1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo trường hợp TTCK VN

179 766 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo trường hợp thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả Lờ Đạt Chớ
Trường học Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế tài chính – ngân hàng
Thể loại Luận án tiến sĩ
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 3,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sử dụng mô hình mạng nơ ron nhân tạo vào thị trường chứng khoán việt nam

Trang 1

là  không  phù hợp  với đặc điểm  của  thị  trường,  của  biến dự báo?   Qua  quá trình  tìm  hiểu,  những công trình nghiên cứu trên thế giới về lĩnh vực phân tích và dựa báo, Luận án chọn mô  hình mạng thần kinh nhân tạo (ANN). Những luận cứ của mô hình mạng ANN phù hợp với  biến nghiên cứu (biến động của thị trường tài chính mang tính phi tuyến (Bollerslev (1986),  Fang  và  cộng  sự  (1994),…),  Chatterjee  và  cộng  sự  (2000)  cung  cấp  một  tổng  quan  về  hệ  thống  ANN  và phạm  vi sử  dụng  rộng  rãi  của  chúng  trên  thị  trường  tài  chính…  làm  những  bằng chứng thực nghiệm tốt cho quá trình nghiên cứu mô hình mạng ANN. Đồng thời, quá  trình  nghiên  cứu  mạng  ANN  trong  việc  ứng  dụng  vào  thị  trường  tài  chính  không  yêu  cầu  những giả  định nghiêm ngặt như mô hình hồi quy. Điều này cho thấy, tính hấp dẫn của mô  hình ANN với đặc điểm của thị trường tài chính nhất là những thị trường của những nền kinh 

tế mới nổi như Việt Nam. Do đó, luận án tập trung nghiên cứu khả năng ứng dụng mô hình  ANN trong dự báo thị trường chứng khoán Việt Nam. 

Dựa trên mục tiêu nghiên cứu của luận án: 

1.  Khả năng ứng dụng mô hình ANN trong dự báo giá chứng khoán trên thị trường  chứng khoán Việt Nam. 

(2).  Qua đó  vận dụng  mô  hình  ANN để  khảo  sát khả  năng dự báo  giá  chứng  khoán  trên thị trường chứng khoán Việt Nam. 

(3).  Quá  trình  nghiên  cứu  khả  năng  ứng  dụng  mô  hình  mạng  ANN  vào  dự  báo  giá  chứng  khoán  Việt Nam,  luận  án  đã  chỉ  ra  cấu  trúc  mạng truyền  thẳng  với  hàm

Trang 2

truyền là hàm phi tuyến sẽ cho ra kết quả dự báo tốt hơn các cấu trúc mạng ANN  khác. 

(4).  Đồng thời, trong quá trình khả sát khả  năng ứng dụng mô hình ANN để dự báo  giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam, luận án đã chứng minh  tính hiệu quả và sự vượt trội của mô hình mạng ANN hơn hẳn mô hình hồi quy  truyền thống thường được áp dụng lâu nay trên thị trường. Điều này cho thấy, khả  năng dự báo giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam là hoàn toàn 

có thể thực hiện được nếu được tiếp cận trên các cấu trúc mạng ANN khác nhau  của mô hình ANN. Điều này làm thay đổi những kết luận của những công trình  nghiên  cứu  trước đây  khi  phân  tích  và  dự báo  giá  chứng  khoán  trên  thị  trường  chứng khoán Việt Nam. 

(5).  Không dừng lại ở kết quả trên, luận án tiếp tục khảo sát các biến giải thích có thể 

có trên  cơ  sở thu  thập  thông  tin,  luận  án đã  tìm  kiếm các nhóm biến  giải  thích  khác nhau cho những khung thời gian phân tích khác nhau để tìm kiếm các biến 

có khả năng dự báo tốt nhất. Qua đó, nhóm biến phản ánh tình hình tài chính của  doanh nghiệp niêm yết lại cho khả năng dự báo tốt nhất co sự thay đổi giá chứng  khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên các biến vĩ mô cũng cho 

ra tác động mạnh đến sự thay đổi về giá trên thị trường chứng khoán, nhưng mức 

độ dự báo lại không cho kết quả chính xác  hơn nhóm biến tài chính. Điều đáng  chú ý là, nếu cùng các biến khảo sát trên thì mô hình hồi quy truyền thống lại tỏ ra  kém hiệu quả. 

(6).  Trong quá  trình tìm kiếm, khảo sát các  nhóm biến,  luận án đã phát hiện ra  tính  chất hành vi của nhà đầu tư tồn tại khá mạnh mẽ, điều này đã tác động đến quá  trình biến động giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Quá trình  phân tích này cũng trùng hợp với những nghiên cứu trước đây về sự tồn tại hành 

vi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, chính hành vi này quyết định nên 

xu hướng biến động trong giá chứng khoán mà chưa có mô hình nào đo lường để 

dự báo. Như vậy, những thị trường mà nơi đó yếu tố hành vi của con người quyết  định nên xu hướng của sự thay đổi thì khả năng ứng dụng mô hình ANN càng tỏ 

ro tính hiệu quả và sự vượt trội cao. 

Như vậy, dựa trên các mục tiêu nghiên cứu, luận án đã phát hiện ra những kết quả trên. Điều  này cung cấp thêm những phương pháp, công cụ trong phân tích và dự báo các biến kinh tế, 

điển hình là thị trường chứng khoán Việt Nam. 

Trang 3

GS.TS. Trần Ngọc Thơ  Lê Đạt Chí 

Chủ tịch hội đồng cấp cơ sở 

PGS.TS. Phan Thị Bích Nguyệt

Trang 4

1.  Tính cấp thiết của luận án 

Việc  nghiên  cứu  những  công  cụ  hoặc  mô  hình  dự  báo  thị  trường  tài  chính  và  nền kinh tế có một lịch sử lâu đời. Phân tích chuỗi thời gian là một trong những cách tiếp cận truyền thống được sử dụng rộng rãi nhất trong lĩnh vực này. Có hai loại mô hình 

mô tả hành vi của chuỗi thời gian như sau. 

Thứ nhất là các mô hình tuyến tính: phương pháp tuyến tính để phân tích chuỗi thời gian thường được áp dụng thông qua một trong những kỹ thuật sau đây: 

a.  Kỹ thuật Box ­ Jenkins 

có tỷ lệ thành công thấp khi được sử dụng để dự báo thị trường tài chính. 

Những bằng chứng gần đây chỉ ra rằng thị trường tài chính là phi tuyến. Tuy nhiên, phương pháp tuyến tính vẫn cung cấp những cách tiếp cận tốt để mô tả hệ thống phi tuyến  được  tìm  thấy  trong  phân  tích  chuỗi  thời  gian  thị  trường  tài  chính  (Fang  và cộng sự, 1994). Bollerslev (1986) cung cấp một cái nhìn tổng quát về sự tồn tại của tính phi  tuyến  trong dữ  liệu  tài  chính,  và phát  triển  một mô hình  để dự đoán chuỗi thời  gian  tài  chính  được  gọi  là  GARCH  (Generalized  Autoregressive  conditional heteroskedasticity ­ GARCH) kết hợp tất cả các đặc trưng quan sát được trong chuỗi này. Nhưng nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng (chứ không phải đi từ từ) theo thời  gian.  Tuy nhiên, những đặc  trưng này không dễ dàng được  tính  toán bằng  các 

mô hình tuyến tính, và điều này được chứng minh qua việc các hệ số ước lượng có 

độ dốc lớn. Nhiều nhân tố tác động đến thị trường tài chính và nền kinh tế bao gồm

Trang 5

dự báo thị trường tài chính và sự chuyển động của nền kinh tế là khá khó khăn. Mạng  thần  kinh nhân  tạo  ­ Artificial  Neural  Network  (ANN)  ­ là  một  công  cụ hữu ích trong tài chính định lượng hiện đại và được biết đến như một  kỹ thuật mô hình hóa thống kê hữu ích. ANN là một công cụ tốt cho cả các nhà nghiên cứu và những nhà thực nghiệm. Mô hình ANN có thể tìm ra mối quan hệ hàm trong một tập hợp dữ liệu  và  thực  hiện  các  nhiệm  vụ  như  nhận  dạng  mẫu  hình,  phân  loại,  đánh  giá,  mô hình hóa, dự báo và kiểm soát (Anderson và Rosenfeld, 1988; Hecht­Nielsen, 1990; Hertz và cộng sự, 1991;  Hiemstra và Jones, 1994). Một vài tính năng khác biệt của ANN làm cho chúng có giá trị và hấp dẫn trong dự báo. 

Một số bài viết xem xét những báo cáo trên tạp chí cách mà ANN có thể áp dụng cho thị trường tài chính và nền kinh tế. Chatterjee và cộng sự (2000) cung cấp một tổng quan  về  hệ  thống  ANN  và  phạm  vi  sử  dụng rộng  rãi  của  chúng  trên  thị  trường tài chính. Công trình của họ thảo luận về ưu điểm vượt trội của ANN so với các phương pháp truyền thống. Nghiên cứu kết  luận với một mô tả về việc sử dụng thành công ANN  bởi  nhiều  tổ  chức  tài  chính  trong  việc  dự  báo  giá  chứng  khoán.  Trong  sách Neural Network cho dự báo tài chính của Edward Gately, mô tả phương pháp chung 

để  xây  dựng,  huấn  luyện,  và  kiểm  tra  một  ANN  bằng  cách  sử  dụng  phần  mềm thương mại hiện hữu.  Luận  án  sẽ  tập  trung  vào  phương pháp này  để  triển  khai  quá trình  phân  tích  và dự  báo  giá  chứng  khoán  trên  thị  trường  chứng  khoán  Việt  Nam như  là  một  minh  chứng  cho  khả  năng  ứng  dụng  của  ANN  trong  dự  báo  kinh  tế. Không chỉ trong lĩnh vực dự báo giá chứng khoán, luận án còn mong muốn sử dụng phương  pháp  ANN  áp  dụng  cho  các  lĩnh  vực  tài  chính  và  nền  kinh  tế  như  là  một công cụ dự báo hỗ trợ cho các phương pháp truyền thống. Chính vì vậy, tác giả chọn 

đề tài với tên gọi “Ứng dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo trong dự báo kinh tế – Trường hợp thị trường chứng khoán Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu cho luận án 

tiến sĩ của mình. 

2.  Tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung luận án 

Từ những nghiên  cứu sơ  khai  của  Mc Culloch  và  Pitts  trong những năm  1940,  trải qua  nhiều  năm  phát  triển,  cho  đến  hơn  10  năm  trở  lại  đây  cùng  với  sự  phát  triển mạnh mẽ của ngành công nghệ thông tin trong việc xử lý dữ liệu cho cả phần cứng 

và phần mềm đã giúp cài đặt những ứng dụng phức tạp của lý thuyết mạng thần kinh nhân tạo. Lý thuyết mạng thần kinh nhân tạo những năm gần đây mới thực sự được chú  ý  và  nhanh  chóng  trở  thành  một  hướng  nghiên  cứu  đầy  triển  vọng  trong  mục đích xây dựng mô hình mô phỏng theo trí tuệ con người Sức mạnh thuộc về bản chất tính  toán  của  các  thuật  toán  mạng,  song  những  nghiên  cứu  thực  nghiệm  đã  thành

Trang 6

công  trong nhiều  lĩnh  vực, những nghiên cứu  thực nghiệm  trong  lĩnh  vực  tài  chính cũng được sự quan tâm và cho ra nhiều kết quả tốt ở những  nền kinh tế khác nhau. 

Từ  những  nghiên  cứu  việc  ứng  dụng  ANN  để  phân  tích  những  chuỗi  dữ  liệu  thời gian nên được thực hiện dựa trên trấu trúc ANN nào cho các chỉ tiêu dự báo như tăng trưởng kinh tế, biến động tỷ giá hối đoái, và thậm chí là giá chứng khoán trên các thị trường.  Quá  trình  nghiên  cứu  mạng  ANN  còn  được  so  sánh  với  những  mô  hình truyền  thống  hiện  đang  được  sử dụng  cho  việc  phân  tích  và  dự báo  trong  lĩnh  vực kinh tế như mô hình hồi quy tuyến tính, mô hình hồi quy phi tuyến. Quá trình nghiên cứu này đã cho ra những kết quả lợi  thế của mô hình ANN đặc biệt là ở những thị trường mới nổi trong phân tích và dự báo. Như vậy, ở thị trường Việt Nam liệu quá trình  triển  khai nghiên cứu ứng dụng mô hình ANN  có  hiệu quả  không  và  có  vượt trội hơn các công cụ phân tích và dự báo khác? Trên cơ sở tiếp cận này, tôi đi vào nghiên cứu quá trình hoạt động  của mạng ANN trong lĩnh vực kinh tế, tài chính  và những  kết  quả nghiên  cứu đạt được  ở  các  thị  trường  khác  trên  thế  giới để  làm nền 

tảng cho việc nghiên cứu. 

3.  Mục tiêu nghiên cứu 

Trên  phương  diện  nghiên  cứu  mô  hình  mạng  ANN  và  những  nguyên  lý hoạt  động của nó để từ đó ứng dụng vào lĩnh vực kinh tế và tài chính vẫn còn là một nội dung chưa  được  quan  tâm  nhiều.  Trong  phạm  vi  của  nền  kinh  tế  Việt  Nam,  tác  giả  tập trung nghiên cứu việc ứng dụng mô hình này để nhằm phân tích và dự báo giá chứng khoán  trên  thị  trường  chứng  khoán  Việt  Nam  trước  các  biến  giải  thích  khác  nhau, như là một minh chứng cho khả năng ứng dụng của mô hình ANN trong dự báo kinh 

tế. Qua quá trình ứng dụng ANN vào thị trường chứng khoán  Việt  Nam, luận án  sẽ giải quyết thêm một số vấn đề khác như: cấu trúc mạng ANN nào tốt cho vấn đề dự báo giá chứng  khoán trên thị trường  chứng khoán  Việt Nam, hiệu quả của mô hình ANN so với mô hình hồi quy tuyến tính  biến nào sẽ tác động lên sự biến động của giá chứng khoán… Cụ thể hơn, luận án sẽ giải quyết bốn mục tiêu nghiên cứu sau: 

1.  Khả  năng  ứng  dụng  mô  hình  ANN  trong  dự  báo  giá  chứng  khoán  trên  thị trường chứng khoán Việt Nam. 

2.  Lựa chọn cấu trúc mạng ANN phù hợp trong dự báo giá chứng khoán. 

3.  Hiệu quả ứng dụng mô hình ANN tốt hơn mô hình hồi quy tuyến tính. 

4.  Tìm ra nhóm biến có thể giúp dự báo giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam qua đó gợi ý một số chính sách liên quan

Trang 7

(1).  Mô  hình  mạng  ANN  là  gì  và  cơ  chế  vận  hành  của  nó  như  thế  nào  trong  thị trường tài chính? 

(2).  Những quan điểm và bằng chứng thực nghiệm trong việc ứng dụng mô hình ANN trong phân tích và dự báo trên thị trường tài chính? 

(3).  Khả  năng  ứng  dụng  mô  hình  ANN  trong  dự  báo  giá  chứng  khoán  trên  thị trường chứng khoán Việt Nam? 

(4).  Cấu trúc mạng ANN nào sẽ thích hợp để dự báo giá chứng khoán? 

(5).  Liệu khả năng ứng dụng mô hình ANN trong dự báo giá chứng khoán trên thị trường  chứng  khoán  Việt  Nam  có  tính  hiệu  quả  hơn  mô  hình  hồi  quy  tuyến tính truyền thống? 

(6).  Nếu mô hình ANN tốt hơn thì những biến giải thích nào sẽ giúp cho chúng ta 

sử dụng để phân tích và dự báo giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam? 

Việc giải quyết các mục tiêu nghiên cứu trên cho thấy giá trị hiệu quả của mô hình ANN trong việc ứng dụng mô hình này trong phân tích và dự báo các biến kinh tế. Chính vì vậy, các chủ thể liên quan trong nền kinh tế bao gồm các nhà nghiên cứu và các  nhà  thực  hành  sẽ  áp  dụng  mô  hình  ANN  để  thay  thế  hoặc  bổ  sung  cho  các 

phương pháp hồi quy. 

Để giải quyết các nội dung nghiên cứu nêu trên, tác giả luận án đã sử dụng phương pháp định lượng dựa trên việc nghiên cứu những thuật toán mô phỏng của mạng thần kinh nhân tạo để tiến hành lựa chọn cấu trúc ANN thích hợp nhằm ứng dụng trong 

dự báo giá chứng khoán. Việc triển khai quá trình ứng dụng mô hình ANN trong dự báo giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam được dựa trên quy trình 

đề  xuất  8  bước  của  năm  nhà  nghiên  cứu  Deboeck,  Masters,  Blum  và  Nelson  và Illingworth. Ngoài ra quá trình thử nghiệm các cấu trúc mạng ANN được thực hiện 

dựa trên phần mềm hỗ trợ xử lý dữ liệu có bản quyền NeuralSolution 5.0. 

5.  Các phát hiện và kết quả nghiên cứu 

Luận án của tác giả đã đóng góp các kết quả nghiên cứu sau:

Trang 8

·  Khả năng ứng dụng mô hình ANN để dự báo giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam là hoàn toàn có thể thực hiện

·  Mô hình ANN dùng để dự báo giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam cho ra kết quả dự báo ngoài mẫu tốt hơn mô hình hồi quy tuyến tính truyền thống

·  Cấu  trúc mạng  thần  kinh  truyền  thẳng  cho ra  kết  quả dự báo  tốt  hơn  một  số cấu  trúc  mạng  khác  với  hàm  truyền  là  hàm  phi  tuyến.  Nói  cách  khác,  mối quan hệ giữa các biến giải thích và biến phụ thuộc là quan hệ phi tuyến tính

·  Dựa trên việc nghiên cứu ứng dụng mô hình ANN để dự báo giá chứng khoán trên  thị  trường  chứng  khoán  Việt  Nam,  luận án  đã  cho  thấy  rõ  tác  động  của các nhóm biến kinh tế vĩ mô của nền kinh tế, nhóm biến thể hiện tình hình tài chính của các doanh nghiệp niêm yết… lên sự thay đổi giá chứng khoán, trong khi đó nếu dùng mô  hình hồi  quy tuyến tính  truyền thống thì  gần như không tìm thấy sự tác động này

·  Qua  quá  trình  phân  tích  và  dự  báo  giá  chứng  khoán  trên  thị  trường  chứng khoán Việt  Nam, luận án  có gợi ý một số chính sách để phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam lên một tầm cao mới nhằm phát triển mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 9

Chương  1:  QUAN  ĐIỂM  VÀ  BẰNG  CHỨNG  THỰC  NGHIỆM  VIỆC  ỨNG 

DỤNG MÔ HÌNH MẠNG THẦN KINH NHÂN TẠO TRONG DỰ 

BÁO 

Mỗi  một  mô hình phân tích  và dự báo  đều dựa  trên những nền  tảng giả định  khác  nhau. Các mô hình trước nay được sử dụng phổ biến để phân tích và dự báo đều dựa  trên  phương  pháp  phân phối  chuẩn  của  các  biến  đưa  vào  mô  hình.  Quan  điểm  về  phân phối chuẩn đã  đưa  ra nền tảng  toán học  cho học  thuyết thị  trường hiệu quả.  Quan điểm này đã đưa đến việc hình thành các mô hình phân tích và định giá chứng  khoán như mô hình định giá tài sản vốn ­ CAPM, mô hình định giá quyền chọn Black  – Scholes, mô hình đa nhân tố, mô hình Fama­French… Tuy nhiên, các mô hình này  lại không mấy hiệu  quả khi phân  tích  và dự báo những  chỉ  tiêu  đầy tính biến động  trong thị trường tài chính. Một phương pháp mô phỏng bộ não con người được xây  dựng dựa  trên những nền  tảng tiếp cận  khác  với  các phương  pháp trên.  Quá trình 

mô phỏng này được gọi là mô hình mạng thần kinh nhân tạo ­ ANN. Những quy tắc  khi ứng dụng mô hình ANN không như những phương pháp dựa trên quan điểm phân  phối chuẩn. Quá trình ứng dụng mô hình ANN dựa trên quan điểm: các chủ thể tham  gia thị trường, quyết định xu hướng thị trường là những nhà đầu tư với những hiểu  biết khác nhau. Nói cách khác, chính nhà đầu tư khi tiếp nhận thông tin và sẽ đưa ra  quyết  định  trước  những  thông  tin  này  dựa  trên  những  hiểu  biết  và  phân  tích  của  chính  mình.  Việc  ứng dụng  mô hình  ANN  khá phổ biến  trong  lĩnh  vực  điện  tử,  sản  xuất rô bốt hay như trong lĩnh vực y học… Quá trình ứng dụng mô hình ANN trong  thị trường tài chính để phân tích và dự báo chỉ được quan tâm trong hơn một thập  niên gần đây. Quá trình ứng dụng này lớn mạnh nhờ sự hỗ trợ của ngành công nghệ  thông  tin  đã  mang  lại  một  số  thành  tựu  nhất  định  về  tính  hiệu  quả  của  mô  hình. 

Chính vì vậy, tiếp cận nghiên cứu mô hình ANN ở Việt Nam là rất cần thiết. 

1.1.  Quan điểm lựa chọn công cụ phân tích và dự báo 

Phương pháp phân phối chuẩn hay đường cong hình chuông là một công cụ phổ biến trong việc phân  tích dữ  liệu  kinh  tế  tài  chính đặc  biệt  là  trong phân  tích  giá chứng khoán. Phương pháp phân phối chuẩn chính là nền tảng toán học cho học thuyết thị trường hiệu quả của lĩnh vực tài chính. Quan điểm của phương pháp phân phối chuẩn cho  rằng,  giá  chứng  khoán là độc  lập ngẫu nhiên  với  nhau. Phương pháp này  giúp chúng ta hiểu một cách dễ dàng bằng cách đơn giản hóa và loại bỏ những yếu tố trừu tượng mà chúng ta nghĩ rằng không phù hợp với hệ thống. Vấn đề ở đây chính là “sự không phù hợp”. Trong thế giới thực, những thứ được xem là “không phù hợp” này không  cho  thấy  là  không  quan  trọng  mà  hơn  thế  nó  lại  rất  quan  trọng.  Benoit Mandelbrot, tại trung tâm nghiên cứu của IBM tại Yorktown Heights, New York, đã

Trang 10

“Mỗi  sự  thay  đổi  giá  cụ  thể  là  ngẫu  nhiên  và  không  thể  dự  báo  được.  Tuy  nhiên, chuỗi sự thay đổi lại có sự phụ thuộc nhau trong một phạm vi” (Gleick, 1987, trang 86). Thực tế, giá cả hàng hóa và giá cả chứng khoán có quan hệ phi  tuyến. Nhưng câu  hỏi đặt  ra  là  tại  sao  giá  chứng  khoán  lại  có  mối  quan  hệ phi  tuyến  hay  có  xu hướng? 

Thế kỷ 20 được đánh dấu bởi 3 phát minh đáng nhớ:  (1) thuyết  tương đối  (relative theory)  và  (2)  kỹ  thuật  định  lượng  (quantum  mechanic)  và  (3)  khoa  học  hỗn  loạn (chaos  science)  đã  cho  thấy  rằng  bản  chất  của  tự  nhiên  là  không  hề  độc  lập.  Sự chuyển động của các vật chất  luôn có ảnh hưởng lẫn nhau hay phụ thuộc lẫn nhau. Thị  trường  chứng  khoán  (TTCK),  một  phần  của  thế  giới  tự  nhiên  cũng  nằm  trong quy luật đó. Điều này đã nói lên khoa học hỗn loạn giúp chúng ta trả lời câu hỏi trên. Bill  William  (1995)  cho  rằng,  cả  thế  giới  tự  nhiên  và  não  người  đều  là  hỗn  loạn. TTCK, một phần của thế giới tự nhiên và là nơi phản ánh hoạt động của con người, cũng có tính hỗn loạn. Nói cách khác, chính do não người có tính hỗn loạn là nguồn gốc  tạo  ra  sự  phi  tuyến  tính  của  giá  cả  chứng  khoán.  Bill  William  (1995)  bộ  não người  gồm 3 bộ phận khác nhau: não trái, não giữa và não phải. Mỗi bộ phận đảm nhận  một  chức  năng  khác  nhau.  Não  trái  liên  quan  đến  vấn  đề  lý  trí  và  mang  tính tuyến  tính.  Não  giữa  có  chức năng  xử  lý các tri  thức  thành  kinh  nghiệm.  Não phải liên quan đến cảm xúc, là phi tuyến và trông giống như tính hỗn loạn. Bộ não chúng 

ta  cũng  tạo nên  các hành  vi  khác nhau,  phụ  thuộc  vào dòng năng  lượng. Prigogine viết: “bộ não là một phát minh của tính hỗn loạn” (Prigogin và Stangers, 1984, trang 48). Có thể hình dung rằng khi giao dịch trên thị trường, các nhà kinh doanh bị ảnh hưởng  bởi  cảm  xúc  (của  não phải)  như  tham  lam  và  sợ  hãi đã  tác  động  đến  quyết định đầu tư dẫn đến các hành vi phi tuyến tính. Tuy nhiên, các hành vi tham lam hay 

sợ hãi đó có tính bầy đàn và hình thành nên xu hướng của giá chứng khoán (chính là cấu trúc). Như vậy, chủ thể tham gia quyết định nên xu hướng thị trường là các nhà đầu tư, là những người không hoàn toàn duy lý (Sargent (1997, 1999)). 

Dựa trên quan điểm này, luận án tập trung vào việc lựa chọn phương pháp phân tích 

và dự báo giá chứng khoán theo giả định “sự hợp lý có chừng mực” của nhà đầu tư. Nói  cách  khác  nhà  đầu  tư  không  hoàn  toàn  duy  lý  trong  các  quyết  định  của  mình. Phương pháp hồi quy dựa trên các biến cố quan sát là độc lập và ngẫu nhiên, nó dựa trên giả thuyết sự hợp lý hoàn toàn và sự tối ưu của con người. Mô hình mạng thần kinh nhân tạo ­ ANN được mô phỏng theo bộ não con người  được dùng để dự báo các biến kinh tế trong thị trường tài chính, đặc biệt là giá chứng khoán được thiết lập trên nền tảng giả định “sự hợp lý có chừng mực” nêu trên. Do đó, luận án sẽ tiếp cận

Trang 11

việc  ứng  dụng  mô  hình  ANN  để  dự  báo  giá  chứng  khoán  trên  TTCK  VN  nhằm 

Neuron là một đơn vị tính toán có nhiều đầu vào và một đầu ra, mỗi đầu vào đến từ một synapse. Đặc trưng của neuron là một hàm kích hoạt phi tuyến chuyển đổi một 

tổ hợp tuyến tính của tất cả các tín hiệu đầu vào thành tín hiệu đầu ra. Hàm kích hoạt này đảm bảo tính chất phi tuyến cho tính toán của ANN. 

Synapse  là  một  thành phần  liên  kết  giữa  các neuron, nó nối  đầu  ra  của neuron  này với đầu vào của neuron khác. Đặc trưng của synapse là một trọng số mà mỗi tín hiệu 

đi qua đều được nhận với trọng số này. Các trọng số synapse chính là các tham số tự 

do  cơ  bản  của  ANN,  có  thể  thay  đổi  được  nhằm  thích  nghi  với  môi  trường  xung quanh. 

Quá trình tích luỹ mạng (học) là một quá trình mà trong đó các tham số tự do (các trọng số synapse) được điều chỉnh nhằm mục đích thích nghi với môi trường. Đối với vấn đề học cho ANN người ta quan tâm tới ba yếu tố sau: Quy tắc học, mô hình học, thuật toán học. 

Thuật toán BackPropagation là thuật toán học kinh điển nhất và cũng được áp dụng một cách phổ biến nhất cho các mạng tiến đa mức. Nó được xây dựng trên cơ sở Quy 

tắc học hiệu chỉnh lỗi và Mô hình học với một người dạy. 

1.2.3.  Cách thức huấn luyện một mô hình mạng thần kinh 

Mạng ANN được huấn luyện bằng cách liên tục đưa các cặp tín hiệu đầu vào và tín hiệu đầu ra vào mạng, mạng nhanh chóng học hỏi mối quan hệ giữa các biến đầu vào 

và  đầu  ra.  Quá  trình  huấn  luyện  mạng  thực  chất  là  việc  điều  chỉnh  các  trọng  số synapse wk,i kết nối các neuron trong mạng. Trong quá trình huấn luyện, các trọng số 

w k,i được điều chỉnh cho đến khi đạt được các giá trị đầu ra mong muốn (T t ) gần với giá trị đầu ra thực sự của mạng (Yt). Nói cách khác, sai  số giữa giá trị đầu ra mong muốn và giá trị đầu ra của mạng là nhỏ nhất (e )

Trang 12

1.2.4.  Một số thước đo trong việc lựa chọn cấu trúc mạng thần kinh nhân tạo 

Hàm mục tiêu trong lý thuyết tối ưu hóa có 2 dạng phổ biến nhất là sai số tuyệt đối trung bình (MAE – Mean Absolute Error) và sai số bình phương trung bình (MSE). Tuy nhiên, khi sử dụng chuỗi dữ liệu để dự báo ngoài mẫu thì ngoài các chỉ tiêu trên còn  có  chỉ  tiêu  hệ  số  tương  quan  (R­Square),  chỉ  tiêu  này  nói  lên  mối  tương  quan giữa giá trị đầu ra mong đợi và giá trị đầu ra thực của một cấu trúc mạng ANN khi 

·  Mô hình này không đưa ra các giả thiết về giá trị của các hệ số khi ước lượng 

và quan hệ hàm số giữa biến phụ thuộc và biến độc lập

·  Bên cạnh đó, khi sử dụng mô hình phi tuyến, các nhà kinh tế thường sử dụng các thuật toán số học dựa trên giả định rằng chuỗi số liệu là liên tục. Với các phương  pháp  này,  người  nghiên  cứu  thường  sẽ  phải  lập  lại  việc  ước  lượng

Trang 13

nhiều lần để chắc rằng hệ số được ước lượng không rơi vào một trong số các cực trị cục bộ (local optimum)

·  Thị  trường  tài  chính  của  các  nước  có  nền  kinh  tế  mới  nổi  hoặc  là  các  thị trường có sự thay đổi và cải tiến mạnh mẽ sẽ là nơi thích hợp cho các phương pháp này. 

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, mô hình ANN lại có một số hạn chế:

·  Thứ nhất, vấn đề khó giải thích các trọng số ước lượng trong mô hình hay còn gọi là vấn đề “hộp đen – Black box”

·  Thứ hai, việc ứng dụng mô hình ANN đòi hỏi kích cỡ mẫu lớn

·  Thứ ha, việc xây dựng một cấu trúc ANN phù hợp sẽ mất rất nhiều thời gian.  1.5.  Việc ứng dụng mô hình ANN trong dự báo – bằng chứng thực nghiệm 

Ý  tưởng  về  việc  xây  dựng  mô  hình  mạng  ANN  đã  xuất hiện  từ  những  năm 1958, khởi nguồn bởi  Frank Rosenblatt. Tuy nhiên, phải đến những năm cuối thập kỷ 90, những nghiên cứu ứng dụng của mô hình ANN mới dần trở nên phổ biến. Bên cạnh những ứng dụng trong lĩnh vực y học, công nghệ, mô hình mạng ANN còn được ứng dụng rộng rãi trong kinh tế ­ tài chính, đặc biệt là trong việc xây dựng các mô hình 

Trang 14

rủi ro trong thẩm định các khoản cho vay thế chấp cũng như trong các khoản đầu tư  vào chứng khoán nợ, xây dựng chỉ số, mô phỏng hành vi thị trường, lựa chọn và đa  dạng hóa danh mục đầu tư, nhận diện cơ chế tác động của các biến giải thích kinh tế  cũng như dự báo các chuỗi dữ liệu giá chứng khoán theo thời gian. 

Tuy nhiên,  với  việc  trên thực  tế  có quá nhiều  thông  số đầu  vào  cần  được  chọn lựa  phù hợp để phát triển một mô hình dự báo hiệu quả cho thấy, quá trình thiết kế ANN  vẫn đòi hỏi nhiều thời lượng, công sức và kinh nghiệm của nhà nghiên cứu. Chính vì  vậy,  mục  tiêu  của  nghiên  cứu  này  nhằm  cung  cấp  một  hướng  dẫn  mang  tính  thực  nghiệm trong thiết kế một hệ thống ANN phục vụ cho mục đích dự báo chuỗi dữ liệu  giá chứng khoán theo thời gian. Theo đó, quá trình 8 bước cơ bản trong xây dựng  một ANN được trình bày thông qua việc dự báo giá chứng khoán trên TTCN VN.  Một  vấn  đề  quan  trọng  mà  luận  án  tập  trung  giải  quyết  là  khả  năng  dự  báo  giá  chứng khoán bằng mô hình ANN? Liệu mô hình ANN cho kết quả dự báo tốt hơn mô  hình hồi  quy  truyền  thống?  Cấu trúc  mạng  ANN nào  sẽ  cho  ra  kết  quả  dự báo giá  chứng  khoán  tốt  nhất?  Khi  khảo  sát  các  biến dùng để dự báo  thì các biến nào  tác  động lên sự thay đổi của giá chứng khoán trên TTCK VN? Những vấn đề trên được  chứng minh trong phần này. Theo đó việc dự báo giá chứng khoán trên TTCK VN có  thể dự  báo được  khi  sử  dụng  mô hình  ANN  và  cấu  trúc  mạng  truyền  thẳng  là  cấu  trúc  cho  ra  kết  quả  dự  báo  tốt  nhất.  Mặt  khác,  nhóm  biến  phản  ánh  tình  hình  tài  chính  của  các  doanh  nghiệp  là  nhóm  biến  tác  động  mạnh  đến  sự  biến  động  giá 

án xem xét nhóm chỉ tiêu kinh tế vĩ mô tác động lên giá chứng khoán này để làm các 

biến đầu vào cho mô hình trong quá trình thiết kế một ANN. 

2.1.2.  Thu thập dữ liệu kinh tế 

Việc thu thập số liệu được cân nhắc dựa trên yếu tố chi phí và tính sẵn có (tức khả năng tiếp cận thông tin của luận án) cho các biến số đã được chọn ở bảng 2.1. Quá trình thu thập dữ liệu được tập hợp từ năm 2002 đến hết tháng 9/2010. Do tính toán dựa trên sự thay đổi qua các tháng nên dữ liệu có tổng cộng 104 quan sát

Trang 15

3  Lãi suất  LR  Sự  thay  đổi  lãi  suất  kỳ  hạn  12  tháng  qua  các 

tháng. Nguồn dữ liệu từ IMF và ngân hàng nhà nước từ năm 2009 

Trong 7 biến đưa vào để khảo sát sự biến động của VNI, luận án đã lọc ra mô hình giải thích tốt nhất với 4 biến. Mô hình 1: với biến đầu vào là CPI, IP, M2 và CR với 

số PE trong mô hình là 3. Mô hình 2: với biến đầu vào là LR, IP, TB, CR cũng với số 

PE là 3. Bảng 2.2 cho kết quả của quá trình tiền xử lý dữ liệu để xem xét khả năng dự 

báo VNI. 

Bảng 2.2: Kết quả quá trình tiền xử lý dữ liệu khi đưa lần lược các biến đầu vào  trong 7 biến kinh tế vĩ mô để dự báo VNI 

Trang 16

Mô hình 1  CPI, IP, M2, CR  USD, LR, TB  3  0,013783  0,131202 

2.1.4.  Phân chia dữ liệu được thu thập để huấn luyện ANN 

Tập hợp huấn luyện được ANN sử dụng để học tập các mẫu hình tồn tại trong mối quan hệ giữa các biến đầu vào. Trong trường hợp này luận án sử dụng 80% số quan sát để huấn luyện mạng ANN trong tổng số 104 quan sát. Tập hợp dữ liệu kiểm tra 

và xác nhận kết quả, luận án sử dụng số lượng mẫu bằng khoảng 10% tập hợp dữ liệu quan sát, quá trình này được dùng để ước lượng khả năng khái quát hóa trong phân tích mà ANN đã học tập được sau khi trải qua bước huấn luyện trước đó. Bước cuối cùng trong quá trình huấn luyện là kiểm tra hiệu quả hoạt động của ANN đã trải qua tập hợp huấn luyện và kiểm tra là xác minh hiệu quả dự báo của ANN trên một tập hợp 

dữ liệu mà ANN chưa từng nhìn thấy trước đó. Tập hợp dữ liệu này được gọi là tập 

hợp xác nhận tính hiệu quả, chúng được sử dụng để dự báo ngoài mẫu. 

2.1.5.  Xây dựng cấu trúc – Xác định thông số của ANN 

Có rất nhiều phương pháp để xây dựng một cấu trúc mạng ANN. Neurodynamic và Architecture là hai thuật ngữ được sử dụng để miêu tả cách thức xây dựng một ANN. 

Sự  kết  hợp  giữa  Neurodynamics  và  Architecture  xác  định  cấu  trúc  của  ANN. Neurodynamic là thuật ngữ miêu tả tính chất của từng neuron trong ANN, bao gồm loại hàm truyền (tuyến tính, phi tuyến, hàm phức…), cách thức kết hợp các biến số đầu vào. Architecture là thuật ngữ miêu tả cách thức lựa chọn để liên kết các neuron với nhau, bao gồm loại liên kết neuron và số lượng neuron trên mỗi lớp. 

Mô hình được xây dựng gồm có 3 lớp, một  lớp đầu vào với  các biến kinh  tế vĩ mô được miêu tả trong bảng 2.1, một lớp ẩn, một lớp đầu ra – đây là kết quả của VNI. 

Klimasauskas (1993) qua thực nghiệm đã chứng minh được rằng, nếu mối  quan hệ giữa các biến đầu vào mà ANN đang giả lập chỉ xoay quanh giá trị trung bình, hàm truyền sin là hàm phù hợp nhất. Tuy nhiên, nếu mối quan hệ giữa các biến đầu vào quá phân tán ra xa khỏi giá trị trung bình, hàm truyền dạng Tang hyperbol nên được 

sử dụng. Vì dữ liệu đầu vào có chứa giá trị âm và phân tán do đó hàm Tanh hyperbol 

là hàm thích hợp để xử lý mối quan hệ phi tuyến giữa dữ liệu đầu vào và VNI

·  Trong Axon ẩn có chứa từ 1 đến 4 PE, số PE này được tính toán theo quy tắc 

“kim tự tháp” – số lượng PE trong lớp ẩn sẽ bằng ½ tổng số đầu vào và đầu ra của mô hình – tuy nhiên trong quá trình chạy mô hình để có được mô hình tốt

Trang 17

nhất, luận án đã thay đổi số lượng PE xung quanh kết quả của quy tắc này, cụ 

thể luận án sử dụng mô hình có từ 1 đến 4 PE. 

Mô hình có hai hệ thống đường liên kết đầy đủ, hệ thống đầu tiên nối lớp đầu vào với lớp  ẩn,  hệ  thống thứ hai  nối  lớp  ẩn  với  lớp đầu ra.  Mỗi  hệ thống là tập hợp những trọng số, những trọng số này sẽ kết  hợp với đầu ra của lớp phía trước hệ thống tạo thành đầu vào cho lớp phía sau hệ thống. Các liên kết  này được kết hợp thông qua một  hàm  truyền  được  đề  cập  ở  trên.  Ngoài  ra,  mô  hình  sử  dụng  thuật  toán BackPropagation  kết  hợp  với  Momentum  để  điều  chỉnh  trọng  số  của  mô  hình  và 

giảm thiểu sai số nhằm tìm được mô hình tối ưu. 

2.1.6.  Tiêu chuẩn đánh giá tính phù hợp kết quả dự báo của ANN 

Trong một quá trình huấn luyện, MSE sẽ liên tục được cập nhật và ANN sẽ liên tục điều  chỉnh các  tham  số  theo hướng  cực  tiểu hóa  tổng bình phương này.  Mặc  khác, quá  trình  đánh  giá  tính phù  hợp của mô hình  dự báo ngoài  tiêu  chuẩn  MSE,  ANN 

còn có một tiêu chuẩn khác là mức độ giải thích của mô hình, chỉ số r – Square. 

2.1.7.  Huấn luyện hệ thống ANN 

Quá  trình  huấn  luyện  ANN  chủ  yếu  là  để  ANN  đọc những  dữ  liệu  trong  quá  khứ nhiều lần. Để huấn luyện ANN, trước tiên cần xác định số lần Epoch được ANN đọc lại  trong  huấn  luyện.  Quá  trình  chạy  mô  hình  để  tìm  ra  những  nhóm  biến  nào  tác động mạnh nhất đến VNI, đồng thời tìm ra mô hình thích hợp cho từng nhóm biến, đòi hỏi phải huấn luyện nhiều lần trên mỗi mô hình – trung bình Epoch từ 3.000 đến 10.000 lần. Mỗi 1.000 lần huấn luyện, luận án lại dừng lại để kiểm tra xem mô hình 

đã tối ưu chưa và có bị quá khít hay không. 

2.1.8.  Kết quả sử dụng mô hình mạng ANN để dự báo VN­Index 

Thực hiện các bước xử lý đã được trình bày ở các bước trên, luận án đã đưa ra hai cấu trúc mạng ANN để phân tích và dự báo giá chứng khoán VNI với cách thức phân 

Trang 18

thích  cho  sự  thay  đổi  trong  VNI  thời  gian  qua  trên  TTCK  VN  do  tác  động  của các biến: lạm phát, sản lượng công nghiệp, cung tiền M2 và tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế. Tuy nhiên, khi sử dụng mô hình đã được huấn luyện để tiến hành dự báo ngoài mẫu từ dữ liệu kiểm tra thì mô hình 1 có sai số lớn hơn mô hình 2 Điều quan trọng mô hình 2 cho ra hệ số tương quan (r­Square.) cao hơn giữa giá trị dự báo và giá trị thực tế của VNI. Nói cách khác mô hình 2: tác động của lãi suất, sản lượng công nghiệp, cán cân thương mại và tăng trưởng tín dụng sẽ là những biến có thể dự báo tốt nhất cho VNI. Mối quan hệ giữa giá trị dự báo và giá trị thực tế dù chỉ ở mức độ giải thích thấp 25,46% nhưng đã nói lên khả năng dự báo chiều hướng của VNI. 

Như vậy, có thể thấy rằng khi đưa các biến kinh tế vĩ mô vào để phân tích và dự báo giá chứng  khoán  của TTCK  VN  thì  mức độ giải  thích  và khả năng dự báo  của mô hình còn nhiều hạn chế, giá trị dự báo chưa cao. Một vấn đề đặt ra là phải chăng cấu trúc mạng ANN trên chưa giải thích được tác động của các biến đầu vào này lên sự thay đổi của VNI trong thời gian qua? Hoặc mô hình ANN không hiệu quả hơn mô hình hồi quy tuyến tính truyền thống? Phần tiếp theo, luận án tiếp tục thay đổi  cấu 

để tiến hành điều chỉnh các trọng số trong quá trình huấn luyện nhằm đạt đến mục tiêu tối thiểu hóa MSE giữa giá trị dự báo của mô hình với giá trị thực tế. 

Phần  nghiên  cứu  này  sẽ  sử  dụng  tỷ  lệ  của  ba  tập  hợp  huấn  luyện  là  70%, 20%  và 10%. Thực tế là không có nguyên tắc chung nào cho sự phân chia này và tỷ lệ trên là gợi  ý  trong  nghiên  cứu  của  Jing  Tao  (2000).  Cấu  trúc  mạng  được  khái  quát  hóa  ­ GRNN với cấu trúc một lớp ẩn và 14 neuron ẩn (GNN­14PE) đã cho kết quả rất tốt trong quá trình huấn luyện khi giá trị MSE cuối cùng đạt đến 7,7943E­31, một giá trị 

lý tưởng cho sự chênh lệch giữa giá trị dự báo và thực tế. Tuy nhiên, khi tiến hành kiểm định ngoài mẫu đối với mô hình trên, kết quả cho thấy sự hạn chế lớn của mô hình trong việc dự báo giá trị  VNI. Đặc biệt  là chỉ số tương quan –  r là giá trị  âm. Qua đó, có thể kết luận rằng, mô hình trên đã rơi vào tình trạng “quá khít” trong khi huấn luyện, nhưng lại thiếu khả năng  khái quát hóa để phản ánh đầy đủ mối  tương quan phi tuyến giữa các biến số

Trang 19

Phần tiếp theo sau, luận án sẽ không khảo sát các biến được làm trễ, chỉ khảo sát 7 biến như đã đề cập trong bảng 2.1. Tuy nhiên, số lượng PE trong lớp ẩn cũng giảm đi nhiều. Để khắc phục tình trạng “quá khít” trong cấu trúc mạng GNN­14PE, luận án 

đã  tiến  hành  điều  chỉnh  cấu  trúc  mạng,  vẫn  giữ  nguyên  các  yếu  tố  khác  nhưng  số lượng neuron ẩn sẽ lần lượt  là 4 và 5, ký hiệu cho hai cấu trúc mạng này là GNN­ 4PE và GNN­5PE, kết quả kiểm định ngoài mẫu đối với 2 cấu trúc mạng đã có sự cải thiện đáng kể  khi  MSE  giảm và  r­Square  cải  thiện đáng  kể, đạt  39,1% đối  với  cấu trúc GNN­4PE. Tuy nhiên, nếu so với mô hình ANN được trình bày trong phần 2.1 thì  hiệu  quả  của  cấu  trúc  mạng  GNN­4PE  cho  dự  báo  tốt  hơn.  Tuy  nhiên,  mức độ giải thích của mạng vẫn chưa cao chỉ mới đạt 39,17%. Chính vì vậy, luận án tiếp tục 

thay đổi cấu trúc mạng ANN khác. 

2.2.2.  Dự báo giá chứng khoán dựa trên phân tích tác động của các biến kinh tế vĩ 

mô theo cấu trúc mạng truyền thẳng 

Trong phần này luận án tiến hành thử nghiệm với cấu trúc mạng ANN khác để kiểm tra tính hiệu quả của mô hình dự báo. Bên cạnh mạng GRNN thì cấu trúc mạng được 

sử dụng phổ biến nhất vẫn là mạng ANN truyền thẳng với một lớp ẩn. Lần lượt tiến hành  huấn  luyện  mạng  với  cùng  một  cấu  trúc  dữ  liệu  như  trên  nhưng  thay  đổi  số neuron của lớp ẩn. Mạng ANN truyền thẳng, một lớp ẩn với số neuron ẩn lần lượt là 

án sẽ đi vào chứng minh điều này

Trang 20

2.2.3.  So sánh khả năng dự báo giá chứng khoán của mô hình mạng thần kinh nhân  tạo với mô hình hồi quy tuyến tính

·  Sử dụng mô hình mạng ANN không có lớp ẩn và hàm truyền tuyến tính 

Trong phần  này  luận  án  sẽ  tiến  hành  xây  dựng  mô  hình  tuyến  tính  để  có  cơ  sở  so sánh giữa hai loại mô hình với nhau. Với các dữ liệu đầu vào đã sử dụng ở bảng 2.1, luận án tiến hành xây dựng mô hình tuyến tính bằng cách sử dụng hàm truyền là hàm tuyến tính và không có lớp ẩn trong mô hình của mạng ANN. Kết quả của quá trình huấn luyện mô hình ANN này kém hơn mô hình mạng phi tuyến trên

·  Sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính truyền thống 

Một phần của phụ lục 3 “Xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính truyền thống để phân tích và dự báo VN­Index” đã cho ra kết quả của việc sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính trong việc dự báo VNI như sau: 

­  Thứ nhất: Nếu tuân thủ yêu cầu giả định của phương pháp hồi quy tuyến tính truyền thống thì các biến đưa vào mô hình phải tuân theo quy luật phân phối chuẩn,  các  biến  kinh  tế  vĩ  mô  khảo  sát  ở  bảng  2.1  được  đưa  vào  mô  hình không đạt được điều kiện này. 

­  Thứ  hai:  Trong  phần  xây  dựng  mô  hình  hồi  quy  tuyến  tính  truyền  thống  và kiểm định của phụ lục 3 đã cho ra kết quả: 

1.  Khi  sử dụng hồi quy đơn biến để giải thích cho sự thay đổi  trong VNI thì  không  có  mô  hình  hồi  quy  đơn  biến  nào  có  ý nghĩa  thống  kê.  Tuy nhiên, nếu chúng ta điều chỉnh dữ liệu mang tính độ trễ một kỳ thì biến cung  tiền  –  M2  lại  có  thể giải  thích  cho  sự  thay  đổi  của  VNI.  Kết  quả giải thích của biến M2 rất thấp, chỉ là 2,83%. 

2.  Khi  sử  dụng  hồi  quy  đa  biến  thì  mô  hình  không  có  ý  nghĩa  thống  kê, không thể xây dựng được mô hình hồi quy tuyến tính đa nhân tố từ các biến kinh tế vĩ mô để giải thích cho sự thay đổi của VNI. 

Tóm lại, kết quả nghiên cứu này đã góp phần chứng minh được ưu thế vượt trội của 

mô hình mạng ANN phi tuyến trong việc phân tích và dự báo giá chứng khoán trên TTCK VN so với mô hình tuyến tính truyền thống trong trường hợp sử dụng các biến 

số kinh tế vĩ mô làm nhập lượng đầu vào. Tuy nhiên, kết quả từ các mô hình mạng ANN còn có một số hạn chế trong mức độ dự báo. Phần tiếp theo của luận án sẽ khảo

Trang 21

tả chính xác hơn mối  tương quan giữa hai  yếu tố này. Nghiên cứu của Mohammed Omran (2002), dựa trên mẫu dữ liệu từ năm 1996 đến 2000 của 46 doanh nghiệp trên thị trường Ai Cập đã góp phần minh chứng cho kết luận này. Tương tự, nghiên cứu của Reza Gharoie Ahangar (2010) sử dụng mô hình phi tuyến cũng đã cho kết quả dự báo tốt hơn so với mô hình tuyến tính thông thường. Bài nghiên cứu sử dụng mẫu dữ liệu của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch Tehran và mô hình phi tuyến được lựa chọn là mô hình mạng ANN. 

Dựa trên nền tảng đó, phần nghiên cứu này của luận án sẽ thiết lập hai loại mô hình 

dự báo khác nhau sử dụng các tỷ số tài chính làm nhập lượng đầu vào để phân tích và 

dự  báo  tỷ  suất  sinh  lợi  của  chỉ  số  VN­Index  trên  TTCK  VN.  Trước  hết,  mô  hình tuyến  tính  truyền  thống  sẽ  được  sử dụng  như một  mô hình  chuẩn.  Sau đó,  các  cấu trúc mạng  ANN phi  tuyến  khác nhau  được  xây  dựng  và  kết quả dự báo  của những cấu trúc mạng này sẽ được so sánh với mô hình tuyến tính đã được thiết lập. 

Nhập lượng đầu vào bao gồm các biến tỷ số tài chính lần lượt là: tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần ­ ROE, tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản  ­ ROA, tỷ số giá trên thu nhập mỗi cổ phần ­ PE, tỷ số giá trên giá trị sổ sách mỗi cổ phần ­ PB, giá trị vốn hóa của

Trang 22

thị  trường  –  CM,  dòng  tiền  mỗi  cổ  phần  –  CF,  thu  nhập  mỗi  cổ  phần  –  EPS,  lợi nhuận biên – PM, và tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần – D/E. Bộ dữ liệu theo tháng được thu thập từ Sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM và Bloomberg từ tháng 1/2007 đến tháng 9/2010. Các dữ liệu trên được tính trên cơ sở tỷ lệ thay đổi để đảm bảo tính dừng khi 

sử dụng cùng bộ dữ liệu để so sánh với phương pháp hồi quy tuyến tính. 

2.3.1.  Mô hình mạng ANN tuyến tính 

Trước khi đi vào xây dựng mô hình, với tập hợp dữ liệu thu thập được, chia dữ liệu thành 3 tập nhỏ bao gồm: tập dữ liệu được dùng để huấn luyện, tập dữ liệu dùng để xác nhận và tập dữ liệu để kiểm tra lại lần lược 60%, 15% và 25%. Sau khi xác định được ba tập dữ liệu cần thiết, quá trình chạy  mô hình ANN không có lớp ẩn và sử dụng hàm truyền là hàm tuyến tính có kết quả MSE là khá thấp chỉ là 0,0014, tương 

quan giữa kết quả dự báo và giá trị thực tế lên đến 87%. 

2.3.2.  Kết quả của mô hình hồi quy tuyến tính truyền thống 

Phụ lục 3 “Xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính truyền thống để phân tích và dự báo VN­Index”  trong  việc  khảo  sát  các biến  tài  chính để phân  tích  và dự  báo  VNI trên TTCK VN thời gian qua cho chúng ta kết quả sau: 

­  Mô hình hồi quy đơn biến với biến giải  thích lần lược là biến CM và PE có hiện tượng phương sai thay đổi hay nói cách khác, mô hình hồi quy đơn biến với  hai biến trên không phù hợp. 

­  Mô hình hồi quy tuyến tính đơn biến với biến giải thích lần lược là biến ROA, ROE, PB, EPS, PM không có hiện tượng phương sai thay đổi. Tuy nhiên, mô hình hồi quy đơn biến với biến giải  thích ROA có hiện tượng tự tương quan nên mô hình với  biến này  không phù  hợp.  Nói  cách  khác,  biến  ROA  không thể sử dụng để giải thích cho sự thay đổi trong VNI. 

­  Với  mô hình hồi quy đơn biến, các biến giải thích còn lại là ROE, PB, EPS, 

PM thì mô hình đơn biến với biến PB cho ra mức độ giải  thích cao nhất  lên đến 44,7% trong mô hình. Như vậy chúng ta có thể kết luận mô hình hồi quy đơn biến với biến PB là mô hình tối ưu nhất, chúng ta sử dụng mô hình này để đưa thêm biến vào mô hình. 

­  Kết quả hồi quy đa biến với một biến PB được lựa chọn và đưa thêm các biến còn lại vào mô hình để kiểm định thì biến giải thích PE thích hợp cho mô hình khi dừng lại việc kiểm định phương sai thay đổi và tự tương quan. Tuy nhiên

Trang 23

khi  kiểm  định  tính  chất  đa  cộng  tuyến  giữa  các  biến  giải  thích  thì  mô  hình 

không phù hợp. 

Kết luận: Nếu cấu trúc mạng ANN tuyến tính đã cho kết quả dự báo tốt hơn mô hình 

hồi quy tuyến tính truyền thống. Tuy nhiên, liệu rằng mô hình phi tuyến của hệ thống mạng ANN có thể hoàn thiện hơn kết quả dự báo này hay không? Phần tiếp theo sẽ 

đi  vào xây dựng các cấu trúc mạng ANN phi  tuyến và tiến hành dự báo ngoài mẫu 

cho VN­Index và so sánh với kết quả của cấu trúc mạng ANN tuyến tính trên. 

2.3.3.  Mô hình mạng ANN phi tuyến khi khảo sát các biến tài chính 

Sau khi xác định các biến số đầu vào cho mô hình, thuật toán để huấn luyện mạng và 

số quan sát cần thiết của các tập huấn luyện, xác nhận và kiểm định lại, ta tiến hành xây dựng các mạng ANN với cấu trúc khác nhau. 

Trước  hết  sẽ  là  các  mạng  ANN  đa  lớp  truyền  thẳng,  với  một  lớp  ẩn  duy  nhất.  Số neuron trong lớp ẩn sẽ lần lượt là 3, 4, 5, 6. Các mô hình này sẽ được ký hiệu lần lượt 

là  MLN  9­3­1;  MLN  9­4­1;  MLN  9­5­1;  MLN  9­6­1.  Kết  quả  của  quá  trình  huấn luyện mạng ANN này cho kết quả ở bảng 2.9

Trang 24

Bảng 2.9: Kết quả kiểm định ngoài mẫu của cấu trúc mạng MLN 9­3­1, MLN 9­  4­1, MLN 9­5­1, MLN 9­6­1 

Bên  cạnh  cấu  trúc  mạng  ANN  truyền  thẳng  đa  lớn  thì  một  dạng  cấu  trúc  mạng GRNN cũng được sử dụng khá phổ biến. Trong phần này sẽ chỉ tiến hành xây dựng 

và huấn luyện hệ thống mạng GRNN với một lớp ẩn với lần lượt 5 và 6 neuron ẩn, được ký hiệu lần lượt là GNN 9­5­1 và GNN 9­6­1. Kết quả dự báo ngoài mẫu đối 

tuyến tính. 

Tóm lại, qua các kết quả trên, ta có thể kết luận rằng, các biến số tài chính thật sự có 

khả năng dự báo đối  với  tỷ suất sinh  lợi  của chỉ  số VNI. Bên cạnh đó, mặc dù mô hình hồi quy tuyến tính truyền thống cho kết quả dự báo tương đối khả quan với biến giải thích PB lên đến 44,7%, song mô hình mạng ANN lại cho kết quả tốt hơn. Tuy nhiên, hiệu quả dự báo của mô hình hoàn toàn có thể được nâng cao thông qua việc 

sử hệ thống mạng ANN phi tuyến. 

Qua hai nhóm biến được khảo sát là nhóm biến kinh tế vĩ mô và nhóm biến tài chính của các doanh nghiệp niêm  yết  đã phần nào trả lời  được mục tiêu nghiên cứu. Tuy nhiên, phần tiếp theo, luận án tiếp tục khảo sát thêm một số nhóm biến khác để phân

Trang 25

Nghiên  cứu  của  Yochanan  Shachmurvoe  và  Dorota  Witkowsha  (2000)  đã  sử  dụng chuỗi dữ liệu theo ngày của các chỉ  số thị  trường Canada, Pháp, Ðức, Nhật, Anh và 

Mỹ để tiến hành dự báo bằng các mô hình ANN đa lớp. Kết quả so sánh với mô hình tuyến tính truyền thống sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) cho thấy mạng ANN phi tuyến ANN cho kết quả dự báo tốt hơn. 

Xuất  phát  từ  những  ý  tưởng  trên,  phần  nghiên  cứu  này  của  luận  án  tiến  hành  xây dựng hệ thống ANN để dự báo cho chỉ số VNI của TTCK VN bằng cách sử dụng các chỉ  số  thị  trường  khác  bao  gồm  chỉ  số  Dow  (Mỹ),  FTSE  (Anh),  N225  (Nhật)  và SSEC (Shanghai – Trung Quốc). 

Kết  quả  cho  thấy  cấu  trúc  mạng  ANN  tuyến  tính  thật  sự  đã  không  thể  “nắm  bắt” được mối tương quan giữa VNI với các chỉ số thị trường khác. Tuy chỉ tiêu MSE khá nhỏ, ở mức 0,001634 và chỉ  tiêu MAE cũng chỉ ở mức 0,0279, nhưng chỉ tiêu r lại đạt mức ­0,078%. 

Tuy nhiên, dưới góc độ kỹ thuật, kết quả dự báo trên có thể là do mô hình được sử dụng,  trong  trường  hợp  này  là  cấu  trúc  mạng  ANN  tuyến  tính,  phải  chăng  là  chưa phù hợp. Thực tế có thể là mối tương quan giữa chỉ số VNI của TTCK VN với các chỉ số thị trường khác là phi tuyến. Để làm rõ điều này, luận án tiếp tục tiến hành xây dựng cấu trúc mạng ANN và so sánh kết quả kiểm định ngoài mẫu với cấu trúc trên. 

Về cấu trúc của hệ thống mạng, sau nhiều thử nghiệm khác nhau, luận án lựa chọn xây dựng bốn cấu trúc lần lượt là: MLF 4­4­1: Cấu trúc mạng truyền thẳng đa lớp chỉ

Trang 26

có số neuron lần lượt là 3 và 2 neuron; MLF 4­4­3­1: Cấu trúc mạng truyền thẳng đa lớp với 2 lớp ẩn có số neuron lần lượt là 4 và 3 neuron; GNN 4­3­1: Cấu trúc mạng truyền thẳng được khái quát  hóa với 1 lớp ẩn duy nhất  có 3 neuron. Việc lựa chọn cấu trúc hệ thống mạng thật chất là quá trình “thử và sai” để đi đến kết luận về cấu trúc mạng phù hợp nhất với dữ liệu và biến số đang khảo sát

Trang 27

có biến  SSEC  của  TTCK Shanghai  Trung  Quốc  có  tác  động đến  sự biến động  của VNI với mức ý nghĩa 1% nhưng mức độ giải thích của mô hình quá thấp. Điều này 

cho thấy sự vượt trội của mô hình mạng ANN so với mô hình hồi quy tuyến tính.  2.5.  Sử  dụng sự  thay  đổi giá  trong  quá  khứ  để dự  báo giá  chứng  khoán  trên  TTCK VN 

Nghiên cứu của Fama (1970) khẳng định rằng, giá của tài sản tài chính tại mỗi thời điểm đã phản ánh tất cả thông tin liên quan đến nó. Do vậy xu hướng biến động trong tương  lai của thông tin phụ thuộc hoàn toàn “ngẫu nhiên” vào sự xuất hiện của các thông tin mới. Điều này đồng nghĩa rằng các nỗ lực dự báo giá chứng khoán trong tương  lai  dựa  trên  thông  tin  hiện  tại  là  không  thể.  Tuy  nhiên,  kết  quả  của  nhiều nghiên cứu sau đó kiểm định tính hiệu quả của thị trường đã cho thấy sự hoài nghi về giả  thiết  này.  Trong  số  những  cách  tiếp  cận  để  kiểm  định  tính  hiệu  quả  của  thị trường, nhiều bài nghiên cứu chỉ sử dụng các mô hình tuyến tính truyền thống. Trong trường hợp đó, kết quả phủ nhận khả năng dự báo xu hướng giá chứng khoán rất có thể là do hạn chế của bản thân mô hình. Do vậy, phần nghiên cứu này muốn tận dụng 

ưu  điểm  chủ  yếu  của  mô  hình  ANN  là  khả  năng nắm  bắt  các  mối  tương  quan phi tuyến để xem rằng liệu dữ liệu quá khứ của bản thân chuỗi chỉ số chứng khoán có thể 

dự báo cho xu hướng tương lai  của chính nó hay không. Nếu điều này là có thể thì TTCK tồn tại xu hướng và chưa đạt đến trạng thái thị trường hiệu quả

Trang 28

Kết  quả  kiểm định ngoài mẫu  cho  thấy  rằng, hai  cấu trúc mạng  ANN  truyền  thẳng hai lớp ẩn MLF 3­5­3­1 và GNN 3­5­3­1 cho kết quả tương đối khả quan nhất nhưng giá trị dự báo ngoài mẫu quá thấp, giá chứng khoán không thể dùng chính nó để dự báo? Vậy liệu rằng với chuỗi dữ liệu theo ngày, kết quả dự báo có được cải thiện hơn hay không? 

Kết quả kiểm định với chuỗi dữ liệu ngày cho thấy dường như không có sự cải thiện đáng kể trong hiệu quả dự báo. Chỉ  tiêu r vẫn chỉ đạt mức thấp 6,8% vẫn chưa cho thấy  mối  tương quan  trong  chuỗi  tỷ suất  sinh lợi  quá  khứ  với  tỷ  suất  sinh  lợi  VNI hiện tại. Tuy nhiên, vấn đề lại được đặt ra rằng, liệu có phải do chuỗi dữ liệu trong thời  kỳ  thu  thập  không  miêu  tả  được  những  đặc  trưng  của  một  giai  đoạn  của  thị trường? Rất có thể sự thay đổi nhanh chóng của TTCK VN trong suốt thời gian qua 

đã khiến cho mô hình mạng được huấn luyện dựa trên các dữ liệu quá khứ đã không 

có giá trị lâu dài. Để làm rõ vấn đề này, một lần nữa luận án đi vào điều chỉnh nguồn 

dữ liệu đầu vào, sử dụng bộ dữ liệu tỷ suất sinh lợi theo ngày từ đầu năm 2010 đến tháng 09/2010. Với các cấu trúc mạng khác nhau, kết quả kiểm định ngoài mẫu bảng 2.15. 

Mặc dù xét về các chỉ tiêu khác nhau MSE và MAE, kết quả dự báo từ các cấu trúc mạng  sử  dụng  bộ  dữ  liệu  tỷ  suất  sinh  lợi  trong  khoảng  thời  gian  ngắn  hơn  (năm 2010) so với cấu trúc cũ có sự khác biệt không lớn, nhưng riêng chỉ tiêu tương quan giữa chuỗi giá trị dự báo với chuỗi giá trị thực tế lại có sự cải thiện đáng kể. Đặc biệt 

là  với  cấu  trúc  MLF  5­3­1  và  GNN  5­4­3­1,  chỉ  tiêu  này  lần  lượt  là  38,17%  và 27,3%.  Điều  này  cho  thấy  sự  trùng  hợp  với  kết  luận  của  Wilton,  Vincent  và  Tam (2008) về việc sử dụng bộ dữ liệu trong thời gian ngắn hơn sẽ cho kết quả dự báo khả quan hơn đối với TTCK Shanghai của Trung Quốc. Nói cách khác, mô hình ANN có thể  sử  dụng  để  dự  báo  VNI  trên  TTCK  VN  trong  khoảng  thời  gian  quan  sát  theo ngày  sẽ  cho  mức  độ  giải  thích  lớn  hơn.  Nhưng  mặt  khác,  điều  này  còn  cho  thấy TTCK  VN  bị tác động bởi  nhân  tố  momentum  lớn.  Kết  quả này càng  minh  chứng cho những nghiên cứu gần đây trên TTCK VN về tác động của tâm lý nhà đầu tư là rất lớn. Chính sự phản ứng thái quá của nhà đầu tư là nguồn gốc của tình trạng xuất hiện  của  biến  momentum  này.  Để  làm  rõ hơn  tính  chất này,  phần  nghiên  cứu  tiếp theo của luận án sử dụng những chỉ báo của phân tích kỹ thuật để phân tích sự thay 

đổi của VNI thời gian qua. 

Bảng 2.15: Kiểm định ngoài mẫu đối với các mô hình ANN với dữ liệu thu thập  trong năm 2010 

Trang 29

độ  (RSI)…  để  dự báo  chỉ  số  Kuala  Lumpur Composite  Index  của  TTCK  Malaysia thông qua mô hình mạng ANN. Kết quả thực nghiệm đã cho thấy rằng mô hình này 

sẽ cho ra khả năng dự báo tỷ suất  sinh lợi  cao hơn so với  việc sử dụng một  số mô hình truyền thống như mô hình ARIMA. 

Nhận  thấy  rằng  việc  sử  dụng  các  chỉ  báo  của  phân  tích  kỹ thuật  là  khả  thi  đối với việc dự báo chỉ số chứng khoán, nội dung của phần này tập trung vào việc lựa chọn một số các chỉ báo tiêu biểu để thiết lập nên mô hình mạng ANN nhằm mục đích dự báo  cho  chỉ  số  VNI  và  so  sánh  kết  quả  dự  báo  của  mô  hình  này  với  các  mô  hình tuyến tính thông thường. 

Phần  nghiên  cứu này  đã  chứng  minh  cho quan điểm  TTCK  VN tồn  tại  hiện  tượng momentum rất  cao. Điều này khẳng định cho kết  luận trong phần 2.5 khi phân tích giá chứng khoán trong quá khứ có tác động đến giá hiện tại  và tương lai. Nói  cách khác, luận án càng cho thấy TTCK VN chưa đạt đến trạng thái thị trường hiệu quả, thị  trường luôn tồn tại  xu hướng. Giá chứng khoán trên TTCK VN có thể được dự báo từ những thay đổi giá trong quá khứ, tuy nhiên mức độ tác động là không lớn khi chỉ tiêu dựa báo ngoài mẫu là r­Square từ mô hình mạng ANN thấp. 

Tóm lại, quá trình phân tích trong chương 2 đã cho chúng ta kết luận rằng, mô hình mạng ANN thật sự là một công cụ hữu ích cho việc ước lượng mối quan hệ phi tuyến của các biến số. Nghĩa là mô hình mạng ANN vượt trội hơn mô hình tuyến tính khi mối  quan  hệ  giữa  các  biến  là  mối  quan  hệ  phi  tuyến.  Chính  vì  vậy  cấu  trúc  mạng ANN truyền thẳng với hàm truyền là hàm phi  tuyến cho ra kết quả dự báo VNI tốt hơn các cấu trúc mạng ANN khác. Đồng thời nhóm các biến phản ánh tình hình tài chính  của các doanh nghiệp niêm  yết  trên  TTCK tác  động mạnh đến  sự biến động của  VNI.  Điều  này  cho  thấy  khả  năng  dự  báo  giá  chứng  khoán  trên  TTCK  VN  từ nhóm biến tài chính sẽ phần nào chuẩn xác hơn các nhóm biến khác

Trang 30

Chương  3:  MỘT  SỐ  ĐỀ  XUẤT  TỪ  QUÁ  TRÌNH  PHÂN  TÍCH  VÀ  DỰ  BÁO 

GIÁ  CHỨNG  KHOÁN  TRÊN  THỊ  TRƯỜNG  CHỨNG  KHOÁN 

VIỆT NAM 

Trong chương 2 tôi đã trả lời cho những mục tiêu nghiên cứu được đặt ra: Thứ nhất,  thiết  kế  và  ứng dụng  mô  hình  mạng  ANN  trong  việc  dự báo  giá  chứng  khoán  trên  TTCK VN là hoàn toàn có thể. Thứ hai, mô hình ANN tỏ ra tối ưu hơn mô hình hồi  quy tuyến tính truyền thống và cấu trúc mạng ANN truyền thẳng với hàm phi tuyến sẽ 

là mô hình dự  báo giá chứng khoán tốt nhất trên TTCK VN thời gian qua. Thứ ba,  trong số các biến giải  thích cho sự thay đổi giá  chứng khoán thì  các biến tài  chính  lại cho ra kết quả dự báo tốt nhất. Nói cách khác, giá  chứng khoán trên TTCK VN  được  giải  thích  từ  những  thay  đổi  trong  chính  những  biến  phản  ánh  tình  hình  tài  chính  của  doanh  nghiệp.  Nói  như  vậy,  không  có  nghĩa  là  các  biến  kinh  tế  vĩ  mô  không tác động đến sự thay đổi giá chứng khoán. Phần 2.1 và 2.2, việc sử dụng mô  hình ANN để phân tích tác động của các biến kinh tế vĩ mô đã cho thấy mức độ ảnh  hưởng là khá lớn lên sự thay đổi này. Trong khi đó, việc khảo sát sự thay đổi của các  biến tài chính cũng phản ánh  những tác nhân kinh tế lên mức độ ảnh hưởng của các  biến tài chính. 

Chẳng hạn, khi dùng các biến kinh tế vĩ mô, nghiên cứu của tôi phát hiện ra các biến 

về tăng  trưởng tín dụng, lãi suất  và lạm phát ảnh hưởng đến sự thay đổi giá chứng  khoán nhưng nếu nhìn từ các biến tài chính thì mức độ tài trợ từ nợ của các doanh  nghiệp niêm yết lại là một biến tác động đến giá chứng khoán, do đó mức độ tài trợ 

từ nợ càng lớn đã cho thấy tác động của các biến kinh tế vĩ mô như tăng trưởng tín  dụng và lãi suất ảnh hưởng mạnh lên giá chứng khoán trên TTCK VN. 

Như vậy, quá trình nghiên cứu này giúp cho chương 3 của luận án đề xuất hướng đi  mới từ  công cụ phân tích và dự báo là mô hình ANN. Ngoài  ra, luận án có đề xuất  một số giải pháp được phát hiện liên quan đến quá trình phân tích dữ liệu trung việc 

dự báo giá chứng khoán trên TTCK VN để nhằm mục đích vừa phát triển TTCK VN  nhưng đồng thời sẽ giúp quá trình dự báo giá chứng khoán sau này trở nên tốt hơn.  Trước tiên, luận án đưa ra một số kết luận từ quá trình phân tích ở chương 2 và một 

số vấn đề đặt ra từ quá trình phân tích dữ liệu giúp cho quản lý TTCK tốt hơn. 

3.1.  Khả năng dự báo giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam  3.2.  Hành  vi  tài  chính  của  nhà  đầu  tư  tác  động  mạnh  trong  mô  hình  mạng  ANN

Trang 31

3.3.  Một  số  đề  xuất  từ  quá  trình  phân  tích  và  dự  báo  giá  chứng  khoán  trên 

TTCK VN 

3.3.1.  Gia  tăng  điều  kiện  phát  hành  chứng  khoán  nhằm  kiểm  soát  hoạt  động  huy  động vốn của các doanh nghiệp 

3.3.2.  Sớm thay đổi các quy định về tín dụng đầu tư chứng khoán hiện nay của ngân  hàng nhà nước 

Trang 32

Thành  công  của một  số nghiên  cứu  trên  thế giới  và  một  phần  trong  việc  triển  khai quá trình ứng dụng mô hình mạng ANN ở chương 2 của luận án đã cho thấy mô hình mạng ANN cho ra kết quả dự báo tốt  các biến kinh tế và nhất  là dự báo giá chứng khoán trên TTCK VN. Mô hình mạng ANN có thể cải thiện mô hình tuyến tính nếu các mối quan hệ được nghiên cứu có sự phi tuyến đáng kể. Mô hình mạng ANN nên được xem như là một sự bổ sung tốt cho mô hình hồi quy tuyến tính. Các nhà nghiên cứu quan tâm đến việc xây dựng một mô hình mạng ANN có thể sử dụng mô hình tuyến tính như là điểm bắt đầu tốt nhất. Nói chung, mô hình mạng ANN là hữu ích 

để hỗ trợ cho các nhà kinh tế trong việc dự báo kinh tế vĩ mô. Ít nhất, chúng xứng đáng để được nghiên cứu thêm nữa. Bằng cách sử dụng mô hình mạng ANN trong một bối cảnh cụ thể, sẽ cho phép các nhà kinh tế đánh giá đúng tính hữu ích của nó. Tất nhiên, yêu cầu thực hiện một mô hình mạng ANN có chất lượng cao sẽ phải đầu 

tư nhiều  thời  gian  và  công  sức.  Sự đầu  tư này  có  thể đáng  giá  chỉ  khi  chúng  ta  có được sự cải thiện tính chính xác trong việc dự báo lớn hơn những đầu tư cần thiết để thực hiện mô hình. Nói  chung sẽ đúng trong trường hợp của các biến số kinh tế vĩ 

mô vốn còn nhiều cơ hội để gia tăng việc cải thiện dự báo, nghĩa là các biến số vẫn 

có sai số dự báo khá lớn đối với các kỹ thuật hiện tại. Điều này cũng sẽ đúng cho các biến có mức độ ảnh hưởng lớn khi mà mức độ cải thiện biến trong tính chính xác là đáng mong đợi. Như vậy có thể là trường hợp của tăng trưởng GDP danh nghĩa, lãi suất hoặc tỷ giá hối  đoái, là những biến số quan trọng trong việc hoạch định chính sách tài khóa và tiền tệ. 

Kết quả nghiên cứu của luận án đã góp phần cung cấp bằng chứng cho tính hiệu quả khi ứng dụng mô hình mạng ANN trong dự báo kinh tế điển hình là giá chứng khoán. Dựa trên việc khảo sát các nhóm biến khác nhau, mô hình mạng ANN luôn cho kết quả  tốt  hơn  mô  hình  hồi  quy  tuyến  tính  đặc  biệt  là  cấu  trúc  mạng  truyền  thẳng  và hàm  phi  tuyến  sẽ  cho  kết  quả  cho  sự  tác  động  của  các  biến  khi  đưa  vào  mô  hình. Đồng thời, qua việc khảo sát  cách biến khác nhau, luận án đã chỉ  ra nhóm viến tài chính có tác động mạnh đến sự thay đổi giá chứng khoán trên TTCK VN. Quá trình phân tích từ mô hình mạng ANN đã giúp cho luận án thấy được mức độ tác động của các biến giải thích lên giá chứng khoán để làm cơ sở cho một số đề xuất chính sách trong chương 3. Chính vì vậy, luận án đề xuất quá trình triển khai ứng dụng mô hình mạng ANN trong công tác phân tích và dự báo kinh tế như là một bằng chứng củng 

cố thêm cho những phương pháp truyền thống đang được thực hiện

Trang 33

1.  Tính cấp thiết của luận án 

Việc  nghiên  cứu  những  công  cụ  hoặc  mô  hình  dự  báo  thị  trường  tài  chính  và  nền kinh tế có một lịch sử lâu đời. Phân tích chuỗi thời gian là một trong những cách tiếp cận truyền thống được sử dụng rộng rãi nhất trong lĩnh vực này. Có hai loại mô hình 

mô tả hành vi của chuỗi thời gian như sau. 

Thứ nhất là các mô hình tuyến tính: phương pháp tuyến tính để phân tích chuỗi thời gian thường được áp dụng thông qua một trong những kỹ thuật sau đây: 

a.  Kỹ thuật Box ­ Jenkins 

b.  Bộ lọc Kalman 

c.  Lý thuyết san bằng hàm mũ của Brown 

d.  Hồi quy mẫu nhỏ 

Thứ hai là các mô hình phi tuyến:

Trang 34

a.  Lý thuyết Taken 

b.  Phương trình Mackey­Glass 

Những kỹ thuật này cố gắng tái tạo lại chuỗi thời gian dựa trên các mẫu dữ liệu để dự đoán giá trị tương lai. Mặc dù những kỹ thuật này có ý nghĩa thống kê nhưng chúng 

có tỷ lệ thành công thấp khi được sử dụng để dự báo thị trường tài chính. 

Những bằng chứng gần đây chỉ ra rằng thị trường tài chính là phi tuyến. Tuy nhiên, phương pháp tuyến tính vẫn cung cấp những cách tiếp cận tốt để mô tả hệ thống phi tuyến  được  tìm  thấy  trong  phân  tích  chuỗi  thời  gian  thị  trường  tài  chính  (Fang  và cộng sự, 1994). Bollerslev (1986) cung cấp một cái nhìn tổng quát về sự tồn tại của tính phi  tuyến  trong dữ  liệu  tài  chính,  và phát  triển  một mô hình  để dự đoán chuỗi thời  gian  tài  chính  được  gọi  là  GARCH  (Generalized  Autoregressive  Conditional Heteroskedasticity ­ GARCH) kết hợp tất cả các đặc trưng quan sát được trong chuỗi này. Nhưng nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng (chứ không phải đi từ từ) theo thời  gian.  Tuy nhiên, những đặc  trưng này không dễ dàng  được  tính  toán bằng các 

mô hình tuyến tính, và điều này được chứng minh qua việc các hệ số ước lượng có 

độ dốc lớn. Nhiều nhân tố tác động đến thị trường tài chính và nền kinh tế bao gồm các sự kiện chính trị, điều kiện kinh tế nói chung, và kỳ vọng của nhà đầu tư. Vì vậy, 

dự báo thị trường tài chính và sự chuyển động của nền kinh tế là khá khó khăn. Mạng  thần  kinh nhân  tạo  ­ Artificial  Neural  Network  (ANN)  ­ là  một  công  cụ hữu ích trong tài chính định lượng hiện đại  và được biết đến như một kỹ thuật mô hình hóa thống kê hữu ích. ANN là một công cụ tốt cho cả các nhà nghiên cứu và những nhà thực nghiệm. Mô hình ANN có thể tìm ra mối quan hệ hàm trong một tập hợp dữ liệu  và  thực  hiện  các  nhiệm  vụ  như  nhận  dạng  mẫu  hình,  phân  loại,  đánh  giá,  mô hình hóa, dự báo và kiểm soát (Anderson và Rosenfeld, 1988; Hecht­Nielsen, 1990; Hertz và cộng sự, 1991;  Hiemstra và Jones, 1994). Một vài tính năng khác biệt của ANN làm cho chúng có giá trị và hấp dẫn trong dự báo. 

Một số bài viết xem xét những báo cáo trên tạp chí cách mà ANN có thể áp dụng cho thị trường tài chính và nền kinh tế. Chatterjee và cộng sự (2000) cung cấp một tổng quan  về  hệ  thống  ANN  và  phạm  vi  sử  dụng rộng  rãi  của  chúng  trên  thị  trường tài chính. Công trình của họ thảo luận về ưu điểm vượt trội của ANN so với các phương pháp truyền thống. Nghiên cứu kết  luận với một mô tả về việc sử dụng  thành công ANN  bởi  nhiều  tổ  chức  tài  chính  trong  việc  dự  báo  giá  chứng  khoán.  Trong  sách Neural Network cho dự báo tài chính của Edward Gately, mô tả phương pháp chung 

để  xây  dựng,  huấn  luyện,  và  kiểm  tra  một  ANN  bằng  cách  sử  dụng  phần  mềm thương mại hiện  hữu.  Luận  án  sẽ  tập  trung  vào  phương pháp này  để  triển  khai  quá trình  phân  tích  và dự  báo  giá  chứng  khoán  trên  thị  trường  chứng  khoán  Việt  Nam

Trang 35

như  là  một  minh  chứng  cho  khả  năng  ứng  dụng  của  ANN  trong  dự  báo  kinh  tế. Không chỉ trong lĩnh vực dự báo giá chứng khoán, luận án còn mong muốn sử dụng phương  pháp  ANN  áp  dụng  cho  các  lĩnh  vực  tài  chính  và  nền  kinh  tế  như  là  một công cụ dự báo hỗ trợ cho các phương pháp truyền thống. Chính vì vậy, tác giả chọn 

đề tài với tên gọi “Ứng dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo trong dự báo kinh tế – Trường hợp thị trường chứng khoán Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu cho luận án 

tiến sĩ của mình. 

2.  Tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung luận án 

Từ những nghiên  cứu sơ  khai  của  Mc Culloch  và  Pitts  trong những năm  1940,  trải qua  nhiều  năm  phát  triển,  cho  đến  hơn  10  năm  trở  lại  đây  cùng  với  sự  phát  triển mạnh mẽ của ngành công nghệ thông tin trong việc xử lý dữ liệu cho cả phần cứng 

và phần mềm đã giúp cài đặt những ứng dụng phức tạp của lý thuyết mạng thần kinh nhân tạo. Lý thuyết mạng thần kinh nhân tạo những năm gần đây mới thực sự được chú  ý  và  nhanh  chóng  trở  thành  một  hướng  nghiên  cứu  đầy  triển  vọng  trong  mục đích xây dựng mô hình mô phỏng theo trí tuệ con người Sức mạnh thuộc về bản chất tính  toán  của  các  thuật  toán  mạng,  song  những  nghiên  cứu  thực  nghiệm  đã  thành công  trong nhiều  lĩnh  vực, những nghiên cứu  thực nghiệm  trong  lĩnh  vực  tài  chính cũng được sự quan tâm và cho ra nhiều kết quả tốt ở những  nền kinh tế khác nhau. 

Từ  những  nghiên  cứu  việc  ứng  dụng  ANN  để  phân  tích  những  chuỗi  dữ  liệu  thời gian nên được thực hiện dựa trên trấu trúc ANN nào cho các chỉ tiêu dự báo như tăng trưởng kinh tế, biến động tỷ giá hối đoái, và thậm chí là giá chứng khoán trên các thị trường.  Quá  trình  nghiên  cứu  mạng  ANN  còn  được  so  sánh  với  những  mô  hình truyền  thống  hiện  đang  được  sử dụng  cho  việc  phân  tích  và  dự báo  trong  lĩnh  vực kinh tế như mô hình hồi quy tuyến tính, mô hình hồi quy phi tuyến. Quá trình nghiên cứu này đã cho ra những kết quả lợi  thế của mô hình ANN đặc biệt là ở những thị trường mới nổi trong phân tích và dự báo. Như vậy, ở thị trường Việt Nam liệu quá trình  triển  khai nghiên cứu ứng dụng mô hình ANN có  hiệu quả  không  và  có  vượt trội hơn các công cụ phân tích và dự báo khác? Trên cơ sở  tiếp cận này, tôi đi vào nghiên cứu quá trình hoạt động  của mạng ANN trong lĩnh vực kinh tế, tài chính  và những  kết  quả nghiên  cứu đạt được  ở  các  thị  trường  khác  trên  thế  giới để  làm nền 

tảng cho việc nghiên cứu. 

3.  Mục tiêu nghiên cứu 

Trên  phương  diện  nghiên  cứu  mô  hình  mạng  ANN  và  những  nguyên  lý hoạt  động của nó để từ đó ứng dụng vào lĩnh vực kinh tế và tài chính vẫn còn là một nội dung chưa  được  quan  tâm  nhiều.  Trong  phạm  vi  của  nền  kinh  tế  Việt  Nam,  tác  giả  tập trung nghiên cứu việc ứng dụng mô hình này để nhằm phân tích và dự báo giá chứng

Trang 36

khoán  trên  thị  trường  chứng  khoán  Việt  Nam  trước  các  biến  giải  thích  khác  nhau, như là một minh chứng cho khả năng ứng dụng của mô hình ANN trong dự báo kinh 

tế. Qua quá trình ứng dụng ANN vào thị trường chứng khoán Việt  Nam, luận án  sẽ giải quyết thêm một số vấn đề khác như: cấu trúc mạng ANN nào tốt cho vấn đề dự báo giá chứng  khoán trên thị trường  chứng khoán  Việt Nam, hiệu quả của mô hình ANN so với mô hình hồi quy tuyến tính biến nào sẽ tác động lên sự biến động của giá chứng khoán… Cụ thể hơn, luận án sẽ giải quyết bốn mục tiêu nghiên cứu sau: 

1.  Khả  năng  ứng  dụng  mô  hình  ANN  trong  dự  báo  giá  chứng  khoán  trên  thị trường chứng khoán Việt Nam. 

2.  Lựa chọn cấu trúc mạng ANN phù hợp trong dự báo giá chứng khoán. 

3.  Hiệu quả ứng dụng mô hình ANN tốt hơn mô hình hồi quy tuyến tính. 

4.  Tìm ra nhóm biến có thể giúp dự báo giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam qua đó gợi ý một số chính sách liên quan. 

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, nội dung của luận án tập trung đi vào trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây: 

(1).  Mô  hình  mạng  ANN  là  gì  và  cơ  chế  vận  hành  của  nó  như  thế  nào  trong  thị trường tài chính? 

(2).  Những quan điểm và bằng chứng thực nghiệm trong việc ứng dụng mô hình ANN trong phân tích và dự báo trên thị trường tài chính? 

(3).  Khả  năng  ứng  dụng  mô  hình  ANN  trong  dự  báo  giá  chứng  khoán  trên  thị trường chứng khoán Việt Nam? 

(4).  Cấu trúc mạng ANN nào sẽ thích hợp để dự báo giá chứng khoán? 

(5).  Liệu khả năng ứng dụng mô hình ANN trong dự báo giá chứng khoán trên thị trường  chứng  khoán  Việt  Nam  có  tính  hiệu  quả  hơn  mô  hình  hồi  quy  tuyến tính truyền thống? 

(6).  Nếu mô hình ANN tốt hơn thì những biến giải thích nào sẽ giúp cho chúng ta 

sử dụng để phân tích và dự báo giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam? 

Việc giải quyết các mục tiêu nghiên cứu trên cho thấy giá trị hiệu quả của mô hình ANN trong việc ứng dụng mô hình này trong phân tích và dự báo các biến kinh tế. Chính vì vậy, các chủ thể liên quan trong nền kinh tế bao gồm các nhà nghiên cứu và

Trang 37

các  nhà  thực  hành  sẽ  áp  dụng  mô  hình  ANN  để  thay  thế  hoặc  bổ  sung  cho  các 

phương pháp hồi quy. 

Để giải quyết các nội dung nghiên cứu nêu trên, tác giả luận án đã sử dụng phương pháp định lượng dựa trên việc nghiên cứu những thuật toán mô phỏng của mạng thần kinh nhân tạo để tiến hành lựa chọn cấu trúc ANN thích hợp nhằm ứng dụng trong 

dự báo giá chứng khoán. Việc triển khai quá trình ứng dụng mô hình ANN trong dự báo giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam được dựa trên quy trình 

đề  xuất  8  bước  của  năm  nhà  nghiên  cứu  Deboeck,  Masters,  Blum  và  Nelson  và Illingworth. Ngoài ra quá trình thử nghiệm các cấu trúc mạng ANN được thực hiện 

dựa trên phần mềm hỗ trợ xử lý dữ liệu có bản quyền NeuralSolution 5.0. 

5.  Các phát hiện và kết quả nghiên cứu 

Luận án của tác giả đã đóng góp các kết quả nghiên cứu sau:

·  Khả năng ứng dụng mô hình ANN để dự báo giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam là hoàn toàn có thể thực hiện

·  Mô hình ANN dùng để dự báo giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam cho ra kết quả dự báo ngoài mẫu tốt hơn mô hình hồi quy tuyến tính truyền thống

·  Cấu  trúc mạng  thần  kinh  truyền  thẳng  cho ra  kết  quả dự báo  tốt  hơn  một  số cấu  trúc  mạng  khác  với  hàm  truyền  là  hàm  phi  tuyến.  Nói  cách  khác,  mối quan hệ giữa các biến giải thích và biến phụ thuộc là quan hệ phi tuyến tính

·  Dựa trên việc nghiên cứu ứng dụng mô hình ANN để dự báo giá chứng khoán trên  thị  trường  chứng  khoán  Việt  Nam,  luận án  đã  cho  thấy  rõ  tác  động  của các nhóm biến kinh tế vĩ mô của nền kinh tế, nhóm biến thể hiện tình hình tài chính của các doanh nghiệp niêm yết… lên sự thay đổi giá chứng khoán, trong khi đó nếu dùng mô  hình hồi quy tuyến tính  truyền thống thì  gần như không tìm thấy sự tác động này

·  Qua  quá  trình  phân  tích  và  dự  báo  giá  chứng  khoán  trên  thị  trường  chứng khoán Việt  Nam, luận án  có gợi ý một số chính sách để phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam lên một tầm cao mới nhằm phát triển mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 38

QUAN ĐIỂM VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VIỆC ỨNG  DỤNG MÔ HÌNH MẠNG THẦN KINH NHÂN TẠO TRONG 

DỰ BÁO 

TÓM TẮT  Mỗi  một  mô hình phân  tích  và dự báo  đều dựa  trên những nền  tảng giả định  khác  nhau. Các mô hình trước nay được sử dụng phổ biến để phân tích và dự báo đều dựa  trên  phương  pháp  phân phối  chuẩn  của  các  biến  đưa  vào  mô  hình.  Quan  điểm  về  phân phối chuẩn đã  đưa  ra nền tảng  toán học  cho học  thuyết thị  trường hiệu quả.  Quan điểm này đã đưa đến việc hình thành các mô hình phân tích và định giá chứng  khoán như mô hình định giá tài sản vốn ­ CAPM, mô hình định giá quyền chọn Black  – Scholes, mô hình đa nhân tố, mô hình Fama­French… Tuy nhiên, các mô hình này  lại không mấy hiệu  quả khi phân  tích  và dự báo những  chỉ  tiêu  đầy tính biến động  trong thị trường tài chính. Một phương pháp mô phỏng bộ não con người được xây  dựng dựa  trên những nền  tảng tiếp cận  khác  với  các phương  pháp trên.  Quá trình 

mô phỏng này được gọi là mô hình mạng thần kinh nhân tạo ­ ANN. Những quy tắc  khi ứng dụng mô hình ANN không như những phương pháp dựa trên quan điểm phân  phối chuẩn. Quá trình ứng dụng mô hình ANN dựa trên quan điểm: các chủ thể tham  gia thị trường, quyết định xu hướng thị trường là những nhà đầu tư với những hiểu  biết khác nhau. Nói cách khác, chính nhà đầu tư khi tiếp nhận thông tin và sẽ đưa ra  quyết  định  trước  những  thông  tin  này  dựa  trên  những  hiểu  biết  và  phân  tích  của  chính  mình.  Việc  ứng dụng  mô hình  ANN  khá phổ biến  trong  lĩnh  vực  điện  tử,  sản  xuất rô bốt hay như trong lĩnh vực y học… Quá trình ứng dụng mô hình ANN trong  thị trường tài chính để phân tích và dự báo chỉ được quan tâm trong hơn một thập  niên gần đây. Quá trình ứng dụng này lớn mạnh nhờ sự hỗ trợ của ngành công nghệ  thông  tin  đã  mang  lại  một  số  thành  tựu  nhất  định  về  tính  hiệu  quả  của  mô  hình.  Chính vì vậy, tiếp cận nghiên cứu mô hình ANN ở Việt Nam là rất cần thiết.

Trang 39

1.1.  Quan điểm lựa chọn công cụ phân tích và dự báo 

Phương pháp phân phối chuẩn hay đường cong hình chuông là một công cụ phổ biến trong việc phân  tích dữ  liệu  kinh  tế  tài  chính  đặc biệt  là  trong phân  tích  giá  chứng khoán. Phương pháp phân phối chuẩn chính là nền tảng toán học cho học thuyết thị trường hiệu quả của lĩnh vực tài chính. Quan điểm của phương pháp phân phối chuẩn cho  rằng,  giá  chứng  khoán  là  độc  lập ngẫu nhiên  với  nhau.  Ban đầu, phương pháp phân phối chuẩn được tìm thấy khi thực hiện các thí nghiệm tung đồng xu (một cách ngẫu  nhiên)  và  phát hiện  ra  đồ  thị  hình  chuông.  Sau  đó,  những  người đi  theo  học thuyết  thị  trường  hiệu  quả  cho  rằng,  tỷ  suất  sinh  lợi  của  giá  chứng  khoán  cũng  có hình dạng đường cong hình chuông như vậy. 

Bill William (1995) cho rằng, việc các nhà tài chính hiện nay sử dụng phương pháp phân phối chuẩn là vì chúng ta chịu ảnh hưởng của những tư duy triết học từ xa xưa, 

mà ông gọi đây là bản đồ logic văn hóa. Ông nói: “Bản đồ logic văn hóa của bạn tác động đến mọi  thứ bạn  làm:  bài  nói  chuyện  của bạn,  suy  nghĩ  của bạn, hành  vi  của bạn, cách bạn ăn và bạn giao dịch trên thị trường tài chính. Các khái niệm của bạn về tất cả các hành động phụ thuộc vào bản đồ logic văn hóa mà bạn đang sử dụng”. Bản  đồ  logic  văn  hóa  hiện  nay  bị  thống  trị  bởi  quan  điểm  triết  học  của  Aristotle. Aristotle đúc kết thế giới  với ý tưởng rằng:  “nếu bạn không biết về điều gì, bạn có thể đi hỏi người  khác, người mà bạn cho là hiểu biết hơn bạn”. Hàm ý của câu nói trên cho rằng, mọi  thứ trên thế giới đều độc lập và ngẫu nhiên với nhau. Trong thế giới  của  Aristotle,  mọi  thứ  là đứng  yên,  bất  biến  và  có một  ranh  giới  phân chia  rõ ràng giữa các sự vật. Ứng dụng trên thị trường tài chính, tư tưởng về sự độc lập ngẫu nhiên của giá chứng khoán chính là quan điểm của Aristotle. 

Trong khi đó, Heraclitus lại có một câu nói nổi tiếng: “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”. Điều này có nghĩa rằng, bất kể bạn đặt chân vào dòng nước nhanh như thế nào và sau đó rút ra và đặt vào lần nữa, không chỉ dòng sông đã chuyển động mà bàn  chân  của bạn  cũng đã  thay đổi.  Hàm ý  câu nói  của  Heraclitus  là  mọi  thứ  luôn chuyển  động  và  không  có  gì  là bất biến  và  ổn định. Trong  thế  giới  của  Heraclitus, không có ranh giới  rõ ràng và không có gì  là đứng  yên mãi mãi, mọi  thứ có sự kết nối  với  nhau.  Trên  thị  trường  tài  chính,  quan  điểm  của  Heraclitus  chính  là  sự  phụ thuộc lẫn nhau trong các chỉ tiêu kinh tế được xem như là các biến giải thích cho giá 

cả chứng khoán hay nói cách khác, chính bản thân các biến kinh tế hay các chỉ tiêu kinh  tế  được  đặt  trong  mối  quan  hệ  tương  tác  qua  lại  chứ  không  phải  độc  lập  lẫn nhau và giá chứng khoán không hề độc lập ngẫu nhiên với nhau. Giá cả chứng khoán thay đổi theo một xu hướng

Trang 40

vũ  trụ  từ  sau  hiện  tượng  “big  bang”,  nhưng  nó  không  thể  mô  tả  hay  giải  thích  sự chuyển động của máu trong tĩnh mạch trái hay sự hỗn loạn của dòng nước”. 

Thế kỷ 20 được đánh dấu bởi 3 phát minh đáng nhớ:  (1) thuyết  tương đối  (relative theory)  và  (2)  kỹ  thuật  định  lượng  (quantum  mechanic)  và  (3)  khoa  học  hỗn  loạn (chaos science). Sự phát triển của khoa học hiện đại chính là sự phát triển của tư duy Heraclitus. Như vậy, những quy luật  của khoa học cổ điển không phải là hoàn toàn đúng.  Ví  dụ,  đối  với  hình  học  Euclid.  Một  trong  những  định  luật  của  tam  giác  là 

“tổng các góc trong của bất kỳ tam giác nào cũng sẽ bằng 180 độ, nếu không thì đó không phải  là  tam  giác”.  Điều này  chỉ  đúng nếu ứng  với  trọng  trường  của  trái  đất. Khi chúng ta thoát khỏi trọng trường của trái đất, tổng các góc trở nên lớn hơn 180 

độ vì độ cong của không gian. Đối với chúng ta, sự thay đổi này không phải là vấn đề 

vì tất cả chúng ta không sống ở mặt trăng. Tuy nhiên, điểm này cho thấy quy tắc trên của tam giác chỉ là một trường hợp cụ thể không phải là quy luật chung. Khái niệm này  sẽ  trở  nên  cực  kỳ  quan  trọng  khi  chúng  ta  nghiên  cứu  sâu  vào  thị  trường  tài chính.  Hình  học phi  Euclid  là một sự phát  triển của ngành  toán học hiện đại.  Hình học phi Euclid bác bỏ một số tiên đề của hình học Euclid

·  Thuyết tương đối của Einstein đã thống nhất mối quan hệ giữa khối lượng và năng  lượng,  thời  gian  và  không  gian,  điều  mà  khoa  học  cổ  điển  phủ  nhận. Trong phân  tích  giá  chứng  khoán, đặc  biệt  là  những người  theo  trường phái phân tích kỹ thuật, mối quan hệ này được chỉ ra khi phân tích mối liên hệ giữa khối lượng giao dịch (khối lượng) và sự dao động của giá chứng khoán (năng lượng)

·  Sự  phát triển của khoa học định lượng cho thấy rằng có thể sử dụng một lực nhỏ để gây tác động to lớn đến vật khác. Thậm chí một vật chuyển động mà không do gì tác động lên nó. Hay nói cách khác, không tồn tại ranh giới phân biệt giữa nguyên nhân và hệ quả như vật lý cổ điển. Năm 1964, Johm Stuart Bell, đã giới thiệu khái niệm mà ông ta gọi là “sự không xác định của nguyên nhân”. Bell cho rằng nguyên nhân là do chúng ta sống trong một thế giới mà mọi  thứ  luôn  được  gắn  kết  với  nhau  và  không  thể  phân  định  đâu  là  nguyên nhân  và  đâu  là hệ  quả.  Sự  phát  triển  của  hạt  nguyên  tử  đã  cho  phát  hiện  ra

Ngày đăng: 12/09/2013, 16:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Mô hình phi tuyến của một neuron - Ứng dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo   trường hợp TTCK VN
Hình 1.2  Mô hình phi tuyến của một neuron (Trang 46)
Hình 1.5: Mô hình mạng truyền thẳng với hai lớp ẩn - Ứng dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo   trường hợp TTCK VN
Hình 1.5 Mô hình mạng truyền thẳng với hai lớp ẩn (Trang 53)
Hình 1.6: Mô hình mạng lặp lại Elman - Ứng dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo   trường hợp TTCK VN
Hình 1.6 Mô hình mạng lặp lại Elman (Trang 56)
Hình 2.2: Kết quả dự báo theo mô hình ANN và thực tế của VNI trong mô hình - Ứng dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo   trường hợp TTCK VN
Hình 2.2  Kết quả dự báo theo mô hình ANN và thực tế của VNI trong mô hình (Trang 79)
Hình 2.3: VNI dự báo từ mô hình GNN­14PE so với VNI thực tế - Ứng dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo   trường hợp TTCK VN
Hình 2.3  VNI dự báo từ mô hình GNN­14PE so với VNI thực tế (Trang 81)
Hình 2.4: Mô tả mạng GRNN với 4 neuron trong lớp ẩn GNN­4PE - Ứng dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo   trường hợp TTCK VN
Hình 2.4  Mô tả mạng GRNN với 4 neuron trong lớp ẩn GNN­4PE (Trang 82)
Hình 2.5: Giá trị VNI dự báo từ GNN­4PE và GNN­5PE với giá trị VNI thực tế - Ứng dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo   trường hợp TTCK VN
Hình 2.5  Giá trị VNI dự báo từ GNN­4PE và GNN­5PE với giá trị VNI thực tế (Trang 83)
Hình 2.6: VNI thực tế và dự báo của cấu trúc mạng ANN tuyến tính - Ứng dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo   trường hợp TTCK VN
Hình 2.6  VNI thực tế và dự báo của cấu trúc mạng ANN tuyến tính (Trang 86)
Hình 2.7: VNI dự báo và thực tế từ cấu trúc ANN tuyến tính của tập kiểm tra lại - Ứng dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo   trường hợp TTCK VN
Hình 2.7  VNI dự báo và thực tế từ cấu trúc ANN tuyến tính của tập kiểm tra lại (Trang 90)
Hình 2.10: VNI dự báo và thực tế của tập kiểm tra lại từ cấu trúc mạng GNN 9­  5­1 và GNN 9­6­1 - Ứng dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo   trường hợp TTCK VN
Hình 2.10  VNI dự báo và thực tế của tập kiểm tra lại từ cấu trúc mạng GNN 9­  5­1 và GNN 9­6­1 (Trang 94)
Hình  2.11:  Chuỗi  tỷ  suất  sinh  lợi  VNI  dự  báo  ngoài  mẫu  từ  mạng  ANN  tuyến  tính và VNI thực tế - Ứng dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo   trường hợp TTCK VN
nh 2.11:  Chuỗi  tỷ  suất  sinh  lợi  VNI  dự  báo  ngoài  mẫu  từ  mạng  ANN  tuyến  tính và VNI thực tế (Trang 96)
Hình tương đối tốt nhất. - Ứng dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo   trường hợp TTCK VN
Hình t ương đối tốt nhất (Trang 109)
Hình 3: (a) Hàm ngưỡng, (b) Hàm vùng tuyến tính, (c) Hàm sigma với tham số độ dốc a thay đổi - Ứng dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo   trường hợp TTCK VN
Hình 3  (a) Hàm ngưỡng, (b) Hàm vùng tuyến tính, (c) Hàm sigma với tham số độ dốc a thay đổi (Trang 139)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w