Mục đích nghiên cứu Mục đích của luận án là miêu tả làm rõ đặc điểm về cú pháp và ngữ nghĩanghĩa biểu hiện của động từ ba diễn tố trong tiếng Việt, bao gồm các đặc điểmchung của tiểu loạ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐ TRONG TIẾNG VIỆT
(CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐ TRONG TIẾNG VIỆT
(CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH)
Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã ngành: 9 22 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Nguyễn Văn Lộc
2 GS.TS Đinh Văn Đức
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả được nêu trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ côngtrình khoa học nào
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2019
Tác giả Nguyễn Thị Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, cho tôi gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo và Ban Chủnhiệm Khoa Ngữ văn, Phòng Đào tạo (Bộ phận quản lý Sau đại học), TrườngĐại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên cùng các thầy cô giáo ở Viện Ngôn ngữhọc, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm HàNội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
đã tận tình giảng dạy, động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trongsuốt quá trình học tập
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Lộc vàGS.TS Đinh Văn Đức, những người thầy mẫu mực đã truyền cho tôi tri thức, kinhnghiệm, niềm say mê nghiên cứu để hoàn thành luận án này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bạn bè và người thân trong gia đình đã tiếp sứccho tôi, giúp tôi có được kết quả như hôm nay
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2019
Tác giả Nguyễn Thị Hương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
BẢNG KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án 3
6 Bố cục của luận án 4
7 Những kết quả nghiên cứu chính của luận án 4
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 5
1.1.1 Nghiên cứu về động từ .5
1.1.2 Nghiên cứu về kết trị và kết trị của động từ 5
1.1.3 Nghiên cứu về động từ ba diễn tố 9
1.2 Cơ sở lí luận 13
1.2.1 Động từ 13
1.2.2 Khái niệm diễn tố, phân biệt diễn tố với tham thể ngữ nghĩa và chu tố 14
1.2.3 Các kiểu kết trị của động từ 20
1.2.4 Khái niệm hiện thực hoá kết trị 21
1.2.5 Cách phân loại động từ - khái niệm động từ ba diễn tố 22
1.2.6 Lí thuyết ba bình diện của câu với việc nghiên cứu động từ ba diễn tố 24
1.2.7 Nguyên tắc, thủ pháp và quy trình nghiên cứu động từ ba diễn tố 33
1.3 Tiểu kết 37
Chương 2:ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐ TRONG TIẾNG VIỆTXÉT TRÊN
Trang 6BÌNH DIỆN CÚ PHÁP 38
2.1 Dẫn nhập 38
Trang 72.2 Đặc điểm ngữ pháp chung của động từ ba diễn tố 38
2.2.1 Về ý nghĩa 38
2.2.2 Về cấu tạo 40
2.2.3 Về thuộc tính kết trị 41
2.3 Phân loại động từ ba diễn tố 52
2.3.1 Tiêu chí phân loại 52
2.3.2 Kết quả phân loại 53
2.3.3 Về ranh giới giữa các nhóm động từ ba diễn tố 57
2.3.4 Miêu tả một số nhóm động từ ba diễn tố tiêu biểu 59
2.4 Tiểu kết 76
Chương 3: ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐ TRONG TIẾNG VIỆT XÉT TRÊN BÌNH DIỆN NGHĨA BIỂU HIỆN 78
3.1 Dẫn nhập 78
3.2 Đặc điểm chung về nghĩa biểu hiện của câu với hạt nhân ngữ nghĩa là động từ ba diễn tố 78
3.2.1 Đặc điểm chung của hạt nhân ngữ nghĩa 78
3.2.2 Đặc điểm chung của các vai nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với động từ ba diễn tố 80
3.3 Phân tích cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với hạt nhân ngữ nghĩa là một số nhóm động từ ba diễn tố tiêu biểu 88
3.3.1 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với hạt nhân ngữ nghĩa là động từ ban phát 88
3.3.2 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với hạt nhân ngữ nghĩa là động từ làm chuyển dời đối thể 96
3.3.3 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với hạt nhân ngữ nghĩa là động từ cầu khiến 104
3.4 Sự tương ứng giữa cấu trúc cú pháp và cấu trúc nghĩa biểu hiện trong câu với động từ ba diễn tố 113
3.4.1 Sự tương ứng giữa hạt nhân ngữ nghĩa và hạt nhân cú pháp 113
3.4.2 Sự tương ứng giữa các vai nghĩa và thành phần cú pháp của câu 113
3.5 Tiểu kết 114
Trang 8Chương 4:BƯỚC ĐẦU SO SÁNH ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐTRONG
TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH 116
4.1 Đặt vấn đề 116
4.2 Một số nét khái quát về động từ ba diễn tố trong tiếng Anh 117
4.3 Một số nét tương đồng và khác biệt giữa động từ ba diễn tố trong tiếng Việt và tiếng Anh 119
4.3.1 Những nét tương đồng 119
4.3.2 Những nét khác biệt 126
4.4 Tiểu kết 146
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢCÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 9BẢNG KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
V Động từ hạt nhân (trường hợp sau động từ hạt nhân có diễn tố là động từ thìđộng từ hạt nhân được kí hiệu là V1)
N1 Diễn tố thứ nhất chỉ chủ thể
N2 Danh từ - diễn tố thứ hai, chỉ đối thể trực tiếp
N3 Danh từ - diễn tố thứ ba, chỉ đối thể gián tiếp
V2 Động từ - diễn tố thứ ba chỉ nội dung
v Động từ ngữ pháp có chức năng dẫn nối trong thành phần của diễn tố thứ ba
p Giới từ dùng để dẫn nối diễn tố thứ 3 (N3)
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Động từ trong tiếng Việt là từ loại có số lượng lớn, được sử dụng rộngrãi nhất, có vai trò cú pháp, ngữ nghĩa quan trọng nhất và có đặc tính hết sức phứctạp Về vai trò ngữ pháp, động từ là trung tâm của tuyệt đại đa số câu tiếng Việt Do
có vị trí quan trọng trong hệ thống từ loại mà động từ luôn thu hút sự quan tâm đặcbiệt của các nhà nghiên cứu
Việc nghiên cứu động từ trong tiếng Việt được tiến hành ở nhiều góc độ, từnghiên cứu theo quan niệm truyền thống tới nghiên cứu theo quan niệm ngữ phápphụ thuộc và ngữ pháp chức năng Những kết quả nghiên cứu về động từ có đónggóp quan trọng cho lí thuyết từ loại và cú pháp Tuy nhiên, qua tìm hiểu, chúng tôinhận thấy ở động từ vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sâu rộng hơn Mộttrong những vấn đề đó là việc nghiên cứu, xác lập, miêu tả các đặc điểm ý nghĩa vàhoạt động ngữ pháp của các tiểu loại, các nhóm động từ cụ thể
1.2 Lý thuyết kết trị được sáng lập bởi L.Tesnière là một trong những líthuyết quan trọng, một thành tựu lớn của ngôn ngữ học thế kỷ XX Sau khi ra đời, líthuyết kết trị của L.Tesnière đã được phát triển, ứng dụng rộng rãi vào việc nghiêncứu ngữ pháp, ngữ nghĩa của các ngôn ngữ khác nhau
Ở Việt Nam, lí thuyết kết trị đã được nghiên cứu sâu trong công trình chuyên
khảo Kết trị của động từ tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc Kết quả nghiên cứu của
công trình này đã mở ra một hướng nghiên cứu mới mẻ và rất thiết thực với ngữpháp tiếng Việt Điều này thể hiện rõ trong một loạt các nghiên cứu gần đây theokhuynh hướng trên
1.3 Động từ ba diễn tố trong tiếng Việt là tiểu loại động từ có số lượng khálớn và có ý nghĩa đặc điểm ngữ pháp rất phức tạp Việc nghiên cứu nhóm động từnày có ý nghĩa quan trọng cả về lí luận lẫn thực tiễn Tuy nhiên, cho đến nay, tiểuloại động từ này trong tiếng Việt chưa được nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống vàchuyên sâu theo hướng dựa triệt để vào lí thuyết kết trị và lí thuyết ngữ pháp chứcnăng; đặc biệt là hướng nghiên cứu trên cứ liệu tiếng Việt có sự so sánh với cácngôn ngữ khác loại hình
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Động từ ba diễn tố
trong tiếng Việt (có so sánh với tiếng Anh).
Trang 112 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là miêu tả làm rõ đặc điểm về cú pháp và ngữ nghĩa(nghĩa biểu hiện) của động từ ba diễn tố trong tiếng Việt, bao gồm các đặc điểmchung của tiểu loại, những đặc điểm riêng của một số nhóm động từ tiêu biểu; đồngthời, trên cơ sở so sánh động từ ba diễn tố tiếng Việt với các động từ tương ứngtrong tiếng Anh, chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt, đặc biệt là sự khác biệt
về mặt kết trị hình thức Từ đó, luận án góp phần làm sáng rõ hơn đặc điểm ngữpháp, ngữ nghĩa của động từ nhìn từ góc độ lí thuyết kết trị và lí thuyết ngữ phápchức năng ở các loại hình ngôn ngữ khác nhau, phục vụ cho việc dạy học tiếng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên đây, luận án thực hiện các nhiệm vụ:
- Nghiên cứu, xác lập cơ sở lí luận của đề tài (những vấn đề lí luận chung,bao gồm lí luận về động từ, về lí thuyết kết trị và kết trị của động từ, sự phân loạiđộng từ và khái niệm động từ ba diễn tố; khái niệm diễn tố, vai nghĩa, chức năng cúpháp, mối quan hệ giữa vai nghĩa và chức năng cú pháp)
- Xác lập các nguyên tắc và thủ pháp phân tích, miêu tả động từ ba diễn tố về
cú pháp và ngữ nghĩa theo lí thuyết kết trị, lí thuyết ngữ pháp chức năng; miêu tảđộng từ ba diễn tố về cú pháp và ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện) theo các nguyên tắcđược xác lập
- So sánh, đối chiếu động từ ba diễn tố trong tiếng Việt và tiếng Anh để chỉ
ra được những nét tương đồng và khác biệt
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là động từ ba diễn tố trong tiếng Việt hiệnđại có so sánh với tiếng Anh
Phạm vi nghiên cứu của luận án là đặc điểm cú pháp và ngữ nghĩa của động
từ ba diễn tố trong tiếng Việt hiện đại (được khảo sát trong các tác phẩm văn học,báo chí và một số loại văn bản của các tác giả có uy tín về sử dụng ngôn ngữ) có sosánh với các nhóm tương ứng trong tiếng Anh
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được sử dụng để miêu tả đặc điểm hoạt động ngữ pháp(thuộc tính kết trị) và đặc điểm ý nghĩa biểu hiện (thuộc tính kết hợp ngữ nghĩa) củađộng từ ba diễn tố trong các tác phẩm văn học, báo chí của các tác giả có uy tín về
Trang 124.2 Phương pháp so sánh - đối chiếu
Phương pháp này được sử dụng (ở mức độ nhất định) với tư cách là phươngpháp bổ trợ để so sánh các đặc trưng của động từ ba diễn tố trong tiếng Việt vớitiếng Anh nhằm làm rõ một số nét tương đồng và khác biệt
Phù hợp với các phương pháp chủ yếu trên đây, chúng tôi sử dụng một số thủ
pháp như: thống kê, phân loại và các thủ pháp hình thức như: lược bỏ, bổ sung, cải
biến, thay thế và mô hình hóa Các thủ pháp hình thức trên đây tỏ ra phù hợp và có
hiệu quả đối với việc phân tích, miêu tả ngữ pháp của các ngôn ngữ đơn lập, giúpcho việc nghiên cứu đặc điểm của nhóm động từ ba diễn tố tránh hoặc hạn chế được
sự chủ quan, cảm tính
4.3 Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Nội dung của phương pháp này là chọn nghiên cứu sâu một số nhóm động từ
ba diễn tố tiêu biểu nhằm làm rõ thêm đặc điểm của động từ ba diễn tố
5 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
5.1 Về lý luận
Thứ nhất, đây là một công trình đầu tiên nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống và
chuyên sâu về các động từ ba diễn tố trong tiếng Việt dựa triệt để vào lí thuyết kếttrị và lí thuyết ngữ pháp chức năng Việc nghiên cứu nhóm động từ ba diễn tố theo
lí thuyết kết trị và lí thuyết ngữ pháp chức năng sẽ góp phần soi sáng thêm một sốvấn đề lý thuyết về động từ, lý thuyết kết trị về động từ, lí thuyết về ngữ pháp chứcnăng trên cứ liệu tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ đơn lập tiêu biểu
Thứ hai, việc nghiên cứu các động từ ba diễn tố từ góc độ có so sánh, đối
chiếu với tiếng Anh là ngôn ngữ khác về loại hình sẽ góp phần làm sáng tỏ thêmnhững nét phổ quát và đặc thù về kết trị của động từ ba diễn tố nhìn từ góc độ líthuyết kết trị và lí thuyết ngữ pháp chức năng; qua đó, làm sáng tỏ thêm những néttương đồng và khác biệt về đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của động từ tiếng Việtvới động từ trong các ngôn ngữ khác loại hình
Thứ ba, qua việc phân tích, miêu tả sự tương ứng giữa chức năng cú pháp với
các vai nghĩa gắn với động từ ba diễn tố, luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ một trongnhững vấn đề phức tạp, thú vị về lí thuyết là vấn đề mối tương quan giữa cấu trúc cúpháp (với các thành tố cú pháp) với cấu trúc nghĩa biểu hiện hay cấu trúc nghĩa sâucủa câu (với các tham thể ngữ nghĩa hay các vai nghĩa)
Trang 135.2 Về thực tiễn
Luận án sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết, bổ ích trong việc nghiên cứu
về động từ nói riêng, về ngữ pháp nói chung; đồng thời, có thể được sử dụng trongviệc biên soạn giáo trình, các tài liệu phục vụ cho việc dạy học ngữ pháp tiếng Việtcũng như việc dạy học ngoại ngữ trong nhà trường
6 Bố cục của luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung của luận án sẽ được
triển khai trong 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận.
Chương 2: Động từ ba diễn tố trong tiếng Việt xét trên bình diện cú pháp (kết trị cú pháp).
Chương 3: Động từ ba diễn tố trong tiếng Việt xét trên bình diện nghĩa biểu hiện.
Chương 4: Bước đầu so sánh động từ ba diễn tố trong tiếng Việt với các nhóm tương ứng trong tiếng Anh.
7 Những kết quả nghiên cứu chính của luận án
- Xác lập được cơ sở lí thuyết của đề tài (qua việc làm rõ các khái niệm, cácvấn đề cơ bản thuộc lí thuyết kết trị và lí thuyết ngữ pháp chức năng), tạo tiền đềcho việc nghiên cứu động từ ba diễn tố trong tiếng Việt có so sánh với các động từtương ứng trong tiếng Anh
- Chỉ ra được những đặc điểm chung về cú pháp của động từ ba diễn tố, phânloại và miêu tả làm rõ đặc điểm của một số nhóm động từ ba diễn tố tiêu biểu trênbình diện cú pháp
- Miêu tả làm rõ cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với hạt nhân ngữ nghĩa làđộng từ ba diễn tố nói chung, cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với hạt nhân ngữnghĩa thuộc một số nhóm động từ ba diễn tố tiêu biểu nói riêng
- Chỉ ra sự tương ứng giữa cấu trúc cú pháp (gồm hạt nhân cú pháp và cácdiễn tố) và cấu trúc ngữ nghĩa biểu hiện (gồm hạt nhân ngữ nghĩa và các tham thểngữ nghĩa hay các vai nghĩa) của câu với động từ ba diễn tố
- Chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt cơ bản giữa động từ ba diễn tốtrong tiếng Việt và tiếng Anh về mặt ý nghĩa, kết trị và về mặt hiện thực hóa kết trị
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu về động từ
Từ cuối thế kỉ XIX đến đầu những năm sáu mươi của thế kỷ XX, việc nghiêncứu động từ tiếng Việt đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, tronggiai đoạn này chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên sâu
về động từ Việc nghiên cứu về động từ trong tiếng Việt chỉ thực sự đi vào chiều sâubắt đầu từ giữa những năm sáu mươi của thế kỉ XX đến nay Bên cạnh các côngtrình chung về ngữ pháp thường có đề cập đến động từ, ở giai đoạn này đã xuất hiện
một số chuyên luận đáng chú ý về động từ như: “Phân loại động từ tiếng Việt” của I.S Bưxtrov (1966); “Cụm động từ tiếng Việt” của Nguyễn Phú Phong (1973); “Các
động từ chỉ hướng trong tiếng Việt” của Nguyễn Lai (1976); “Động từ trong tiếng Việt” của Nguyễn Kim Thản (1977), “Ngữ nghĩa và cấu trúc của động từ” của Vũ
công trình nghiên cứu từng mặt, từng nhóm hoặc từng khía cạnh của động từ như:
“Phân loại động từ tiếng Việt” của I.S Bưxtrov (1966); “Các động từ chỉ hướng
trong tiếng Việt” của Nguyễn Lai (1976); “Ngữ nghĩa và cấu trúc của động từ” của
1.1.2 Nghiên cứu về kết trị và kết trị của động từ
1.1.2.1 Trên thế giới
1/ Lí thuyết kết trị của L Tesinière
a) Vài nét về L.Tesnière và ngữ pháp phụ thuộc của ông
Người khởi xướng lí thuyết kết trị là L Tesnière, nhà ngôn ngữ học nổi tiếngngười Pháp Những tư tưởng về lí thuyết kết trị được L.Tesnière trình bày trong
Trang 15Trong cuốn sách trên đây của L Tesnière, lí thuyết kết trị đã được trình bày
gắn liền với tư tưởng về ngữ pháp phụ thuộc của ông Lấy câu “Quy tắc cao nhất là
sự phụ thuộc và tính phụ thuộc” làm lời đề cho Chương 2 (Tôn ti của quan hệ cú pháp), L Tesnière viết: “Quan hệ cú pháp xác lập giữa các từ mối quan hệ phụ thuộc Mỗi quan hệ thống nhất một yếu tố đứng trên với một vài yếu tố đứng dưới Yếu tố đứng trên chúng tôi sẽ gọi là yếu tố chi phối hoặc yếu tố chính, còn yếu tố đứng dưới là yếu tố phụ thuộc Chẳng hạn, trong câu “Alfred parle ”(Anphret nói), parle (nói) là yếu tố chính, còn Anfred (Anphred) là yếu tố phụ” [104, tr.64]
Mối quan hệ cú pháp ở câu trên được trình bày bằng sơ đồ sau:
Parle (nói)
AlfredCùng với nguyên tắc phụ thuộc và tính tôn ti của quan hệ cú pháp như đã
nêu, L Tesnière cũng lưu ý đến tính chất một chức năng của yếu tố phụ thuộc: “Về
nguyên tắc, không một yếu tố phụ thuộc nào có thể phụ thuộc vào hơn một yếu tố chính Ngược lại, yếu tố chính có thể chi phối một vài yếu tố phụ thuộc” [104,
tr.25] Theo L Tesnière, quan niệm trên đây thực sự xuất phát từ mặt cấu trúc (mặtngữ pháp), khác với quan niệm truyền thống thường xuất phát từ mặt logic hoặcngữ nghĩa [104, tr.118-124]
b) Khái niệm nút động từ, diễn tố, chu tố
Theo quan niệm của L Tesnière, mỗi yếu tố chính mà ở nó có một hoặc
một vài yếu tố phụ lập thành cái ông gọi là nút (tiếng Pháp: noeut, tiếng Nga:
uzel) Nút được L Tesnière định nghĩa là “tập hợp bao gồm từ chính và tất cả các từ trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào nó” [104, tr.25] Nút được tạo thành bởi từ
thu hút vào mình, trực tiếp hoặc gián tiếp, tất cả các từ của câu được gọi là nút
trung tâm Nút này đảm bảo sự thống nhất cấu trúc của câu bởi nó gắn tất cả các
yếu tố của câu thành một chuỗi thống nhất Trong ý nghĩa nhất định, nó đồng nhấtvới cả câu [104, tr.26] Nút trung tâm thường được cấu tạo bởi động từ (như cácthí dụ trên đây) nhưng cũng có thể là danh từ, tính từ, trạng từ
Trang 16Nút động từ theo quan niệm của L Tesnière là trung tâm của câu trong phầnlớn các ngôn ngữ châu Âu và biểu thị cái tương tự như một vở kịch nhỏ với các vaidiễn (gắn với hành động) và hoàn cảnh Nếu đi từ mặt thực tế của vở kịch sang bìnhdiện cú pháp cấu trúc thì hành động, các vai diễn và hoàn cảnh sẽ trở thành các yếu
tố tương ứng với động từ, diễn tố (actants), chu tố (circonstants) Động từ biểu thị quá trình (frappe - đánh trong Alfred frappe Bernard) Các diễn tố chỉ người hay vật
tham gia vào quá trình với tư cách bất kì (chủ động hay bị động) Chẳng hạn, trong
câu trên, các diễn tố là Alfred và Bernard [104, tr.117]
Các diễn tố có đặc điểm chung là: 1/ Đều phụ thuộc vào động từ, là kẻ thểhiện kết trị của động từ, kể cả diễn tố chủ thể (chủ ngữ) 2/ Đều có tính bắt buộc,nghĩa là sự xuất hiện của chúng do nghĩa của động từ đòi hỏi và việc lược bỏ chúngsẽ làm cho nghĩa của động từ trở nên không xác định 3/ Về hình thức, chúng đượcbiểu hiện bằng danh từ hoặc các yếu tố tương đương
Dựa vào chức năng mà các diễn tố thực hiện theo mối quan hệ với động từ,
L Tesnière phân loại các diễn tố (actants) thành: diễn tố thứ nhất, diễn tố thứ hai và
diễn tố thứ ba.
Diễn tố thứ nhất từ góc độ ngữ nghĩa, chính là diễn tố chỉ kẻ hành động và vì
vậy, trong ngữ pháp học truyền thống, nó được gọi là chủ thể (sujet) L Tesnière đề nghị giữ thuật ngữ này Trong câu “Alfred parle.” (Anphret nói.), Anphret từ góc độ cấu trúc là diễn tố thứ nhất; từ góc độ nghĩa, chỉ chủ thể của hành động nói.
Diễn tố thứ hai về cơ bản, phù hợp với bổ ngữ chỉ đối thể trong ngữ pháp
truyền thống L Tesnière đề nghị gọi là đối thể Chẳng hạn, trong câu “Alfred
frappe Bernard.” (Anphret đánh Bécna.), Bécna về cấu trúc là diễn tố thứ hai, về
nghĩa chỉ đối thể của hành động Khi so sánh diễn tố chủ thể và diễn tố đối thế (bổngữ), L Tesnière lưu ý rằng chúng chỉ đối lập nhau về mặt nghĩa, còn mặt cấu trúc(cú pháp) giữa chúng không có sự đối lập [104, tr.124] L Tesnière nhấn mạnh:
“Trên thực tế, từ góc độ cấu trúc, không phụ thuộc vào chỗ trước chúng là diễn tố
(actant) thứ nhất hay thứ hai, yếu tố bị phụ thuộc luôn luôn là bổ ngữ” [104, tr.124]
và khẳng định “diễn tố chủ thể (chủ ngữ truyền thống) chính là bổ ngữ cũng như
những bổ ngữ khác” [104, tr.124]
Trang 17Diễn tố thứ ba, từ góc độ ngữ nghĩa là diễn tố chỉ sự vật mà hành động đượcthực hiện có lợi hay gây hại cho nó Về cơ bản, diễn tố thứ ba tương ứng với bổ ngữ
gián tiếp trong ngữ pháp học truyền thống Thí dụ: trong câu: “Alfred donne le liver
à Charle ” (Anphret đưa cuốn sách cho Sáclơ.) có: Alfred (Anphret) đóng vai trò là
diễn tố thứ nhất; le liver (cuốn sách) đóng vai trò là diễn tố thứ hai; à Charle (Sác
lơ) là diễn tố thứ ba Có thể sơ đồ hóa câu trên như sau:
Donne (đưa)
(Anphret) (cuốn sách) (Sáclơ)
Cùng nằm trong thành phần cấu trúc của câu động từ, bên cạnh các diễn tố
còn có các chu tố (circonstant) Về nghĩa, các chu tố biểu thị hoàn cảnh (thời gian,
vị trí, phương thức…) trong đó quá trình được mở rộng Chẳng hạn trong câu:
Alfred fourve toujours son nez partout (Anphrét ở đâu cũng luôn ngoáy cái mũi của mình), có hai chu tố là toujours (luôn luôn) và partout (ở mọi nơi).
Trong câu “Alfred parl bien.” (Anphret nói hay), từ bien (hay) là chu tố.
Lược đồ của câu này như sau:
Parl
Alfred bien
2/ Sự mở rộng lí thuyết kết trị trong ngôn ngữ học các nước
Trong ngôn ngữ học Nga, kết trị thường được hiểu theo cách hiểu rộng hơn.Chẳng hạn, N.I.Tjapkina cho rằng kết trị của động từ được xác định dựa vào toàn bộcác mối quan hệ cú pháp có thể có đối với nó [105, tr.300] Cách hiểu này, về thựcchất đã đồng nhất kết trị với khả năng của từ tham gia vào các mối quan hệ cú phápnói chung Khi tính đến các kiểu kết trị của động từ, N.I.Tjapkina phân biệt kết trịchung (được xác định dựa vào toàn bộ các mối quan hệ cú pháp có thể có đối vớiđộng từ) với kết trị hạt nhân (được xác định dựa vào mối quan hệ của động từ vớicác thành tố chủ thể và đối thể của hoạt động Theo N.I.Tjapkina, kết trị hạt nhân là
Trang 18cơ sở mà dựa vào đó, có thể tiến hành phân tích và phân loại câu động từ thành cáckiểu nhất định [105, tr.301], [106, tr.52]
Khác với những tác giả chỉ áp dụng khái niệm kết trị ở cấp độ từ và ở mặtkhả năng kết hợp cú pháp, một số tác giả chủ trương mở rộng khái niệm kết trị sang
cả các cấp độ và các bình diện khác của ngôn ngữ Theo hướng này, thuật ngữ kếttrị được dùng với nghĩa rất rộng Với quan niệm này, ngoài kết trị của từ còn có thểnói về kết trị của các đơn vị ngôn ngữ thuộc các cấp độ khác (chẳng hạn, kết trị củacác thân từ - kết trị cấu tạo từ) [103], ngoài kết trị chủ động còn có kết trị bị động,ngoài kết trị cú pháp còn có kết trị ngữ nghĩa và kết trị logic [103]
1.1.2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, lí thuyết kết trị và cách vận dụng lí thuyết này vào việc phântích ngữ pháp đã được đề cập trong các công trình của Cao Xuân Hạo [26], NguyễnThị Quy [60], Đinh Văn Đức [19], Nguyễn Văn Lộc [41], [42], Nguyễn Văn Hiệp[31], Lâm Quang Đông [16] và một số tác giả khác Tuy nhiên, ở hầu hết các tácgiả này, lý thuyết kết trị và việc vận dụng vào phân tích ngữ pháp chủ yếu được đềcập khi xem xét, miêu tả vị từ hoặc mặt ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện) của câu
Gần đây, trong luận văn thạc sỹ của Gia Thị Đậm “Động từ chủ động trong
tiếng Việt”[15] khi nghiên cứu đặc điểm chung của động từ chủ động trong tiếng
Việt, tác giả đã phân tích chỉ ra khả năng kết hợp (thuộc tính kết trị) đặc trưng củađộng từ chủ động với bổ ngữ mục đích và bổ ngữ chỉ công cụ, phương tiện
Trong luận án tiến sĩ “Phân tích câu về cú pháp dựa vào thuộc tính kết trị
của từ (Trên cứ liệu câu động từ tiếng Việt)”, Nguyễn Mạnh Tiến đã vận dụng lý
thuyết kết trị vào việc phân tích câu tiếng Việt, từ đó, làm rõ bản chất, đặc điểm cúpháp của các thành phần câu và ranh giới giữa chúng xét từ góc độ kết trị của từ.[79]
1.1.3 Nghiên cứu về động từ ba diễn tố
Động từ ba diễn tố trong tiếng Việt là nhóm động từ có số lượng khá lớn và
có vị trí quan trọng trong từ loại động từ Tuy nhiên, trước đây, việc nghiên cứu vềtiểu loại động từ này phần lớn mới chỉ được đề cập một cách khái quát trong cáccông trình nghiên cứu chung về ngữ pháp tiếng Việt
Lâm Quang Đông trong công trình “Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với
Trang 19từ trao/tặng là một trong những nhóm động từ ba diễn tố Tuy nhiên, trong công trình này, tác giả mới chỉ xem xét bình diễn nghĩa biểu hiện của nhóm động từ trao/
tặng.
Việc nghiên cứu riêng về động từ ba diễn tố mới chỉ thực sự được tiến hành
trong công trình “Động từ ba diễn tố trong tiếng Việt” (2012) của tác giả Nguyễn
Thị Thanh Tâm [66] Trong công trình này, tác giả đã bước đầu miêu tả làm rõ một
số đặc điểm ý nghĩa và thuộc tính kết trị của động từ ba diễn tố trong tiếng Việt.Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, ở công trình này, các động từ
ba diễn tố mới chỉ được tác giả đề cập một cách khái quát, chưa được chú ý miêu tảthật tỉ mỉ theo từng nhóm nhỏ động từ Hơn nữa, ở công trình này, thuộc tính cúpháp (kết trị hay kết trị cú pháp) và thuộc tính ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện của động
từ ba diễn tố) chưa được tác giả phân biệt rõ ràng và chưa được xem xét một cáchriêng biệt Cùng với điều đó, tác giả chưa có điều kiện xem xét mối tương quan giữadiễn tố (thành phần cú pháp) và tham thể ngữ nghĩa Ngoài ra, công trình này cũngchưa xem xét đến động từ ba diễn tố trong mối quan hệ so sánh với các ngôn ngữkhác về loại hình
Trong công trình “Hành động cầu khiến tiếng Việt” (2016) của Nguyễn Thị
Thanh Ngân, tác giả cũng đề cập đến động từ cầu khiến là một trong những nhómđộng từ ba diễn tố Tuy nhiên, ở công trình này, tác giả chủ yếu đi vào xem xét hànhđộng cầu khiến từ góc độ ngữ dụng
Gần đây, trong luận án Tiến sĩ “Phát ngôn có vị từ ba diễn tố trong tiếng
Việt” (2017), Đỗ Thị Hiên đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm của phát ngôn với vị từ
ba diễn tố trong tiếng Việt ở một số mặt như: khái quát về vị từ ba diễn tố và phát
ngôn có vị từ ba diễn tố trong tiếng Việt, các thành tố trong cấu trúc nghĩa miêu tả của phát ngôn có vị từ ba diễn tố trong tiếng Việt, sự hiện thực hóa cấu trúc và ngữ nghĩa của động từ ba diễn tố trong phát ngôn tiếng Việt [29]
Có thể thấy bên cạnh một số kết quả bước đầu trong việc phân tích, miêu tảđặc điểm của phát ngôn có vị từ ba diễn tố, ở công trình này còn một số vấn đề líluận và thực tiễn quan trọng liên quan đến động từ ba diễn tố chưa được xem xétgiải quyết một cách thấu đáo, triệt để theo quan điểm của lí thuyết kết trị và lí thuyếtngữ pháp chức năng Cụ thể:
Trang 20a) Về mặt lí luận:
- Ở công trình này, tác giả vẫn dựa vào quan niệm truyền thống theo đó, chủngữ và vị ngữ được coi là hai thành phần chính tạo nên nòng cốt câu [29, tr.23].Theo quan niệm này thì chủ ngữ không phải là diễn tố của vị từ vì diễn tố theo cáchhiểu của L.Tesnière là các thành tố phụ (bổ ngữ theo nghĩa rộng) thể hiện kết trị bắtbuộc của động từ giữ vai trò hạt nhân về cú pháp [104, tr.124] Như vậy, việc dùng
khái niệm vị từ ba diễn tố dường như có sự mâu thuẫn với cách hiểu của chính tác
giả về bản chất cú pháp (là thành phần chính) của chủ ngữ
- Ở công trình này, mặt cú pháp (gắn với kết trị hay kết trị cú pháp của từ) vàmặt ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện, nghĩa miêu tả) của phát ngôn có động từ ba diễn tốchưa được tác giả xác định, phân biệt một cách rành mạch, rõ ràng
Điều này thể hiện ở chỗ các khái niệm diễn tố (actant),chu tố (cirsconstant),
vốn là các thành tố cú pháp (theo cách hiểu của L Tesnière, tương ứng với cácthành phần câu như chủ ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ [104, tr.124]) không được tác giả
xác định cụ thể và phân biệt rõ với khái niệm tham thể ngữ nghĩa (vai nghĩa) là các thành tố thuộc cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu Chẳng hạn, ở mục (1.3.2.1.Nghĩa
miêu tả) trình bày về nghĩa biểu hiện, khi bàn về tham thể (TT) ngữ nghĩa với tư
cách là thành tố trong cấu trúc nghĩa miêu tả (nghĩa biểu hiện) của câu, tác giả cho
rằng: “Căn cứ vào chức năng của các TT trong mối quan hệ với VT (vị từ), có thể
chia tham thể thành hai loại: diễn tố (DT) và chu tố (CT)” [29, tr.28] Cách hiểu
trên đây, về thực chất đã đồng nhất diễn tố, chu tố (theo cách hiểu của L Tesnièrevốn là các thành tố cú pháp tương đương với chủ ngữ, bổ ngữ) với tham thể ngữnghĩa (các thành tố thuộc cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu) Đây là cách hiểu hoàntoàn khác với cách hiểu của L Tesnière về diễn tố, chu tố là những khái niệm do
chính ông đề xuất (cụ thể về sự phân biệt các khái niệm này, xin xem mục 1.2.2.2
dưới đây)
b) Về mặt cấu trúc và nội dung phân tích cụ thể của chương 3
- Ở Chương 3 (Các thành tố trong cấu trúc nghĩa miêu tả của phát ngôn có
vị từ ba diễn tố), lẽ ra cần đi riêng vào mặt nghĩa miêu tả của các thành tố, tác giả
lại dành nhiều trang trình bày về “Đặc điểm ngữ pháp” (đặc điểm về từ loại, cấu
Trang 21tạo, vị trí, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp…) của vị từ và của các diễn tố (các
thành tố cú pháp) trong phát ngôn Điều này rõ ràng không phù hợp với tên gọi củaChương 3
- Việc phân tích, miêu tả các vai nghĩa trong những phát ngôn cụ thể (ở
Chương 3) cũng còn bộc lộ sự mâu thuẫn và nhìn chung, chưa được luận giải một
cách thuyết phục
Xin dẫn một vài trường hợp cụ thể:
+ Trong danh sách 15 vai nghĩa được tác giả xác định không hề có vai nghĩachủ thể nhưng ở nội dung miêu tả (trang 93) lại có vai nghĩa này
+ Trong những câu như: (245) “Gã ném cho Điền ba tập giấy bạc.” và (246)
“Người ta quẳng vào rá nó một đồng xu.”, gã, người ta được tác giả coi là thuộc
vai nguồn [29, tr.94] Điều không được luận giải làm rõ ở đây là: Vai nguồn với tư
cách là thành tố nghĩa (có quan hệ ngữ nghĩa với hạt nhân và do hạt nhân ngữ nghĩaquy định) ở đây được xác định trong mối quan hệ với hạt nhân ngữ nghĩa nào? (Nếu
không phải là với ném, quẳng?) Mặt khác, lẽ nào bên các hạt nhân ngữ nghĩa là các động từ ném, quẳng (rõ ràng chỉ hành động tác động đến các đối tượng ba tập giấy
bạc, đồng xu) ở những câu trên đây lại không có vai nghĩa tác thể (được tác giả coi là
“chủ thể của một hành động gây ra một tác động đến một đối tượng nào đó?”) [29,
tr.31]
+ Tương tự như vậy, ở những câu như: (249) “Anh hào hứng nói với tôi mọi chuyện.” hoặc (250) “Trái lại, ta sẽ sai lính đét cho anh chục roi thật đau.”, các thành tố anh, ta cũng được tác giả coi là thuộc vai nguồn (theo cách hiểu: “nguồn
còn là nơi phát ra nội dung thông tin…” [29, tr.94]) Theo cách hiểu này thì có lẽ
tất cả các từ chỉ chủ thể của hành động nói năng (nói, bảo, thông báo, tuyên bố…), cầu khiến (sai, cấm, mời, khuyên…) đều được coi là thuộc vai nguồn (vì chúng đều chỉ “nơi phát ra thông tin”) Câu hỏi được đặt ra ở đây là: Vai nguồn theo cách hiểu trên đây được phân biệt như thế nào với vai tác thể (theo cách hiểu của tác giả như
vừa dẫn ở trên)? Câu hỏi này cũng như câu hỏi ở trên chưa hề được giải đáp rõ
ràng) Có thể thấy ở những câu (245), (246), (250) trên đây, các thành tố gã, người
ta, ta mà tác giả coi là thuộc vai nguồn thực ra, có đầy đủ đặc điểm của tác thể mà
theo ý kiến của chính tác giả là“chủ thể của một hành động gây ra một tác động đến
một đối tượng” [29, tr.31]
Trang 22- Ngoài ra, trong phân tích của tác giả, ở nhiều trường hợp, tính chất, ranh
giới của một số vai nghĩa (chẳng hạn, giữa tiếp thể và đắc lợi thể, giữa đối thể và
thụ thể, đắc lợi thể, giữa đối thể và nội dung cầu khiến) không được xác định phù
hợp hoặc không được chỉ ra một cách cụ thể, rõ ràng
Những điều chỉ ra trên đây cho thấy ở công trình của Đỗ Thị Hiên còn một
số vấn đề lí luận và thực tế chưa được giải quyết một cách hệ thống, nhất quán Hơnnữa, công trình này chủ yếu nghiên cứu phát ngôn có vị từ ba diễn tố chứ chưa phải
là công trình vận dụng triệt để lí thuyết kết trị và lí thuyết ngữ pháp chức năng vàonghiên cứu động từ ba diễn tố (từ góc độ từ loại) Ngoài ra, công trình của Đỗ ThịHiên cũng không đề cập đến vấn đề so sánh động từ ba diễn tố trong tiếng Việt vớitiếng Anh
Như vậy, với quan điểm, phạm vi, nội dung nghiên cứu như chỉ ra trên đây,kết quả nghiên cứu trong công trình của Đỗ Thị Hiên hoàn toàn không trùng vớiquan điểm, phạm vi, nội dung và đặc biệt là kết quả nghiên cứu trong luận án củachúng tôi (như sẽ trình bày ở dưới đây)
Tóm lại, việc điểm qua các nghiên cứu về động từ nói chung và động từ badiễn tố nói riêng trong tiếng Việt trên đây cho phép khẳng định việc nghiên cứu sâuhơn về động từ ba diễn tố trong tiếng Việt dựa triệt để vào lí thuyết kết trị và líthuyết ngữ pháp chức năng (có so sánh với tiếng Anh) là vấn đề thực sự cần thiết và
có ý nghĩa
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Động từ
1/ Khái niệm
Qua tìm hiểu các định nghĩa về động từ, chúng tôi đưa ra quan niệm của
mình về động từ như sau: Động từ là một từ loại thực từ biểu thị hoạt động (hành
động hoặc trạng thái) của sự vật, hiện tượng và có vai trò cú pháp chủ yếu là làm hạt nhân cú pháp (vị ngữ) của cụm động từ (nút động từ) hay của câu.
2/ Đặc điểm của động từ và cách xác định động từ
Để phân định từ loại nói chung, động từ nói riêng, luận án chủ trương dựa cảvào đặc điểm nội dung lẫn đặc điểm hình thức Đặc điểm nội dung của từ chính là ýnghĩa ngữ pháp của chúng Đặc điểm hình thức của từ là toàn bộ những dấu hiệu
Trang 23hình thức phản ánh theo cách nào đó, những đặc điểm nội dung Theo quan niệm trên đây, động từ là từ loại được xác định theo những đặc điểm sau:
a) Về ý nghĩa:
- Chỉ hoạt động (hành động hoặc trạng thái).
- Có khả năng được bổ sung ý nghĩa thời thể (thời gian, mệnh lệnh, phương
thức, kết quả…).
b) Về hình thức:
- Có khả năng thay thế bằng “làm gì”, “làm sao”.
Thí dụ: (1): Nam chạy → Nam làm gì?
(2): Nam ốm → Nam làm sao?
- Có khả năng làm trung tâm (hạt nhân) của cụm động từ (nút động từ theothuật ngữ của L Tesnière hay cụm chủ vị theo cách gọi truyền thống), tức là có khảnăng kết hợp vào mình các thành tố phụ để tạo lập cụm động từ Cụ thể:
+ Có khả năng kết hợp với các phó từ trong đó, các phó từ đặc trưng cho
động từ là: phó từ chỉ thời gian (đã, sẽ…), mệnh lệnh (hãy, đừng, chớ), phương hướng (ra, vào, lên, xuống), kết quả (xong, rồi…).
+ Có khả năng kết hợp vào mình các thực từ gồm các từ chỉ chủ thể, đối thể,hoàn cảnh
Thí dụ:
(3): Nam đang đọc sách ở thư viện.
(4): Tuấn tặng hoa cho Hiền nhân ngày phụ nữ Việt Nam.
1.2.2 Khái niệm diễn tố, phân biệt diễn tố với tham thể ngữ nghĩa và chu tố
1.2.2.1 Khái niệm diễn tố
Trong các tài liệu ngữ pháp, khái niệm diễn tố (actant) vốn do L.Tesnière đề
xuất thường được hiểu không hoàn toàn thống nhất, không đúng như cách hiểu củaông Bên cạnh cách hiểu diễn tố là thành tố cú pháp (tương ứng với các thành tố cúpháp bắt buộc của câu như chủ ngữ, bổ ngữ) như cách hiểu của L.Tesnière còn cócách hiểu diễn tố là thành tố ngữ nghĩa (tham thể ngữ nghĩa trong cấu trúc nghĩabiểu hiện của câu)
Trong luận án này, diễn tố (actant) được hiểu theo cách hiểu của L.Tesnière như đã giới thiệu ở mục 1.1.2.1 trên đây Cụ thể, diễn tố được hiểu là các thành tố
Trang 24cú pháp bắt buộc (tương ứng với chủ ngữ, bổ ngữ truyền thống) thể hiện kết trị bắt buộc của động từ [104, tr.124] Diễn tố theo cách hiểu này, một mặt, được phân biệt
với tham thể ngữ nghĩa hay vai nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu; mặtkhác, được phân biệt với chu tố (trạng ngữ) là các thành tố cú pháp tự do bên động
từ hay vị từ
Để làm rõ hơn khái niệm diễn tố, dưới đây, xin trình bày rõ thêm về sự phânbiệt diễn tố với tham thể ngữ nghĩa và chu tố
1.2.2.2 Phân biệt diễn tố với tham thể ngữ nghĩa
Thực tế cho thấy trong một số tài liệu ngữ pháp, việc phân biệt các khái niệmdiễn tố và tham thể ngữ nghĩa thường không được chú ý, thậm chí, còn có sự nhầmlẫn các khái niệm này
Sự khác nhau cơ bản giữa diễn tố và tham thể ngữ nghĩa thể hiện ở nhữngmặt sau:
1/ Về bản chất
Xét từ góc độ mối quan hệ với các bình diện của câu (theo quan điểm ngữ
pháp chức năng), diễn tố và tham thể ngữ nghĩa có bản chất rất khác nhau: diễn tố
là thành tố cú pháp thuộc cấu trúc cú pháp của câu hay nút vị từ (cụm vị từ); còn tham thể ngữ nghĩa hay vai nghĩa là các thành tố ngữ nghĩa thuộc cấu trúc nghĩa
biểu hiện (nghĩa miêu tả) của câu Có thể thấy rõ bản chất cú pháp của diễn tố qua ýkiến của L.Tesnière
Trong lý thuyết kết trị của mình, khi xác định, phân loại các kiểu diễn tố(actants), vì chủ trương xuất phát từ mặt cú pháp chứ không phải từ mặt ngữ nghĩa(nghĩa biểu hiện, nghĩa miêu tả, nghĩa sâu) nên L Tesnière quan niệm trong cấu
trúc bị động (Bernard est frappe par Alfred - (5) Becna bị Alphred đánh), từ Becna
về nghĩa biểu hiện hay nghĩa sâu, mặc dù chỉ đối thể nhưng vẫn được ông xếp vào
kiểu diễn tố thứ nhất - diễn tố chủ thể (sujet) [104, tr.124]
L Tesnière cho rằng trong cải biến bị độngđã có sự chuyển hóa giữa các
kiểu diễn tố với tư cách là các thành tố cú pháp Cụ thể: Diễn tố thứ hai (bổ ngữ)
trong cấu trúc chủ động (Alfred frappe Bernard) chuyển thành diễn tố thứ nhất (chủ
ngữ, sujet) trong cấu trúc bị động (Bernard est frappe par Alfred); còn diễn tố thứ nhất (chủ ngữ, sujet) trong cấu trúc chủ động sẽ chuyển thành diễn tố thứ hai (bổ
Trang 25ngữ) trong cấu trúc bị động Ông chỉ rõ rằng về mặt ngữ nghĩa, nếu trong cấu trúc
chủ động, diễn tố thứ hai (Bernard) chỉ kẻ chịu sự tác động của hành động thì trong cấu trúc bị động, diễn tố thứ hai (Alfred) lại chỉ kẻ thực hiện hành động [104,
tr.124] Ông giải thích thêm: với ý nghĩa chỉ kẻ thực hiện hành động, diễn tố thứ hai
ở cấu trúc bị động trong ngữ pháp truyền thống được gọi là bổ ngữ chủ thể [104, tr.124] Ý kiến trên đây của L Tesnière cho thấy rõ diễn tố chính là các thành tố cú
pháp bắt buộc (bổ ngữ theo nghĩa rộng hoặc chủ ngữ và bổ ngữ theo cách hiểu truyền thống) chứ không phải là các tham thể ngữ nghĩa hay vai nghĩa được xác định theo đặc trưng nghĩa biểu hiện hay nghĩa sâu (đặc trưng thuần ngữ nghĩa).
Khác với diễn tố, tham thể ngữ nghĩa hay vai nghĩa được thừa nhận rộng rãi
là các thành tố thuộc bình diện nghĩa biểu hiện và nằm trong cấu trúc nghĩa biểuhiện (có tác giả gọi là cấu trúc ngữ nghĩa hay cấu trúc sâu) của câu Ở Simon C.Dik,bình diện ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện) của câu (được phân biệt với bình diện cú
pháp) bao gồm hạt nhân ngữ nghĩa (biểu thị các loại sự tình cơ bản là: hành động,
tư thế, quá trình, trạng thái) chi phối các chức năng ngữ nghĩa hạt nhân (tác thể, đích, tiếp thể ) và các chức năng ngữ nghĩa mở rộng (phương thức, đặc trưng, công cụ, vị trí, thời gian ) [62, tr.50-56] Ở M Halliday, thuộc về bình diện ngữ
nghĩa (nghĩa biểu hiện) là các phạm trù ngữ nghĩa chính như: quá trình, tham thể,
chu cảnh được coi là ba thành phần “ cung cấp khung tham chiếu để giải thích kinh nghiệm của chúng ta về những gì đang diễn ra” [51, tr.208]
Sự khác nhau về bản chất giữa diễn tố và tham thể ngữ nghĩa như vừa chỉ rađược thể hiện cụ thể ở một loạt đặc điểm sẽ được phân tích dưới đây
2/ Về ý nghĩa và hình thức
Là thành tố cú pháp, mỗi diễn tố (ở dạng điển hình) được đặc trưng bởi một
ý nghĩa cú pháp tương ứng với một hình thức cú pháp nhất định Các tham thể ngữnghĩa lại được đặc trưng bởi nghĩa biểu hiện và ý nghĩa này không có hình thức cúpháp riêng để biểu thị Chẳng hạn, trong tiếng Việt, diễn tố chủ thể (chủ ngữ) đượcđặc trưng bởi nghĩa cú pháp chủ thể và hình thức cú pháp cơ bản tương ứng biểu thịnghĩa này là danh từ chiếm vị trí liền trước vị từ giữ vai trò hạt nhân cú pháp Trongkhi đó, các tham thể ngữ nghĩa chỉ được xác định theo đặc trưng thuần ngữ nghĩa
Trang 26(theo nghĩa biểu hiện) Để làm rõ vấn đề này, chúng ta sẽ xem xét đặc điểm của các diễn tố và các tham thể ngữ nghĩa trong những câu sau:
(6a): Mẹ khen Nam
(6b): Nam được mẹ khen
Về cú pháp, trong câu (6a), Nam là diễn tố đối thể xét trong mối quan hệ với hạt nhân cú pháp là động từ khen Diễn tố này được đặc trưng bởi ý nghĩa cú pháp
đối thể và nghĩa cú pháp này có hình thức cú pháp phù hợp để biểu thị là hình thức
danh từ chiếm vị trí sau động từ (khen) Trong câu (6b), Nam là diễn tố chủ thể của động từ được Diễn tố này được đặc trưng bởi ý nghĩa cú pháp chủ thể và ý nghĩa
này có hình thức cú pháp tương ứng là danh từ chiếm vị trí liền trước động từ
(được) Về mặt nghĩa biểu hiện, Nam trong cả hai câu trên đây đều là tham thể đối thể hay bị thể (xét trong mối quan hệ với hạt nhân ngữ nghĩa là động từ khen), mặc
dù Nam trong hai câu có hình thức cú pháp hoàn toàn khác nhau.
3/ Về mối quan hệ với hạt nhân
Là thành tố cú pháp, diễn tố thể hiện kết trị (khả năng kết hợp cú pháp) của vị
từ giữ vai trò hạt nhân cú pháp Về đặc tính từ loại, vị từ giữ vai trò hạt nhân cú
pháp của câu (cụm vị từ) có thể là thực từ (đi, chạy, ăn, đọc, đánh, mắng, khen…) hoặc bán thực từ (là, trở thành, trở nên, được, bị, khiến…) Như vậy, diễn tố luôn
có mối quan hệ cú pháp (quan hệ tổ hợp, quan hệ kết trị) với vị từ và do đó, chỉđược xác định trong mối quan hệ cú pháp với vị từ Các tham thể ngữ nghĩa, với tưcách là thành tố ngữ nghĩa, là các yếu tố thể hiện khả năng kết hợp từ vựng (ngữ
nghĩa) của vị từ giữ vai trò hạt nhân ngữ nghĩa của câu Về đặc tính từ loại, vị từ giữ
vai trò hạt nhân ngữ nghĩa chỉ có thể là thực từ, yếu tố có ý nghĩa cụ thể, chân thực
(nghĩa từ vựng) và biểu thị lõi sự tình được biểu đạt trong câu Điều đáng chú ý làtrong nhiều trường hợp, tham thể ngữ nghĩa có thể không có mối quan hệ cú pháp(mà chỉ có quan hệ thuần ngữ nghĩa) với vị từ là hạt nhân ngữ nghĩa của câu Chẳng
hạn, trong câu (6b) “Nam được mẹ khen.” về nghĩa biểu hiện, Nam với tư cách là
tham thể đối thể (bị thể) được xác định trong mối quan hệ thuần ngữ nghĩa với động
từ khen giữ vai trò hạt nhân ngữ nghĩa (động từ này không có quan hệ cú pháp với danh từ Nam).
4/ Về mặt chức năng
Mỗi diễn tố, về nguyên tắc, chỉ có một chức năng cú pháp Đây là quy tắc về
Trang 27nghĩa thì trong một số trường hợp chúng có thể có hai chức năng ngữ nghĩa, tức là
có thể đồng thời mang hai nghĩa biểu hiện khác nhau Chẳng hạn, trong câu: (7)
“Hoàng sai con mở cổng.”, về mặt cú pháp, từ con chỉ có một chức năng cú pháp (bổ ngữ) và là diễn tố đối thể của động từ sai Giữa con và mở không có quan hệ cú pháp; do đó, con không phải là diễn tố chủ thể (chủ ngữ) của mở Tuy nhiên, về mặt ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện), con vừa có quan hệ với sai, vừa có quan hệ (ở dạng tiềm tàng) với mở.
5/ Về mặt số lượng kiểu loại
Diễn tố, xét theo kiểu loại được xác định, có số lượng rất hạn chế L.Tesnière khi phân loại diễn tố chỉ xác định ba kiểu chính: diễn tố thứ nhất (chủngữ), diễn tố thứ hai (tương đương với bổ ngữ của động từ hai diễn tố hoặc bổ ngữthứ nhất của động từ ba diễn tố) và diễn tố thứ ba (tương đương với bổ ngữ thứ hai
của động từ ba diễn tố) Nguyễn Văn Lộc trong cuốn Kết trị của động từ tiếng Việt (1995),khi phân loại diễn tố (tác giả gọi là “kết tố”) chỉ xác định hai loại chính là
diễn tố chủ thể (kết tố chủ thể) và diễn tố đối thể (kết tố đối thể) [41, tr.52-54] Đốivới các tham thể ngữ nghĩa, số lượng được xác định lớn hơn rất nhiều
6/ Về sự không trùng nhau giữa diễn tố và tham thể ngữ nghĩa
Sự không trùng nhau giữa hai loại thành tố này có thể chỉ ra ở hai trường hợp:
- Trường hợp một diễn tố tương ứng với nhiều vai nghĩa khác nhau
Chẳng hạn, diễn tố chủ thể (chủ ngữ) có thể tương ứng với các tham thể ngữ nghĩa sau:
+ Hành thể: Thí dụ (8): Nam chạy trên sân.
+ Tác thể: Thí dụ (9): Nam đánh Bắc.
+ Nghiệm thể: Thí dụ (10): Nam ốm (11): Con gà chết đói.
+ Thụ thể: Thí dụ (12): Nam được điểm tốt (13): Con chim bị đạn.
+ Đối thể (bị thể): Thí dụ (14): Bắc bị Nam đánh.
+ Tiếp thể (kẻ nhận): Thí dụ (15): Nam được mẹ gửi tiền cho.
+ Công cụ: Thí dụ (16): Xe của chúng tôi chở hàng.
+ Nguyên nhân: Thí dụ (17): Tiếng nổ làm mọi người giật mình.
- Trường hợp một vai nghĩa tương ứng với nhiều diễn tố
Chẳng hạn, tham thể ngữ nghĩa đối thể (bị thể) có thể tương ứng với:
Trang 28+ Diễn tố đối thể (bổ ngữ): Thí dụ: (18): Chó cắn mẹ nó.
+ Diễn tố chủ thể (chủ ngữ): Thí dụ: (19): Mẹ nó bị chó cắn.
Tóm lại, diễn tố cũng như chu tố, theo cách hiểu của L Tesnière, là nhữngthành tố cú pháp thuộc về bình diện cú pháp và cấu trúc cú pháp của câu hay nútđộng từ; còn các tham thể ngữ nghĩa hay các vai nghĩa là các thành tố ngữ nghĩathuộc bình diện nghĩa biểu hiện và cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu
Mặc dù đều có mặt nội dung (ý nghĩa) nhưng ý nghĩa đặc trưng cho mặt nội
dung của diễn tố là ý nghĩa cú pháp (nghĩa ngữ pháp quan hệ); còn ý nghĩa đặc
trưng cho mặt nội dung của tham thể ngữ nghĩa là nghĩa biểu hiện (nghĩa sâu)
Theo sự phân biệt trên đây, cần thấy rằng nếu có thể nói về các diễn tố của vị
từ hay động từ nói chung (gồm cả vị từ - thực từ lẫn vị từ - bán thực từ) thì chỉ cóthể nói về các tham thể ngữ nghĩa hay vai nghĩa của vị từ - thực từ (vì chỉ các vị từ -thực từ mới là hạt nhân ngữ nghĩa chi phối các tham thể ngữ nghĩa)
Như vậy, nếu diễn tố là kết quả của sự phân tích cú pháp thì tham thể ngữnghĩa là kết quả của sự phân tích ngữ nghĩa
1.2.2.3 Phân biệt diễn tố với chu tố
Diễn tố theo cách hiểu trên đây, cũng cần được phân biệt với chu tố Hai kiểuthành tố cú pháp này khác nhau ở một số đặc điểm xét trong mối quan hệ với động
từ Trong các tiêu chí khu biệt trên đây, tiêu chí khu biệt quan trọng nhất giữa diễn
tố và chu tố là tính bắt buộc (ở diễn tố) là tính tự do (ở chu tố) Xét theo tiêu chí
này, có thể thấy rằng ranh giới giữa diễn tố và chu tố trong nhiều trường hợp, làhoàn toàn rõ ràng Tuy vậy, trong một số trường hợp, ranh giới giữa hai loại thành
tố này chỉ có tính tương đối
Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét cụ thể một vài trường hợp về tương quan giữadiễn tố và chu tố
Thí dụ:
(20a): Chúng tôi đến sớm để giúp anh ấy.
(20b): Toàn thể nhân dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng,
tinh mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy (Hồ Chí Minh).
(21a): Chúng tôi họp lớp trong 2 giờ.
(21b): Cuộc họp lớp của chúng tôi kéo dài 2 giờ.
Trang 29(22a): Y nằm trên ghế xích đu đọc sách (Nam Cao)
(22b): Hồ nằm ở giữa những ngọn núi cao.
(23a): Nam tìm bạn ở Hà Nội.
(23b): Nam sống ở Hà Nội.
Trong những câu a trên đây, các tổ hợp từ in nghiêng thường được xác định
là chu tố, tức là trạng ngữ (20a: chu tố chỉ mục đích; 21a: chu tố chỉ thời gian; 22a,23a: chu tố chỉ vị trí) Với các chu tố này, có thể lược bỏ chúng mà không làm mấttính trọn vẹn về nghĩa của câu Các thành tố được in nghiêng trong các thí dụ 20b,21b, 22b, 23b lại có tính bắt buộc ở các mức độ khác nhau và cần được xác định làdiễn tố hoặc thành tố có tính chất của diễn tố Bởi vì, dù các thành tố này có ý nghĩamục đích, thời gian và vị trí nhưng sự xuất hiện của chúng do nghĩa của động từtrong câu đòi hỏi và việc lược bỏ chúng sẽ làm cho nghĩa của động từ trở nên khôngxác định và câu trở thành không trọn vẹn về nghĩa Về bản chất, đây là nhữngtrường hợp có tính trung gian giữa diễn tố và chu tố và việc xếp chúng vào phạm trùnào là có tính quy ước
Trong luận án này, chúng tôi tạm thời coi những thành tố có tính bắt buộc ởnhững câu b trên đây là diễn tố
1.2.3 Các kiểu kết trị của động từ
Kết trị của động từ được hiểu là thuộc tính kết hợp cú pháp của nó là phạmtrù phức tạp, không thuần nhất Có thể phân loại kết trị của động từ thành các loạisau đây:
1/ Kết trị nội dung và kết trị hình thức
Các khái niệm kết trị nội dung và kết trị hình thức được S.D.Kasnelson nêu
ra trong bài viết bàn về các kiểu kết trị [100] Theo ông, kết trị nội dung của động từ
là mối quan hệ hay sự kết hợp về ý nghĩa của động từ hạt nhân và các thành tố bổsung (các diễn tố, chu tố theo thuật ngữ của L Tesnière) làm đầy các vị trí mở bênđộng từ Kết trị nội dung của động từ được xác định theo đặc điểm cú pháp - ngữ
nghĩa (các kiểu nghĩa: chủ thể, đối thể, điểm đến, công cụ, nguyên nhân, mục
đích…) của các diễn tố, chu tố và có sự phụ thuộc chặt chẽ vào nghĩa của động từ.
Khác với kết trị nội dung, kết trị hình thức của động từ là mối quan hệ hay sự
phù hợp về hình thức giữa động từ và các thành tố bổ sung (các diễn tố, chu tố) Kết
Trang 30trị hình thức của từ không phụ thuộc trực tiếp vào nghĩa mà phụ thuộc vào cơ cấungữ pháp của loại hình ngôn ngữ hay kiểu ngôn ngữ cụ thể và do đó, mang tính đặc
thù Chẳng hạn, động từ đưa trong tiếng Việt và các động từ có nét nghĩa tương ứng trong tiếng Anh (give), tiếng Nga (дaamb) có sự giống nhau về kết trị nội dung, cụ thể, đều đòi hỏi ba diễn tố là: chủ thể, đối thể và kẻ tiếp nhận(tiếp thể), nhưng về
kết trị hình thức (về phương thức kết hợp của động từ với các diễn tố) rõ ràng có sựkhác nhau
So sánh:
Tiếng Việt: (24) Tôi đưa tiền cho nó.
Tiếng Anh: (25) I gave money to him.
Tiếng Nga: (26) Я дaал дaеньги ему.
Như các thí dụ cho thấy, ở tiếng Việt, hai phương thức ngữ pháp chủ yếu
được sử dụng là trật tự từ và hư từ (cho) Ở tiếng Anh, ngoài trật tự từ và hư từ (to),
còn có sự tham gia của phương thức biến tố (giữa động từ và các diễn tố có sự phùhợp về hình thức) Ở tiếng Nga, vai trò ngữ pháp hàng đầu lại thuộc về phương thứcbiến tố (thể hiện ở sự phù hợp về hình thức ngữ pháp của động từ và các diễn tố:diễn tố chủ thể ở cách một, diễn tố đối thể ở cách bốn, diễn tố kẻ nhận ở cách ba).Những thí dụ chỉ ra trên đây cho thấy trong việc tạo lập câu, việc chú ý đến kết trịhình thức (sự phù hợp về hình thức ngữ pháp giữa các từ) là điều rất quan trọng
2/ Kết trị tự do và kết trị bắt buộc
Kết trị bắt buộc là khả năng của từ tạo ra xung quanh mình các vị trí mở cần
làm đầy bởi các thành tố bắt buộc (diễn tố), còn kết trị tự do là khả năng của từ tạo
ra xung quanh mình các vị trí mở có thể làm đầy bởi các thành tố tự do (chu tố).
3/ Kết trị chủ động và kết trị bị động
Kết trị chủ động là khả năng kết hợp của từ với tư cách là thành tố chính,thành tố giữ vai trò chi phối
Kết trị bị động là khả năng của từ tham gia vào mối quan hệ cú pháp với tưcách là thành tố phụ thuộc, thành tố bị chi phối [103, tr.26]
1.2.4 Khái niệm hiện thực hoá kết trị
Nếu kết trị là khả năng kết hợp hay tiềm năng cú pháp thì sự hiện thực hóakhả năng đó là sự hiện thực hóa kết trị Nói một cách cụ thể, hiện thực hóa kết trịcủa động từ là sự làm đầy trong lời nói các vị trí mở có thể có bên động từ bởi các
Trang 311.2.5 Cách phân loại động từ - khái niệm động từ ba diễn tố
Động từ trong tiếng Việt có một số lượng rất lớn (hàng vạn từ) Việc phânloại động từ đã được rất nhiều tác giả quan tâm Các tác giả như: Trương Vĩnh Ký,
E Đighê, V Bachiê, Lê Văn Lý, M.B Êmênô, Nguyễn Phú Phong, Nguyễn KimThản, Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Văn Đức, Diệp Quang Ban, Nguyễn Văn Lộc… từ cácphương diện tiếp cận khác nhau đã đưa ra các cách phân loại động từ Trên cơ sởtìm hiểu ý kiến của các tác giả trên đây, chúng tôi thấy có thể quy về một số cáchphân loại chính sau đây:
1.2.5.1 Cách phân loại động từ dựa vào ý nghĩa và hình thức
Theo cách phân loại động từ này, nội bộ động từ được xác định những diệnđối lập như: 1/ Sự đối lập giữa động từ thực từ và động từ ngữ pháp (động từ bánthực từ); 2/ Trong động từ - thực từ có sự đối lập giữa động từ chủ động (chủ ý) vàđộng từ không chủ động
Sự đối lập giữa động từ - thực từ và động từ ngữ pháp (động từ bán thực từ,bán hư từ) là ở chỗ: Động từ - thực từ là những động từ có ý nghĩa cụ thể, chânthực, có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn và có khả năng độc lập làm vị ngữ (Thí
dụ: đi, học, nghỉ, chạy, chơi, ăn, viết, tặng,…) Động từ ngữ pháp là những động từ
không có ý nghĩa cụ thể, chân thực, không có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn,không có khả năng độc lập đảm nhiệm chức vụ cú pháp Nói cách khác, động từngữ pháp là nhóm động từ không điển hình nằm ở khu vục biên của từ loại động từ
(Thí dụ: có thể, nên, phải, bị, được, trở thành, khiến…).
1.2.5.2 Cách phân loại động từ dựa vào đặc điểm chi phối
Sự chi phối của động từ, theo cách hiểu chung, là khả năng của động từ đòihỏi sự có mặt của các bổ ngữ và quy định số lượng, đặc tính (ý nghĩa, hình thức)của các bổ ngữ
Theo cách phân loại này, động từ được chia thành hai loại chính: động từ nộihướng (nội động) và động từ ngoại hướng (ngoại động) Động từ nội hướng là động
từ không chi phối bổ ngữ (thí dụ: thức, ngủ, đứng, ngồi, nằm…) còn động từ ngoại hướng là động từ có khả năng chi phối bổ ngữ (thí dụ: ăn, đọc, viết, trao, tặng,
mời…).
1.2.5.3 Cách phân loại động từ dựa vào kết trị - khái niệm động từ ba diễn tố
Trang 32Nội dung của cách phân loại này là dựa vào số lượng và đặc tính của các diễn
tố (actants) có thể có bên động từ để chia động từ thành những tiểu loại, những
nhóm
Trang 33nhất định Dựa vào số lượng diễn tố, L Tesnière chia động từ thành động từ không
diễn tố hay động từ vô trị (verb avalent); động từ một diễn tố hay động từ đơn trị (verb monovalent); động từ hai diễn tố hay còn gọi là động từ song trị (verb
divalent); động từ ba diễn tố hay còn gọi là động từ tam trị (verb trivalent) [104,
tr.251]
Theo cách phân loại này, động từ tiếng Việt có thể được chia thành: động từ
không đòi hỏi diễn tố hay động từ vô trị (thí dụ: mưa, nắng, sáng, tối…); động từ đòi hỏi một diễn tố hay động từ đơn trị (thí dụ: thức, ngủ…); động từ đòi hỏi hai diễn tố hay động từ song trị (thí dụ: ăn, đọc, đánh…); động từ đòi hỏi ba diễn tố hay động từ tam trị (thí dụ: trao, tặng, biếu, bắt, mời…) Như vậy, động từ ba diễn tố là
tiểu loại động từ được phân loại theo kết trị, cụ thể là theo số lượng kết trị Tiểu loạinày tương ứng với động từ chi phối hai bổ ngữ theo cách phân loại theo truyềnthống
Cách phân loại động từ theo kết trị rất gần với cách phân loại động từ theođặc điểm chi phối nhưng có tính khái quát hơn vì cách phân loại theo kết trị khôngchỉ chú ý đến khả năng kết hợp về phía sau mà còn cả khả năng kết hợp về phíatrước của động từ (khả năng kết hợp với chủ ngữ)
Như vậy, cách phân loại động từ theo kết trị cho phép bao quát đầy đủ hơn
thuộc tính cú pháp của động từ Nó cho phép hình dung tất cả các kiểu “bối cảnh tối
ưu” của động từ như A.A Kholodovich đã chỉ ra [107]
Trên cơ sở sự phân tích trên đây, trong luận án này, chúng tôi hiểu động từ
ba diễn tố là tiểu loại động từ đòi hỏi ba kết trị bắt buộc, tức là chi phối ba diễn tố.
Đặc điểm cơ bản của động từ ba diễn tố là:
- Về ý nghĩa: Chỉ hoạt động xuất phát từ chủ thể hướng tới hai đối thể (đối
thể nói ở đây được hiểu theo nghĩa rộng) [41, tr.101-150]
- Về kết trị: Động từ ba diễn tố đòi hỏi ba thành tố cú pháp bắt buộc (ba diễn
tố) bao gồm: diễn tố chủ thể (chủ ngữ), được kí hiệu là N1; diễn tố đối thể trực tiếp(bổ ngữ trực tiếp), được kí hiệu là N2; diễn tố đối thể gián tiếp (hoặc nội dung, kếtquả), kí hiệu là N3 hoặc V2.
Thí dụ:
(27): Bà mẹ Bỉnh đưa miếng trầu mới cho mẹ Đực (Nguyễn Thi)
Trang 34(28): Nó đặt quang gánh xuống sân đình (Ngô Tất Tố)
Trang 35(29): Bà chủ sai con đi gánh nước (Nguyễn Công Hoan)
(30): Hai đảng ủy cử Thất và Tiệp làm chỉ huy công trường (Chu Văn)
Những đặc điểm trên đây là cơ sở để xác định động từ ba diễn tố, phân biệt
nó với các tiểu loại động từ khác
1.2.6 Lí thuyết ba bình diện của câu với việc nghiên cứu động từ ba diễn tố
1.2.6.1 Dẫn nhập
Ch.W Morris (1938) - nhà nghiên cứu người Mỹ được coi là người đặt nềnmóng cho việc nghiên cứu về các bình diện tín hiệu Theo ông, đối với một hệthống tín hiệu, cần phân biệt ba lĩnh vực nghiên cứu sau:
Kết học: nghiên cứu các tín hiệu trong những mối quan hệ kết hợp với các tín
hiệu khác.
Nghĩa học: nghiên cứu các tín hiệu trong những mối quan hệ với các sự vật ở
bên ngoài hệ thống tín hiệu
Dụng học: nghiên cứu các tín hiệu trong những mối quan hệ với những
người sử dụng nó [Dẫn theo 26, tr.26-27]
Vận dụng lí thuyết tín hiệu học của Ch Morris vào nghiên cứu ngôn ngữ, cácnhà ngôn ngữ học hiện đại đã phân biệt ba bình diện khác nhau của ngôn ngữ: bìnhdiện kết học (bình diện cú pháp), bình diện nghĩa học (bình diện nghĩa biểu hiện) vàbình diện dụng học (bình diện giao tiếp hay cú pháp giao tiếp) Tuy nhiên, đến nay,vẫn còn nhiều vấn đề tranh luận về các bình diện này, cụ thể là về bản chất, phạm viranh giới giữa chúng Không có ý định đi sâu vào những tranh luận về vấn đề này, ởđây, chúng tôi chỉ nêu khái quát cách hiểu về ba bình diện của câu được xác lậptrong ngữ pháp chức năng trong đó sẽ dành sự chú ý nhiều hơn cho bình diện nghĩabiểu hiện là bình diện khá phức tạp và hiện còn nhiều ý kiến chưa thống nhất
1.2.6.2 Bình diện cú pháp
Về bản chất của bình diện cú pháp, ý kiến của các nhà nghiên cứu khônghoàn toàn thống nhất Một trong những quan điểm được thừa nhận rộng hiện nay làcoi ngữ pháp (cú pháp) là bình diện hình thức thuần túy
Chẳng hạn, Cao Xuân Hạo trong “Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức
năng” cho rằng: “Bình diện cú pháp là bình diện của những khái niệm được xác định bằng những tiêu chuẩn hình thức thuần túy Các chức năng cú pháp như chủ
Trang 36ngữ, vị ngữ, bổ ngữ trực tiếp, bổ ngữ gián tiếp, định ngữ được xác định không phải căn cứ vào việc các ngữ đoạn biểu thị cái gì, mà còn vào mối quan hệ ngữ pháp với các ngữ đoạn khác nhau được biểu thị bằng các phương tiện hình thức gọi là tác tử cú pháp (syntactic oprators) như các hình thái cách hoặc các chuyển
tố (translatits hay relatenrs), các giới từ, bằng sự phù ứng về số, về ngôi với một danh ngữ nhất định” [26, tr.8]
Theo quan điểm này, việc xác định các thành phần cú pháp của câu như chủngữ, bổ ngữ dựa vào nghĩa là điều không thể Quan niệm này dẫn đến sự phủ nhậnkhả năng xác định các thành phần câu dựa vào nghĩa; đồng thời dẫn đến sự phủnhận sự tồn tại của chính các thành phần câu như chủ ngữ, vị ngữ trong tiếng Việt
Khác với các ý kiến trên, tác giả Nguyễn Văn Lộc khẳng định: bình diện cúpháp là bình diện có tính hai mặt: mặt ý nghĩa và mặt hình thức và đã chứng minh
sự tồn tại của nghĩa cú pháp trong sự phân biệt với nghĩa biểu hiện hay nghĩa sâu[47] Tác giả luận án tán thành quan niệm này
Nghiên cứu câu về cú pháp thực chất là nghiên cứu câu gắn với thuộc tínhkết trị của từ, chủ yếu là thuộc tính kết trị của vị từ và danh từ Như vậy, giữa việcnghiên cứu câu và việc nghiên cứu từ loại theo bình diện cú pháp có mối quan hệhết sức mật thiết với nhau Việc nghiên cứu thuộc tính kết trị của động từ (đượcthực hiện trong công trình này) mà nội dung là xác định, miêu tả các diễn tố theođặc điểm nội dung và hình thức ngữ pháp sẽ giúp làm sáng tỏ đặc điểm cú pháp củacâu là đơn vị được xây dựng trên cơ sở thuộc tính kết hợp cú pháp (kết trị) của từ
1.2.6.3 Bình diện ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện)
Thuộc về bình diện này là các khái niệm quan trọng như: nghĩa biểu hiện,cấu trúc nghĩa biểu hiện, hạt nhân ngữ nghĩa và tham thể ngữ nghĩa
1/ Nghĩa biểu hiện
Trong luận án này, nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả, nghĩa sự tình, nghĩa kinhnghiệm, nghĩa sâu…) được hiểu là loại nghĩa phản ánh sự tri nhận, kinh nghiệm củacon người về thế giới; cụ thể về các sự vật, hiện tượng, thuộc tính, quan hệ củachúng trong hiện thực khách quan [31, tr.36] Loại nghĩa này, theo M Halliday,được xác định trong cấu trúc của câu (cú) như là sự thể hiện và bao gồm các khái
niệm chính như: quá trình, tham thể, chu cảnh là những phạm trù ngữ nghĩa giải
thích một cách khái quát nhất các hiện tượng của thế giới hiện thực [51, tr.207-208]
Trang 37Nghĩa biểu hiện theo cách trên đây, một mặt, được phân biệt với nghĩa cúpháp hay nghĩa ngữ pháp quan hệ (loại nghĩa gắn với chức vụ cú pháp của từ và đặctrưng cho các thành phần cú pháp của câu); mặt khác, được phân biệt với nghĩathuộc bình diện giao tiếp (nghĩa chủ đề, thuật đề hay nghĩa được thuyết định, nghĩathuyết định đặc trưng cho các thành phần đề, thuyết thuộc cấu trúc giao tiếp củacâu).
Nghĩa biểu hiện và nghĩa cú pháp rất gần nhau (đều là loại nghĩa có tínhquan hệ và nhiều khi mang cùng tên gọi) Tuy nhiên, đây là hai loại nghĩa khácnhau về bản chất Sự khác nhau giữa hai loại nghĩa này đã được chỉ ra cụ thể trongmột số công trình được công bố gần đây [47, 3-18], [48, 384-386]
2/ Cấu trúc nghĩa biểu hiện
a) Khái niệm cấu trúc nghĩa biểu hiện theo quan niệm của luận án
Khái niệm cấu trúc nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả) của câu ở đây được hiểutương đương với khái niệm cấu trúc ngữ nghĩa thường được đề cập trong nhiểu
công trình nước ngoài Theo I.P Raspopov, “Trong phần lớn các công trình nghiên
cứu theo chủ đề ngữ nghĩa của câu, cấu trúc ngữ nghĩa thường được hiểu là cấu trúc cơ sở có tính khái quát thống nhất một loạt cấu trúc cú pháp cụ thể khác nhau nhưng phản ánh cùng một sự tình (sự việc)” (Dẫn theo [48, tr.486]) Đó là những lược đồ (công thức) logic trừu tượng được khái quát từ những cấu trúc khác nhau
có cùng nội dung ngữ nghĩa (Dẫn theo [48, tr.486]) Cấu trúc ngữ nghĩa của câu
theo cách hiểu này thường được đồng nhất với cấu trúc sâu Chẳng hạn, hai câu cóquan hệ cải biến bị động dưới đây được I P.Raspopov coi là có cùng cấu trúc ngữnghĩa hay là cấu trúc sâu:
(31a): Cтуденты выпоняют задание (Sinh viên hoàn thành bài tập)
(31b): 3адание выпоняется студентами.(Bài tập được sinh viên hoàn thành).Cách hiểu trên đây của I P.Raspopov về cấu trúc ngữ nghĩa hay cấu trúc sâu,
về cơ bản, phù hợp với cách hiểu được John Lyons đề cập trong cuốn Ngữ nghĩa
học dẫn luận, theo đó, cấu trúc sâu của câu được hiểu là cấu trúc ngữ nghĩa được
khái quát từ những cấu trúc mặt (có mối quan hệ cải biến với nhau) có cùng nộidung ngữ nghĩa hay nội dung mệnh đề Chẳng hạn, những câu chủ động và bị độngdưới đây được coi là có cùng cấu trúc sâu hay có cùng nội dung ngữ nghĩa (nộidung mệnh đề):
(32a): The dog bit the postman (Con chó cắn người đưa thư)
Trang 38(32b): The postman was bitten by the dog (Người đưa thư bị con chó cắn.)
Sau khi dẫn những câu trên đây, John Lyons khẳng định: “Hầu hết các cặp
câu chủ động và bị động như vậy (trừ các câu chứa cái mà các nhà logic học miêu
tả là tương đương lượng từ trong ngôn ngữ tự nhiên) là tương đương nhau về điều kiện chân trị, và do đó, có cùng một nội dung mệnh đề” [50, tr.227].
Tham gia tổ chức cấu trúc nghĩa biểu hiện (cấu trúc ngữ nghĩa, cấu trúc sâu)của câu là các thành tố ngữ nghĩa (gồm hạt nhân ngữ nghĩa biểu thị lõi sự tình vàcác vai nghĩa)
b) Xác định hạt nhân ngữ nghĩa trong cấu trúc biểu hiện của câu
Trong việc xác định hạt ngữ nghĩa của câu, ý kiến của các nhà nghiên cứukhông có sự thống nhất Những bất đồng trong vấn đề này chủ yếu thể hiện ở cáchnhìn nhận đối với vai trò ngữ nghĩa của các vị từ tương đối trống nghĩa từ vựng (có
tính bán thực từ như: là, được, bị, làm, khiến, dùng…) Chẳng hạn, khi phân tích tổ chức ngữ nghĩa của câu (33) “Nó là sinh viên”, có tác giả coi là là hạt nhân ngữ
nghĩa, tức là “phần chỉ sự thể” (sự tình, quá trình) hay vị tố (được hiểu là yếu tốchính cả về nghĩa biểu hiện lẫn nghĩa ngữ pháp) [5, tr.55] Trái với cách phân tích
trên đây, một số tác giả cho rằng thực từ đứng sau là (sinh viên) mới là vị tố (hạt
nhân ngữ nghĩa hay yếu tố biểu thị lõi sự tình) [30, tr.39]
Đối với vấn đề tranh luận trên đây, có thể tìm được sự gợi ý về hướng giảiquyết qua ý kiến của L Tesnière khi ông bàn về khái niệm hạt nhân (nucléus) với tưcách là trung tâm cú pháp và ngữ nghĩa của câu
Theo L Tesnière, “hạt nhân là hợp thể mà tham gia vào đó, bên cạnh yếu tố
là trung tâm thuần cú pháp, còn có các yếu tố giữ vai trò trung tâm về ngữ nghĩa
mà nhờ chúng, hạt nhân được nối kết bởi mối quan hệ ngữ nghĩa với các yếu tố khác trong câu” [104, tr.56] Nói cách khác, hạt nhân theo L Tesnière, là yếu tố
vừa giữ vai trò trung tâm về cú pháp (cấu trúc), vừa giữ vai trò trung tâm về ngữnghĩa của câu
Hai vai trò chính (cấu trúc và ngữ nghĩa) của hạt nhân có thể được thực hiện
bởi một từ (parle (nói) trong câu: Alfred parle ((34) Alfred nói) nhưng cũng có thể
được thực hiện bởi các từ khác nhau Trong trường hợp thứ hai, theo L.Tesnière, ta
sẽ có hạt nhân tách biệt (nucléus dissocié) [104, tr.58] Mỗi hạt nhân tách biệt bao
Trang 39gồm tối thiểu hai từ mà một trong chúng thực hiện vai trò cấu trúc (cú pháp), còn
một thực hiện vai trò ngữ nghĩa [104, tr.58] Chẳng hạn, trong câu: Alfred est arrivé
((35) Alfred đã đến), hạt nhân gồm hai từ est và arrivé trong đó est thực hiện vai trò
cấu trúc (cú pháp), còn arrivé thực hiện vai trò ngữ nghĩa [104, tr.58].
Một dạng khác của hạt nhân tách biệt là tổ hợp gồm trợ động từ và tính từ
trong những câu kiểu như: Alfred est grand ((36) Alfred to lớn) Ở câu này, est thực hiện vai trò cú pháp còn grand thực hiện vai trò ngữ nghĩa.
Dựa vào ý kiến trên đây của L.Tesnière, chúng tôi cho rằng khi phân tích câu
về cú pháp và ngữ nghĩa, cần phân biệt rõ hạt nhân cú pháp (vị ngữ hay đỉnh cúpháp của câu) và hạt nhân ngữ nghĩa (thành tố chính trong cấu trúc nghĩa biểu hiệncủa câu)
Về sự tương ứng giữa hạt nhân ngữ nghĩa và hạt nhân cú pháp, cần phân biệthai trường hợp:
- Trường hợp hạt nhân ngữ nghĩa trùng với hạt nhân cú pháp
Đây là trường hợp của những câu mà vị ngữ (đỉnh cú pháp của câu) đượcbiểu hiện bằng các vị từ - thực từ
Thí dụ:
(37): Nam chạy
(38): Nam đọc sách.
(39): Nam gửi thư cho bạn.
(40): Nam rất thông minh.
Trong những câu kiểu này, vị ngữ hay hạt nhân cú pháp (chạy, đọc, gửi,
thông minh) đồng thời là hạt nhân ngữ nghĩa của câu.
- Trường hợp hạt nhân ngữ nghĩa không trùng với hạt nhân cú pháp
Đây là trường hợp của những câu có vị ngữ được biểu hiện bằng các vị từ
trống nghĩa (có tính bán thực từ ở mức độ khác nhau) như: là, trở nên, được, bị,
làm, khiến,… Ở những câu kiểu này, theo L Tesnière, ta có những hạt nhân tách
biệt trong đó, vị từ trống nghĩa đứng trước là hạt nhân cú pháp, còn thực từ đứngsau là hạt nhân ngữ nghĩa
Thí dụ:
Trang 40(41): Cha tôi là công nhân.
(42): Tình hình trở nên phức tạp.
(43): Nam được (mẹ) khen.
(44): Một hồi vỗ tay làm rung động cả phòng hát.
c) Các tham thể ngữ nghĩa (vai nghĩa) trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu
Trong việc phân tích cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu, các tham thể ngữ nghĩa(vai nghĩa) được bàn đến nhiều nhưng ý kiến của tác giả cũng rất khác nhau thể hiện
cả ở nguyên tắc xác định lẫn số lượng, danh sách các vai nghĩa được đưa ra
Trước thực tế như vậy, trong luận án này, dựa vào ý kiến của Nguyễn VănLộc, chúng tôi sơ bộ xác định một danh sách các tham thể (vai nghĩa) có tính phổbiến sau đây (trong thí dụ là các từ in đậm, nghiêng):
(1) Tác thể: chỉ kẻ tạo ra hoạt động tác động:
Thí dụ: (45) Tôi đánh nó.
(2) Hành thể: chỉ kẻ chuyển động:
Thí dụ: (46) Nó đang chạy trên sân.
(3) Nghiệm thể: chỉ kẻ mang trạng thái hay trải qua một quá trình:
Thí dụ: (57) Nó ốm.
(4) Thụ thể: chỉ kẻ tiếp thụ (không chủ động) vào mình vật gì đó
Thí dụ: (47) Nó được điểm mười.
(5) Kẻ mang đặc điểm:
Thí dụ: (48) Cô ấy đẹp (49) Cha tôi là công nhân.
(6) Đối thể (bị thể): Chỉ kẻ chịu tác động của hoạt động:
Thí dụ: (50) Nó đập bể cái bảng nứa.
(7) Tiếp thể: Chỉ kẻ được tiếp nhận một sự vật do người khác chuyển giao cho:
Thí dụ: (51) Tôi gửi thư cho mẹ.
(8) Bị hại thể (kẻ tổn thất): Chỉ kẻ mất quyền sở hữu vật gì đó:
Thí dụ: (52) Hắn vay cụ Bá năm mươi đồng.
(9) Đích thể: Chỉ điểm đến của hoạt động chuyển động:
Thí dụ: (53) Ông bà nó về trại.
(10) Điểm rời đi: Chỉ vị trí mà sự vật rời khỏi:
Thí dụ: (54) Tàu rời ga.