Khái niệm và đặc tính của tính thanh khoản của cổ phiếu niêm yết 15
1.2.2 Các yếu tố tác động tới tính thanh khoản của cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán 18
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ PHÂN TÍCH NHỮNG TÁC ĐỘNG TỚI TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CỔ PHIẾU NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 27
2.1 Thực trạng công bố thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2010 cho đến nay 27
2.1.1 Những mặt đạt được 27
2.1.2 Những mặt hạn chế 30
Trang 62.3 Kiểm chứng tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của các
cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 40
2.3.1 Chỉ số đo lường mức độ công bố thông tin trên Báo cáo tài chính thường niên 40
2.3.2 Giả thiết khoa học 47
2.3.3 Mô hình kinh tế lượng 48
2.3.4 Mẫu nghiên cứu và mô tả dữ liệu 49
2.3.5 Thống kê mô tả các biến của mô hình 50
2.3.6 Tương quan giữa các biến 51
2.3.7 Kết quả hồi quy mô hình 52
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 56 3.1 Dự báo về sự phát triển của Thị trường Chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới 56
3.1.1 Căn cứ thứ nhất: Tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức 56
3.1.2 Căn cứ thứ hai: Khung pháp luật Việt Nam về công bố thông thông tin trên thị trường chứng khoán 58
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công bố thông tin nhắm nâng cao tính thanh khoản của cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 66
3.2.1 Giải pháp đối với Nhà nước 66
3.2.2 Giải pháp đối với Sở Giao dịch Chứng khoán : Xây dựng bộ chỉ số minh bạch thông tin đối với công ty niêm yết 71
3.2.3 Giải pháp tăng khả năng thực thi của cơ quan quản lý thị trường 71 3.2.4 Giải pháp đối với công ty niêm yết 72
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC vii
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực
và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thựchiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đượcchỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2017
Học viên thực hiện
Nguyễn Mạnh Linh
Trang 85 CTNY Công ty niêm yết
6 DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
7 DNNY Doanh nghiệp niêm yết
8 ETF Quỹ đầu tư chỉ số
9 FED Cục dự trữ liên bang Mỹ
10 GTGD Giá trị giao dịch
11 HNX Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
12 HOSE/HSX Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
13 IDS Hệ thống Công bố thông tin Chứng khoán
14 IPO Phát hành cổ phiếu ra công chúng
15 IR Quan hệ nhà đầu tư
16 KLGD Khối lượng giao dịch
17 M&A Hoạt động sáp nhập và hợp nhất
18 MD&A Báo cáo phân tích quản trị
19 MQI Chỉ số chất lượng thị trường
20 MSS Hệ thống Quản lý giám sát thị trường chứng khoán tự động
21 NĐ-CP Nghị định Chính phủ
22 NĐT Nhà đầu tư
23 NĐTNN Nhà đầu tư nước ngoài
24 NYSE Sở giao dịch chứng khoán New York
25 R&D Nghiên cứu và Phát triển
26 ROA Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
27 ROE Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
28 SGDCK Sở Giao dịch chứng khoán
29 SXKD Sản xuất kinh doanh
30 TT-BTC Thông tư Bộ tài chính
31 TTCK Thị trường Chứng khoán
32 UBCKNN Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
33 UPCoM Thị trường chứng khoán của các công ty đại chúng
34 VAFE Hiệp hội Các nhà quản trị tài chính Việt Nam
35 VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ BẢNG BIỂU Bảng (Biểu) Tên Bảng (Biểu) Trang
Hình 2.1 Tỷ lệ các Doanh nghiệp niêm yết hoàn thành tốt
Hình 2.2
Thống kê các doanh nghiệp vi phạm về công bố thông tin Báo cáo tài chính giai đoạn quý 3/2015 – quý 2/2016
Bảng 2.7 Kết quả kiểm định đa cộng tuyến của mô hình 53Bảng 2.8 Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi 53Bảng 2.9 Kết quả kiểm định phương sai số là phân phối chuẩn 53Bảng 2.10 Kết quả kiểm định thiếu biến 54
Trang 10TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Để thực hiện để tài: “Tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản
của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, tác giả đã
làm rõ một số vấn đề lý luận về cổ phiếu niêm yết (như khái niệm, đặc điểm và vaitrò của cổ phiếu niêm yết…); về tính thanh khoản của cố phiếu niêm yết và sự cầnthiết phải công bố thông tin đối với cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán;Tác giả đã phân tích thực trạng hoạt động công bố thông tin thể hiện qua Báo cáotài chính thường niên của các công ty niêm yết niêm yết trên thị trường chứngkhoán Việt Nam và thực trạng thanh khoản của cổ phiếu các công ty giai đoạn từnăm 2010 cho đến nay; đồng thời sử dụng giả thuyết, chỉ số chấm điểm mức độcông bố thông tin của tác giả Botosan (1997) và mô hình hồi quy của các tác giảEspinosa, Tapia và Trombetta (2005) để phân tích định lượng về tác động của công
bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứngkhoán Việt Nam năm 2016
Mô hình của Espinosa, Tapia và Trombetta (2005) là mô hình hồi quy gồm 05biến, đó là: Biến phụ thuộc Chênh lệch giá mua – giá bán đại diện cho tính thanhkhoản của cổ phiếu; Biến độc lập Chỉ số mức độ công bố thông tin trên Báo cáothường niên của Botosan (1997); và 03 biến kiểm soát: Biến động thu nhập từ cổphiếu hàng ngày, Khối lượng giao dịch hiệu quả trung bình ngày và Quy mô doanhnghiệp
Mô hình hồi quy cho thấy hoạt động công bố thông tin có tác động tích cực tớitính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Mô hình giải thích được 74,50% sự phụ thuộc của Chênh lệch giá mua – giá bán bởicác biến độc lập Trên cơ sở phân tích tác động của công bố thông tin tới tính thanhkhoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận văn
đã đề xuất giải pháp đối với Nhà nước, đối với Sở Giao dịch Chứng khoán và đốivới công ty niêm yết để nâng cao hiệu quả hoạt động công bố thông tin của cáccông ty niêm yết nhằm nâng cao tính thanh khoản của của các cổ phiếu trên thịtrường chứng khoán Việt Nam
Trang 11LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch tạo tính thanh khoản chochứng khoán Tất cả các tiêu chuẩn niêm yết liên quan đến quy mô doanh nghiệp,quy mô vốn, nghĩa vụ công bố thông tin, chế độ quản trị công ty đều là những tiềnđề đảm bảo cho tính thanh khoản của chứng khoán Thanh khoản chính là mục tiêuquan trọng nhất đối với các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, vì thanh khoảntốt đồng nghĩa với khả năng thu hút được nhà đầu tư quan tâm bỏ tiền vào các cơhội đầu tư để kiếm lời trên thị trường Nhờ đó, doanh nghiệp mới có khả năng huyđộng vốn khi cần thiết Đồng thời, thanh khoản tốt cũng là cơ sở để nhà đầu tư lựachọn đầu tư chứng khoán như một phương tiện tích lũy tài sản dài hạn
Trong các yếu tố tác động tới tính thanh khoản của một cổ phiếu trên thịtrường, công bố thông tin là yếu tố thuộc quyền chủ động của lãnh đạo doanhnghiệp Hai tác giả là Robert Daines và Charles M Jones đã đưa ra bằng chứngchứng minh rằng quy định về công bố thông tin bắt buộc trong Luật Thị trườngchứng khoán của Mỹ năm 1934 làm giảm chênh lệch giá mua – giá bán (bid-askspread – một chỉ tiêu đo lường tính thanh khoản) của các cổ phiếu trên thị trườngchứng khoán Mỹ (Robert Daines, Charles M Jones, 2007, tr 26)
Luật Chứng khoán của Việt Nam năm 2006 (sửa đổi bổ sung năm 2010) vàThông tư số 155/2015/TT-BTC đã có những quy định và hướng dẫn công bố thôngtin trên thị trường chứng khoán Tuy vậy, do các doanh nghiệp Việt Nam đa phầnchỉ thấy các bất lợi khi công bố thông tin nên quá trình minh bạch hóa thông tin gặpnhiều trở ngại Điều này dẫn đến tình trạng bất cân xứng thông tin giữa doanhnghiệp và thị trường, làm tăng rủi ro mà các nhà đầu tư phải chịu khiến họ ngầnngại khi ra quyết định mua hoặc bán các mã cổ phiếu, do đó tính thanh khoản của
các cổ phiếu không cao Từ thực tiễn trên, tôi đã chọn và nghiên cứu vấn đề: “Tác
động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm đề tài cho Luận văn Thạc sĩ của mình.
Trang 122 Tình hình nghiên cứu
2.1 Ở nước ngoài
Công bố thông tin trên thị trường chứng khoán từ lâu đã nhận được sự quantâm của các học giả tài chính trên thế giới Vì vậy, có nhiều công trình nghiên cứuvề vấn đề này Cụ thể:
Tác giả George A Akerlof đã chỉ ra rằng công bố thông tin làm giảm tìnhtrạng thông tin bất cân xứng, giúp thu hẹp khoảng cách giữa các nhà đầu tư và nhàquản lí của công ty (George A Akerlof, 1970, tr 488 – tr 500) Tuy vậy, lợi ích vềlượng của công bố thông tin nói chung và tác động tích cực của công bố thông tinđến tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán nóiriêng vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi
Nhiều tác giả đã chọn tiếp cận vấn đề này bằng cách sử dụng các công cụ toáncao cấp và xác suất thống kê toán Lâu đời nhất và thường được các tác giả sau nàytrích dẫn có thể kể đến nghiên cứu của Amihud và Mendelson (1986) và Diamond
và Verrecchia (1991) và gần đây có nghiên cứu của Pagano và Volpin (2008) Bằngviệc xây dựng mô hình toán, các tác giả trên đã đi đến kết luận, về mặt lí thuyết,rằng việc công bố thông tin góp phần minh bạch hóa thông tin, làm giảm tình trạngthông tin bất cân xứng, tăng tính thanh khoản của cổ phiếu, qua đó giúp làm giảmchi phí vốn cổ phần cho doanh nghiệp
Sang thế kỷ XXI, với sự phát triển mạnh của phương pháp kinh tế lượng,nhiều tác giả đã xây dựng các Mô hình hồi quy dựa trên mô hình lí thuyết của cáctác giả trên và kiểm chứng bằng số liệu thực tế tại nhiều thị trường chứng khoánkhác nhau Trong các nghiên cứu này có bài báo của Heflin, Shaw và Wild (2000)kiểm chứng bằng số liệu cung cấp bởi ISSM (Institute for the Study of SecurityMarkets) năm 1988-1989 Năm 2005, ba tác giả là Espinosa, Tapia và Trombetta(2005) đã dùng số liệu của thị trường chứng khoán Tây Ban Nha từ năm 1994 đếnnăm 2000 để phân tích Bài báo của của Daines và Jones (2007) về tác động củađiều khoản công bố thông tin bắt buộc trong Luật Thị trường chứng khoán năm
1934 của Mỹ tới tính thanh khoản của các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Trang 13Mỹ Công trình nghiên cứu của Loukil và Yousfi (2011) sử dụng số liệu thị trườngchứng khoán Tunisy năm 2007, và bài viết của Laidroo (2014) kiểm chứng bằng sốliệu của các thị trường chứng khoán Tallinn (Estonia), Riga (Latvia), và Vilnius(Lithuania) từ năm 2000 đến năm 2006 và nghiên cứu của Kuo và Lin (2014) ở thịtrường chứng khoán Đài Loan từ năm 2006 đến năm 2008 Các nghiên cứu này đềutìm ra bằng chứng thực tế để chứng minh về những tác động tích cực của công bốthông tin lên tính thanh khoản của cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán.Bên cạnh đó, một số tác giả khi kiểm chứng số liệu thu thập được qua mô hìnhkinh tế lượng đã thu được kết quả là công bố thông tin không có tác động đáng kểhoặc không đủ độ tin cậy để kết luận công bố thông tin tác động tích cực lên tínhthanh khoản của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán như nghiên cứu củaAscioglu, Hegde và McDermott (2005) từ số liệu của thị trường chứng khoán NewYork (NYSE) và nghiên cứu của Bischof và Daske (2013) về cổ phiếu của các ngânhàng Châu Âu năm 2011 Tuy nhiên, chưa có công trình nào phân tích về tác độngcủa công bố thông tin đối với tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên Thịtrường Chứng khoán Việt Nam.
2.2 Ở trong nước
Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về sự cần thiết của công bố thông tintrên thị trường chứng khoán, như nghiên cứu của các tác giả Đoàn Nguyễn TrangPhương (2010), Lê Thị Trúc Loan (2012) và Phạm Thị Thu Đông (2013) phân tíchvề các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêmyết trên thị trường chứng khoán Ngoài ra có bài báo của Tiến sĩ Nguyễn Thị BíchLoan và Thạc sĩ Nguyễn Gia Đường (2013) về tính cấp thiết của minh bạch thôngtin trên thị trường chứng khoán Việt Nam và bài báo của Phó Giáo sư, Tiến sĩNguyễn Việt Dũng (2014) về kiểm định tác động của công bố thông tin tới chi phívốn cổ phần tại Việt Nam Tuy nhiên, cũng chưa có công trình hay bài viết nào phântích về tác động của công bố thông tin đối với tính thanh khoản của các cổ phiếuniêm yết trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam
Trang 14Tóm lại, hiện nay ở trong nước và trên thế giới chưa có công trình nghiên cứu
cụ thể về những tác động của công bố thông tin đến tính thanh khoản của các cổphiếu niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là: Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận vềcông bố thông tin, về tính thanh khoản của cổ phiếu, đề tài phân tích về những tácđộng cũng như chỉ ra bằng chứng khoa học về tác động của công bố thông tin tớitính thanh khoản của cổ phiếu, đồng thời tìm kiếm giải pháp thúc đẩy các công tyniêm yết tăng cường hoạt động công bố thông tin nhằm nâng cao tính thanh khoảncủa các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn phải
thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về cổ phiếu niêm yết (như khái niệm, đặc điểm
và vai trò của cổ phiếu niêm yết…); về tính thanh khoản của cố phiếu niêm yết và
sự cần thiết phải công bố thông tin đối với cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứngkhoán;
- Phân tích về những tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản củacác cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán
- Phân tích thực trạng hoạt động công bố thông tin thể hiện qua báo cáo tàichính thường niên của các công ty niêm yết niêm yết trên thị trường chứng khoánViệt Nam và kiểm chứng mối quan hệ và mức độ tác động của công bố thông tin tớitính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công bố thông tin của cáccông ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam nhằm nâng cao tính thanhkhoản của của các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến tính thanh
Trang 15khoản của cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán, kiểm chứng mối quan hệ
và mức độ tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếuniêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Đối tượng nghiên cứu của đề tài còn bao gồm chính sách phát triển thị trườngchứng khoán của Đảng và Nhà nước ta và các quy định của pháp luật về thị trườngchứng khoán, về cổ phiếu niêm yết và về minh bạch hóa trong việc công bố thôngtin đối với cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Công bố thông tin là hoạt động có nhiều nội dung liênquan đến sự minh bạch, tính công khai trong các thông tin về thị trường chứngkhoán, về cổ phiếu niêm yết Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, nội dungđề tài giới hạn ở việc nghiên cứu về thực trạng công bố thông tin của các công tyniêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thể hiện qua báo cáo tài chínhthường niên và kiểm chứng tác động của công bố thông tin trên trên báo cáo tàichính thường niên tới tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trườngchứng khoán
- Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu về các cổ phiếu niêm yết trênthị trường chứng khoán Việt Nam
- Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu thông tin dữ liệu và số liệu tronggiai đoạn từ năm 2010 (thời điểm Bộ Tài chính ra Thông tư 09/2010/TT-BTChướng dẫn về việc công bố thông tin trên Thị trường Chứng khoán, ban hành ngày15/01/2010 có hiệu lực từ ngày 01/03/2010) cho đến nay, trong đó số liệu năm 2016được sử dụng để chạy mô hình hồi quy kiểm chứng mối quan hệ và mức độ tácđộng của công bố thông tin tới tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thịtrường chứng khoán Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn đã sử dụng cácphương pháp nghiên cứu sau đây:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết trong đó sử dụng phương phápphân tích, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp tổng hợp và luận giải;
Trang 16- Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các
số liệu điều tra thu được
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài hiệu tham khảo và các phụ lục,nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về tác động của công bố thông tin tới tínhthanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán
Chương II: Thực trạng công bố thông tin và phân tích những tác động tới tínhthanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công bố thông tin của cáccông ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TỚI TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CỔ PHIẾU NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1 Khái niệm, nguyên tắc, vai trò của công bố thông tin trên Thị trường chứng khoán và phân loại thông tin được công bố.
1.1.1 Khái niệm, nguyên tắc và vai trò của công bố thông tin trên Thị trường Chứng khoán.
1.1.1.1 Khái niệm về hoạt động công bố thông tin trên Thị trường Chứng khoán
Công bố thông tin là quá trình các tổ chức tham gia trên TTCK đưa ra các thôngtin về hoạt động của doanh nghiệp, hoạt động của thị trường, các thông tin khác cóthể ảnh hưởng tới giá chứng khoán cho các nhà đầu tư thông qua các phương tiệnthông tin đại chúng, ấn phẩm của tổ chức, công ty và các phương tiện thông tin của
Sở giao dịch chứng khoán nhằm đảm bảo sự công bằng của giá chứng khoán và bảo
1.1.1.2 Nguyên tắc của hoạt động công bố thông tin trên Thị trường Chứng khoán
Cho dù các công ty niêm yết nhận thấy được tầm quan trọng về lợi ích của việccông bố thông tin nhưng các công ty này không được phép công bố thông tin mộtcách tùy tiện về hình thức, thời gian, địa điểm… Ngược lại, hoạt động công bố thôngtin khi đã trở thành nghĩa vụ và tập quán trong kinh doanh sẽ cần tuân thủ một số
Trang 18nguyên tắc nhất định Việc đề ra các nguyên tắc và tiêu chí mang tính chuẩn tắctrong hoạt động công bố thông tin trên TTCK, kể cả đối với thông tin của doanhnghiệp niêm yết lẫn thông tin thị trường, là nhằm đảm bảo và duy trì lòng tin củacác nhà đầu tư khi họ tham gia TTCK Các nguyên tắc đó là:
- Nguyên tác đảm bảo tính chính xác, trung thực và đầy đủ trong các thông tin được công bố
Đây là yêu cầu cơ bản đầu tiên của việc công bố thông tin Điều này đòi hỏi tổchức thực hiện và công bố thông tin phải tôn trọng tính trung thực vốn có của thôngtin, không được xuyên tạc, bóp méo thông tin được công bố, hoặc có những hành vi
cố ý gây hiểu nhầm thông tin Các thông tin được công bố, đặc biệt là công bố thôngtin từ các doanh nghiệp niêm yết là căn cứ cho hành vi mua bán của nhà đầu tư trênthị trường, là một trong những vấn đề đảm bảo sự công bằng trong việc hình thànhgiá cổ phiếu
Ngược lại, những thông tin thuộc loại tin đồn sẽ có mức độ chính xác và độ tincậy thấp nhất Những nhà đầu tư mua bán chứng khoán theo tin đồn sẽ mang rủi rocao do mức độ tin cậy thấp của các thông tin đó
Nguyên tắc này được tuân thủ dựa trên cơ sở một danh mục các thông tinđược đánh giá là quan trọng và cần được cung cấp Nói cách khác, công ty niêm yết
có nghĩa vụ phải cung cấp tất cả các thông tin được xem là có thể ảnh hưởng tớinhận định của nhà đầu tư đối với triển vọng của doanh nghiệp những thông tin và
sự kiện như vậy bao giờ cũng được quy định chặt chẽ trong luật chứng khoán và cácquy định pháp luật về công bố thông tin
Một số thông tin quan trọng cung cấp định kỳ dưới dạng tài liệu phải đượckiểm tra kỹ để đảm bảo tính chính xác Ví dụ, đó là những thông tin về các khoảnmục trên bản báo cáo tài chính, đặc biệt là các khoản mục nằm ngoài bảng cân đối
kế toán, những thay đổi trong định giá các hợp đồng giao dịch trên thị trường, các
dự án đầu tư Ngoài ra để đảm bảo tính chính xác, trung thực, thông tin công bố cònphải được trình bày rõ ràng, không gây hiểu lầm hoặc đánh lừa người đọc Về mặtnguyên tắc, các công ty niêm yết phải cung cấp các thông tin quan trọng về doanhnghiệp mình một cách đầy đủ nhất để từ đó nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết
Trang 19định đầu tư chính xác và chịu hoàn toàn trách nhiệm về quyết định của mình Tuyvậy, luôn tồn tại sự mâu thuẫn về lợi ích giữa doanh nghiệp niêm yết và nhà đầu tư
về mặt công bố thông tin Các công ty thường không muốn công bố các thông tin bímật của ban quản trị và ngược lại, các nhà đầu tư lại muốn biết các thông tin nàycàng nhiều càng tốt Vì vậy, các thông tin được công bố phải chính xác, phải đượccông bố kịp thời ngay cả khi thông tin đó gây bất lợi cho công ty niêm yết
Về mặt lý thuyết, các cơ quan quản lý thị trường được quyền kiểm tra, xem xétnội dung các thông tin này trước khi công bố ra công chúng, như vậy nhà đầu tư sẽgiảm thiểu được rủi ro khi mua chứng khoán Tuy vậy, về mặt thực tế, các cơ quannày không thể đánh giá được chất lượng của tất cả các loại chứng khoán Vì vậy, nhàđầu tư phải chịu hoàn toàn mọi rủi ro với quyết định đầu tư của mình khi dựa vàocác thông tin được công bố Ở đây vai trò của các chuyên gia trong lĩnh vực phântích chứng khoán như các tổ chức đầu tư, định mức tín nhiệm, công ty phân tích tàichính sẽ rất quan trọng
- Nguyên tắc công bố thông tin kịp thời, liên tục
Trong những năm gần đây, nguyên tắc này được đặc biệt chú trọng Điều này
có nghĩa là thông tin phải được công bố liên tục, không ngừng, bao gồm cả nhữngthông tin đột xuất và thông tin định kỳ, liên quan đến tổ chức niêm yết và các thôngtin bất thường Nói cách khác, công bố thông tin phải đảm bảo được tính kịp thờicủa thông tin được công bố, hay có thể hiểu là công bố thông tin ngay lập tức, càngsớm càng tốt, khi có sự kiện liên quan đến công ty niêm yết
Công bố thông tin định kỳ thông thường được quy định trong luật chứngkhoán hoặc trong các quy định về niêm yết chứng khoán, chẳng hạn như quy định
về công bố thông tin trong báo cáo tài chính quý, năm Những thông tin đôi khi đikèm cả những báo báo về các cuộc họp, thảo luận, nhận định, phân tích tình hìnhcủa ban điều hành công ty, do vậy những thông tin này cũng phải được công bố.Việc công bố thông tin định kỳ phải đảm bảo được tuân thủ về mặt thời gian theoquy định, không được để gián đoạn tuy nhiên nguyên tắc này còn có nghĩa là một
số thông tin có thể được công bố sau một khoảng thời gian hoặc không công bố khi
Trang 20quy định pháp luật cho phép, ví dụ như các thông tin có ảnh hưởng đến an ninhquốc gia.
Việc công bố thông tin sẽ giúp tránh tình trạng thông tin bất cân xứng cho cácnhà đầu tư, giảm bớt các vi phạm về giao dịch ngầm bất hợp pháp có thể xảy ra Với
ý nghĩa đó, việc công bố thông tin đúng hạn đóng vai trò quan trọng, thể hiện sựkhách quan của công bố thông tin Vì vậy thông thường các Sở giao dịch giao dịchchứng khoán yêu cầu các công ty niêm yết phải công bố thông tin về doanh nghiệpmình càng sớm càng tốt
- Nguyên tắc đảm bảo tính công bằng
Theo nguyên tắc này, các thông tin phải được công bố rộng rãi cho công chúngnhà đầu tư Nhà đầu tư phải được có cơ hội tiếp cận như nhau đối với các thông tintrên thị trường chứng khoán Tổ chức công bố thông tin không được cung cấp thôngtin cho một số nhà đầu tư riêng biệt hoặc các bên lợi ích khác trước khi công bốrộng rãi ra công chúng Các trường hợp ngoại lệ chỉ áp dụng khi cung cấp thông tincho các nhà tư vấn đầu tư hoặc các công ty định mức tín nhiệm hoặc công bố thôngtin cho đối tác mà doanh nghiệp đang có ý định hợp tác trong hoạt động đầu tư, sảnxuất, kinh doanh Trong trường hợp này, bên nhận thông tin phải có trách nhiệm bảomật các thông tin đó
Để thực hiện được nguyên tác này, bên cung cấp thông tin phải sử dụng nhữngloại phương tiên công bố nhằm giúp người sử dụng thông tin có thể tiếp cận nhanhchóng và dễ dàng mọi thông tin cần thiết Mọi hoạt động của nhà đầu tư trên thịtrường đều dựa trên các thông tin công bố Do vậy, khi thiết kế hệ thống thông tin,việc phân loại người sử dụng cũng như loại và phạm vi thông tin mà người sử dụngđược tiếp cận là rất cần thiết nhằm tránh xảy ra tình trạng gián đoạn hoạt động củathị trường do việc sử dụng và tiếp cận thông tin một cách bất hợp pháp và khôngcông bằng
- Nguyên tắc về trách nhiệm của bên công bố thông tin
Trang 21Đây được hiểu là việc tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin của các tổ chứccung cấp thông tin Khi đó, các tổ chức thực hiện công bố thông tin phải đảm bảotôn trọng các nguyên tắc của hoạt động công bố thông tin như thông tin chính xác,liên tục, có khả năng giải thích về các thông tin công bố và phải hoàn toàn chịu tráchnhiệm về thông tin do mình công bố Trong một số trường hợp, một số tổ chức cụthể được định rõ có thể phải chịu trách nhiệm liên đới đối với các thông tin đượccông bố.
1.1.1.3 Vai trò và sự cần thiết phải công bố thông tin trên Thị trường Chứng khoán
Sự cần thiết phải công bố thông tin trên TTCK được giải thích bởi việc công bốthông tin không chỉ giúp các nhà đầu tư yên tâm mà còn giúp cơ quan Nhà nước cóthể kiểm tra và giám sát hoạt động công bố thông tin, hướng hoạt động công bốthông tin phát triển lành mạnh và tích cực Công bố thông tin là cần thiết, bởi vì vaitrò của hoạt động công bố thông tin trong sự vận hành của TTCK là rất quan trọng,
nó như chiếc cầu nối thông tin giữa nhà phát hành với công chúng đầu tư, các thôngtin này sẽ là cơ sở để các nhà đầu tư ra quyết định sẽ đầu tư vào lĩnh vực nào Và nócũng giúp ngăn chặn các hành vi tiêu cực trên TTCK do thông tin bất cân xứng tạo ra.Việc công bố thông tin là cần thiết được giải thích bởi các tổ chức chào bán vàcông ty niêm yết sẽ phải cung cấp nhiều tài liệu cần thiết về bản thân công ty để cácnhà đầu tư có thể xác định giá trị của công ty và đưa ra quyết định đầu tư đúng đắntrên TTCK, các yếu tố ảnh hưởng tới giá chứng khoán là: Giá trị công ty, các điều kiệnthị trường, yếu tố kinh tế vĩ mô, yếu tố tâm lý nhà đầu tư và yếu tố ngẫu nhiên (dothiên tai gây ra) Về lâu dài, giá chứng khoán chịu sự chi phối của giá trị công ty Mộtcông ty ngay cả khi có tình trạng tài chính tốt, khả năng sinh lời cao nhưng giá chứngkhoán của công ty vẫn thấp nếu thông tin của công ty không được công bố đầy đủ,
do nhà đầu tư không thể tiếp cận những thông tin cần thiết để đưa ra những quyếtđịnh đầu tư Thực tế, các công ty phát hành thường không muốn công bố nhữngthông tin xấu, đặc biệt là các công ty ở những thị trường mới nổi vì vậy, công bố
Trang 22thông tin là một trách nhiệm của các nhà phát hành và các tổ chức niêm yết trongviệc cung cấp mọi thông tin, cả tốt và xấu.
Sự cần thiết phải công bố thông tin còn được giải thích bởi vai trò quan trọngcủa công bố thông tin
Công bố thông tin có vai trò quan trọng đối với các tổ chức, cá nhân tham giathị trường và có tác dụng thúc đẩy TTCK phát triển Cụ thể:
- Đối với công tác quản lý thị trường
Công bố thông tin giúp cho các tổ chức công bố thông tin một cách chính xác:Thông tin công bố ra chủ yếu nhằm phục vụ các nhà đầu tư, việc công bố các thôngtin định kỳ, bất thường sẽ giúp các nhà đầu tư có cách nhìn đầy đủ và khách quanhơn về các khoản đầu tư của mình
Công bố thông tin là công cụ quản lý gián tiếp có tác động trở lại trong việcquản lý: Hoạt động công bố thông tin còn là công cụ gián tiếp có tác động quản lýcác công ty niêm yết từ chính các thông tin công bố Tính công bằng và các mặt tráicủa thị trường thể hiện ngay trong các số liệu mà các công ty niêm yết hay các công
ty phát hành công bố Việc công bố các thông tin của công ty đại chúng là điều kiệnbắt buộc Các thông tin đó chính là tình hình hoạt động của công ty, doanh thu, lợinhuận, kế hoạch phát triển… Do vậy việc công bố thông tin chính là công cụ chophép các công ty đại chúng thực hiện nghĩa vụ của mình, nhằm duy trì nguyên tắctrong thị trường một cách hiệu quả
Công bố thông tin giúp theo dõi liên tục quá trình phát triển của các tổ chức:các tổ chức chào bán, công ty chứng khoán luôn luôn giữ lại các số liệu về tình hìnhphát triển, giúp cho công ty hay tổ chức có thể đáp ứng được các đòi hỏi của côngchúng đầu tư hay thị trường giao dịch chứng khoán trong mọi lúc Các số liệu đó còn
có thể tổng hợp để đưa ra thành các thông tin có tính hỗ trợ quyết định và đánh giá
sự phát triển của tổ chức, các loại chứng khoán trong quá khứ, hiện tạo và tương lai
Trang 23Công bố thông tin góp phần đáp ứng nhu cầu thông tin của nhà đầu tư: Việccông bố thông tin của tổ chức phát hành mang tính chất nghĩa vụ, nếu chúng ta biếttận dụng khả năng của hệ thống thông tin một cách hiệu quả, gián tiếp đã tạo ra các
cơ hội cho các nhà đầu tư cũng như tạo điều kiện phát triển cho tổ chức phát hành,nhà đầu tư có thể nhanh chóng hiểu được khả năng hoạt động của công ty, xuhướng và cơ hội phát triển để đầu tư vào chính công ty đó Sự đa dạng hóa hoạtđộng công bô thông tin giúp cho các nhà quản lý, nhà đầu tư có nhiều cách nhìnnhận và kiểm tra, giám sát khác nhau đối với các công ty niêm yết
Công bố thông tin góp phần báo cáo nhanh chóng tình hình hoạt động theođịnh kỳ: Hoạt động công bố thông tin sẽ đảm bảo cho phép các công ty niêm yết cókhả năng công bố thông tin về hoạt động của mình theo định kỳ Vì vậy, nếu xâydựng được các tiêu chuẩn cho các thông tin công bố thì có thể nhanh chóng hệthống hóa được các yêu cầu thông tin, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chứcphát hành công bố thông tin của mình một cách nhanh chóng, thuận tiện nhất đảmbảo tính chính xác của dữ liệu thông tin
- Đối với nhà đầu tư
Công bố thông tin đảm bảo cho các NĐT nhận được thông tin một cách chínhxác: Hoạt động công bố thông tin sẽ đảm bảo thông tin chính xác đến được với nhàđầu tư Nhà đầu tư luôn cần các thông tin cần thiết cho các dự báo, phỏng đoán đểnắm bắt thị trường nhằm phục vụ cho nhu cầu đầu tư của mình
Công bố thông tin đảm bảo tính công bằng, góp phần chống lại các hành vigian lận: Tính công bằng của thông tin thể hiện ở hệ thống thông tin đối xử côngbằng, lành mạnh đối với nhà đầu tư đang có hoạt động đầu tư hay chính xác là cácđối tượng khai thác và xử lý thông tin Người ta vẫn nói nhiều tới sự thành công trênTTCK phần lớn là biết cách nắm bắt thông tin đưa ra các quyết định hợp lý tại nhiềuthời điểm có lợi nhất dựa trên những hiểu biết về thông tin thị trường Hoạt độngcông bố thông tin phải được thực hiện theo nguyên tắc đảm bảo sự công bằng chomọi nhà đầu tư, nhà đầu tư có thể khai thác thông tin một cách trực tiếp thông qua
Trang 24hệ thống truyền thông, mạng internet hoặc gián tiếp qua các hãng tin, công ty tưvấn.
Công bố thông tin đảm bảo cung cấp thông tin liên tục và đa dạng: Việc công
bố thông tin định kỳ hay bất thường của các tổ chức tham gia thị trường theo mộtnguyên tắc nhất định sẽ cho ta một kho dữ liệu khổng lồ về các thông tin trong quákhứ, với khả năng lưu trữ thông tin sẽ cho phép chúng ta lưu trữ lại tất cả nhữngbiến động thị trường trong mọi thời kỳ phát triển, giúp cho các nhà đầu tư có thểnhận định, lập luận về sự phát triển của các loại chứng khoán, giúp họ đánh giáchính xác hơn trên cơ sở của các thông tin đó
- Đối với Sở giao dịch chứng khoán
Công bố thông tin là công cụ giúp cho TTCK và Sở giao dịch Chứng khoán công
bố thông tin kịp thời : Hệ thống công bố thông tin giúp cho Sở giao dịch chứngkhoán, sở giao dịch chứng khoán công bố thông tin kịp thời tạo điều kiện tốt cho cácnhà đầu tư cũng như các đối tượng thị trường có được cái nhìn nhanh nhất về sựthay đổi của thị trường cũng như chứng khoán mà họ quan tâm
1.1.2 Phân loại thông tin được công bố
Có thể phân loại thông tin trên TTCK theo các tiêu chí sau:
1.1.2.1 Phân loại theo loại chứng khoán
- Thông tin về cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư
- Thông tin về trái phiếu, thông tin về các chứng khoán phái sinh
1.1.2.2 Phân loại theo phạm vi bao quát
- Thông tin đơn lẻ của từng nhóm chứng khoán,
- Thông tin ngành,
- Thông tin nhóm ngành,
- Thông tin nhóm cổ phiếu đại diện và tổng thể thị trường,
- Thông tin của Sở giao dịch chứng khoán hay thông tin quốc gia, thông tin cótính quốc tế
1.1.2.3 Phân loại theo thời gian
Trang 25- Thông tin quá khứ, thông tin hiện tại và thông tin dự báo cho tương lai
- Thông tin theo thời điểm (phút, ngày…)
- Thông tin tổng hợp theo thời gian (tuần, tháng, quý, năm…)
1.1.2.4 Phân loại theo nguồn thông tin
- Thông tin trong nước và quốc tế
- Thông tin của các tổ chức tham gia thị trường: công ty đại chúng, công tychứng khoán, thông tin của Sở giao dịch chứng khoán
- Thông tin tư vấn của các tổ chức tư vấn đầu tư và tổ chức xếp hạng tín nhiệm
- Thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng (báo, truyền hình,Internet…)
1.2 Tác động của công bố thông tin tới tính thanh khoản của cổ phiếu niêm yết trên Thị trường Chứng khoán
1.2.1 Khái niệm và đặc tính của tính thanh khoản của cổ phiếu niêm yết
1.2.1.1 Khái niệm về tính thanh khoản của cổ phiếu
Tính thanh khoản của cổ phiếu có vẻ là một khái niệm đơn giản và dễ hiểu Tuynhiên, thực tế, có nhiều định nghĩa khác nhau được các nhà nghiên cứu cũng nhưcác chuyên gia đầu tư đưa ra về khái niệm tính thanh khoản
Robert F Stambaugh cho rằng tính thanh khoản của cổ phiếu là “một kháiniệm rất rộng và không rõ ràng, nhưng nhìn chung nó phản ánh khả năng giao dịchmột khối lượng lớn cổ phiếu một cách nhanh chóng tại một mức phí thấp và không
có sự chuyển dịch về giá” (Robert F Stambaugh, 2002)
Coluzzi, Ginebri và Turco cho rằng rất khó hiểu và giải thích về tính thanhkhoản của cố phiếu và đưa ra khái niệm như sau: “Tính thanh khoản của cổ phiếu làkhả năng giao dịch một cổ phiếu mà không bị ảnh hưởng đến giá của chúng”(Coluzzi, Ginebri và Turco, 2008)
Như vậy, tính thanh khoản của cổ phiếu là khả năng chuyển đổi cổ phiếu thànhtiền dễ dàng với sự ảnh hưởng về giá không đáng kể với một khoản phí tương đốithấp Tính thanh khoản của cổ phiếu được xem như một dòng máu của thị trường
Trang 26chứng khoán, góp phần đảm bảo thị trường tài chính cũng như nền kinh tế vận hànhmột cách thông suốt Đây là một khái niệm rất chung và trìu tượng bởi vì bàn thân
nó có nhiều tính chất khác nhau
1.2.1.1 Đặc điểm tính thanh khoản của cổ phiếu niêm yết
Ở Việt Nam nhiều nhà đầu tư, kể cả những nhà phân tích chứng khoán chuyênnghiệp cũng chưa hiểu đầy đủ về tính thanh khoản của cổ phiếu, bởi vì đây khôngphải là một biến số có một đặc tính mà bao gồm nhiều đặc tính khác nhau Thôngthường có năm đặc tính về tính thanh khoản của cổ phiếu Đó là:
- Thời gian giao dịch
Thời gian giao dịch là khả năng thực hiện một giao dịch ngay lập tức tại mộtmức giá phổ biến Thời gian chờ giữa hai giao dịch, số lượng giao dịch trong mộtđơn vị thời gian là những thước đo về thời gian giao dịch
- Độ chặt
Độ chặt là khả năng mua hoặc bán một lượng cổ phiếu nhất định ở một mứcgiá tương đương tại cùng một thời điểm Tính chặt thể hiện ở chi phí liên quan đếngiao dịch hoặc chi phí của sự chờ đợi Thước đo của tính chặt là những dạng khácnhau của chênh lệch về giá
- Độ sâu
Độ sâu là khả năng mua hoặc bán một lượng cổ phiếu nhất định nhưng khôngảnh hưởng tới giá niêm yết Giá niêm yết là giá chào bán hoặc giá đặt mua được đưavào sổ lệnh Một dấu hiệu của độ thanh khoản yếu là sự ảnh hưởng tiêu cực của thịtrường có thể được đo bởi chỉ số lệnh, số giao dịch hoặc chỉ số dòng tiền
- Độ rộng
Độ rộng là thuật ngữ chung được sử dụng để mô tả mức độ dịch chuyển lênxuống của thị trường trong điều kiện có bao nhiêu cổ phiếu đi theo một chiềuhướng lên hoặc xuống Nói cách khác, các chỉ số này cung cấp cho nhà phân tích cái
Trang 27nhìn sâu sắc rằng sự gia tăng của thị trường đến từ một nhóm cổ phiếu cụ thể quantrọng hay từ tổng thể toàn bộ các cổ phiếu trên thị trường
Độ rộng được đo lường bằng cách sử dụng dữ liệu bao gồm tổng khối lượngcác cổ phiếu tăng, tổng khối lượng các cổ phiếu giảm, số lượng các cổ phiếu tăng,giảm
Độ rộng giúp đánh giá sức mạnh của thị trường và xác định được hướng dichuyển của chỉ số Độ rộng thị trường gia tăng mạnh trong một đợt tăng trưởng cónghĩa là các chỉ số đang tăng lên cùng với sự dịch chuyển của nhiều cổ phiếu
- Độ co dãn.
Độ co dãn là khả năng mua hoặc bán một lượng cổ phiếu nào đó nhưng có ảnhhưởng đến giá niêm yết khi đặc tính độ sâu thị trường chỉ quan tâm đến số lượnggiao dịch ở một mức giá đặt mua hoặc chào bán tốt nhất, đặc tính co dãn sẽ đảmnhận sự co dãn của cung và cầu Đặc tính độ co dãn của tính thanh khoản được mô
tả bởi thu nhập trong ngày, hệ số hiệp phương sai hoặc hệ số thanh khoản
1.2.1.3 Các chỉ số đo lường tính thanh khoản của cổ phiếu niêm yết.
Tính thanh khoản của cổ phiếu niêm yết không chỉ có một mặt biểu hiện mà cóđến năm đặc tính khác nhau là thời gian giao dịch, độ chặt, độ rộng, độ sâu và độ codãn, vì vậy, đã có nhiều chỉ số được đưa ra bởi các học giả trên thế giới nhằm đolường tính thanh khoản của cổ phiếu Các chỉ số hay được sử dụng trong các côngtrình nghiên cứu gồm có:
- Chỉ số Bid-Ask spreads: Là chênh lệch giá mua – giá bán được tính bằng cáchlấy trung bình bid-ask spreads hàng này Bid-ask spread hàng ngày được tính bằngcách trung bình cộng của giá chào mua tốt nhất và giá chào bán tốt nhất trong ngày.Bid-Ask spreads của một cổ phiếu càng cao thì cổ phiếu đó càng kém thanh khoản
- Chỉ số độ sâu thị trường (Depth): Là số lượng cổ phiếu có thể giao dịch tạimức giá cháo mua và chào bán tốt nhất Cách tính giống như Bid-Ask Spreads Độsâu thị trường của một cổ phiếu càng cao có nghĩa là luôn có sẵn một số lượng lớn
Trang 28cổ phiếu để nhà đầu tư có thể mua ở bất bỳ mức giá nào, tức là cổ phiếu càng thanhkhoản.
- Chỉ số chất lượng thị trường (Market Quality Index – MQI): Chỉ số này được
đề xuất trong nghiên cứu của Bollen và Whaley (1998) là chỉ số kết hợp cả chênhlệch giá mua - giá bán và độ sâu thị trường để đo lường tính thanh khoản nhằmkhắc phụ vấn đề khó xác định tính thanh khoản của cổ phiếu khi Chỉ số Bid-askspreads và Chỉ số Độ sâu thị trường biến động cùng chiều MQI được tính bằng cáchlấy trung bình cộng của Độ sâu thị trường tại giá mua và giá bán chia cho Chênh lệchgiá mua – giá bán theo công thức sau:
(Depth at bid+Depth at ask)
2
Bid − Ask Spread
MQI càng cao khi Bid-ask spreads càng thấp hoặc Độ sâu thị trường càng cao,tức là cổ phiếu càng thanh khoản Tuy vậy, cũng có trường hợp, như được nêu trongcông trình của Lee và cộng sự (1993), khi Sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE)
đã đặc biệt chủ động quản lý tình trạng thông tin bất cân xứng bằng cách điều chỉnhChi phí trực tiếp (hay Chênh lệch mua bán - Bid-ask spread) và Độ sâu thị trường Khichỉ số Bid-ask spread được điều chỉnh bằng 0, chỉ số MQI trở nên vô nghĩa
Trong đề tài này, tác giả sử dụng chỉ số Bid-Ask Spread (từ đây về sau gọi tắt làSpread) thường xuyên được các tác giả trên thế giới sử dụng nhất như công trìnhcủa Hegde và McDermott (2005), Kuo và Lin (2014) và nhiều công trình khác
1.2.2 Các yếu tố tác động tới tính thanh khoản của cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán.
1.2.2.1 Các yếu tố thuộc về cấu trúc vi mô của thị trường
A Mô hình thị trường
Mặc dù hiện nay tồn tại nhiều cách để phân loại các TTCK, ví dụ như căn cứvào sự hiện diện của những người tạo thị trường, thời gian giao dịch hay mức độ
Trang 29công bố thông tin trước và sau giao dịch…; nhưng nhìn chung thì một trong nhữngcách phân loại phố biển nhất là giữa hai dạng thị trường khớp giá và khớp lệnh.
Thị trường khớp giá là mô hình thị trường trong đó có sự hiên diện của những người tạo thị trường (market maker/dealer) cho một số loại chứng khoán nào đó.
Giao dịch trong thị trường khớp giá được thực hiện giữa một bên là người đẩu tư vàmột bên là người tạo thị trường Những người tạo thị trường có nghĩa vụ chào cácmức giá mua và bản tốt nhất Giá thực hiện được xác định trên cơ sở cạnh tranhgiữa những người tạo thị trường, nhà đầu tư chỉ cần lựa chọn mức giá được cho làphù hợp (thay vì đặt lệnh giao dịch) Những người tạo thị trường được hưởng phầnchênh lệch (spread) giữa giá mua và giá bán trong các giao dịch
Thị trường khớp lệnh là mô hình thị trường trong đó lệnh giao dịch của người đầu tư được khớp trực tiếp với nhau không có sự tham gia của người tạo thị trường.
Giá thực hiện được xác định trên cơ sở cạnh tranh (đấu giá) giữa những nhà đầu tư.Trên đây là tóm tắt về một số nét đặc trưng của hai dạng mô hình thị trườngkhớp lệnh và khớp giá Tính thanh khoản trên cả hai dạng mô hình thị trường nàyđược trình bày lần lượt trong các phân mục dưới đây
a Tính thanh khoản trên thị trường khớp giá
* Bid-Ask Spread
Trong thị trường khớp giá, bid-ask spread được quyết định bởi giá đặt mua vàđặt bán của dealer Có ba dạng mô hình lý thuyết được đề xuất để lý giải hành vi đặtgiá này Đó là:
1) mô hình chi phí xử lý lệnh: theo mô hình này, chi phí xử lý lệnh bao gồm các
chi phí để duy trì một thị trường hoạt động liên tục cũng như các chi phí khác đểkhớp lệnh và thanh toán bù trừ
2) mô hình danh mục dự trữ cổ phiếu: theo đó, những nhà tự doanh ngại rủi ro
sẽ xác định trước một sự kết hợp mong muốn Họ có thể cho phép trạng thái thực
tế lệch ra khỏi sự kết hợp nói trên để phù hợp với giao dịch nhưng lại đòi hỏi một sự
Trang 30đền bù cho rủi ro này Sự đến bù có thể đạt được bởi một giá trị bid-ask spreaddương.
3) mô hình bất cân xứng thông tin: mô hình này chỉ rõ sự khác biệt giữa những
nhà đầu tư nhận được thông tin và những nhà đầu tư không nhận được thông tin.Các nhà đầu tư không nhận được thông tin, còn được gọi là nhà đầu tư thanh khoản(uninformed trader/ liquidity trader), là những người không có những thông tin cábiệt, như về giá trị thực của tài sản Họ tiến hành giao dịch dựa trên những lý donằm ngoài mô hình, ví dụ như động cơ cân bằng lại danh mục đầu tư hoặc đơn giản
họ tin tưởng rằng mình có thông tin Nhà đầu tư nhận được thông tin (informedtrader) là những người nắm giữ những thông tin riêng và muốn sử dụng chúng khitiến hành giao dịch Khi đó, spread sẽ phản ánh sự cân đối của những người tạo thịtrường giữa khoản lỗ do giao dịch với nhà đầu tư nhận được thông tin và khoản lãi
do giao dịch với nhà đầu tư không nhận được thông tin
* Giá và độ sâu
Trong phần này ta sẽ tập trung vào tìm hiểu làm thế nào để các dealer quyếtđịnh được các mức giá bid và ask Trong thực tế, các dealer thường tuân theo lịchtrình giá, điều chỉnh mức giá và độ sâu để phản ứng với các sự kiện khác nhau Độsâu được thay đổi theo giao dịch tại bất kỳ kích cỡ nào trong khi mức giá chỉ đượcsửa đổi khi khối lượng giao dịch vượt quá khối lượng niêm yết Trên thực tế, đây làyếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự điều chỉnh lịch trình giá của các dealer
* Thời gian giao dịch
Chi phí giao dịch và giá đạt được có thể xem xét như là các khía cạnh của chấtlượng thực hiện lệnh Một khía cạnh khác là tốc độ khớp lệnh Một lý do giải thíchtại sao những nhà đầu tư ưa thích việc khớp lệnh được nhanh chóng hơn là vì khớplệnh càng chậm thì sự không chắc chắn về giá được khớp càng tăng cao Thị trường
có xu hướng nhận được nhiều nguồn lệnh hơn nếu chi phí khớp lệnh giảm hoặc tốc
độ khớp lệnh tăng lên
Trang 31* Tính đàn hồi
Trong thị trường khớp giá, các dealer không chắc chắn được về thời điểm lệnhtiếp theo được gửi tới thị trường Tạm thừa nhận rằng, tại một số thời điểm, cácdealer có thể sửa đổi hoặc cố định sự yết giá của mình Nếu dealer quan sát đượcrằng, giá hiện tại tốt nhất thị trường được yết bởi một dealer khác là cao hơn giácạnh tranh của tài sản (nói chính xác là cao hơn giá trị kỳ vọng của tài sản xungquanh bước giá gần nhất) thì anh ta sẽ phải đối diện với sự đánh đổi giữa hai lựachọn Thứ nhất, anh ta có thể lựa chọn yết giá tại mức giá cạnh tranh, sau đó thựchiện lệnh tiếp theo với sự chắc chắn và thu lại một khoản lãi bằng đúng mức giá tốithiểu (tick-size) Thứ hai, anh ta có thể quyết định bán rẻ hơn mức giá hiện tại chỉmột bước giá Trong trường hợp lệnh tiếp theo được khớp, dealer sẽ thu được mộtkhoản lãi lớn hơn, nhưng mặt khác, anh ta sẽ phải đối mặt với rủi ro là có thể cónhững dealer khác tiếp tục yết giá thấp hơn Kết quả của cả hai khả năng trên là giákhớp trên thị trường có thể bị lệch khỏi mức giá cạnh tranh Những chi phí giao dịch
mà người đầu tư phải trả do đó phụ thuộc vào tốc độ hội tụ của những giá yết tốtnhất tới giá cạnh tranh của tài sản Tốc độ hội tụ này bị chi phối bởi hai yếu tố chính,
đó là:
Thứ nhất, tồn tại một mối liên hệ nghịch giữa thời gian để giá tốt nhất điềuchỉnh cho đạt tới mức giá cạnh tranh và bước giá tối thiểu Có thể dễ dàng thấy rằngmột bước giá tối thiểu rộng hơn sẽ tạo ra một sự khác biệt lớn hơn giữa giá kỳ vọngcủa tài sản và mức giá cạnh tranh Nếu người dealer nhắc đến ở trên quyết định yếtgiá tại mức giá cạnh tranh, anh ta sẽ đạt được một khoản lãi lớn hơn nếu bước giátối thiểu là rộng hơn Sự hội tụ nhanh hơn của các giá yết cũng ngụ ý rằng một bướcgiá tối thiểu lớn hơn không cần thiết dẫn đến những chi phí giao dịch lớn hơn chonhà đầu tư
Thứ hai, tồn tại một mối liên hệ nghịch giữa chi phí giao dịch kỳ vọng và tần sốsửa đổi giá yết của các dealer Nếu các dealer thường xuyên sửa đổi giá yết thì rủi romột dealer không yết giá cạnh tranh bị chặn dưới sẽ lớn hơn Tần số sửa đổi giá về
Trang 32phần mình lại phụ thuộc vào chi phí quản lý và vận hành thị trường mà các dealerphải trả.
b Tính thanh khoản trên thị trường khớp lệnh
Trong một thị trường khớp lệnh không có sự hiện diện của các dealer để tạotính thanh khoản cho thị trường Tính thanh khoản chỉ được cung cấp bởi người đầu
tư và những lệnh giới hạn chưa được khớp của họ - trong trường hợp nguồn cunglệnh giới hạn bị cạn kiệt thì giao dịch cũng sẽ sụp đổ Do đó, việc tìm hiểu liệu một
hệ thống như thế có khả năng cung cấp tính thanh khoản trong mọi điều kiện thịtrường đặc biệt xung quanh các biến động hay không là rất cần thiết
Trong các phân mục dưới đây đầu tiên người viết sẽ trình bày về bid-askspread, tương tự như đối với phần thị trường khớp giá ở trên Tiếp theo đó là cácyếu tố quyết định đến nguồn cung và cầu thanh khoản Trong một thị trường khớplệnh thì yếu tố tiên quyết nhất chi phối tất cả các khía cạnh của tính thanh khoản làmối tương quan giữa các lệnh thị trường – nguồn cầu thanh khoản và các lệnh giớihạn – nguồn cung thanh khoản Do đó, các nhân tố ẩn sau sự lựa chọn này là cực kỳquan trọng đối với tính thanh khoản trong một thị trường khớp lệnh
* Bid-ask Spread
Trong các phần trên, người viết đã đề cập đến ba lý do để giải thích cho sự tồntại của spread trong một mô hình thị trường khớp giá: chi phí danh mục dự trữ cổphiếu, chi phí xử lý lệnh và sự bất cân xứng thông tin Trong một thị trường khớplệnh, các nhà đầu tư cung cấp tính thanh khoản vẫn có thể yêu cầu một sự đền bùcho các chi phí xử lý lệnh Ngược lại, mô hình danh mục dự trữ lại không có nhiềugiá trị do trong mô hình thị trường khớp lệnh này, các nhà đầu tư không có quyềntạo thị trường Do đó, thị trường khớp lệnh sẽ có một bid-ask spread dương phátsinh từ xác suất của việc giao dịch dựa trên thông tin riêng Các nhà đầu tư định giá
cổ phiếu khác nhau và không phải tất cả đều tiếp nhận thông tin cùng lúc Do vậy,
Trang 33kích thước spread là một hàm của các chênh lệch trong sự định giá cổ phiếu của cácnhà đầu tư và sự lựa chọn đối nghịch.
* Nguồn cung thanh khoản và nguồn cầu thanh khoản trên thị trường khớp lệnh.
Trên một thị trường khớp lệnh, tất cả các khía cạnh của tính thanh khoản –bid-ask spread, độ sâu, tốc độ giao dịch hay tính đàn hồi – đều chịu sự quyết địnhbởi mối tương quan giữa các lệnh thị trường – nguồn cầu thanh khoản và các lệnhgiới hạn – nguồn cung thanh khoản Do đó, sự lựa chọn giữa các nhà đầu tư giữa hailoại lệnh thị trường và lệnh giới hạn là vô cùng quan trọng đối với chỉ tiêu tính thanhkhoản Xác suất một lệnh giới hạn được khớp là biến nội sinh Các nhà đầu tư quansát cả hai phía của thị trường (độ sâu tại bên bid và ask) chứ không chỉ bên của mìnhkhi quyết định loại bệnh
Một nhân tố chính quyết định cho sự kết hợp giữa lệnh giới hạn và lệnh thịtrường là sự bất ổn của tài sản Tài sản càng dễ biến động thì tỷ lệ lệnh giới hạntrong dòng lệnh càng cao Nguyên nhân là do khi mức độ bất ổn định của tài sản
tăng lên thì những nhà đầu tư đặt lệnh giới hạn sẽ phải đối mặt với rủi ro picking of risk (rủi ro sau khi một lệnh giới hạn được gửi lên thì có các thông tin mới được công
bố khiến lệnh giới hạn của nhà đầu tư có nhiều khả năng bị khớp lệnh tại mức lỗ dođặt giá sai) cao hơn Do đó, spread niêm yết của họ sẽ nới rộng Điều này làm tăngchi phí của các giao dịch lệnh thị trường, dẫn đến lệnh giới hạn có nhiều khả năngtrở thành chiến lược giao dịch tối ưu Tỷ lệ lệnh giới hạn được khớp trên tổng lượnglệnh giới hạn có mối liên hệ nghịch với tính dễ biến động của tài sản
Trang 34khi tính minh bạch sau giao dịch đề cập đến mức độ công khai của giao dịch và cácchi tiết của giao dịch (như về giá cả, khối lượng thực hiện…).
Trong những năm gần đây thị trường chứng khoán các nước có xu hướng tăngcường tính minh bạch của thị trường cả ở dạng trước và sau giao dịch Mức độ minhbạch thông tin của thị trường rõ ràng sẽ có tác động tới chiến lược đặt lệnh của cácnhà đầu tư và do đó, ảnh hưởng tới tính thanh khoản của thị trường Minh bạch hóamột mặt đi liền với sự hình thành giá hiệu quả và phản ánh chính xác thông tin thịtrường hơn, nhưng mặt khác lại có thể kìm hãm tính thanh khoản của thị trường docác nhà đầu tư có thể không sẵn sàng tiết lộ ý định giao dịch của mình Hơn nữa, sựminh bạch hóa thị trường có những ảnh hưởng không giống nhau đối với từng dạngthành viên của thị trường Cụ thể, những nhà đầu tư có thông tin riêng sẽ ưa thíchmột thị trường kém minh bạch trong khi những nhà đầu tư thanh khoản thì mongmuốn điều ngược lại
Trong thị trường khớp lệnh, nhìn chung một sự tăng cường tính minh bạchtrước khi giao dịch sẽ cải thiện tính thanh khoản, Bid-ask spreak ẩn là hẹp hơn bởi vìnhững người đặt giá, nay có nhiều thông tin hơn, có thể bảo vệ bản thân tốt hơnkhỏi các khoản lỗ gây ra bởi các giao dịch nội gián Thêm nữa, thị trường khớp lệnhyêu cầu chi phí giao dịch thấp hơn so với thị trường khớp giá Điều này phù hợp vớithực tế là bẳng đấu giá lệnh giới hạn có tính minh bạch cao hơn so với một dealer(trong thị trường khớp lệnh, nhà đầu tư có thể theo dõi bảng đấu giá, trong khi đốivới thị trường khớp giá, chỉ có một giá yết cho một khối lượng xác định mới đượccông bố, gây khó khăn cho việc rút ra giá giao dịch)
C Tính ẩn danh
Tính ẩn danh của thị trường có thể được định nghĩa là mức độ tiết lộ thông tin
về danh tính của các thành viên tham gia thị trường Cũng như đối với tính minh
bạch của thị trường, những nhà đầu tư nhận được thông tin ưa thích các giao dịchkhuyết danh hơn, trong khi nhà đầu tư không nhận được thông tin thì ngược lại Tuy
Trang 35nhiên tác động của tình trạng ẩn danh trong giao dịch đến tính thanh khoản của thịtrường là khác nhau đối với hai phía cung thanh khoản và cầu thanh khoản
Việc che dấu thông tin về danh tính của những người cầu thanh khoản nhìnchung sẽ làm tăng bid-ask spread, do những người cung thanh khoản sẽ gặp khókhăn hơn trong việc phân biệt giữa những nhà đầu tư nhận được thông tin riêng vàkhông nhận được thông tin riêng Nhưng ngược lại, việc che dấu danh tính củanhững người cung thanh khoản có thể làm giảm bid-ask spread Nếu thị trườngkhông ẩn danh, các nhà đầu tư thanh khoản sẽ tìm cách rút thông tin từ các lệnhgiới hạn được yết Nếu những nhà đầu tư nhận được thông tin mua vào một cáchthận trọng, biểu thị rằng một bid-ask spread rộng, thì những nhà đầu tư thanhkhoản sẽ trì hoãn việc cải thiện các lệnh của mình Do đó, đôi khi ngững người đầu
tư có được thông tin cố tình đánh lừa các nhà đầu tư thanh khoản bằng cách đặt giánhư thể picking off risk là lớn trong khi thực sự ra nó là nhỏ Nếu tình trạng khuyếtdanh được áp dụng, những người tham gia giao dịch không biết được ai là người đặtgiá và do đó sự tung hỏa mù này cũng trở nên kém hiệu quả Vì thế, những nhà đầu
tư có thông tin sẽ đặt lệnh một cách tích cực hơn, từ đó cũng có tác động đếnspread và độ sâu thị trường Tác động cuối cùng của tình trạng khuyết danh lên tínhthanh khoản của thị trường phụ thuộc vào tỷ lệ những nhà đầu tư có được thôngtin Khi tỷ lệ này là nhỏ (lớn) thì một sự chuyển đổi sang thị trường khuyết danh sẽlàm giảm (tăng) chi phí giao dịch trung bình của các lệnh cỡ nhỏ và cỡ lớn
D Bước giá tối thiểu
Bước giá tối thiểu là đơn vị yết giá trong giao dịch chứng khoán Bước giá tối
thiểu giảm thì spread giảm đáng kể nhưng độ sâu tại giá bid và giá ask tốt nhất cũnggiảm Điều này có nghĩa là một khía cạnh của tính thanh khoản giảm (spread) trongkhi một khía cạnh khác (độ sâu) bị ảnh hưởng tiêu cực
E Cạnh tranh liên thị trường
Trang 36Trong những phần trên, tính thanh khoản đã được liên hệ với các yếu tố khácnhau trong cấu trúc thị trường, nhưng vẫn trong phạm vi của một thị trường duynhất Tuy nhiên, ngày nay các cổ phiếu có thể mua bán đồng thời trên nhiều thịtrường khác nhau Cổ phiếu không chỉ được niêm yết chéo trên các sở giao dịch mà
còn được mua bán thông qua Hệ thống giao dịch thay thế (Alternative Trading System – ATS) mới nổi lên gần đây Sự phát triển này ám chỉ rằng nhà đầu tư không
những phải cân nhắc đến sự khác nhau về chi phí giao dịch hoặc thời gian khớp lệnh
mà cả về thiết kế thị trường xuyên suốt các luồng giao dịch để quyết định nơi họ sẽđặt lệnh
Nhìn chung, việc một tài sản được giao dịch tại nhiều nơi khác nhau có tiềmnăng gây ra hai ảnh hưởng trái chiều lên tính thanh khoản Một mặt, sự cạnh tranhgiữa các kênh giao dịch có thể thúc đẩy các sở giao dịch hay Hệ thống giao dịch thaythế sẽ phải giảm chi phí, dẫn đến giảm chi phí giao dịch Mặt khác, sự phân tán củadòng lệnh giữa các kênh giao dịch có thể làm giảm sút tính thanh khoản mỗi kênh.Thêm vào đó, trong một thị trường bị phân tán, các lệnh giao dịch có thể được thựchiện tại các mức giá tồi hơn so với giá yết tốt nhất căn cứ vào sự vi phạm quyền ưutiên về giá
Sự cạnh tranh giữa các kênh giao dịch, do sự xuất hiện của một kênh giao dịchmới hoặc do niêm yết chéo, có thể làm tăng hoặc giảm tổng thanh khoản, liên hệvới một môi trường đơn thị trường Kết quả cuối cùng phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
ví dụ như chi phí giao dịch mà nhà đầu tư phải trả Trong mô hình không có bất cânxứng thông tin, spread trong thị trường phân tán và thị trường tập trung là bằngnhau, nhưng dễ biến động hơn trong thị trường tập trung Những nhà đầu tư cóđược thông tin có động cơ để xé nhỏ các lệnh của mình giữa các thị trường Điềunày trong cùng một thời điểm lại khiến những nhà đầu tư thanh khoản tập trunggiao dịch tại một nơi, vì như thế có thể giảm tỷ lệ của những giao dịch có thông tinriêng và làm cho spread hẹp đi
Trang 371.2.2.2 Các yếu tố khác ảnh hưởng tới tính thanh khoản của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Nếu một công ty có triển vọng tốt chia, tách cổ phiếu, spread sẽ chỉ tăng lêntạm thời Do thị trường cuối cùng cũng sẽ nhận biết được các triển vọng tốt của cáccông ty khiến giá cổ phiếu tăng lên và spread trở lại cân bằng Nếu một công ty cótriển vọng kinh doanh thông thường hoặc tồi tiến hành chia tách cổ phiếu, spread sẽtăng lên trong dài hạn Sự khác nhau về chi phí này cho phép các công ty tốt ra dấuhiệu bằng việc chia tách cổ phiếu và ngăn cản các công ty trung bình hoặc tồi bắtchước theo
B Giao dịch ký quỹ
Giao dịch ký quỹ là việc mua hoặc bán chứng khoán trong đó người đầu tư chỉthực có một phần tiền hoặc chứng khoán, phần còn lại do công ty chứng khoán chovay Việc cho phép các giao dịch ký quỹ có thể mang lại những tác động tích cực đốivới thị trường như gia tăng lợi nhuận của nhà đầu tư, ổn định giá chứng khoán vàtăng cường tính thanh khoản của thị trường Tỷ lệ ký quỹ thấp hơn có liên hệ vớimức biến động lợi suất thấp hơn và khối lượng giao dịch lớn hơn
Trang 38CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ PHÂN TÍCH NHỮNG TÁC ĐỘNG TỚI TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CỔ PHIẾU NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.1 Thực trạng công bố thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2010 cho đến nay.
2.1.1 Những mặt đạt được
Việc pháp luật yêu cầu toàn bộ công ty đại chúng phải thực hiện công bố thôngtin đã tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp, bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của các cổ đông ở những công ty đại chúng, kể cả công ty đại chúng chưaniêm yết Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đạichúng được xây dựng dựa trên nền tảng của sự phát triển TTCK theo từng giai đoạnphát triển khác nhau giúp tăng cường tính công khai, minh bạch của thị trường, bảo
vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư Các qui định pháp luật đầy đủ
đã tạo điều kiện thuận lợi để chủ thể có nghĩa vụ thực hiện công bố thông tin cũngnhư việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật vềcông bố thông tin Tính đến cuối năm 2015, đã có gần 1071 công ty đại chúng chưaniêm yết cổ phiếu đã đăng ký hồ sơ công ty đại chúng với UBCKNN, gần 700 công tyđại chúng niêm yết trên SGDCK thành phố Hồ Chí Minh và SGDCK Hà Nội và 243công ty đại chúng đăng ký giao dịch trên Upcom (thị trường giao dịch cổ phiếu chưaniêm yết) Theo quy định tại Thông tư 155/2015/TT-BTC, hoạt động công bố thôngtin của công ty đại chúng được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin đạichúng, website của công ty đại chúng và các phương tiện thông tin của UBCKNN(bao gồm: trang thông tin điện tử, bản tin TTCK) và của SGDCK (bao gồm: websitecủa SGDCK, bảng hiển thị điện tử tại SGDCK và các ấn phẩm) Công ty đại chúng phảithực hiện báo cáo và công bố thông tin thông qua UBCKNN, riêng các công ty đạichúng niêm yết/đăng ký giao dịch phải thực hiện công bố thông tin thông qua cảUBCKNN và SGDCK Qua hơn 10 năm hình thành và phát triển TTCK, các công ty đại
Trang 39chúng, đặc biệt là các công ty đại chúng niêm yết bước đầu đã tuân thủ các quyđịnh về quản lý tài chính, kế toán, kiểm toán cũng như quy định về công bố thôngtin trên TTCK.
Các công ty đại chúng đã xây dựng được quy trình công bố thông tin, thành lậpwebsite công bố thông tin và thành lập bộ phận (phòng) công bố thông tin, bổnhiệm người được ủy quyền thực hiện công bố thông tin của công ty đại chúng đểgiúp Hội đồng quản trị và Ban giám đốc trong thu thập, xử lý và công bố thông tincủa doanh nghiệp, tạo nên một văn hóa trong kinh doanh của doanh nghiệp, đồngthời giúp nhà đầu tư kịp thời nắm bắt các thông tin để ra quyết định đầu tư hợp lý.Phần lớn các công ty đại chúng đã cố gắng thực hiện công khai các giao dịchvới những bên có liên quan về quyền lợi hoặc liên quan đến người nội bộ, cổ đônglớn của công ty; những bên có quyền lợi liên quan không được quyền biểu quyếtnhững vấn đề mà họ là một bên tham gia; hạn chế cung cấp các khoản vay hoặc bảolãnh về tài chính cho các cổ đông nội bộ và người có liên quan, đảm bảo quyền lợicủa cổ đông; công khai thù lao Hội đồng quản trị, Ban điều hành Điều này chothấy bản thân các công ty đại chúng, đặc biệt là các công ty đại chúng niêm yết đã ýthức được trách nhiệm của mình trước cổ đông, đồng thời các cổ đông cũng đãnhận thức được những quyền lợi và phương thức để bảo vệ lợi ích hợp pháp củamình Các công ty đại chúng đã dần hoàn thiện nội dung công bố thông tin Cho đếnnay, có thể nói những nội dung chính của các vấn đề phát sinh cần công bố đã đượccác công ty đại chúng đề cập và phản ánh trong các bản công bố thông tin Các nộidung công bố thông tin rõ ràng, dễ hiểu và tập trung vào các vấn đề trọng tâm củacác sự kiện phát sinh
Cổ đông lớn, người nội bộ, cổ đông sáng lập, người quản lý công ty, ngườiđược ủy quyền công bố thông tin của công ty đại chúng đã bước đầu tuân thủ cácquy định về công bố thông tin về các giao dịch liên quan Việc công bố thông tin củacác đối tượng này đã hạn chế phần nào việc tư lợi của các đối tượng có liên quan,đặc biệt tình trạng rò rỉ thông tin, mua bán thông tin nội gián hoặc tiết lộ các thông
Trang 40tin không được tiết lộ từ đó đã hạn chế được các hành vi vi phạm về công bố thôngtin trong hoạt động làm giá ảo, bán tháo cổ phiếu, đảm bảo tình công khai minhbạch cho hoạt động thị trường.
Việc công ty đại chúng được công bố thông tin đồng thời trên nhiều phươngtiện công bố thông tin khác nhau (phương tiện thông tin đại chúng, website củacông ty đại chúng, website của SGDCK, UBCKNN) đã tạo thuận lợi cho các công tyđại chúng lựa chọn phương tiện công bố thông tin phù hợp với hoạt động công bốthông tin của mình, đồng thời cũng bảo đảm tính linh hoạt, cần thiết trong việc ápdụng các phương tiện phù hợp với loại thông tin công bố, đảm bảo các nguyên tắccông bố thông tin phải đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật.Thông qua hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng, hệ thống công
bố thông tin qua trang website của UBCKNN/ SGDCK cũng dần dần được nâng cấp
và hoàn thiện, đã đáp ứng căn bản nhu cầu công bố thông tin của thị trường, đãcung cấp thông tin chính xác, kịp thời và đầy đủ đến nhà đầu tư Hệ thống trangWeb của UBCKN/SGDCK hiện nay có bố cục khá đơn giản và rõ ràng hiển thị thôngtin từ nhiều nguồn như: các SGDCK, tổ chức niêm yết và thành viên giao dịch Trướcđây, việc báo cáo và đăng thông tin của công ty đại chúng trên website của UBCKNNđược thực hiện theo Quyết định 515/QĐ-UBCK ngày 25/6/2012 của Chủ tịchUBCKNN, theo đó công ty đại chúng phải gửi thông tin bằng văn bản đến UBCKNNhoặc gửi dữ liệu điện tử qua địa chỉ thư điện tử chuyên về công bố thông tin củaUBCKNN, sau đó cơ quan này thực hiện đăng tải thông tin trên trang công bố thôngtin của mình (dưới dạng file pdf) Quy trình này rất mất thời gian và không đảm bảotính kịp thời của thông tin (nhất là các bản giấy đều đòi hỏi phải chuyển sang file.pdf), đồng thời làm tăng chi phí cho doanh nghiệp (do doanh nghiệp để đảm bảothời hạn báo cáo UBCKNN, đã gửi thông tin bằng dữ liệu điện tử thì sau đó vẫn phảigửi bản giấy cho cơ quan này) Quy trình tương tự này được áp dụng tại SGDCK TP
Hồ Chí Minh