Nghiên cứu tìm thấy phương trình cân bằng dài hạn và hệ các phương trình cân bằng ngắn hạn giữa biến VN-Index và các chỉ số kinh tế vĩ mô, qua đó kết luận rằng chỉ số VN-Index biến động
Trang 1Tóm tắt: Ứng dụng phương pháp kiểm định đồng liên kết (Johansen co-integration
test) và mô hình hiệu chỉnh sai số (Vector Error Correction Model - VECM), bài viết nghiên cứu mối quan hệ đa chiều giữa thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam và các yếu tố kinh tế vĩ mô (lạm phát, tỷ giá, sản lượng công nghiệp, cung tiền, lãi suất ngắn hạn và lãi suất dài hạn) Dữ liệu được thu thập trong giai đoạn từ tháng 7/2006-02/2014 Nghiên cứu tìm thấy phương trình cân bằng dài hạn và hệ các phương trình cân bằng ngắn hạn giữa biến VN-Index và các chỉ số kinh tế vĩ mô, qua đó kết luận rằng chỉ số VN-Index biến động cùng chiều với tỷ giá, sản lượng công nghiệp, cung tiền, lãi suất dài hạn; biến động ngược chiều với lạm phát, lãi suất ngắn hạn Chỉ số lãi suất dài hạn có ý nghĩa giải thích sự biến động của VN-Index lớn nhất so với các chỉ số vĩ mô xem xét Kết quả nghiên cứu cho biết tốc độ điều chỉnh của chỉ số chứng khoán về cân bằng dài hạn khi có cú sốc từ các biến vĩ mô là rất chậm, khoảng 3,08%/tháng.
Từ khóa: Thị trường chứng khoán, chỉ số kinh tế vĩ mô, kiểm định đồng liên
kết, mô hình hiệu chỉnh sai số.
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ
ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Nguyễn Thị Bảo Trân (*) Lê Quang Minh (**) Võ Đình Vinh (***)
Ngày nhận: 03/9/2014
Ngày nhận lại: 14/4/2015
Ngày duyệt đăng: 10/5/2015
Mã số: 5-15-43
Đặt vấn đề
Từ tháng 11/2012, thị trường chứng khoán
Việt Nam có nhiều triển vọng tích cực khi
VN-Index tính đến tháng 12/2013 tăng đến
34,76% so với tháng 11/2012, tăng thêm
25,72% trong 8 tháng đầu năm 2014 (so với
cuối năm 2013) Theo Báo cáo chiến lược
năm 2014 của Công ty Chứng khoán Bản
Việt, lý do cơ bản được đưa ra là kinh tế vĩ
mô ổn định và thu nhập trên cổ phiếu dự
kiến tăng khá khiến TTCK Việt Nam trở
nên hấp dẫn đối với nhiều nhà đầu tư
Tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô lên TTCK
là một chủ đề nghiên cứu khá phổ biến và nhận
được nhiều sự quan tâm từ các nhà kinh tế, các
nhà nghiên cứu, cũng như các nhà hoạch định
chính sách Đặc biệt từ sau khi Johansen và
Juselius (1990) đưa ra phương pháp kiểm định
đồng liên kết để kiểm tra mối quan hệ dài hạn
giữa các biến, phương pháp này đã được áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về chủ đề này Mukherjee và Naka (1995) đã tìm thấy liên kết dài hạn giữa TTCK Nhật với nhóm 6 biến vĩ mô (lạm phát, tỷ giá, sản lượng công nghiệp, cung tiền, lãi suất liên ngân hàng ngắn hạn và lãi suất trái phiếu chính phủ dài hạn), cũng như các phương trình cân bằng ngắn hạn với 7 biến trên giúp dự báo các biến trong ngắn hạn Kwon và Shin (1999) đã tìm thấy rằng TTCK Hàn Quốc đồng liên kết với nhóm các biến vĩ mô là tỷ giá, sản lượng công nghiệp, cung tiền, cán cân thương mại Nghiên cứu của Wongbangpo và Sharma (2002) tìm thấy mối liên kết giữa các yếu tố vĩ mô (lạm phát, tỷ giá, GNP, cung tiền, lãi suất) và TTCK 5 nước Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan Maysami, Howe và Hamzah (2004) nghiên cứu TTCK Singapore trong mối quan hệ với các biến lạm phát, tỷ giá, sản lượng công nghiệp, cung tiền, lãi suất ngắn hạn, lãi suất
Trang 2dài hạn và cho kết quả tương tự Gan, Lee,
Yong và Zhang (2006) tìm ra ảnh hưởng của
lạm phát, tỷ giá, GDP, cung tiền, lãi suất
ngắn hạn, lãi suất dài hạn và giá dầu bán
lẻ đến TTCK New Zealand Ratanapakorn và
Sharma (2007) cho thấy TTCK Mỹ (đại diện là
chỉ số S&P 500) tương quan với 6 biến vĩ mô
(chỉ số S&P 500 nghịch biến với lạm phát, tỷ
giá, sản lượng công nghiệp, cung tiền, lãi suất
ngắn hạn và tương quan đồng biến với lãi suất
dài hạn Ratneswary và Rasiah (2010) cho thấy
mối quan hệ dài hạn và ngắn hạn giữa TTCK
Malaysia với các biến vĩ mô là lạm phát, tỷ
giá, sản lượng công nghiệp, cung tiền…
Nghiên cứu này nhằm xem xét liệu các kết
quả thực nghiệm của những nghiên cứu trước
đây trên thế giới có phù hợp với TTCK Việt
Nam hay không Bằng phương pháp kiểm
định đồng liên kết, bài viết sẽ trả lời hai
câu hỏi: (1) Chỉ số kinh tế vĩ mô nào có ý
nghĩa trong mô hình tương tác với chỉ số
VN-Index? và (2) Mức độ ảnh hưởng của các
tác động này ra sao?
Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm
về mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ
mô và thị trường chứng khoán
Mối quan hệ giữa lạm phát và chỉ số
chứng khoán
Sử dụng kiểm định đồng liên kết và mô hình
véc tơ hiệu chỉnh sai số, nhiều nghiên cứu
trên thế giới đã chỉ ra mối quan hệ ngược
chiều giữa lạm phát và giá chứng khoán như
Boyd, Levine và Smith (2001), Fama (1981),
Fama và Schwert (1977), Gan và ctg (2006),
Geske và Roll (1983), Kim (2003), Mukherjee
và Naka (1995), Nelson (1976) Nguyễn Minh
Kiều và Nguyễn Văn Điệp (2013) và Nguyễn
Hữu Tuấn (2011) cùng thực hiện nghiên cứu
tương tự tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu
cũng thống nhất với các nghiên cứu ở các
quốc gia khác Các tác giả này lập luận khi
lạm phát gia tăng, với chi phí đầu vào sẽ
cao hơn, doanh thu và lợi nhuận công ty sẽ
bị giảm nếu giá đầu ra tăng với tốc độ thấp hơn Mặt khác, chính sách thắt chặt tiền tệ có thể được ban hành để kiềm chế lạm phát, từ đó lãi suất phi rủi ro bị tác động tăng lên, kéo theo hậu quả là TTCK trở nên kém hấp dẫn hơn Những lập luận trên là lý do dẫn đến giả thuyết chỉ số chứng khoán biến động ngược chiều với lạm phát
Mối quan hệ giữa tỷ giá và chỉ số chứng khoán
Mối quan hệ giữa TTCK và tỷ giá được giả thuyết là cùng chiều vì biến động tỷ giá ảnh hưởng đến giá trị công ty thông qua những thay đổi về sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế, cũng như giá trị tài sản và nợ phải trả của doanh nghiệp được trị giá dựa trên ngoại tệ, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận cuối cùng và giá trị vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp (Madura, 2006) Mặt khác, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã đề xuất mối quan hệ giữa TTCK và những thay đổi trong tỷ giá hối đoái là mối quan hệ dương như Maysami và ctg (2004), Maysami và Koh (2000), Mukherjee và Naka (1995), Ratanapakorn và Sharma (2007), Ratneswary và Rasiah (2010)
Mối quan hệ giữa sản xuất công nghiệp và chỉ số chứng khoán
Sản lượng công nghiệp được sử dụng như là một biến thay thế (proxy) cho các hoạt động kinh tế thực, bởi tính phản ánh chu kỳ kinh doanh Sản lượng công nghiệp tăng lên trong thời kỳ kinh tế phát triển và ngược lại Sự gia tăng trong sản xuất công nghiệp là một dấu hiệu cho thấy doanh số bán hàng và lợi nhuận của các công ty tăng trưởng,
do đó cổ phiếu được kỳ vọng sẽ tăng theo tương ứng Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy mối quan hệ giữa sản xuất công nghiệp và TTCK là dương như Fama (1981), Fama, French (1990), Gan và ctg (2006), Geske và Roll (1983), Gjerde và Saettem (1999), Kim (2003), Maysami và ctg (2004), Nasseh và Strauss (2000), Quayes và Jamal (2008),
Trang 3Ratanapakorn và Sharma (2007), Ratneswary
và Rasiah (2010) Do đó, bài nghiên cứu đề xuất
giả thuyết sản lượng công nghiệp có ảnh hưởng
tích cực đến TTCK
Mối quan hệ giữa cung tiền và chỉ số
chứng khoán
Hiệu ứng ảnh hưởng của những thay đổi trong
cung tiền đến TTCK có thể được giải thích
thông qua sự tác động thay đổi trực tiếp danh
mục đầu tư và những biến đổi gián tiếp của các
hoạt động kinh tế thực Đặc biệt, với giả định
về tính ưa thích thanh khoản của nhà đầu tư,
một chính sách mở rộng cung tiền sẽ dẫn đến
các mức lãi suất được kỳ vọng giảm đi, từ đó
giá cổ phiếu được kỳ vọng tăng lên Ngoài ra,
lợi nhuận các doanh nghiệp và nền kinh tế
thường được kích thích phát triển bởi chính
sách tiền tệ mở rộng trên Theo các kết quả
thực nghiệm, các lập luận này được chứng thực
bởi Fama (1981), Kwon và Shin (1999), Maysami
và Koh (2000), Mukherjee và Naka (1995),
Ratneswary và Rasiah (2010) Tại thị trường
Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Minh Kiều
và Nguyễn Văn Điệp (2013) và Nguyễn Hữu
Tuấn (2011) cũng tìm thấy kết luận tương tự
Do đó, mối quan hệ giữa TTCK và cung tiền
được giả định là cùng chiều
Mối quan hệ giữa lãi suất và chỉ số
chứng khoán
Về lý thuyết, mối quan hệ giữa giá cổ phiếu
và lãi suất được điều chỉnh bởi sự thay đổi
của các nhà đầu tư trong danh mục đầu tư, bao
gồm tỷ lệ phân bổ đầu tư vào các trái phiếu và
các cổ phiếu Hầu hết các nhà đầu tư sẽ thích
đầu tư vào trái phiếu hơn nếu lãi suất tăng,
nói cách khác giá cổ phiếu sẽ giảm Ở mức lãi
suất thấp, sự tiêu dùng trong nền kinh tế được
kỳ vọng tăng lên Điều này sẽ có tác động tích
cực đến doanh số và lợi nhuận dự kiến của
công ty trong tương lai Mặt khác, phần lớn
các công ty tài trợ tài sản của mình bằng tiền
vay, vì vậy giảm lãi suất sẽ giúp giảm chi phí
vốn cho công ty Nói cách khác, khi đó việc
đầu tư vào TTCK trở nên hấp dẫn hơn Vì vậy, nhóm tác giả đưa ra giả thuyết rằng TTCK và lãi suất (bao gồm lãi suất dài hạn và ngắn hạn) biến động ngược chiều với nhau Một số nghiên cứu có kết luận tương tự như Gjerde và Saettem (1999), Kim (2003), Maysami và ctg (2004), Maysami và Koh (2000), Mukherjee và Naka (1995), Nasseh và Strauss (2000), Ratanapakorn và Sharma (2007)
Phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu
Nhằm xây dựng một mô hình tương tác đa chiều biểu thị mối quan hệ giữa TTCK và các chỉ số kinh tế vĩ mô được giả định ở trên, bài viết nghiên cứu trên dãy số liệu từ tháng 7/2006-02/2014 (92 quan sát với mỗi biến), bao gồm các biến sau:
- VNI: Chỉ số đóng cửa các ngày cuối tháng của VN-Index (tháng 7/2000 = 100), nguồn Datastream Thomson Reuters
- CPI: Chỉ số giá tiêu dùng của tháng (năm gốc 2009 = 100) sau khi hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ, nguồn Datastream Thomson Reuters
- E: Tỷ giá các ngày cuối tháng (VND/USD), nguồn Datastream Thomson Reuters
- IO: Sản lượng công nghiệp theo tháng (triệu đồng) sau khi hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ (thay thế cho biến GDP tần suất tháng không có sẵn trong thống kê), nguồn Tổng cục Thống kê
- M2: Tỷ lệ tăng trưởng cung tiền mở rộng (liquidity aggregates, %), nguồn International Monetary Fund
- SIR: Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 3 tháng (%, lấy ngày cuối tháng), nguồn Datastream Thomson Reuters
- LIR: Lãi suất trái phiếu kỳ hạn 1 năm (%, lấy ngày cuối tháng), nguồn Bloomberg
Trang 4Bảng 1 cung cấp thông tin thống kê mô tả
các biến được sử dụng trong nghiên cứu này
Ước lượng thống kế độ nghiêng (Skewness)
trên các dãy số cho thấy phân bổ dữ liệu
của biến tỷ giá lệch về phía trái, các biến
còn lại lệch về phía phải Bên cạnh đó, ước
lượng thống kê độ dày (Kurtosis) thể hiện
rằng các dãy số đều có phân phối với đuôi
dày hơn phân phối chuẩn Ngoài ra, dựa
trên phân tích sơ bộ về tính tương quan giữa
VN-Index với các yếu tố vĩ mô còn lại qua
hệ số tương quan (correlation) cũng cho thấy
rằng các yếu tố kinh tế vĩ mô có tác động
đến biến động của chỉ số chứng khoán
Phương pháp nghiên cứu
Chuỗi thời gian (time series) có thể được xem
là tạo ra từ một quá trình ngẫu nhiên Một
tính chất của quá trình ngẫu nhiên được các
nhà phân tích đặc biệt quan tâm là tính dừng
Các mô hình hồi quy cổ điển theo phương
pháp bình phương bé nhất (Ordinary Least
Square - OLS) được áp dụng cho các chuỗi dữ
liệu có tính dừng (stationary series), khi các
biến trong mô hình là không dừng thì các
giả thuyết của phương pháp OLS bị vi phạm,
các kiểm định t, F mất hiệu lực, ước lượng
và dự báo không hiệu quả Mặt khác, nếu mô
hình tồn tại ít nhất một biến độc lập có cùng
xu thế với biến phụ thuộc, khi ước lượng mô
hình ta có thể thu được các hệ số có ý nghĩa
thống kê và hệ số xác định R2 rất cao, nhưng
nguyên nhân có thể là do hai biến này có cùng xu thế chứ không phải do chúng tương quan chặt chẽ với nhau, đây là hiện tượng hồi quy giả mạo khi các biến trong mô hình là không dừng Do đó, vì các biến sử dụng trong mô hình là các chuỗi số liệu thời gian nên nhóm tác giả sẽ kiểm định tính dừng của từng biến sử dụng trong mô hình Các chuỗi số liệu đưa vào kiểm tra là các chuỗi dữ liệu thô ban đầu được thu thập, có đơn vị như phần mô tả ở trên
Phương pháp được sử dụng để kiểm định tính dừng là ADF (Augemented Dickey-Fuller test) và PP (Phillips - Perron test) Với chuỗi dữ liệu không dừng sẽ được tiến hành lấy sai phân, sau d lần lấy sai phân thì chuỗi đó sẽ dừng
Nếu các biến dừng tại các bậc khác nhau, bài nghiên cứu sẽ dùng mô hình VAR (Vector Auto Regression) để mô tả những biến động của các biến trong mối liên hệ với nhau Với
Xt=(VNIt, CPIt, Et, IOt, M2t, SIRt, LIRt) là véc tơ (7 x 1), T là số quan sát thì mô hình VAR có dạng:
Hệ các mô hình hiệu chỉnh sai số (VECM) là một trường hợp đặc biệt của mô hình VAR, được sử dụng trong trường hợp các biến dừng tại cùng một bậc và tồn tại mối liên hệ đồng liên kết Do vậy, sau khi kiểm tra tính dừng,
Giá trị
Giá trị
Độ lệch
Hệ số
Bảng 1: Thống kê mô tả các biến
Xt= Φ + Dt AjXt-i + ut (t=1, T)
k i=1
∑
Trang 5nếu xảy ra trường hợp tất cả các biến cùng
dừng ở một bậc thì nhóm tác giả sẽ tiến hành
kiểm định đồng liên kết Johansen (Johansen
cointegration test)
Engle và Granger (1987) đã đưa ra khái niệm về
đồng liên kết (cointegration) như sau: Các biến
xit (x1t, x2t, , xnt) được gọi là đồng liên kết nếu:
- Tất cả các biến xit đều dừng cùng một bậc
d (với d > 0)
- Tồn tại véc tơ (β1, β2, , βn) sao cho et = β1
x1t + β2 x2t + + βn xnt = 0
Phần dư et gọi là sai số cân bằng (equilibrium
error), với các đặc tính của một chuỗi dừng
Nếu kiểm định cho kết quả là giữa các biến
(VNI, CPI, E, IO, M2, SIR, LIR) tồn tại một
mối quan hệ dài hạn, tức trong dài hạn nền
kinh tế sẽ đạt trạng thái cân bằng sau:
et = VNIt + α+ β1CPIt + β2Et + β3IOt + β4M2t
+ β5SIRt + β6LIRt = 0 (1)
Khi đó, nhóm tác giả sẽ tìm các mối quan hệ
trong ngắn hạn giữa các biến thông qua hệ
các mô hình hiệu chỉnh sai số (VECM):
Phần dư et có xu hướng tiến về 0 trong dài
hạn, nhưng trong ngắn hạn et ≠ 0, lúc này
et đóng vai trò là biến điều chỉnh sai số
(error correction term) trong từng phương
trình cân bằng ngắn hạn trong hệ các mô
hình hiệu chỉnh sai số VECM có dạng chuẩn tắc sau:
Trong đó: Δ là ký hiệu sai phân bậc 1 của các biến (giả sử các biến xit cùng dừng ở bậc 1),
α là hệ số của biến điều chỉnh sai số chỉ tốc độ mà các điều chỉnh ngắn hạn tiếp cận đến trạng thái cân bằng dài hạn Nếu giá trị tuyệt đối của α càng lớn thì quá trình điều chỉnh diễn ra càng nhanh
Cuối cùng, các kết quả định lượng nghiên cứu tìm thấy sẽ được củng cố lại bằng phân tích hàm phản ứng đẩy (Impulse Response Function) và phương pháp phân rã phương sai (Variance Decomposition)
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết quả nghiên cứu
Bằng các phương pháp kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu là ADF và PP, kết quả Bảng 2 cho thấy tất cả các biến được xem xét đưa vào mô hình (ở mức level) đều không dừng, nhưng sau khi lấy sai phân thì các biến đều cùng dừng tại sai phân bậc 1 Do vậy, bài nghiên cứu sẽ tiếp tục thực hiện kiểm định đồng liên kết để tìm mối quan hệ dài hạn giữa các biến
Việc lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình là một trong các điều kiện cần được thực hiện
ΔXt = ГiΔXt-i + α et-1+ ut k-1
i=1
∑
Ghi chú: * có ý nghĩa ở mức 5%
Bảng 2: Kiểm tra tính dừng của biến
Trang 6trước khi thực hiện kiểm định đồng liên kết,
bằng cách ứng dụng mô hình VAR cho các biến
với độ trễ tối đa là 8 Dựa trên các tiêu chuẩn
thông tin là AIC (Akaike Information
Criteri-on) và SC (Schwarz Information CriteriCriteri-on), giá
trị thấp nhất của tiêu chuẩn thông tin cho biết
độ trễ tối ưu của mô hình Tiêu chuẩn AIC và
SC đề xuất hai độ trễ tối ưu khác nhau (Bảng
3), tuy nhiên tiêu chuẩn SC sẽ được ưu tiên lựa
chọn trong bài nghiên cứu này bởi tiêu chuẩn
SC thường chọn mô hình phù hợp với một độ
trễ tối ưu thấp hơn Lý do là nếu lựa chọn độ
trễ quá dài sẽ làm mất các bậc tự do trong mô
hình và gây ra vấn đề đa cộng tuyến Do vậy,
độ trễ tối ưu của mô hình là 1, tức là giá trị
của các biến hiện tại sẽ chịu tác động của giá
trị của các biến một tháng trước đó
Căn cứ vào độ trễ được lựa chọn, bài nghiên cứu
thực hiện kiểm định đồng liên kết Johansen
Trong kết quả kiểm định đồng liên kết Johansen, bao gồm kết quả kiểm định vết ma trận (trace test) và kiểm định giá trị riêng cực đại của
ma trận (maximal Eigenvalue test) cho biết số véc tơ đồng liên kết; đồng thời cho biết giá trị của các hệ số trong véc tơ đồng liên kết Kết quả kiểm định Johansen được nhóm tác giả tách ra trình bày trong Bảng 4 và 5 Bảng 4 cho thấy, cả hai kiểm định đều chấp nhận giả thuyết tồn tại 1 véc tơ đồng liên kết Giá trị các hệ số trong véc tơ đồng liên kết (có dạng phương trình (1)) được trình bày trong Bảng 5
Nhằm mục đích nhận xét dấu tương quan của biến VN-Index với từng biến còn lại trong mô hình, kết quả Bảng 5 có thể được diễn giải thành phương trình cân bằng dài hạn (2) sau (bằng cách giữ biến VNI nguyên ở vế trái và chuyển phần còn lại sang vế phải của phương trình):
Ghi chú: * độ trễ được lựa chọn theo tiêu chuẩn
Bảng 3: Lựa chọn độ trễ tối ưu
Ghi chú: Giá trị thống kê t thể hiện trong [] và * biểu thị mức ý nghĩa 5% Biến Trend thể hiện trong mô hình đại diện cho tính xu hướng của chuỗi dữ liệu.
[2,2300]* [-5,6600]* [-4,4300]* [-3,2300]* [5,0600]* [-7,5800]* [2,2000]*
Bảng 5: Véc tơ đồng liên kết từ kiểm định Johansen
Ghi chú: * bác bỏ giả thuyết H 0 ở mức ý nghĩa 5%
λtracetests λtracevalue
λmaxtests λmaxvalue
Bảng 4: Kiểm định đồng liên kết
Trang 7VNIt = -87,999CPIt + 1,443Et + 0,046IOt
+ 66,624M2t - 492,503SIRt + 838,838LIRt -
Trong phương trình cân bằng trên, biến CPI
ý nghĩa ở mức 5%, các biến còn lại (tỷ giá,
sản lượng công nghiệp, cung tiền, lãi suất
ngắn hạn và dài hạn) có ý nghĩa ở mức 1%
Mỗi một sự điều chỉnh trong ngắn hạn được
đề xuất bởi hệ các mô hình hiệu chỉnh sai
số (VECM) Biến điều chỉnh sai số et được
trình bày:
et = VNIt + 87,999CPIt - 1,443Et - 0,046IOt
- 66,624M2t + 492,503SIRt - 838,838LIRt +
Từ biến et được xác định như phương trình (3) trên, hệ các phương trình hiệu chỉnh sai số (VECM) được ghi nhận trong Bảng 6
Trong từng phương trình cân bằng ngắn hạn, ngoại trừ biến hiệu chỉnh sai số, các biến còn lại được hiệu chỉnh về dạng sai phân bậc 1, ký hiệu Δ (vì các biến xem xét đều dừng ở
Ghi chú: Giá trị thống kê t thể hiện trong [] và * biểu thị mức ý nghĩa 5% Δ thể hiện sai phân bậc 1 của biến, với công thức xác định bởi ΔYt = Yt - Yt-1
et-1 -0,0308 0,0001 0,0938 -0,1088 0,0002 -0,000001 0,0008
(0,0090) (0,0001) (0,0300) (0,6860) (0,0004) (0,0001) (0,0002) [-3,2800]* [ 1,0500] [ 3,0700]* [-0,1600] [ 0,6300] [-0,0100] [ 5,0200]* ΔVNIt-1 0,1782 -0,0001 -0,0680 1,9709 0,0113 0,0005 0,0035
(0,1110) (0,0010) (0,3620) (8,1350) (0,0040) (0,0010) (0,0020) [ 1,6000] [-0,0700] [-0,1900] [-0,2400] [ 2,7200]* [ 0,3600] [ 1,9100] ΔCPIt-1 -14,1449 0,7059 -16,9655 632,4813 -0,5015 0,1263 0,2207
(9,4630) (0,0930) (30,7660) (692,1020) (0,3350) (0,1250) (0,1550) [-1,4900] [7,6100]* [-0,5500] [ 0,9100] [-1,4100] [ 1,0100] [ 1,4200] ΔEt-1 0,0085 0,0007 0,0049 -2,5182 -0,0016 -0,0006 0,0004
(0,0380) (0,0004) (0,1220) (2,7450) (0,0010) (0,0005) (0,0006) [0,2300] [1,9400] [-0,0400] [ -0,9200] [-1,1400] [-1,1300] [0,5800] ΔIOt-1 0,0003 -0,0000005 0,0012 -0,4395 0,00001 0,000004 0,00003
(0,0010) (0,00001) (0,005) (0,106) (0,00005) (0,00002) (0,00002) [0,2200] [-0,0300] [0,2400] [-4,1500]* [0,1800] [0,2200] [ 1,3200] ΔM2t-1 1,8196 -0,0498 0,2831 -106,1740 0,1574 -0,0680 -0,0565
(2,6750) (0,0260) (8,6960) (195,6270) (0,1000) (0,0350) (0,0440) [ 0,6800] [-1,9000] [0,0300] [-0,5400] [ 1,5700] [-1,9300] [-1,2900] ΔSIRt-1 6,0285 0,0551 -4,3449 -1430,0600 -0,4019 0,1015 -0,0856
(9,2230) (0,0900) (29,9840) (674,5060) (0,3460) (0,1210) (0,1510) [ 0,6500] [0,6100] [-0,1400] [-2,1200]* [-1,1600] [ 0,8400] [-0,5700] ΔLIRt -9,4653 0,02140 63,8270 394,7050 0,2576 0,4400 0,7594
(8,4690) (0,0830) (27,5340) (619,3920) (0,3180) (0,1120) (0,1390) [-1,1200] [0,2600] [ 2,3200]* [0,6400] [ 0,8100] [ 3,950]* [ 5,4700]*
C 14,0061 0,2232 70,5360 1766,3190 0,3679 -0,1342 -0,3009
(12,0650) (0,1180) (36,2220) (882,3440) (0,4520) (0,1590) (0,1980) [ 1,1600] [ 1,8900] [ 1,8000] [ 2,0000]* [0,8100] [-0,8400] [-1,5200]
Bảng 6: Các phương trình cân bằng trong ngắn hạn
Trang 8bậc 1, nên biến đưa vào mô hình VECM phải
được đưa về dạng sau khi đã lấy sai phân bậc 1)
Bởi vì tồn tại những khó khăn nhất định
trong việc diễn giải kết quả của hệ mô hình
VECM, nên bài nghiên cứu sẽ phân tích hàm
phản ứng đẩy và phân rã phương sai để minh
họa rõ hơn sự biến động của VN-Index từ
những thay đổi của các tác nhân vĩ mô trong
giai đoạn quan sát 10 tháng
Hàm phản ứng đẩy (Impulse Response
Function): Hình 1 vẽ ra đường biến động của
VN-Index trước từng tác nhân ảnh hưởng:
với giả định khi 1 biến vĩ mô bất kỳ thay đổi
1 S.D (độ lệch chuẩn, standard deviation),
các biến còn lại không đổi thì biến VN-Index
sẽ phản ứng lại như thế nào và trong bao lâu
thì VN-Index ổn định trở lại Kết quả phân
tích cho thấy khi VN-Index được thay đổi 1
S.D sẽ có tác động đẩy chính nó tăng lên, tác
động này sẽ giảm dần theo thời gian, sau hơn 5 tháng thì biến VN-Index sẽ không còn chịu ảnh hưởng từ “cú sốc” thay đổi 1 S.D trước đó nữa (và tương tự cho các biến còn lại) Tóm lại, từ Hình
1 ta có thể thấy biến CPI và lãi suất ngắn hạn có tác động âm đến sự biến động VN-Index, các biến còn lại có tác động dương đến VN-Index
Phân rã phương sai (Variance Decomposition) được áp dụng nhằm trả lời câu hỏi trong một sự thay đổi của VN-Index được giải thích bởi bao nhiêu % của từng biến vĩ mô còn lại Kết quả Bảng 7 cho thấy, sự thay đổi của VN-Index được giải thích chủ yếu bởi cú sốc của chính nó Biến lãi suất dài hạn có tác động đến thay đổi VN-Index nhiều hơn so với các biến vĩ mô khác
Thảo luận
Từ kết quả mô hình ở phương trình (2), ta có thể đưa ra các kết luận về các mối tương
Thay đổi của VNI khi tăng 1 S.D của VNI
Thay đổi của VNI khi tăng 1 S.D của LIR
Thay đổi của VNI khi tăng 1 S.D của CPI Thay đổi của VNI khi tăng 1 S.D của E
Thay đổi của VNI khi tăng 1 S.D của IO Thay đổi của VNI khi tăng 1 S.D của M2 Thay đổi của VNI khi tăng 1 S.D của SIR
Hình 1: Phân tích hàm phản ứng đẩy
Trang 9quan dài hạn giữa VN-Index và các biến vĩ
mô như sau:
- Trong trường hợp các biến còn lại trong
phương trình không thay đổi, mối quan hệ
giữa VN-Index và lạm phát, giữa VN-Index và
lãi suất ngắn hạn là tương quan âm; mối quan
hệ giữa VN-Index và tỷ giá, VN-Index và sản
lượng công nghiệp, VN-Index và cung tiền,
VN-Index và lãi suất dài hạn là tương quan
dương Như vậy, ngoại trừ mối quan hệ giữa
VN-Index với lãi suất dài hạn, các giả thuyết
ban đầu về mối tương quan giữa VN-Index với
các biến vĩ mô được chứng minh là phù hợp
Mối tương quan dương giữa VN-Index và lãi
suất dài hạn có thể được giải thích bởi tác
động bù trừ giữa sự tăng trưởng dòng tiền
từ cổ phiếu với sự thay đổi lãi suất dài hạn
Ở một số nghiên cứu trên thế giới, kết quả
tương tự cũng được tìm thấy, như Apergis và
Eleftheriou (2002) ở thị trường Athens; Erdem,
Arslan và Erdem (2005) ở thị trường Istanbul
Mối quan hệ dương giữa TTCK và lãi suất dài
hạn được tìm thấy bởi Bohl, Siklos và Werner
(2007) được các tác giả giải thích do hiện
tượng phương sai thay đổi (heteroskedasticity)
Nghiên cứu của Wongbangpo và Sharma
(2002) tìm thấy mối tương quan dương giữa
TTCK ở Malaysia, Indonesia với lãi suất dài
hạn, trong khi tại TTCK Philippines, Singapore
và Thái Lan là tương quan âm Nguyên nhân
chính dẫn đến sự khác nhau trên là do sự
khác biệt về tỷ lệ lạm phát và cung tiền ở
mỗi nước Vì vậy, mặc dù nhiều lập luận đề xuất rằng lãi suất có tác động âm đến TTCK, nhưng kết quả nghiên cứu định lượng vẫn đưa ra các kết luận khác nhau
- So sánh với các nghiên cứu thực nghiệm tương tự tại TTCK Việt Nam là Nguyễn Minh Kiều và Nguyễn Văn Điệp (2013), Nguyễn Hữu Tuấn (2011), các nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng cung tiền có mối quan hệ cùng chiều với VN-Index, lạm phát có mối quan hệ ngược chiều với VN-Index; với các mối quan hệ khác mà các nghiên cứu đã kết luận là không có ý nghĩa/không xem xét, bài nghiên cứu này đã đề xuất: VN-Index tương quan âm với lãi suất ngắn hạn và tương quan dương với các biến tỷ giá, sản lượng công nghiệp, lãi suất dài hạn
- Trên thực tế, với sự thay đổi phức tạp của các biến vĩ mô (có thể là cùng lúc), mô hình cân bằng dài hạn đề xuất rằng: Trong dài hạn, sự thay đổi của các chỉ số vĩ mô sẽ đạt được sự cân bằng như phương trình (2) thông qua những sự điều chỉnh trong ngắn hạn
Kết luận về các cân bằng trong ngắn hạn được rút ra từ hệ các phương trình cân bằng VECM trong Bảng 6:
- Trong phương trình cân bằng ngắn hạn của VN-Index, tỷ lệ hiệu chỉnh sai số góp phần đạt được cân bằng dài hạn là khoảng 3,08 %/tháng,
Bảng 7: Phân rã phương sai (%)
Trang 10ở mức ý nghĩa thống kê 5% Hệ số này trong
nghiên cứu của Nguyễn Minh Kiều và Nguyễn
Văn Điệp (2013) là 13.04%/tháng, trong nghiên
cứu của Nguyễn Hữu Tuấn (2011) là 18.2%/tháng
Ý nghĩa là tốc độ loại bỏ những biến động trong
ngắn hạn để đạt được trạng thái như phương
trình cân bằng dài hạn trình bày ở trên là rất
chậm (khoảng hơn 32 tháng), so với đề xuất của
2 nghiên cứu trước thì tốc độ này chậm hơn 4
lần của Nguyễn Minh Kiều và Nguyễn Văn Điệp
(2013) và 6 lần của Nguyễn Hữu Tuấn (2011)
Ngoài ra, phương trình cân bằng ngắn hạn
của VN-Index còn đề xuất, trong ngắn hạn
VN-Index sẽ chịu sự tác động ngược chiều bởi
chính nó trong tháng trước đó và với các biến
vĩ mô CPI, lãi suất ngắn hạn, cũng như chịu
tác động cùng chiều bởi biến tỷ giá, sản lượng
công nghiệp, cung tiền, lãi suất dài hạn (cùng
dấu với các mối quan hệ trong dài hạn)
- Ở phương trình cân bằng ngắn hạn của
biến CPI, sự biến động của chính nó trong
tháng trước có ý nghĩa giải thích sự biến động
trong tháng này (mối tương quan dương, mức
ý nghĩa 5%) Trong phương trình cân bằng
ngắn hạn của biến tỷ giá và biến lãi suất dài
hạn, tỷ lệ hiệu chỉnh sai số về cân bằng dài
hạn tương ứng là 9,38%/tháng và 0,08%/tháng
(mức ý nghĩa 5%) Với phương trình cân bằng
ngắn hạn của biến sản lượng công nghiệp,
sản lượng công nghiệp trong tháng này sẽ
chịu tác động âm từ giá trị của chính nó trong
tháng trước và biến lãi suất ngắn hạn trong
tháng trước (mức ý nghĩa 5%) Ở mức ý nghĩa
thống kê 5%, sự thay đổi của lãi suất dài hạn
trong tháng trước sẽ có tác động dương làm
thay đổi biến tỷ giá, lãi suất ngắn hạn và
chính nó (lãi suất dài hạn) Phương trình cân
bằng ngắn hạn của cung tiền cho thấy nó chịu
sự tác động dương có ý nghĩa 5% từ sự thay
đổi của VN-Index trong tháng trước
Kết luận
Bài viết sử dụng phương pháp kiểm định
đồng liên kết và mô hình hiệu chỉnh sai số
để nghiên cứu mối quan hệ giữa VN-Index và các biến vĩ mô: lạm phát, tỷ giá, sản lượng công nghiệp, cung tiền, lãi suất ngắn hạn, lãi suất dài hạn Mục tiêu nghiên cứu đạt được thông qua việc phân tích phương trình đồng liên kết của các biến (thể hiện sự cân bằng đạt được trong dài hạn) và các mô hình hiệu chỉnh sai số của từng biến (thể hiện sự cân bằng ngắn hạn và sự điều chỉnh để đạt được cân bằng dài hạn) Kết luận quan trọng được rút ra đó là giữa các biến tồn tại các mối tương tác đa chiều và trong dài hạn nền kinh tế sẽ đạt được trạng thái cân bằng
Khi tách tác động của từng biến vĩ mô lên VN-Index (giả định các biến vĩ mô còn lại không đổi), nghiên cứu cho thấy mối tương quan giữa lạm phát và VN-Index, lãi suất ngắn hạn và VN-Index là tương quan âm; trong khi đó mối tương quan giữa tỷ giá và VN-Index, giữa sản lượng công nghiệp và VN-Index, giữa cung tiền và VN-Index, lãi suất dài hạn và VN-Index là tương quan dương (kể cả trong ngắn hạn và dài hạn, mức
ý nghĩa thống kê 5%) Hơn nữa, trong các biến vĩ mô xem xét, biến lãi suất dài hạn có tác động giải thích lớn nhất về sự biến động của VN-Index Để đạt được trạng thái cân bằng trong dài hạn, kết quả nghiên cứu cho biết mỗi tháng có 3,08% mức chênh lệch giữa biến thiên ngắn hạn và dài hạn được loại trừ, đây được nhận xét là một tốc độ rất chậm
Tóm lại, kết quả nghiên cứu cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách một cái nhìn tổng quan mang tính chất định lượng về các mối quan hệ tác động truyền dẫn từ các yếu tố vĩ mô đến chỉ số chứng khoán và ngược lại
Nghiên cứu trên được thực hiện với sự giới hạn về số quan sát, cụ thể là biến sản lượng công nghiệp và lãi suất trái phiếu 1 năm giai đoạn trước tháng 7/2006, cũng như biến cung tiền M2 từ sau tháng 02/2014 Bên cạnh việc tăng số quan sát (nếu có thể), hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất là bổ sung vào phương trình các biến giá vàng, giá dầu để