Từng trải qua chiến tranh gian khổ, trở về với thời bình, nhà văn – người lính Chu Lai vẫn đau đáu, trăn trở về những kiếp nh n sinh, về người lính khi phải đối diện với hai trận chiến m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ MINH HUỆ
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
CHU LAI SAU NĂM 1975
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN – 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ MINH HUỆ
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
CHU LAI SAU NĂM 1975
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS CAO THỊ HỒNG
THÁI NGUYÊN – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Huệ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Văn học, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo
đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS.Cao Thị Hồng đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Huệ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CHU LAI - CUỘC ĐỜI, VĂN NGHIỆP VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT 13
1.1.Cuộc đời: 13
1.1.1.Quê hương, gia đình và thời niên thiếu 13
1.1.2.Thời kì trưởng thành và tham gia kháng chiến 13
1.1.3.Thời kì hậu chiến và x y d ng đất nước 14
1.2.Văn nghiệp 16
1.2.1 Quá trình sáng tác 17
1.2.2 Truyện ngắn Chu Lai trong bối cảnh của xã hội Việt Nam sau 1975 19
1.3 Quan niệm nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật về con người của Chu Lai 22
1.3.1.Quan niệm nghệ thuật 22
1.3.2 Quan niệm nghệ thuật của Chu Lai 23
1.3.2.1 Quan niệm về nghề văn và trách nhiệm của người cầm bút: 23
1.3.2.2 Quan niệm về s nghiệm sinh trong sáng tác 26
1.3.3 Quan niệm nghệ thuật về con người của Chu Lai 29
1.3.3.1 Quan niệm nghệ thuật về con người 29
1.3.3.2 Quan niệm nghệ thuật về con người của Chu Lai 31
Tiểu kết Chương 1 44
Chương 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CHU LAI SAU NĂM 1975 NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 45
2.1 Khái niệm thế giới nh n vật 45
2.1.1 Nh n vật 45
2.1.2 Thế giới nh n vật 47
Trang 62.2 S đa dạng phong phú của thế giới nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai sau
năm 1975 48
2.2.1 Nh n vật anh hùng 49
2.2.1.1.Nh n vật anh hùng lãng tử 49
2.2.1.2 Nh n vật nữ anh hùng: 53
2.2.2 Nh n vật bi kịch: 56
2.2.3 Nh n vật t ý thức 63
2.2.4 Nh n vật tha hóa 68
2.2.5 Nh n vật gắn với những suy niệm về cuộc đời, nghệ thuật 72
Tiểu kết Chương 2 78
Chương 3: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CHU LAI SAU NĂM 1975 NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 79
3.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình và khắc họa nội t m nh n vật 79
3.1.1.Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nh n vật 79
3.1.2 Nghệ thuật khắc họa nội t m nh n vật 86
3.2 Nghệ thuật khắc họa tính cách nh n vật 95
3.2.1 Nghệ thuật khắc họa tính cách qua x y d ng tình huống 95
3.2.2 Nghệ thuật khắc họa tính cách qua hành động ứng xử của nh n vật 101
3.3 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong x y d ng nh n vật 104
3.3.1 Ngôn ngữ đối thoại 104
3.3.2 Ngôn ngữ độc thoại: 110
Tiểu kết Chương 3 115
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 71.2.Khi nghiên cứu về Chu Lai, người ta chú ý nhiều đến tiểu thuyết bởi các
bộ tiểu thuyết của Chu Lai đều g y được tiếng vang và có đóng góp không nhỏ cho nền văn học Việt Nam sau 1975 Truyện ngắn Chu Lai là một “tiếng nói nghệ thuật mới” nhưng chưa được chú ý nhiều, đặc biệt là góc nhìn về thế giới
nh n vật Trong những năm gần đ y, truyện ngắn của ông cũng đã thu hút được
s quan t m của các nhà nghiên cứu Mỗi bài viết, mỗi công trình nghiên cứu là một cách nhìn, một tiếng nói, một suy nghĩ, cảm nhận riêng của người viết về nghệ thuật ngôn ngữ hoặc đặc điểm truyện ngắn Chu Lai Trong các bài viết,
Trang 8công trình nghiên cứu đó, ít nhiều có đề cập đến vấn đề nh n vật trong sáng tác
của ông Nhưng chưa có bài viết hoặc công trình nào nghiên cứu “Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Chu Lai sau năm 1975” một cách đầy đủ, toàn diện
và hệ thống
1.3 Nh n vật văn học là phương diện quan trọng, là “điều kiện thiết yếu đảm bảo cho s miêu tả thế giới của văn học có được chiều s u và tính hình tượng” [23,77] Tìm hiểu thế giới nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai, người đọc sẽ tìm được một chìa khóa để giải mã thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của ông
1.4 “Truyện ngắn Chu Lai là những lát cắt nhiều tầng, nhiều mảng khác
nhau của hiện th c đời sống” [44] Các tác phẩm truyện ngắn của Chu Lai viết
về con người ở nhiều lứa tuổi, trình độ, nghề nghiệp khác nhau và chủ yếu vẫn
là người lính trong và sau chiến tranh Những mảng màu tối – sáng, đậm – nhạt, những góc khuất của cuộc sống, những th n phận, số phận con người đã được nhà văn khai thác đến tận cùng và thể hiện trên những trang văn thấm đẫm tình người, tình đời Từng trải qua chiến tranh gian khổ, trở về với thời bình, nhà văn – người lính Chu Lai vẫn đau đáu, trăn trở về những kiếp nh n sinh, về người lính khi phải đối diện với hai trận chiến (một mặt trận đầy khói bom súng đạn, hiểm nguy trong quá khứ; một trận chiến trong hiện tại cuộc sống đời thường cũng không k m phần gay go quyết liệt Mặt khác, Chu Lai cũng đặc biệt rất yêu quý và tr n trọng người phụ nữ dù ở thời chiến hay thời bình Trong các cuộc nói chuyện, từ mà ông nhắc đến nhiều nhất có lẽ là “đàn bà” Với ông, tất cả phụ nữ đều là những vẻ đẹp được khẳng định Vì vậy trong truyện ngắn Chu Lai, phần lớn nh n vật của ông đều là những người lính và người phụ nữ nhưng những biểu hiện của thế giới nh n vật ấy vô cùng phong phú: “có người tốt, kẻ xấu; có người thất bại, kẻ thành công; có người cao cả, kẻ thấp hèn và cả những nh n vật tha hóa- những con người không đủ bản lĩnh để đối chọi với s cám dỗ của đời sống ” “Họ xuất hiện và len lỏi khắp nơi, trong chiến tranh
Trang 9cũng như trong cuộc sống thời bình” [44] Có thể ph n chia thành nhiều kiểu
nh n vật: đó là những nh n vật anh hùng - lãng tử, nh n vật t ý thức, nh n vật
bi kịch, nh n vật tha hóa, nh n vật gắn với những suy tư, chiêm nghiệm triết lí
về cuộc đời và nghệ thuật S phong phú của thế giới nh n vật ấy là yếu tố góp phần tạo nên diện mạo phong cách riêng của truyện ngắn Chu Lai sau năm 1975
Với những lí do trên, trên cơ sở kế thừa và tiếp thu kết quả của những
người đi trước, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Chu Lai sau 1975” Hi vọng qua s tìm hiểu, ph n tích, lí giải về
thế giới nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai một cách tương đối hệ thống, luận văn góp tiếng nói khẳng định vị trí của nhà văn Chu Lai trong nền văn học đương đại và đặc biệt s đóng góp của ông ở thể loại truyện ngắn, góp phần phát
triển, đổi mới văn xuôi Việt Nam sau năm 1975
2 Lịch sử vấn đề
Trong những năm gần đ y, vấn đề văn học thời hậu chiến được các nhà nghiên cứu phê bình đặc biệt quan t m Sau những c y bút đàn anh có tên tuổi như Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Minh Ch u , Chu Lai - một c y bút “thuộc thế hệ các nhà văn thứ hai viết về chiến tranh” cũng được nhiều nhà nghiên cứu chú ý tới
Đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về Chu Lai và truyện ngắn của ông Xem x t nội dung các bài viết và công trình nghiên cứu ấy, chúng tôi tạm chia thành hai nhóm chính sau:
2.1 Nhóm các bài viết, nghiên cứu có tính khái quát về truyện ngắn và tiểu thuyết của của Chu Lai
Trong bài viết “Tập truyện ngắn Phố nhà binh”, Lý Hoài Thu đi vào lí giải khá cặn kẽ mọi vấn đề: “Với tư cách là người từng tham chiến, vốn sống chiến trường gần như tạo thế chủ động hay hơn thế nữa, đủ để cho ngòi bút của
Trang 10anh thả sức tung hoành trong biên độ ít giới hạn của đề tài chiến tranh Mười năm cầm súng giúp anh nhận thức được cái giá đẫm máu của những cuộc đụng
độ lịch sử Vì vậy trước đề tài chiến tranh, anh không chỉ là viết, là tiếp cận mà
là sống là day dứt, vật vã bằng t m linh máu thịt của chính mình” [66,9].Về bút pháp, Lý Hoài Thu khẳng định: “Chu Lai đã tạo được s đa dạng về màu sắc thẩm mỹ, đa chiều về thời gian không gian, đa thanh về giọng điệu m hưởng
Bên cạnh sắc thái trữ tình của “Phố vắng”, “Dòng sông yên ả”là những xung đột gắt gao, là tiết tấu dồn dập đầy kịch tính của “Phố nhà binh” Bên cạnh dòng
t m tưởng triền miên của “Người không đi qua hoàng cung” là những lời lẽ s u sắc mà thấm thía của “Người cha nhu nhược” Văn Chu Lai rất gần với ngôn
ngữ điện ảnh Có cảm giác như ngòi bút của anh cũng “lướt”, cũng “lia” từ nhiều góc độ, cũng tiếp cận cảnh, cũng lùi xa viễn cảnh như ống kính của người quay phim Có lẽ anh quan t m đến phương diện tạo hình của ngôn ngữ
mà ít chú ý đến chiều s u t m lí của nó? Về kết cấu anh vận dụng nhiều thủ pháp đồng hiện và coi đó là một trục chính, là mối giao lưu giữa quá khứ và
hiện tại” [70,95]
Trong cuốn “Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Chu Lai”, nhà
nghiên cứu Nguyễn Đức Hạnh đã thể hiện một cách nhìn nhận, đánh giá khá đầy
đủ và toàn diện từ hành trình sáng tác tiểu thuyết, quan niệm nghệ thuật về hiện
th c và con người, cảm hứng nghệ thuật, kiểu nh n vật trung t m đến không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Chu Lai Ở công trình nghiên cứu này, Nguyễn Đức Hạnh đã chỉ rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa cảm hứng nghệ thuật với kiểu nh n vật trung t m trong tiểu thuyết Tác giả ph n loại thành ba loại cảm hứng tương ứng với ba kiểu nh n vật trung t m trong tiểu thuyết Đó là: Cảm hứng anh hùng và cảm hứng lãng mạn tương giao hô ứng với kiểu nh n vật anh hùng lãng tử trong chiến tranh; cảm hứng bi kịch và cảm hứng cảm thương tương giao hô ứng với kiểu nh n vật bi kịch; cảm hứng phê phán hô ứng tương giao với kiểu nh n vật phản diện- lưỡng diện hoặc tha hóa [29, 34] Đ y
Trang 11là công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của Chu Lai khá công phu Chúng tôi nhận thấy những kết quả đó là một gợi ý quan trọng cho việc nghiên cứu thế giới
nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai sau 1975 Bởi giữa truyện ngắn và tiểu thuyết có những mối quan hệ tương đồng trên nhiều phương diện
Trong cuốn “ Bình luận truyện ngắn”, Bùi Việt Thắng viết: “Dường như
Chu Lai nghiêng về bút pháp nghiêm ngặt trong cách thể hiện đời sống của người chiến sĩ Bút pháp này tạo nên tính s u sắc trong truyện ngắn của anh” [64, 102]
Trong luận văn thạc sĩ “Đặc điểm truyện ngắn Chu Lai sau năm 1975”, tác
giả Vi Thị Hương có viết: “Chu Lai đã đi vào ngóc ngách của đời sống t m linh con người Ông đã làm cho người đọc bất ngờ bằng những khám phá nghệ thuật của mình Chu Lai nhìn chiến tranh qua số phận con người, cảm hứng thế s dần dần thay thế cho cảm hứng sử thi, cảm hứng nh n bản, cảm hứng bi kịch và nhu cầu thể hiện nỗi buồn đã trở thành cảm hứng chủ đạo của nhiều truyện ngắn Chu Lai” [38,28] “S đóng góp của Chu Lai không chỉ ở việc ông đã thể hiện được một cách ch n thật, sinh động những vấn đề chiến tranh và số phận người lính cũng như s vận động, phát triển của đất nước những năm sau chiến tranh theo một cách nhìn mới” [38,30] Tác giả nhận x t khái quát: “ Chu Lai luôn thể hiện
s nỗ l c cách t n nghệ thuật, bởi ý thức làm mới nghệ thuật cũng là làm mới chính mình Chu Lai đã có những cách thể hiện mới về những vấn đề hiện th c cuộc sống, con người, nh n vật, đề tài, tạo d ng tình huống… tạo nên s phong phú, đa dạng về sắc thái cho diện mạo chung của truyện ngắn hiện đại” [38,27];
“những cách t n nghệ thuật của ông chủ yếu ở mảng đề tài chiến tranh, người lính và cuộc sống đời thường của người lính thời hậu chiến Đặc biệt truyện ngắn của Chu Lai thời kỳ sau 1975 thường xoáy s u vào một đề tài chủ l c là người lính thời bình, mối quan hệ đa chiều của họ với các lĩnh v c phức tạp của
cuộc sống hiện nay” [38,27]
Trang 12Luận văn thạc sĩ “Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn Chu Lai” của Nguyễn
Thúy Huệ tập trung tìm hiểu nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong truyện ngắn Chu Lai qua cách thức sử dụng các phương tiện cú pháp trong truyện ngắn, từ đó khẳng định những đóng góp của Chu Lai trong việc sử dụng chất liệu ngôn từ khi sáng tác văn chương [37, 6] Nguyễn Thúy Huệ đã có những đánh giá khái quát về cảm hứng chủ đạo và đặc trưng nổi bật trong truyện ngắn Chu Lai: “Chu Lai luôn trung thành với đề tài chiến tranh và người lính Trong sáng tác của ông, mảng đề tài này luôn được thể hiện một cách ch n th c, dung dị với m
hưởng chủ đạo là ngợi ca Những truyện ngắn: Người không đi qua hoàng cung, Cái tát sau cánh gà, Sắc đỏ chôm chôm đánh dấu một giai đoạn mới trong bút
pháp của văn Chu Lai về nhiều mặt, thể hiện cách nhìn nhận vấn đề s u sắc hơn, văn phong đằm thắm hơn, đặc biệt là khả năng suy ngẫm, triết lí s u xa,
t m huyết hơn ” [37,20]
Như vậy, có thể thấy truyện ngắn Chu Lai đã thu hút được s quan t m chú ý của nhiều người đọc Sức hấp dẫn của ngòi bút Chu Lai không chỉ ở cách nhìn mới mẻ về đề tài chiến tranh và người lính mà còn ở chiều s u tư tưởng, ý nghĩa triết lí Những giá trị nội dung nghệ thuật của truyện ngắn Chu Lai th c s mang được dấu ấn đổi mới của văn xuôi đương đại Việt Nam và để lại những ấn tượng s u sắc trong lòng bạn đọc
2.2 Nhóm các bài viết, nghiên cứu về nhân vật trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Chu Lai
Trong bài “Tập truyện ngắn Phố nhà binh” (Văn nghệ quân đội số
7/1993), Lý Hoài Thu đi vào lý giải các vấn đề về x y d ng nh n vật của Chu Lai: “Nếu như trước kia các nh n vật của anh được miêu tả ở cốt cách anh hùng trận mạc thì hiện nay, cụ thể là trong tập truyện mới này, Chu Lai tập trung ở quãng đời thứ hai: quãng đời phía sau trận chiến của người lính” [66,94]
Trang 13Trong bài phỏng vấn “Nhà văn Chu Lai: Thịt da nóng hổi kề bên mà vẫn chỉ có lảm nhảm tình yêu là xúc phạm cuộc đời”, Nguyễn Đình Tú nhận x t:
“Về nh n vật, có thể nói ông tạo ra một hệ thống nhận vật rất đa dạng, có sức ám ảnh và mang tính biểu tượng cao, nhưng đọng lại trong lòng các thế hệ bạn đọc
s u đậm hơn cả vẫn là những nh n vật “đang và đã” làm lính, tức là những người lính từ trong chiến tranh trở về với đời thường dưới nhiều “định dạng” khác nhau Hầu hết những nh n vật này của ông đều có hai phần đời, phần trong quá khứ chiến tranh và phần của hiện th c đời sống hôm nay” [85]
Trong luận văn nghiên cứu về “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai thời kì đổi mới ”, tác giả Phạm Văn Mạnh cũng nhận thấy: “ Chu Lai là nhà
văn đặc biệt quan t m đến số phận người lính trong và sau chiến tranh Trong chiến tranh, họ là đồng đội của nhau, cùng tham gia một chiến dịch, một trận đánh, cùng nhau vượt qua những khó khăn thử thách Họ sẵn sàng nhường cơm
sẻ áo cho nhau thậm chí hi sinh cả mạng sống cho đồng đội Nhưng khi trở về cuộc sống đời thường họ lại đứng ở hai phía đối nghịch nhau”[52,7] Tác giả cũng chỉ ra s phong phú đa dạng của thế giới nh n vật trong tiểu thuyết Chu Lai thời
kì đổi mới với cách ph n chia thành nhiều kiểu nh n vật khác nhau Tuy truyện ngắn và tiểu thuyết Chu Lai có những điểm khác biệt nhưng cũng có những điểm tương đồng nên chúng tôi nhận thấy công trình nghiên cứu này cũng là một tài liệu tham khảo có giá trị trong quá trình triển khai đề tài của chúng tôi
Ngoài ra, còn có các luận văn nghiên cứu về truyện ngắn Chu Lai Các luận văn đều có nhắc đến thế giới nhận vật trong truyện ngắn Chu Lai nhưng chưa có s khai thác triệt để
Luận văn thạc sĩ của Cao Xu n Hải “Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Chu Lai” đi vào nghiên cứu truyện ngắn Chu
Lai từ góc độ Ngữ dụng học, với phạm vi là hành động ngôn ngữ qua lời thoại
nh n vật “Chúng tôi đi s u nghiên cứu các hành động ngôn ngữ qua lời thoại
Trang 14nh n vật trong 22 truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn Chu Lai” [27,04] “Chỉ ra những hành động ngôn ngữ và ph n tích ngữ nghĩa của chúng được phản ánh qua lời thoại nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai ” [27,05] Đề tài này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu ngôn ngữ truyện ngắn Chu Lai trong phạm vi những lời thoại của nh n vật, chưa bao quát hết thế giới nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai Tác giả Cao Xu n Hải ph n chia thế giới nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai như sau: “ chúng tôi nhận thấy có hai loại nh n vật thể hiện rõ đặc điểm phong cách nghệ thuật của Chu Lai Đó là nh n vật với những cốt cách anh hùng trận mạc với nhiều chi tiết ly kì và nh n vật với bi kịch của cuộc sống đời
thường [27,16] S ph n chia này chưa bao quát hết thế giới nh n vật của Chu
Lai Hơn nữa, tác giả luận văn cũng mới chỉ khai thác ở mức độ sơ lược Qua nghiên cứu, tác giả đi đến kết luận: “Bằng chính các hành động ngôn ngữ trong các lời thoại của các nh n vật, nhà văn Chu Lai đã đi vào mọi ngõ ngách trong đời sống t m linh, đến tận cùng mọi buồn vui sướng khổ trong cuộc đời mỗi con người Đặt nh n vật trong những mối quan hệ mà những nhà văn cùng thời không đề cập hoặc ít đề cập tới: Bi kịch của những người lính sau khi “giã từ vũ khí”, bi kịch của những con người trong cuộc sống đời thường” [27,102] Đ y là những ý kiến đánh giá khá chính xác về nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai, tuy nhiên chưa có s khai thác s u sắc, triệt để
Tác giả Vi Thị Hương, trong luận văn thạc sĩ “Đặc điểm truyện ngắn Chu Lai sau năm 1975”, lại có cách ph n loại thế giới nh n vật của Chu Lai thành hai
kiểu nh n vật trung t m: nh n vật người lính trở về sau chiến tranh và nh n vật người phụ nữ Nhưng tác giả cũng thừa nhận “Việc ph n chia thành các kiểu nh n vật như trên cũng chỉ mang tính chất tương đối, chưa thể bao quát hết thế giới nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai ” [38,80] Vi Thị Hương đánh giá về nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai: “Con người được xem x t ở mọi chiều kích, những phần s u kín nhất cũng được quan t m, cái xấu, cái ác dù tồn tại trong tiềm thức, hay vô thức đều bị lên án phán x t Nhà văn dùng ngòi bút của mình để phanh
Trang 15phui, mổ xẻ những ung nhọt xấu xa nhất của cái xã hội đương thời” [38,57]
“Nh n vật trong truyện ngắn của Chu Lai là những người lính bước ra từ chiến trường và trở về với cuộc sống thời bình Họ phải đối mặt với những cuộc sống mưu sinh quá đỗi nhọc nhằn, với những toan tính vụn vặt của đời thường vốn không quen với những người lính chỉ một đời làm bạn với súng đã khiến cho họ cảm thấy hụt hẫng và lạc lõng” [38,60]
Trần Thị Lan Anh trong luận văn thạc sĩ nghiên cứu về “Hành động nhận xét qua lời thoại nhân vật nam và nhân vật nữ trong truyện ngắn Chu Lai” cũng có s đánh giá sơ bộ về thế giới nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai
nhưng công trình của tác giả chủ yếu nghiên cứu về lời thoại của nh n vật Các kết luận cuối cùng chỉ chú trọng đến yếu tố nghệ thuật ngôn từ x t từ phương diện Ngữ dụng học [3,101]
Tóm lại, có thể thấy cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về truyện ngắn Chu Lai Nhiều vấn đề về nghệ thuật (trong đó có nghệ thuật x y d ng
nh n vật trong truyện ngắn của ông được các nhà nghiên cứu ít nhiều chú ý Tuy nhiên những nghiên cứu về nh n vật trong truyện ngắn của Chu Lai mới chỉ mang tính chất phát hiện, khái quát chung hoặc nhìn nhận ở một số khía cạnh nào đó, chưa có cách nhìn nhận đánh giá toàn diện, đầy đủ về thế giới nh n vật Việc
nghiên cứu Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Chu Lai sau 1975 chưa trở thành một đề tài chuyên biệt được tìm hiểu một cách độc lập và hệ thống Trên cơ sở kế thừa thành t u khoa học quý báu của những người đi trước, chúng tôi hi vọng luận văn này sẽ tiếp tục khám phá, kiến giải những giá trị nghệ thuật đặc sắc của truyện ngắn Chu Lai, góp thêm tiếng nói khẳng định vị trí của Chu Lai trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: “Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Chu Lai sau năm 1975”
Trang 163.2 Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài luận văn này, chúng tôi hướng đến mục đích nghiên cứu sau:
- Tìm hiểu cuộc đời, s nghiệp, quan niệm nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật
về con người của nhà văn Chu Lai trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam sau 1975
- Luận giải thế giới nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai từ phương diện nội dung và nghệ thuật, từ đó làm rõ s đa dạng, phong phú trong thế giới nh n vật cũng như s độc đáo trong cách x y d ng nh n vật của Chu Lai ở mảng truyện ngắn sau 1975
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài hướng đến 3 nhiệm vụ sau:
- Khái quát về cuộc đời, s nghiệp, quan niệm nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn Chu Lai đặt trong bối cảnh chung của văn học Việt Nam sau 1975
- Tìm hiểu thế giới nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai trên phương diện nội dung
- Tìm hiểu thế giới nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai trên phương diện nghệ thuật
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ đối tượng và mục đích nghiên cứu, trong đề tài này chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.2.1 Phương pháp hệ thống
Khảo sát, ph n loại và xác định thế giới nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai sau 1975 trên tinh thần kết hợp các yếu tố tương đồng về nội dung và hình
Trang 17thức để rút ra những nhận định, đánh giá chính xác về hệ thống nh n vật trong tác phẩm
4.2.2 Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Vận dụng phương pháp này, người viết có thể tìm hiểu, ph n tích những đặc điểm nổi bật của hệ thống nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai sau năm 1975
ở một số phương diện như quan niệm nghệ thuật về con người, nh n vật và các phương thức thể hiện nh n vật
4.2.3 Phương pháp tiểu sử
Chúng tôi vận dụng phương pháp này để tìm hiểu những yếu tố liên quan đến cuộc đời, tiểu sử của nhà văn, đặc biệt là quãng đời 10 năm đi lính của Chu Lai đã ảnh hưởng như thế nào đến cách l a chọn đề tài, x y d ng nh n vật của tác giả trong truyện ngắn của Chu Lai
4.2.4 Phương pháp loại hình
Chúng tôi vận dụng phương pháp này để ph n tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại, từ đó làm nổi bật đặc trưng của truyện ngắn Chu Lai khi x y d ng thế giới nh n vật
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát các truyện ngắn Chu Lai sau 1975 chủ yếu trong
tập Truyện ngắn Chu Lai (2017) - Nxb Văn học gồm 22 truyện ngắn
1- Một quan niệm tình yêu
2- Người không đi qua hoàng cung
3- Cái tát sau cánh gà
4- Trang bản thảo ch p thuê
5- Anh Hai Đởm
6- Gió nơi ấy màu xanh
12- Lỗi không phải tại rượu 13- Tiếng Hà Nội
14- Mất 15- Chỗ ấy có một ngôi nhà 16- Thi nh n trên sàn đấu 17- Cuộc đời khe khẽ
Trang 1821- Hơi thở đêm 22- Con tôi đi lính
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần MỞ ĐẦU, KẾT LUẬN, và TÀI LIỆU THAM KHẢO, luận
văn có 3 chương:
Chương 1: Chu Lai - cuộc đời, văn nghiệp và quan niệm nghệ thuật
Chương 2: Thế giới nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai sau 1975 nhìn từ
bình diện nội dung
Chương 3: Thế giới nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai sau 1975 nhìn từ
bình diện nghệ thuật
7 Đóng góp của luận văn
Tập trung tìm hiểu thế giới nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai sau năm
1975 tương đối hệ thống và toàn diện, luận văn làm sáng tỏ cái nhìn mới mẻ và đầy đủ hơn về con người cũng như hiện th c cuộc sống thông qua cách thức x y
d ng nh n vật đa dạng và độc đáo của nhà văn
Luận văn muốn khẳng định truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 nói chung trong đó có truyện ngắn Chu Lai đã nỗ l c cách t n nghệ thuật, tạo nên một cách thức tiếp cận hiện th c mới, góp phần quan trọng vào s phát triển của nền văn học d n tộc
Luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị cho những ai quan t m nghiên cứu tìm hiểu về văn nghiệp của nhà văn Chu Lai
Trang 19Chương 1 CHU LAI - CUỘC ĐỜI, VĂN NGHIỆP VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT 1.1 Cuộc đời
1.1.1 Quê hương, gia đình và thời niên thiếu
Nhà văn Chu Lai, tên khai sinh là Chu Ân Lai, sinh ngày 05- 02- 1946 Quê gốc của ông ở thôn Tam Nông, xã Hưng Đạo, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên Ông sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống văn học nghệ thuật Cha ông là nhà viết kịch nổi tiếng Học Phi Ông sớm có điều kiện tiếp xúc với sách vở và văn học nghệ thuật, lại được cha truyền cho tình yêu văn học từ nhỏ, bản th n ông cũng sớm bộc lộ năng khiếu nghệ thuật Chu Lai t m s : "Cả nhà tôi khi đó sống chật chội trong không gian chừng hơn hai chục m t vuông, tôi có khi ngủ trong gậm giường vẫn nghe được những c u đàm đạo văn chương của cha và những người bạn văn nghệ cùng thời với ông như Thế Lữ, Đào Mộng Long Những ngôn ngữ nghệ thuật ấy "nhập" vào anh em tôi từ tấm b " Sau đó gia đình ông chuyển lên Hà Nội sinh sống từ những ngày ông còn niên thiếu Vùng quê yên ả, thanh bình đã để lại cho ông ký ức đẹp về quê hương, làng mạc; còn Hà Nội nghìn năm văn hiến đã tạo cho ông cốt cách tài hoa, lịch lãm của con người đất kinh thành[ 38, 22]
1.1.2 Thời kì trưởng thành và tham gia kháng chiến
Tốt nghiệp phổ thông, Chu Lai thi đỗ vào đại học Đang học năm thứ nhất đại học, cũng giống như bao thanh niên khác, khi đất nước đau thương đang chìm trong khói lửa chiến tranh, Chu Lai tình nguyện lên đường nhập ngũ tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước Thời kì đầu qu n ngũ, ông được điều
về làm diễn viên Đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị [38,22] Chu Lai đã vượt qua gần 6.000 đối thủ để trở thành diễn viên đoàn kịch qu n đội và có tới 10 năm chuyên thủ vai các nh n vật phản diện trong các vở diễn của đoàn bởi vẻ ngoài
"rất ngầu" của mình Nhưng nghe theo lời kêu gọi của Tổ quốc, chàng trai trẻ
Trang 20Chu Lai chợt nhận ra mình "vô duyên" biết bao khi hàng ngày son phấn nơi sàn diễn, trong khi bạn bè cùng lứa đang cầm súng ngoài trận địa Chu Lai xung phong vào chiến trường ( dù gia đình muốn ông ở lại vì đã có hai người anh trai đang chiến đấu ngoài mặt trận , bỏ lại tương lai có thể được đi học đạo diễn ở nước ngoài "Sau Chu Lai chuyển về đơn vị đặc công chiến đấu ở vùng ven Sài Gòn trong những ngày gian khổ nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Những năm ở đơn vị đặc công, ông từng giữ chức đại đội trưởng đại đội trinh sát chiến đấu cho đến ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước"[38,23]
Hơn 10 năm tr c tiếp cầm súng chiến đấu ở chiến trường đã tạo cho Chu Lai một vốn sống, vốn kinh nghiệm dày dạn, đồng thời trở thành nguồn cảm hứng sáng tác cho ông trong suốt nghiệp cầm bút sau này "Đã có lần ông t m s với độc giả, trong khoảng thời gian làm chiến sĩ đặc công dọc ngang sông Sài Gòn, ông đã viết văn như viết nhật ký Niềm đam mê văn chương, tình yêu thương và lòng hận thù thôi thúc ông viết như để giải tỏa những cảm giác căng thẳng, ác liệt nơi chiến trường"[38,23] "Những ngày tháng vào sinh ra tử ở chiến trường, nơi mà ranh giới giữa s sống và cái chết chỉ trong gang tấc" đã để lại dấu ấn s u sắc trong t m hồn Chu Lai và những suy tư chiêm nghiệm về cuộc sống và con người Môi trường chiến đấu cũng giúp Chu Lai thành công khi viết
về đề tài chiến tranh và người lính bởi ông am hiểu rất rõ đời sống, t m tư của người lính “Nh n vật của Chu Lai hầu hết đều có vẻ giống ông, là những người lính phố phường ra đi kháng chiến, có cái bặm trợn mà hào hoa, gan lì mà can đảm”[38,23]
1.1.3 Thời kì hậu chiến và ây d ng đ t nước
“Sau 1975, đất nước được giải phóng, hai miền Nam Bắc thống nhất, Chu Lai về làm trợ lý tuyên huấn Qu n khu VII Cuối năm 1976, ông về trại sáng tác văn học Tổng cục Chính trị, sau đó đi học lớp khóa I của trường Viết văn
Trang 21Nguyễn Du Tốt nghiệp trường viết văn, ông về công tác tại tạp chí Văn nghệ Quân đội cho đến khi về hưu” [38,23]
Được thừa hưởng tố chất văn chương từ cha, lại có năng khiếu và niềm đam mê sáng tác đã ăn vào máu thịt cùng với vốn sống, vốn kinh nghiệm dày dạn tích lũy trong mười năm lăn lộn ở chiến trường, Chu Lai đã có một nền tảng vững chắc để sáng tạo nên những tác phẩm văn học có giá trị Trong suốt thời gian từ sau 1975 đến nay, ông đã cho ra mắt độc giả một khối lượng tác phẩm
đồ sộ và gặt hái được nhiều thành công đáng kể, thu hút s chú ý của đông đảo bạn đọc Chu Lai đã viết thử nghiệm trên nhiều thể loại và đều đạt được thành công đáng kể từ truyện ngắn đến tiểu thuyết, kịch bản phim “Những cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn của ông đã được độc giả đón nhận một cách nồng nhiệt và
g y được tiếng vang như Ăn mày dĩ vãng (Giải A của Hội đồng văn học về đề tài
chiến tranh cách mạng và l c lượng vũ trang Hội nhà văn năm 1993, Giải
thưởng Văn học Bộ Quốc phòng năm 1994 ; Cuộc đời dài lắm (Giải thưởng Hội
nhà văn Việt Nam 2001 Những sáng tác của Chu Lai cho thấy nhiều n t đổi mới trong cách nhìn nhận hiện th c và cuộc sống con người”[38,24]
Trong thời kì đất nước đổi mới, Chu Lai vẫn tiếp tục phát huy sức sáng tạo dồi dào của mình bằng nhiều cuốn tiểu thuyết có giá trị cùng với các truyện ngắn đặc sắc Nhà văn đã vươn lên trở thành một c y bút tiêu biểu viết về đề tài chiến tranh và cuộc sống người lính thời hậu chiến Đối với nghiệp văn, Chu Lai
là người nghiêm túc, thậm chí khắt khe Ông t nhận mình là “anh thợ cày trên cánh đồng chữ” và coi nghề văn là “nghề t ăn óc mình”
Những năm gần đ y, Chu Lai xuất hiện nhiều trên báo chí, truyền hình và các cuộc hội thảo về văn học Bằng nhiệt huyết, niềm đam mê cháy bỏng với nghề, nặng “nợ” với nghiệp văn chương, ngòi bút Chu Lai đã đóng góp cho nền văn học nước nhà nhiều tác phẩm có giá trị
Trang 22Với những thành t u đạt được, Chu Lai đã khẳng định được tài năng sáng tạo nhiều mặt của mình và xứng đáng là c y bút văn xuôi tiêu biểu của văn học đương đại Việt Nam
1.2 Văn nghiệp
Chu Lai sáng tác ở nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, tiểu thuyết, bút
ký, kịch Bắt đầu nghiệp viết văn từ khi còn rất trẻ, ngòi bút Chu Lai vẫn bền bỉ
viết đều đặn cho đến tận b y giờ Các tác phẩm tiêu biểu như: Người im lặng (Truyện ngắn - 1976), Nắng đồng bằng (Tiểu thuyết -1978), Đêm tháng hai (Tiểu thuyết -1979), Đôi ngả thời gian (Truyện ngắn -1979), Sông xa (Tiểu thuyết -1986), Út Teng (truyện thiếu nhi- 1983), Gió không thổi từ biển (Tiểu thuyết -1985), Vòng tròn bội bạc (Tiểu thuyết – 1987), Bãi bờ hoang lạnh (Tiểu thuyết -1990), Ăn mày dĩ vãng (Tiểu thuyết- 1991), Phố nhà binh (truyện ngắn
- 1992), Nhà lao cây dừa ( Ký s - 1992), Phố (Tiểu thuyết - 1993), Ba lần và một lần (Tiểu thuyết -1999), Cuộc đời dài lắm (Tiểu thuyết -2001), Khúc bi tráng cuối cùng (Tiểu thuyết -2004), Người im lặng (Tiểu thuyết -2005), Chỉ còn một lần (Tiểu thuyết -2006), Hùng Ka rô (Tiểu thuyết -2010), Mưa đỏ (Tiểu thuyết -2016), Truyện ngắn Chu Lai (2003, tái bản 2017
Chu Lai đã gặt hái được một số thành công đáng kể: Giải thưởng Hội đồng Văn học chiến tranh Cách mạng và l c lượng vũ trang (Hội Nhà văn cho
tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng (1993 Giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng 1994, Giải thưởng tiểu thuyết Nhà xuất bản Hà Nội với tiểu thuyết Phố (1993 ; Giải thưởng Hội Nhà văn 2001 với tiểu thuyết Cuộc đời dài lắm Năm 2007 ông
được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật
Khối lượng tác phẩm đồ sộ này cho thấy sức sáng tạo dồi dào của nhà văn Chu Lai Ông đã có những đóng góp nhất định cho nền văn học đương đại Việt Nam
Trang 231.2.1 Quá trình sáng tác
Chu Lai bước vào nghiệp văn từ sớm, khi mới 17 tuổi với thể loại truyện
ngắn Truyện ngắn Hũ muối người Mơ Nông (1963 , đăng trên báo Độc lập năm
1963, được hoàn thành trong những năm tháng chiến đấu gian khổ tại đơn vị đặc công ở vùng s u Sài Gòn “Tác phẩm viết theo kiểu nêu gương tốt việc tốt, ca ngợi khí tiết người T y Nguyên Tuy nhiên, s ra đời của tác phẩm chưa g y được tiếng vang”[38, 24] Những năm tháng chiến đấu tại đơn vị đặc công rừng Sác, phía Nam sông Sài Gòn, nhà văn vẫn viết truyện nhưng không công bố
Đ y chính là quãng thời gian cung cấp cho nhà văn những trải nghiệm, vốn sống phong phú và s am hiểu tường tận về đời sống của người lính Nhà văn viết như để giải tỏa những ẩn ức, những ám ảnh về s sống, cái chết, về chiến tranh
Truyện ngắn Lửa mắt (viết năm 1970 nhưng mãi đến năm 1975 mới được đăng trên báo Văn nghệ
“Phải đến những năm sau 1975, s nghiệp sáng tác của Chu Lai mới bắt
đầu được khẳng định với s ra đời của truyện ngắn Cô gái vùng ven, sau đổi thành Kỉ niệm vùng ven được đăng trên báo Văn nghệ (1975 ”[38,24] Truyện được viết trong lúc chán chường của người lính hậu chiến “nhưng vẫn mang đậm chất trữ tình” theo lời nhận x t của lão nhà văn Học Phi [82] Được s ủng
hộ của cha và anh trai, nhà văn Hồng Phi, Chu Lai tiếp tục t tin vào con đường
viết văn Cũng từ đ y, tên tuổi Chu Lai được chú ý Ông viết tiếp Anh Hai Đởm đăng trên báo Văn nghệ năm 1976 với nguồn cảm hứng chung là ngợi ca
người lính anh hùng Từ đó đến nay, Chu Lai liên tục sáng tác đều tay Các
truyện ngắn của ông sau này được tập hợp trong Vùng đất xa xăm (1983), Truyện ngắn Chu Lai (2003) - được tái bản nhiều lần
“Chu Lai là nhà văn có khả năng th m canh các tác phẩm của mình” Ông
“viết tiểu thuyết, truyện ngắn rồi từ đó chuyển thể thành kịch bản s n khấu, kịch
bản phim” [82] Ông đã cho ra mắt bạn đọc một loạt các tác phẩm như Nắng
Trang 24đồng bằng (tiểu thuyết, 1978 , Út Teng (Tiểu thuyết, 1983 , Gió không thổi từ biển (Tiểu thuyết -1985), Vòng tròn bội bạc (Tiểu thuyết – 1987), Bãi bờ hoang lạnh (Tiểu thuyết -1990), Ăn mày dĩ vãng (Tiểu thuyết- 1991) cho đến gần
đ y nhất là tiểu thuyết Mưa đỏ (2016 “Từ những tác phẩm đầu tay đến các tác
phẩm sau này, Chu Lai luôn trung thành với đề tài chiến tranh và người lính”
[38, 23] nhưng vẫn luôn đổi mới sáng tạo Theo tác giả Vũ Trung, từ Nắng đồng bằng đến Mưa đỏ, nhà văn cắt nghĩa về khả năng th m canh trên một đề tài l u
năm mà vẫn không bị xói mòn cảm xúc: “Chiến tranh bao giờ cũng mang một mẫu số chung là đau thương và hào sảng Hình tượng người lính tương t , bao giờ cũng là đau thương, quyết liệt và lãng mạn”[69] Với ông luôn có một hệ quy chiếu chung để người viết thẩm thấu tận cùng những s kiện con người trong đó, để làm trỗi dậy ý tưởng cho ngòi bút [69]
Theo Nguyễn Đức Hạnh, trong cuốn Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Chu Lai, hành trình sáng tác tiểu thuyết của Chu Lai trải qua hai chặng đi từ mô
hình tiểu thuyết sử thi đến mô hình tiểu thuyết “phi sử thi” [29,13], cảm hứng lãng mạn cách mạng dần chuyển sang cảm hứng thế s Đặc biệt, điều này thể hiện đậm n t trong các truyện ngắn sau 1975 “Với những trang viết trung th c, dung dị, giai đoạn này ngòi bút Chu Lai đã có những đổi mới trong bút pháp: cách nhìn nhận vấn đề s u sắc hơn, văn phong đằm thắm hơn, càng về sau càng
có xu hướng suy ngẫm triết lí về cuộc sống với những chiêm nghiệm của người
lính sau chiến tranh Tiêu biểu là một số truyện ngắn: Cái tát sau cánh gà, Phố nhà binh, Con tôi đi lính, Mất Nhà văn đi s u khai thác nhiều vấn đề của đời sống cá nh n với những nỗi niềm thật nhất, con người nhất” [38, 25] Cuộc sống
thường nhật của những con người bình thường và những người lính trong thời bình được nhà văn đặc biệt quan t m Những chi tiết ch n th c, những cảnh đời
th c, những c u chuyện phố xá, gia đình thường nhật trong thời kinh tế thị trường được ông x y d ng khá sinh động, đầy tính triết lí, d báo s u sắc [38,
Trang 2525] Có được điều này chính là nhờ s thay đổi quan niệm nghệ thuật về hiện
th c đời sống và con người của nhà văn
S tận t m trong nghề nghiệp, cùng với những nỗ l c tìm tòi đổi mới trong cách viết đã giúp cho nhiều tác phẩm của Chu Lai có sức sống l u bền chiếm được cảm tình của bạn đọc Dù viết về chiến tranh, người lính hay viết về cuộc sống thường nhật, Chu Lai luôn có xu hướng đẩy đến tận cùng mọi số phận, mọi buồn vui và từ đó tính cách bật lên Thông qua những chi tiết chọn lọc
kĩ lưỡng, những tình huống bất ngờ thú vị, ngôn ngữ kể chuyện biến hóa linh hoạt, sáng tác của Chu Lai nói chung và truyện ngắn của ông nói riêng có một
“ma l c” hấp dẫn không chỉ với bạn đọc là lớp người đã từng trải qua chiến tranh mà cả bạn đọc trẻ tuổi hôm nay
Với quan niệm “khi nào trái tim hết run rẩy với cuộc đời, với cái đẹp thì cũng là lúc bỏ bút luôn”, không bao giờ t thỏa mãn, bằng lòng với bản th n, ngòi bút Chu Lai vẫn đang tiếp tục hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình [77]
Là một c y bút viết khỏe, đam mê t m huyết, ông đã và đang có những đóng góp nhất định cho văn xuôi đương đại Việt Nam
1.2.2 Truyện ngắn Chu Lai trong bối cảnh của ã hội Việt Nam sau 1975
Đại thắng mùa xu n năm 1975 đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử d n tộc, đồng thời cũng đưa tới một chặng đường mới của nền văn học Việt Nam Kể từ thời điểm lịch sử đó, nền văn học Việt Nam luôn đồng hành và gắn bó với vận mệnh của
d n tộc, đi qua những bước thăng trầm và th c s đã tạo ra những biến đổi s u sắc, toàn diện, làm nên diện mạo của một giai đoạn văn học mới
Nền văn học sau 1975 mang tính d n chủ hóa trên tinh thần nh n bản với
xu hướng mở rộng phạm vi hiện th c, khám phá con người trên nhiều bình diện Văn học 30 năm chiến tranh (1945-1975 thiên về khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Thành công của khuynh hướng này là đã kết tinh thành những
Trang 26truyện ngắn khắc họa ch n dung những người anh hùng, những người con ưu tú của cộng đồng với lý tưởng Sau 1975, nhà văn không chỉ hướng đến những vấn
đề lịch sử chính trị mà còn khai phá những mảng hiện th c mới đặt ra của cuộc sống thời bình Các nhà văn có vai trò mở đường đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học phải kể đến Nguyễn Minh Ch u với những truyện ngắn hướng vào các vấn đề đạo đức – thế s trong đời sống hàng ngày của con người; sau đó
là những sáng tác của Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Khắc Trường, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập, Lê Minh Khuê
Đặc biệt sau 1986 phát triển mạnh khuynh hướng nhận thức lại hiện th c với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nh n bản “Văn học đương đại Việt Nam viết về chiến tranh thiên về khai phá những mặt còn khuất lấp, những vấn đề thế s đời tư, hướng đến cuộc sống đa trị và qua đó thể hiện cảm quan của nhà văn” [62, 10] Trong bối cảnh đổi mới chung của văn học đương đại, s xuất hiện hàng loạt tác phẩm của Chu Lai đã nhanh chóng xác định tên tuổi của một nhà văn chiến sĩ trong lòng độc giả, góp phần không nhỏ làm nên bức tranh phong phú của truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Chu Lai luôn thể hiện s nỗ l c cách t n nghệ thuật, tìm tòi những cách thể hiện mới về hiện th c cuộc sống, con người, nh n vật, đề tài, tạo tình huống làm nên s đa dạng cho diện mạo chung của truyện ngắn hiện đại sau 1975
Truyện ngắn Chu Lai sau 1975 tập trung chủ yếu vào đề tài chiến tranh, người lính và đặc biệt nhà văn đi s u khám phá cuộc sống đời thường của người lính thời hậu chiến, những mối quan hệ đa chiều của họ với các lĩnh v c phức tạp của đời sống hiện nay Chiến tranh đã lùi xa nhưng dù muốn dù không những kí ức về nó vẫn để lại dư m trong đời sống tinh thần của những người trong cuộc Có những kỉ niệm đẹp về tình yêu đậm màu sắc lãng mạn như mối
tình giữa anh lính tên Mười với Ba Liên trong Kỉ niệm vùng ven, mối tình của cô
y tá Thương với anh lính trong Mắt sau vách lá Có những kí ức nhớ lại chỉ
thấy buồn và đầy day dứt, dằn vặt như s cứng nhắc, khô khan của ông Hoán
Trang 27trong Người không đi qua hoàng cung Ông đã ngăn cấm Tùng và Đalin Sáp (cô
gái Campuchia đến với nhau dù họ yêu nhau tha thiết để rồi sau đó ông sống trong nỗi n hận vì đã g y ra bi kịch cho một gia đình: Tùng và Đa lin Sáp trước lúc chết không gặp được nhau; Xà Rươn- con gái họ- kết quả một tình yêu đẹp, phải sống cuộc sống mồ côi, đáng thương Hay như kí ức về cuộc gặp gỡ một lần duy nhất trong chiến tranh giữa họa sĩ Lưu An và cô giao liên mà ông chưa
từng biết tên trong Bức chân dung của người đàn bà lạ Một kỉ niệm vừa đẹp
vừa rất buồn vì Lưu An đã quên ngay cô giao liên sau cái đêm gặp gỡ định mệnh nhưng cô giao liên ấy lại mang theo giọt máu của ông và vẫn chung thủy đợi chờ trong khi ông không hề có một chút mảy may nào nhớ tới Chỉ khi nhận được tấm vải dù pháo sáng có vết đỏ loang ra, lục tìm trí nhớ ông mới dần hồi tưởng lại nhưng đã muộn vì cô giao liên ngày nào (nay là bà hiệu trưởng đã mãi mãi
ra đi vì căn bệnh hiểm nghèo
Nếu như trong chiến tranh, người lính được Chu Lai khắc họa với những phẩm chất anh hùng, gan dạ, dũng cảm và cũng đầy lãng mạn như Hai Đởm
(Anh Hai Đởm), Việt (Lửa mắt), Mười (Kỉ niệm vùng ven) thì khi trở về với
cuộc sống đời thường họ lại phải đối diện với muôn vàn khó khăn thách thức của thời hậu chiến và gánh chịu những bi kịch giữa cuộc sống đời thường hay những chuyện dở khóc dở cười của đời sống thường ngày Đó là anh Hai Lục
Bình trong Sắc đỏ chôm chôm, Tu n trong Dòng sông yên ả, Thẩm trong Phố nhà binh, Lưu An trong Bức chân dung của người đàn bà lạ, người cha trong Mất, Con tôi đi lính
Hệ thống nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai sau 1975 khá đa dạng, phong phú, đủ mọi thành phần lứa tuổi, ngành nghề: kỹ sư, bác sĩ, bộ đội, công
nh n, diễn viên kịch, nhà thơ, nhà báo, nhà văn, người kinh doanh buôn bán nhỏ Trong những sáng tác sau 1975, truyện ngắn Chu Lai thường có s pha trộn giữa nhiều nguồn cảm hứng: cảm hứng phê phán, cảm hứng ngợi ca, cảm
Trang 28hứng lãng mạn, cảm hứng bi kịch trong đó yếu tố chủ đạo chi phối là cảm hứng thế s - đời tư, quan t m s u sắc đến số phận cá nh n con người
Với những tìm tòi khám phá mới mẻ về đề tài, hình tượng nh n vật, cảm hứng sáng tác Chu Lai đã “đem đến cho truyện ngắn thời kì đổi mới cái nhìn mới về thời hậu chiến với những bình diện, gam màu tối - sáng khác nhau” [38, 26] Ông đã khẳng định được vị trí của mình trong nền văn học đương đại của
d n tộc
1.3 Quan niệm nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật về con người của Chu Lai
1.3.1 Quan niệm nghệ thuật
Theo Từ điển Thuật ngữ văn học định nghĩa, quan niệm nghệ thuật là
“nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều s u nào đó” [28, 229],
là “hình thức bên trong của s chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của
tư duy nghệ thuật” [28, 230] Như vậy quan niệm nghệ thuật chi phối đến cách miêu tả, khám phá hiện th c cuộc sống con người, cách x y d ng nh n vật
góp phần tạo nên thế giới nghệ thuật riêng cho nhà văn
Mỗi nhà văn đều có quan niệm nghệ thuật riêng bộc lộ cá tính sáng tạo của mình Đồng thời quan niệm đó cũng chi phối đến việc l a chọn đề tài, cảm hứng sáng tác định hướng cho quá trình sáng tác của họ Với Chu Lai, quan niệm nghệ thuật có khi được phát biểu tr c tiếp qua những buổi trò chuyện giao lưu, phỏng vấn hoặc có khi gián tiếp gửi gắm qua các tác phẩm Trong chừng
m c có thể, chúng tôi xin trình bày một số n t chính trong quan niệm nghệ thuật của ông
Trang 291.3.2 Quan niệm nghệ thuật của Chu Lai
1.3.2.1 Quan niệm về nghề văn và trách nhiệm của người cầm bút:
Chu Lai đến với nghiệp văn từ rất sớm như một mối duyên tiền định
“Nghiệm ra cái nghiệp văn chương nó nhập vào mình có khi ngay từ trong bụng
mẹ ”[75] Được thừa hưởng năng khiếu từ cha, cùng với niềm đam mê văn học
từ thuở nhỏ, cộng với quãng thời gian lăn lộn 10 năm nơi chiến trường đầy khốc liệt, Chu Lai đã có một vốn sống, vốn kinh nghiệm phong phú để trở thành một
c y bút già dặn Đúng như ông t m s : “Cuộc đời trận mạc chỉ cho tôi cái cớ, tức là cảm xúc và vốn sống chứ th c ra tôi nhập hồn văn chương từ thuở nhỏ, khi còn là một cậu b lớp 5”, có “những buổi trốn học ra bờ sông thả t m hồn vào hoang mạc B tí mà đã man mác buồn” Quãng đời làm lính đặc công tuy không dài nhưng lại là “quãng đời ghê gớm, đậm đặc nhất” của Chu Lai
“Không chết, còn sống, không biết làm gì thì viết” [75] “Sau mỗi lần mất hết
qu n phải lên rừng già nằm trống góc cả tháng chờ qu n vào, lúc ấy không viết cái gì đó thì tan hoang đầu óc lắm Nhưng viết rồi lại chả biết gửi ai, gửi đi đ u, cuối cùng đành hủy, lưu lại trong đầu cho đến khi giải phóng, buồn quá, về đi học lại thì già mất rồi mà đi diễn kịch lại thì cằn cỗi quá, chỉ còn cách viết lại những gì mình đã trải qua, đã sống qua Cuộc sống phong phú, cảm xúc tươi nguyên, chữ nghĩa, ý tứ nó cứ t tuôn ra ầm ầm” [69] Chu Lai đã kịp ghi lại những khoảnh khắc vừa ác liệt vừa đầy lãng mạn của đời lính, viết trong thời khắc s sống và cái chết chỉ trong gang tấc, viết như để giải tỏa những ẩn ức, những ám ảnh khi ngày nào cũng phải chôn xác đồng đội mà không biết khi nào
sẽ đến lượt đồng đội chôn mình Và cũng chính quãng thời gian này đã tạo cho Chu Lai một nguồn cảm hứng sáng tác dạt dào không vơi cạn về đề tài chiến tranh và người lính cả trong suốt quá trình sáng tác về sau
Tuy nhiên, Chu Lai sợ nhất là phải dẫm lên vết ch n cũ của mình nếu như ông cứ mãi viết về bộ đội vùng ven, về bộ đội đặc công, về những cô giao liên,
Trang 30những mối tình nồng nàn nơi hầm tối [77] Giống như Nam Cao đã từng viết
“Văn chương không dung nạp những người thợ kh o tay chỉ làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào s u tìm tòi,
biết khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Đời thừa)[12,8], Chu Lai đã khơi thêm những nguồn cảm hứng, nguồn đề tài mới
trong thời bình Ông viết về bộ đội chủ l c, về mảng T y Nguyên, nơi ông chưa bao giờ chiến đấu ở đó và ông đã thành công
Chu Lai luôn coi viết văn như một công việc lao động khổ hạnh và nghiêm túc Ông từng gọi nó là “nghề khổ nghề đau”, “ nghề t ăn óc mình, t
ăn thịt mình” nhưng vẫn nặng nợ với nghề Không những ông không dứt bỏ được mà còn ảnh hưởng đến cả các con của ông sau này Ông quan niệm “viết văn cũng như thợ cày”, “làm sao đợi hứng được, không có thì phải tạo ra hứng chứ”[77] Như vậy có nghĩa là Chu Lai t đặt mình vào cái “ách văn chương” để
“cày xới” đầy trách nhiệm Có lúc ông viết khỏe ngày 10- 12 trang, lúc mệt mỏi ông cũng viết tới 3-5 trang [77]
Đối với Chu Lai, nhà văn không chỉ có trách nhiệm mà còn phải có lương
t m nghề nghiệp, biết đấu tranh chống lại những cám dỗ của đồng tiền và danh vọng Bởi trong cơ chế thị trường, đồng tiền có sức tác động mạnh mẽ đến văn chương và nhà văn “Nó ám vào từng trang viết, từng lối nghĩ suy Để thoát khỏi
nó người cầm bút phải tạo cho mình 13 thành công l c, tức là Kungfu, tức là chưởng phong phải r o vù vù mới xua được nó” [77] Trong c u nói đùa vui hóm hỉnh đó, Chu Lai muốn nhắc nhở các nhà văn trẻ đồng thời cũng t nhắc mình phải có bản lĩnh kiên định trước tác động ghê gớm của tiền tài và danh vọng Dù vậy ông cũng khẳng định: “Văn sĩ không thể mãi cúi đầu làm hàn sĩ” Ông là một trong số những nhà văn sống ung dung thanh thản bằng nghề của mình Trong mắt độc giả, Chu Lai hiện lên là nhà văn – chiến sĩ có lối sống khá phong lưu và có phần lãng tử, ông luôn vận bộ qu n phục (thường là xu n hè sẫm màu, vai đeo túi mìn Clay-mo đ ng bản thảo, một điện thoại di động, một
Trang 31thẻ ATM, một xe hơi (do tiền viết văn mà mua được và rong ruổi viết, đ u cũng là nhà
Theo Chu Lai, văn chương còn rất cần đến s sáng tạo Đ y cũng là phẩm chất cần có của người nghệ sĩ ch n chính Dù nhà văn có thể lấy nguyên mẫu là
nh n vật có th c ngoài đời nhưng nếu không có tài năng sáng tạo của người nghệ sĩ, tác phẩm chỉ là s sao ch p giản đơn hiện th c đời sống, không cần đến nhà văn mà “chỉ cần đến nhiếp ảnh gia bấm máy là thành tiểu thuyết” Truyện
ngắn “Phố nhà binh” sau được chuyển thành tiểu thuyết “Phố” viết về cuộc sống
của cư d n khu phố nhà binh mà không gian ngoài đời th c là phố Lý Nam Đế
Có một nguyên mẫu là một đôi vợ chồng sống ở vỉa hè thật, đánh nhau thật, đẻ con thật từ đó mà nhà văn tưởng tượng thành nh n vật Lãm [77] Nhưng nếu nhà văn chỉ sao ch p y nguyên nh n vật như ngoài đời th c chắc hẳn tác phẩm không để lại những dấu ấn s u sắc trong lòng người đọc đến vậy và cũng không thể giành được giải thưởng có giá trị (Giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng
1994, Giải thưởng tiểu thuyết Nhà xuất bản Hà Nội Sau này tên phố Lý Nam
Đế đã được người ta gọi bằng một cái tên th n mật “Phố nhà binh” như tên gọi
của tác phẩm Điều đó cho thấy sáng tác của Chu Lai đã đi vào đời sống một cách t nhiên và có sức sống l u bền trong lòng người đọc
Phẩm chất sáng tạo, theo Chu Lai, có mối quan hệ mật thiết với trái tim, lương t m của nhà văn “Chính s yếu đuối sẽ tạo nên năng l c sáng tạo Khi nào trái tim hết run rẩy với cuộc đời, với cái đẹp thì cũng là lúc bỏ bút luôn”[77] Cái “yếu đuối” mà nhà văn nói tới không phải là s hèn nhát, buông xuôi, chán nản mà th c chất là một trái tim nhạy cảm, giàu tình yêu thương nh n hậu, biết run rẩy với nỗi đau của nh n tình thế thái, biết xúc động trước cái đẹp
và cuộc đời Và quả th c như vậy, trong các sáng tác của Chu Lai từ truyện ngắn đến tiểu thuyết, dù viết về vấn đề gì cuối cùng vẫn lấp lánh ánh lên niềm tin yêu
hi vọng vào những điều tốt đẹp ở cuộc đời và những giá trị nh n văn đích th c
Trang 32Văn chương ch n chính theo Chu Lai là “làm cho con người thức tỉnh để lao vào cuộc sống” [77] Ở đ y, Chu Lai đã kế thừa quan điểm của các nhà văn tiền bối như Thạch Lam, hay quan điểm của nhà văn thuộc thế hệ đàn anh Nguyễn Minh Ch u cho rằng: nhà văn phải làm “công việc n ng giấc cho những
kẻ cùng đường tuyệt lộ” Trong thời kì đổi mới, những đề tài khai thác của Chu Lai còn được mở rộng hơn không chỉ bó hẹp trong đề tài chiến tranh và người lính Ông từng nói: “Khi cảm hứng chủ đạo bị bế tắc thì người ta phải đi vào khai thác những tủn mủn, vặt vãnh” Nhưng ông cũng tuyệt đối phủ định “không
có chuyện văn học chiến trận hay văn học phòng the”, tức là không có thứ văn chương ch n chính nào lại chỉ đáp ứng những thị hiếu tầm thường của người đọc, nó phải th c hiện được những thiên chức cao cả của nó là làm con người sống đẹp hơn, tốt hơn
Đối với một nhà văn để có được những tác phẩm văn học ch n th c, có giá trị để đời không chỉ cần đến tài năng, t m huyết mà còn cần cả vốn sống phong phú, nói cách khác chính là s trải nghiệm S nghiệp văn chương của
của đời lính trong chiến tranh
Ông từng t m s “Cuộc đời trận mạc chỉ cho tôi cái cớ, tức là cảm xúc và vốn sống” [78] Quả đúng như vậy Những năm tháng ác liệt gian khổ nơi chiến trường của người lính trinh sát đặc công đã trở thành nỗi ám ảnh suốt đời và suốt
cả nghiệp văn của Chu Lai Những kí ức buồn vui, những hoài niệm về một thời trận mạc đã in đậm dấu ấn trong sáng tác của Chu Lai Chiến tranh mang đến đau thương mất mát, trần trụi khốc liệt nhưng cũng rất hào sảng lãng mạn Hầu hết các nh n vật trong truyện ngắn Chu Lai đều là người lính hoặc thấp thoáng bóng dáng người lính Họ là những người lính phố phường ra đi kháng chiến, bặm trợn mà hào hoa, gan lì mà đa cảm (Hai Đởm, Mười, Tu n Đọc truyện
Trang 33ngắn Chu Lai, người đọc luôn thấy phảng phất bóng dáng nhà văn từ con người, suy nghĩ, t m tư tình cảm đến tính cách và thậm chí cả những bí mật riêng tư Nhà văn t m s , có lúc “thèm chết hơn thèm sống” nhưng nhờ vào s lãng mạn của t m hồn, s hào sảng của nghìn năm d n tộc mà nhà văn “vừa cầm súng chiến đấu, vừa b ng khu ng nghĩ đến ngày bước đi giữa phố phường chớm
người lính là mối tình đầu với cô nữ sinh trường Trưng Vương II, Hà Nội Khi sắp đi chiến đấu hai người sống với nhau trong một gian nhà hoang ba ngày ba đêm, cả Hà Nội sơ tán Vậy mà một điều kì lạ xảy ra, cô gái vẫn còn nguyên là con gái C u nói của nàng n ng bước Chu Lai đi suốt các cánh rừng : “Sau này anh có què quặt ch n tay, em sẽ làm lụng nuôi anh suốt đời” Mười năm sau trở lại, ch n tay còn nguyên vẹn mà nàng lại mang con người khác đến thăm C u chuyện về tình đầu dang dở đã khơi nguồn cảm hứng cho nhà văn viết truyện
ngắn Phố vắng Đó là c u chuyện buồn về mối tình của An và Thái Dù không
thành nhưng An vẫn giữ mãi trong tim kỉ niệm đẹp bởi nó đã n ng đỡ t m hồn anh suốt chặng đường chiến đấu gian khổ “Chính trong những ngày tháng gian nan tưởng không chịu đ ng nổi ấy, c u nói thoang thoảng mùi hoa s n thượng
đã n ng dìu anh đi, v c anh dậy ”[44,258]
Cuộc sống vất vả không bóp nghẹt t m hồn lãng mạn, cảm xúc của ông Văn chương trong ông là một đời sống say mê, có thật Ông viết văn như một chuyện t nhiên, viết về những đồng đội, những cô gái giao liên, những ngày chiến đấu oanh liệt Chu Lai là người lính đã từng kinh qua trận mạc nên ông có những trang viết sống động, tươi rói như cuộc chiến đang hiện diện có khói lửa,
có tiếng bom đạn, có mùi thuốc súng và đặc biệt mùi “tử sĩ”[11] Vì như ông từng nói “Nh n vật ông càng yêu thì càng dễ chết” Những người can trường, quả cảm; những cô giao liên, y tá nhanh nhẹn hoạt bát thường phải đón nhận cái chết đau đớn, tức tưởi khi chưa một lần được yêu, khi còn đang tràn đầy nhiệt
huyết chiến đấu, lý tưởng sống cao cả (Tùng- Người không đi qua hoàng cung,
Trang 34Ba Liên- Kỉ niệm vùng ven, Thương –Mắt sau vách lá Chiến tranh đối với
Chu Lai là những kỉ niệm đẹp và buồn Bởi nó liên quan đến máu và nước mắt nên đầy ám ảnh “Nếu đã đi qua dù chỉ một ngày trong chiến tranh, t tay chôn chỉ một đồng đội thôi nó cũng hằn dấu vết đến suốt đời” [73] Nhưng Chu Lai cũng nhận thấy, chiến tranh không phải chỉ có hoảng loạn, đau đớn, khổ ải Nó bao giờ cũng có hai gam: dữ dội đến tận cùng và lãng mạn đến tận cùng “Tất cả những cuốn sách của tôi đều chứa đ ng cả hai gam này và tất cả d a trên nền tảng tình yêu” Nhà văn t đề ra nguyên lý sáng tạo như sau: “Viết về đề tài nào cũng được nhưng nếu không có một nền tình yêu vững chắc thì cuốn sách ấy đổ” “Trong chiến tranh, tình yêu mạnh hơn bình thường gấp nghìn lần, bởi đó là yêu một lần cho mãi mãi, yêu để chết, thậm chí chưa kịp yêu đã chết”[73]
Chu Lai có khả năng khai thác những chi tiết rất nhỏ, có khi chỉ thoáng qua ngắn ngủi trong hiện th c chiến trường để viết nên những tác phẩm có tình huống vừa gay cấn hồi hộp vừa hết sức lãng mạn Đó là những khoảng khắc nhà văn được nằm hầm mật với những người phụ nữ cấp ủy, với cô bí thư chi bộ, với chị tỉnh ủy viên Trong tình huống này, có hai trường hợp xảy ra: “Một là, lúc nào cũng có thể chết vì Mỹ xông vào tiêu diệt nên kính trọng nhau quá mà không nỡ làm gì tổn thương đến nhau mặc dù da thịt luôn áp sát Hai là, lúc nào
cũng sẵn sàng hi sinh thì tiếc gì mà không cho nhau” Và nhà văn t thú nhận:
“ Nằm hầm mật là dấu ấn mà sau này viết mãi những trang sách không cạn”[80]
Có thể bắt gặp cảnh huống này trong cả tiểu thuyết (VD: Trong Ăn mày dĩ vãng
cảnh Hai Hùng và Ba Sương cùng ở chung căn hầm bí mật và truyện ngắn của
Chu Lai (VD: Trong Kỉ niệm vùng ven có cảnh Mười và Ba Liên cùng ẩn nấp
dưới một cái hầm cũ trong vườn trầu Chu Lai đã không n tránh những điều
mà trước 1975, văn học thường cho là nhạy cảm Đó là vấn đề sex “Tôi viết về tính dục bằng s trải nghiệm và suy tưởng Thường ở đời những người càng ít trải nghiệm cái gì càng muốn miêu tả về cái đó Nhưng cuối cùng chính s suy tưởng, vốn sống, quan niệm mới biến thành bút pháp”, nhà văn chia sẻ [79] Tuy
Trang 35nhiên, để không rơi vào chủ nghĩa t nhiên khi viết về đề tài “nóng” này phải là một c y bút già dặn có kinh nghiệm Chu Lai đã viết về nó không phải với mục đích gợi dục mà với ông, “những cảnh dục tình ghê gớm nhưng miêu tả bằng cái nhìn trầm tĩnh, xuyên suốt thì chuyện đó sẽ mềm đi, đẹp lên, s u hơn”, nếu
không anh sẽ t “bôi nhọ ngòi bút của chính mình” [79]
S trải nghiệm cũng góp phần tạo nên giọng điệu riêng cho văn Chu Lai Trong truyện của ông, “cái gì cũng được đẩy đến tận cùng của mọi buồn vui” Ông không thích chơi những gam màu nhợt nhạt “Một tuổi thơ nhọc nhằn đói khổ, một thời trai trẻ đi qua chiến tranh cộng thêm tính c c đoan nên văn khốc liệt, thế thôi Nhưng chính s khốc liệt tạo ra một thứ mùi rất Chu Lai ” [73] Vì tính cách con người Chu Lai không thích cái gì bàng bạc nên “cuộc đời trong văn chương của ông cũng thường khốc liệt Nh n vật của ông bao giờ cũng đi tới tận cùng mọi nghĩ suy, khát vọng” [82] Có thể nói s trải nghiệm đã đem đến cho Chu Lai những cái nhìn mới mẻ về cuộc sống, con người, chi phối cách
x y d ng nh n vật, l a chọn đề tài, cảm hứng sáng tác và cả giọng điệu riêng độc đáo
Như vậy, theo Chu Lai, để trở thành một nhà văn ch n chính, người cầm bút phải lao động một cách nghiêm túc, khắt khe trong từng con chữ, viết bằng
cả trái tim và khối óc, luôn có bản lĩnh vững vàng trước mọi cám dỗ của cuộc sống đời thường Với quan niệm nghệ thuật đó, Chu Lai đã và đang ngày càng chiếm được cảm tình của bạn đọc, lay động “con người thức tỉnh để lao vào cuộc sống”, góp phần làm cho cuộc sống con người thêm tốt đẹp hơn, thôi thúc
họ hướng đến những giá trị Ch n – Thiện – Mĩ
1.3.3 Quan niệm nghệ thuật về con người của Chu Lai
1.3.3.1 Quan niệm nghệ thuật về con người
“Văn học là nh n học” (M Gorki Điều đó khẳng định con người là trung
t m khám phá, phản ánh của văn học Tuy nhiên, không phải cứ viết về con
Trang 36người là trở thành sáng tác văn học Chỉ có những sáng tác đem lại cho người đọc một s khám phá, phát hiện hay một s lí giải mới mẻ về con người mới trở thành tác phẩm văn học Như vậy, trước khi cầm bút nhà văn phải có một quan niệm nghệ thuật về con người Quan niệm nghệ thuật về con người là điểm khởi đầu cho sáng tạo văn chương
Theo Trần Đình Sử: “Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình” [58,41] Theo cách hiểu đó, nhà văn bằng s sáng tạo, kinh nghiệm và vốn sống của cá nh n mình
l a chọn các phương thức, phương tiện, biện pháp nghệ thuật để đi s u tìm hiểu khám phá, lí giải, cắt nghĩa những phương diện của đời sống con người, nhất là đời sống tinh thần Qua đó nhà văn phát hiện được những giá trị của con người
và gửi gắm ý nghĩa triết lí s u xa trong tác phẩm Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa quan niệm nghệ thuật về con người “là hình thức bên trong của s chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật và làm thành thước đo của hình thức văn học và cơ sở của tư duy nghệ thuật” [ 28, 230] Dù khác nhau về cách diễn dạt nhưng các định nghĩa trên đều nói đến cốt lõi của vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người Đó là s lí giải, cắt nghĩa, s cảm thấy con người đã được chuyển hóa thành những nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho hình tượng các nh n vật trong đó Quan niệm nghệ thuật về con người là hình thức đặc thù thể hiện con người trong văn học, là sản phẩm của lịch sử, văn hóa, tư tưởng Nó mang dấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ gắn liền với cái nhìn đầy tính độc đáo phát hiện của người nghệ sĩ Do đó, mỗi thời đại khác nhau quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học cũng khác nhau, thậm chí quan niệm nghệ thuật của nhà văn ở mỗi giai đoạn lịch sử cũng có s khác nhau: quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại khác với
Trang 37văn học hiện đại, quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam từ
1945 - 1975 khác quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học sau 1975, quan niệm nghệ thuật của Lê Minh Khuê khác quan niệm nghệ thuật của Ma Văn Kháng hay Nguyễn Minh Ch u
Quan niệm nghệ thuật về con người cũng là một nh n tố cho thấy s vận động, biến đổi và phát triển của nghệ thuật Bởi khi tư duy nghệ thuật của nhà văn vận động biến đổi cho phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kì, trào lưu văn học thì quan niệm nghệ thuật của nhà văn cũng thay đổi, k o theo s thay đổi diện mạo của cả nền văn học Quan niệm nghệ thuật về con người cho ph p nhà văn khám phá con người ở chiều s u của nó và đ y cũng là “tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nh n văn vốn có của văn học, là cơ sở chắc chắn nhất để nghiên cứu tính độc đáo của các sáng tác nghệ thuật” [34, 12] Quan niệm nghệ thuật về con người chi phối toàn bộ tư duy nghệ thuật của nhà văn Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người giúp ta th m nhập vào cơ chế tư duy của nhà văn, khám phá s vận động biến đổi của phong cách nhà văn, từ đó
có cái nhìn chiều s u về thế giới nghệ thuật của nhà văn
1.3.3.2 Quan niệm nghệ thuật về con người của Chu Lai
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 chú ý khám phá con người cộng đồng trong mỗi cá nh n, con người như sản phẩm hoàn hảo của hiện th c cách mạng, con người mang dấu ấn, tầm vóc, ý chí và tư tưởng của thời đại do s chi phối của hoàn cảnh lịch sử hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại Sau 1975, văn học có điều kiện đi s u khám phá tìm hiểu con người trên nhiều khía cạnh, nhiều bình diện mới bởi những quy luật của thời bình chi phối Nguyễn Minh Ch u bày tỏ: “Cuộc sống trên trái đất thời nào và ở đ u cũng đầy rẫy oan khiên, oan khuất, cái ác bao giờ cũng mạnh mẽ và lẫm liệt đầy mưu ma chước quỷ, còn cái thiện thì ngu ngơ và ng y thơ lại thường cả tin Nhà văn tồn tại ở trên đời có lẽ trước hết là vì thế: để làm công việc n ng giấc cho những kẻ cùng đường tuyệt
lộ bị cái ác oặc số phận đen đủi dồn con người ta đến ch n tường, những con
Trang 38người cả t m hồn và thể xác bị hắt hủi và đày đọa đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời Nhà văn tồn tại ở trên đời để bênh v c cho những người không còn ai để bênh v c ”[13,139] Theo Nguyễn Minh Ch u, văn học không chỉ tìm đến cảm hứng ngợi ca cái đẹp cái tốt ở đời mà còn khám phá và phát hiện những góc khuất, góc tối trong con người và cuộc đời để cảm thông và phê phán Đ y là một khoảng trống mà văn học trước 1975 còn bỏ ngỏ Còn Nguyễn Khải thì khẳng định: “Cái thế giới tinh thần của con người là vô cùng phức tạp vì s vận động của nó luôn luôn nhằm tới cái thật cao, thật xa” Sau 1975, s thức tỉnh ý thức cá nh n mạnh mẽ đòi hỏi các nhà văn phải quan
t m đến con người với tư cách cá nh n như một “nh n vị” độc lập Vì vậy, văn học sau 1975 xuất hiện những kiểu “không trùng khít với chính mình”, con người đa diện nhiều chiều
Trong dòng chảy chung của văn học đổi mới, truyện ngắn Chu Lai cũng thể hiện những điểm mới trong quan niệm nghệ thuật về con người
Nếu như ở tiểu thuyết của Chu Lai có s phận chia rõ rệt hai chặng đường sáng tác với s thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người từ con người
sử thi “đơn phiến” sang con người lưỡng diện- đa tạp [29,26], thì trong truyện ngắn Chu Lai ngay từ trước 1975 đã thể hiện cái nhìn mới mẻ về con người
Trong truyện ngắn Lửa mắt (viết năm 1970 , Chu Lai đã nhận ra ở nh n vật
người lính có những phẩm chất rất người, những khát khao mang tính nh n loại Truyện là dòng độc thoại nội t m của Việt, một chiến sĩ trinh sát, với những trạng thái cảm xúc đan xen lẫn lộn: buồn vui, lo lắng, hồi hộp, thương xót, căm thù, đồng cảm trong một lần điều tra đồn giặc Trong đêm tối dù phải chịu đói
r t, bị kiến đốt, vắt cắn và s c n não đầy căng thẳng với kẻ thù, anh vẫn quyết
t m vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao phó Đó là phẩm chất kiên cường, gan dạ của người lính trong chiến tranh Nhưng có lúc anh lại có những suy nghĩ rất nh n văn khi đưa ra giả thiết: “Nếu mày không phải là thằng lính đeo súng Mỹ, tao sẽ từ từ đứng dậy vỗ vai mày cười xòa như chơi trò ú tim
Trang 39Lạnh thế này mà đốt một ngọn lửa ngồi kề cà thì thật tuyệt” Anh còn đọc được những suy nghĩ của người lính bên kia chiến tuyến khi nghe tiếng thở dài của anh ta “Tiếng thở dài nặng nề vất vả quá”, “Mày đang có t m s gì u uất chưa thoát ra được” [44, 52] Anh còn đặt mình vào hoàn cảnh của tên lính để thấu hiểu hắn: “Đáng ra, đêm đồng bằng lạnh lẽo này, mày phải ở nhà hú hí với vợ con mày Còn tao chưa có vợ, tao sẽ về với mẹ ” [44, 53] Chu Lai đã giúp người đọc nhận ra, trong chiến tranh, đánh nhau chỉ là chuyện bất đắc dĩ Con người dù ở hai chiến tuyến đối địch nhau vẫn có thể cảm thông, chia sẻ, thấu hiểu cho nhau Trong văn học 1945-1975, nếu tác phẩm của Chu Lai công bố trước độc giả chắc chắn sẽ bị quy chụp là có biểu hiện tả khuynh Nhưng rõ ràng nhà văn đã phản ánh những t m tư rất “người” của nh n vật: dù trong chiến tranh, khi chiến đấu vì tổ quốc quê hương vẫn khát khao được sống bình yên, hạnh phúc giản dị như một cuộc đời bình thường Khi bị kẹt buộc phải nằm lại hàng rào đồn giặc giữa ban ngày, anh rơi vào tình thế hiểm nguy nhất khi phải giáp mặt tên lính ngụy, s sống với anh lúc này thật mong manh Nhưng với
“con mắt đã được ngọn lửa thiêng của tình đồng chí, đồng đội, của chi bộ th n yêu tiếp sức, sẽ là một mũi khoan th p xuyên ngọt nạo kho t vào tận tim óc”[44,62] và cả s khoan dung, vị tha đầy nh n hậu, anh đã cảm hóa được tên lính ngụy, khiến hắn vừa sợ, vừa cảm phục anh Sau cuộc đụng độ, tên lính còn mang theo cả bánh mì và mấy trái dưa leo cho Việt ăn tạm cho qua cơn đói vì thức suốt đêm điều tra đồn giặc Như vậy nh n vật Việt và cả người lính ngụy
trong Lửa mắt hiện lên không hề giản đơn xuôi chiều mà ngược lại rất phức
tạp, có lúc đầy m u thuẫn, khó lí giải
Sau 1975, con người trong truyện ngắn Chu Lai tiếp tục được khắc họa trên nhiều bình diện: là con người gần gũi với cuộc sống thời bình, con người của cuộc sống đời thường với nhiều lo toan bề bộn, là người lính trở về sau chiến tranh với những ưu tư chiêm nghiệm về thời thế, con người chịu s tác động của hoàn cảnh lịch sử xã hội, của nền kinh tế thị trường
Trang 40Đất nước trải qua chiến tranh, cuộc sống con người lại trở về với muôn mặt đời thường với bao bộn bề lo toan phức tạp Nhà văn phải phản ánh đúng hiện th c cuộc sống như nó vốn có, phản ánh cả phần nổi và phần chìm khuất của con người mà trước đ y chưa có dịp đề cập tới hoặc thiếu quan t m Nói như Nguyễn Minh Ch u là nhà văn phải lắng nghe tiếng nói của nh n d n:
“nh n d n Việt Nam dũng cảm sau mỗi lần đánh giặc xong lại lặng lẽ và lầm lụi làm ăn đang giơ bàn tay chai sạn vẫy chúng ta lại, kể cho chúng ta nghe về cái nhất thời ở trong cái muôn đời, cái độc ác nằm giữa cái nh n hậu, cái c c đoan nằm giữa tinh thần xởi lởi, cởi mở, cái nhẩy cẫng lên lấc láo giữa cái dung dị”[12], để từ đó ghi lại trong sáng tác của mình
Người lính và chiến tranh là đề tài chủ yếu trong sáng tác của Chu Lai nhưng không giống như những truyện viết về chiến tranh chúng ta thường gặp, truyện Chu Lai phản ánh con người trong chiến tranh hiện lên như sản phẩm của lịch sử Ở đ y Chu Lai đã “phát hiện và bổ sung thêm một hình thức mới của mối quan hệ giữa con người và lịch sử: s lệch pha, không thống nhất giữa con người và cộng đồng, với cơ chế xã hội Bên cạnh con người chủ nh n của lịch
sử, có thêm con người nạn nh n” [10,54] Trước hết đó là mẫu người tích c c cao cả, toàn t m toàn ý phụng s cộng đồng, kiên trì lí tưởng mình vì mọi người Họ là những người lính, dù trong thời chiến hay thời bình, họ cũng hiện
lên với những phẩm chất cao đẹp Th n trong Một câu chuyện tình yêu là một
thương binh vừa mới xuất viện, sức khỏe còn yếu đã sẵn sàng lái xe giúp anh tài
xế vượt qua chiếc cầu sắp gãy trước s ngỡ ngàng và thái độ đầy kh m phục của mọi người Anh cũng là người sống có lí tưởng cao cả: “Đảng đối với anh vẫn
có cái gì thiêng liêng không thể xúc phạm được” [44, 249] Trong khi một số cá
nh n đảng viên vào Đảng như những “kẻ cơ hội xu thời”, anh quan niệm: “Thà
ở ngoài Đảng mà phục vụ hết lòng cho mục tiêu của Đảng, còn đỡ day dứt hơn” [44, 249] Thấm nhuần tư tưởng lấy d n làm gốc, anh thẳng thắn bày tỏ quan điểm với cấp trên: “Tôi nghĩ đã đến lúc phải đưa d n về, phải làm ăn sinh sống