Với hệ số beta chứng khoán, các nhà quản trị danh mục đầu tư nắm được sự tácđộng của việc thêm một chứng khoán vào danh mục.. Lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz, mô hình định giá tài sả
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN TRỊ DANH MỤC ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIETCOMBANK
Ngành : Tài chính – Ngân hàng Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 1: Sơ đồ hoá hệ thống quản trị DMĐT tài chính 41
Hình 2 Mối quan hệ giữa các bước trong quy trình quản trị DMĐT tài chính 42
Hình 3 Quy trình quản trị DMĐT tài chính Phương pháp Sharpe 47
Hình 4: Mức độ hiệu quả danh mục – Hệ số Sharpe 47
Hình 5: Mức độ hiệu quả danh mục – Hệ số Treynor Phương pháp Jensen 49
Hình 6: Thu nhập và rủi ro của danh mục đầu tư 51
Hình 7 Sơ đồ cơ cấu tổ chức VCBS 56
Hình 8: Cơ cấu nhân sự VCBS 57
Hình 9: Quy trình quản trị DMĐT tại VCBS 65
Hình 10: Biểu đồ sử dụng công cụ Boliger Band 74
Hình 11: Biểu đồ sử dụng công cụ Fibonacci 75
Hình 12: Biểu đồ sử dụng công cụ RSI để xác định các điểm vào lệnh 76
Hình 13: Sơ đồ các bộ phận trong quy trình quản trị DMĐT 84
Hình 14: Quy trình quản trị DMĐT tài chính tại VCBS 90
DANH MỤC CÁC TỪ VIÊT TẮT
Trang 5NHTW Ngân hàng trung ương
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu cùng Quý Thầy Cô TrườngĐại học Ngoại thương đã tạo điều kiện và truyền đạt cho tác giả những kiến thức,những kinh nghiệm quý báu giúp tác giả tự tin, làm tốt hơn trong công việc và hoànthành được đề tài nghiên cứu Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành vàsâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Việt Dũng , người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tácgiả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo, các anh chị làm việc tạicác bộ phận đầu tư tài chính, hỗ trợ khách hàng, phân tích tài chính tại CTCK
Trang 6Vietcombank đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện hỗ trợ để tác giả tiếp cận tìm hiểuthực tiễn và cung cấp các số liệu cần thiết cho đề tài này.
Cuối cùng tác giả xin cảm ơn về sự khuyến khích, quan tâm, tạo điều kiệncủa những người thân trong gia đình, cũng như các bạn cùng lớp cao học Tài chínhNgân hàng 22A, đã giúp tác giả hoản thành luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Ngọc Tùng
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi.Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Ngọc Tùng
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Ngày nay hoạt động đầu tư tài chính đã phát triển thành một dịch vụ chuyênnghiệp chính trên thế giới.Bắt đầu từ thế kỷ 21, sau cuộc cách mạng công nghiệpquản trị đầu tư trở thành một phần quan trọng trong số các dịch vụ tài chính ở hầuhết các nước phát triển.Thị trường tài chính Việt Nam hiện đang trong giai đoạn đầucủa quá trình phát triển vươn lên, tuy nhiên không vì thế mà hoạt động đầu tư kémphát triển
Cùng với sự phát triển của TTCK Việt Nam, hoạt động đầu tư tài chính được
mở rộng,các CTCK, NHTM cùng với các Quỹ đầu tư đang tập trung phát triểnmạnh mảng đầu tư tài chính Để tăng hiệu quả của quá trình đầu tư tài chính đòi hỏiphải có một hệ thống quản trị đầu tư tốt Do đó việc xây dựng hệ thống quản trị đầu
tư tài chính trở thành vấn đề cấp thiết đối với các chủ thể tham gia đầu tư nói chungvới VCBS nói riêng Dù đã có những đề tài nghiên cứu về quản trị DMĐT tài chính
ở các định chế tài chính, tuy nhiên các biện pháp còn khá chung chung và lỗi thời,đồng thời cũng chưa có đề tài nào tập trung nghiên cứu về hệ thống quản trị DMĐTtài chính tại VCBS nhằm đưa ra những giải pháp phù hợp Xuất phát từ quan điểm
đó, tôi lựa chọn đề tài “Quản trịDMĐT tài chính tại công ty chứng khoánVietcombank” để tìm hiểu và giải quyết vấn đề trên
2 Tình hình nghiên cứu
Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại đã được nghiên cứu, phát triển và ứng dụng kháphổ biến trên thế giới ở cả giác độ lý thuyết lẫn thực nghiệm Từ sau công trình lựachọn danh mục đầu tư của Harry Markowitz năm 1952 rất nhiều công trình nghiêncứu, bài viết liên quan đến đến lĩnh vực này đã được thực hiện Trong phần tổngquan nghiên cứu này, học viên chỉ tổng hợp những công trình nghiên cứu điển hìnhtrên các lĩnh vực: lý thuyết danh mục đầu tư tài chính; Lý thuyết quản trị danh mụcđầu tư hiện đại; đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư Đây là những vấn đề có liênquan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu trong luận án của nghiên cứu sinh
Trang 92.1 Tình hình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trên thế giới
2.1.1 Lý thuyết danh mục trung bình-phương sai
Harry Markowitz với hai công trình nghiên cứu nổi tiếng: Lựa chọn danh mục đầu
tư và đa dạng hóa danh mục đầu tư được xem là cha đẻ của lý thuyết danh mục đầu
tư hiện đại Trong các công trình của mình, ông đã xây dựng công thức để tính toán
và lựa chọn giá trị trung bình và phương sai của danh mục đầu tư Ông đã chứngminh thuyết căn bản cho lý thuyết danh mục đầu tư trung bình-phương sai: giữ chophương sai cố định, tối đa hóa thu nhập của danh mục đầu tư, hoặc giữ cho thu nhập
cố định, tối thiểu hóa rủi ro của danh mục đầu tư Cả hai nguyên tắc này đều dẫnđến việc hình thành đường biên hiệu quả mà qua đó nhà đầu tư có thể lựa chọnđược danh mục đầu tư hiệu quả tùy theo mức độ ưa thích rủi ro của mình Khi tiếnhành đầu tư, các nhà đầu tư cần tính đến việc một chứng khoán kết hợp với tất cảcác chứng khoán khác như thế nào Điều này rất quan trọng, vì nó có thể tạo ra danhmục đầu tư có cùng phương sai nhưng có thu nhập cao hơn danh mục bỏ qua việcxem xét sự tương tác của các chứng khoán trong danh mục
Sau Markowitz, một số công trình nghiên cứu với mong muốn làm tăng thêm tínhhiệu quả đối với lý thuyết danh mục trung bình-phương sai: Tobin đã phát triểnthêm những điều kiện cần thiết, hàm hữu dụng của nhà đầu tư, phân phối thu nhậpcủa tài sản Cũng có những nghiên cứu nhằm đưa ra lý thuyết danh mục thay thế:Lee Krausvà Litzenberger, các công trình nghiên cứu này đưa thêm độ dốc củađường biên hiệu quả vào trong mô hình; Fama ,Litzenberger và Kraus làm cho phânphối thu nhập của tài sản trở nên hiện thực và chuẩn xác hơn Tuy có những côngtrình thay thế nhưng lý thuyết danh mục trung bình-phương sai vẫn là hòn đá tảncủa lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại Sự tồn tại của lý thuyết danh mục trungbình-phương sai trước hết vì những thực nghiệm của nó được phát triển khá tốt, phổbiến rộng rãi, hấp dẫn và mang tính trực quan cao Mặc khác, không có bằng chứngcho thấy rằng khi thêm yếu tố ngoài giá trị trung bình và phương sai của thu nhậpvào mô hình cải thiện được những điều mong muốn đối với danh mục đầu tư đượclựa chọn
Trang 10Lý thuyết danh mục trung bình-phương sai được nghiên cứu là để tìm ra danh mụcđầu tư tối ưu trong một thời kỳ nhất định (từng giai đoạn thời gian đơn lẻ) Trênthực tế vấn đề đầu tư không dừng lại ở một giai đoạn vì vậy lựa chọn danh mục đầu
tư đa giai đoạn hoặc với khung thời gian liên tục được đặt ra, nghĩa là cần có sự mởrộng công thức đối với lý thuyết danh mục trung bình-phương sai từ dạng tĩnh sangdạng động với đa giai đoạn và khung thời gian liên tục Bài báo của Fama,Hakanssan Meton Mossin đã phân tích vấn đề này dưới nhiều giả thuyết khác nhau.Các bài báo này cho thấy, dưới một số giả định hợp lý, vấn đề đa giai đoạn có thểđược giải quyết là một chuỗi của vấn đề giai đoạn riêng lẻ Meton đã nghiên cứuvấn đề danh mục đầu tư với khung thời gian liên tục thông qua việc xây dựng côngthức giải quyết đồng thời vấn đề danh mục và đầu tư tiêu dùng
Trên thực tế, việc tìm ra chiến lược đầu tư tối ưu trong các tình huống động làkhông hề dễ dàng Tuy nhiên, vấn đề này đã được giải quyếtnhờ các công trình Li
và Ng , Zhou và Li Từ đó, nhiều học giả khác phát triển sâu hơn lựa chọn danhmục trung bình-phương sai động Li và các đồng nghiệp khảo sát việc lựa chọndanh mục đầu tư trung bình-phương sai với thời gian liên tục trong đó không đượcphép bán khống tài sản rủi ro (Nhưng được phép bán khống tài sản phi rủi ro) Lim
và Zhou nghiên cứu sự lựa chọn danh mục đầu tư trung bình-phương sai thời gianliên tục dưới giả định các tham số thị trường là các biến ngẫu nhiên ngoại sinh.Bielecki và đồng nghiệp; Xia và Yan đã khảo sát lựa chọn danh mục đầu tư trungbình-phương sai thời gian liên tục với luật cấm phá sản trong thị trường hoàn hảo vàkhông hoàn hảo
Một số công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm liên quan đến lý thuyết danhmục trung bình-phương sai tiêu biểu trong thời gian gần đây:
1 Trung bình-phương sai sắp sĩ với độ thỏa dụng kỳ vọng
2 Lựa chọn danhmục trung bình-phương sai với sự hiện diện của các cổ phiếukhông giao dịch thường xuyên
3 Lựa chọn danh mục trung bình-phương sai với mối tương quan rủi ro
4 Đo lường mức hiệu quả việc mở rộng trung bình-phương sai
Trang 115 Những lợi ích của các ràng buộc dựa trên sự khác biệt phương sai trong việc tối
ưu hóa danh mục đầu tư
2.1.2 Các mô hình định giá chứng khoán
Sau lý thuyết danh mục trung bình-phương sai ra đời, có khá nhiều các nghiên cứu
về các yếu tố đầu vào (phương sai, hiệp phương sai) cho lý thuyết này Mô hình chỉ
số đơn được phát triển, mô hình này giúp làm giảm khối lượng công việc ước lượngcác giá trị đầu vào đối với danh mục đầu tư, các dữ liệu đầu vào dễ phân tích và dễhiểu hơn và đặc biệt là mức độ chuẩn xác của việc tối ưu hóa danh mục được nânglên Với hệ số beta chứng khoán, các nhà quản trị danh mục đầu tư nắm được sự tácđộng của việc thêm một chứng khoán vào danh mục
Không lâu sau mô hình chỉ số đơn, các mô hình đa chỉ số được nghiên cứu pháttriển, tiêu biểu là các công trình nghiên cứuRoll, R và S Ross , Dhrymes, Friend vàGultekin ; Brown, Weinstein ; Cho, Elton, Gruber Mô hình đa chỉ số có thể cungcấp các nhập lượng đầu vào cho kỹ thuật danh mục đầu tư tối ưu và xây dựng cơ sởcho mô hình kinh doanh chênh lệch giá Mô hình đa chỉ số cũng cho phép các nhàquản lý danh mục hiểu được độ nhạy cảm của danh mục đầu tư trước những biếnđộng của các biến số kinh tế vĩ mô, chủ động dự báo các chỉ số sẽ thay đổi như thếnào trong thời gian đến Mô hình đa chỉ số được sử dụng để xây dựng lại công thứccho lý thuyết danh mục trung bình-phương sai theo cách rõ nghĩa hơn đối với cácnhà quản lý danh mục: Ross , Ingersoll , là công cụ cơ sở để đánh giá các nhà quản
lý quỹ
Mô hình định giá tài sản vốn là mô hình ước lượng các yếu tố đầu vào để xâydựng danh mục đầu tư Mô hình được phát triển vào đầu những năm 60 của thế kỷtrước bởi William Sharpe, John Lintner và Jan Mossin Mô hình định giá tài sảnvốn là mô hình cơ bản và có ảnh hưởng mạnh mẻ đối với tài chính hiện đại Nó cóquan hệ mật thiết với lý thuyết danh mục đầu tư trên các phương diện quản lý rủi rodanh mục, đánh giá hiệu quả quỹ đầu tư, đo lường giá trị của chứng khoán
Mô hình định giá tài sản vốn là mô hình nhân tố đơn tuyến tính (đường thịtrường chứng khoán) liên quan đến thu nhập kỳ vọng của tài sản và danh mục đầu
Trang 12tư Hệ số góc đường thị trường chứng khoán được gọi là beta, đo lường rủi ro hệthống của tài sản Mặc dù còn nhiều tranh luận trong nghiên cứu và thực nghiệm vềgiá trị của mô hình định giá tài sản vốn, nhưng với sự đơn giản về mặc toán học, môhình này có thể lượng hóa nhanh mối quan hệ giữa thu nhập và rủi ro của tài sản vàvẫn là chuẩn mực chính trong định giá tài sản.
Ming-Hsiang Chen áp dụngmô hình định giá tài sản vốn trên bảy lĩnh vựcthuộc thị trường tài chínhĐài Loan Kết quả cho thấy mức độ hiệu quả về thựcnghiệm đáng khích lệ Mối quan hệ giữa thu nhập và rủi ro hệ thống (beta) củachứng khoán có ý nghĩa thống kê, các hệ số xác định của phép hồi quy khá cao.Puneet Handa, S.P.Kothari, and Charles Wasley xem xét, đánh giá mối quan hệgiữa thu nhập và rủi ro của chứng khoán qua mô hình định giá tài sản vốn Kết quảphản ánh mối quan hệ này khá nhạy cảm với khoảng thời gian quan sát dữ liệu,trong đó mô hình phù hợp với dữ liệu quan sát theo năm và không phù hợp với dữliệu quan sát theo tháng
Gabriel A.Hawawini khảo sát mối quan hệ giữa thu nhập và rủi ro của 200 chứngkhoán được giao dịch liên tục trên thị trường chứng khoán Bỉ Kết quả khẳng địnhđược vai trò khá tốt của mô hình định giá tài sản vốn trong định giá cổ phiếu phổthông niêm yết trên thị trường chứng khoán Bỉ
2.1.3 Đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư
Alfred Cowles là người tiên phong trong việc đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư,tuy nhiên Cowles chỉ quan tâm đến thu nhập mà bỏ qua rủi rocủa danh mục đầu tư
Lý thuyết danh mục đầu tư chỉ ra rằng, khi đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư cầnphải quan tâm đến cả thu nhập và rủi ro danh mục Những nghiên cứu về kỹ thuậtđánh giá hiệu quả danh mục đầu tư có xem xét đến cả thu nhập và rủi ro có thể kểđến như: hệ số Sharpe, hệ số Treynor, hệ số Jensen; Friend, Blume và Crockett’s.Mỗi nghiên cứu sử dụng thước đo rủi ro khác nhau: một số nhà nghiên cứu sử dụngrủi ro tổng thể (Sharpe, Friend, Blume và Crockett) các nhà nghiên cứu khác(Treynor, Jensen) lại sử dụng beta để đo lường rủi ro Trong khi Friend, Blume vàCrockett đánh giá hiệu quả của danh mục được quản lý dựa trên các danh mục
Trang 13không được quản lý có cùng mức rủi ro một cách ngẫu nhiên thì các nhà nghiên cứukhác sử dụng các mối liên kết giữa danh mục bấc kỳ với tài sản phi rủi ro nằm dọcđường thẳng trong không gian thu nhập kỳ vọng và beta hoặc thu nhập kỳ vọng và
độ lệch chuẩn để đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư
Tóm lại, trên cả giác độ lý thuyết lẫn thực nghiệm, việc xây dựng và quản lý danhmục đầu tư dựa vào lý thuyết danh mục hiện đại trên thế giới đã có quá trình pháttriển qua hàng thập kỷ Các công trình nghiên cứu có thể chia thành ba nhóm:Nhóm công trình liên quan đến định giá chứng khoán, ước lượng, tính toán các yếu
tố đầu vào cho việc xây dựng danh mục đầu tư; nhóm công trình liên quan đến xâydựng danh mục đầu tư hiệu quả, tối ưu; nhóm công trình liên quan đến đánh giáhiệu quả của danh mục đầu tư Đây là cơ sở rất tốt cho việc ứng dụng lý thuyết danhmục trong xây dựng và quản lý danh mục đầu tư vào thị trường chứng khoán ViệtNam mà nghiên cứu sinh đang thực hiện Lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz,
mô hình định giá tài sản vốn, hay các phương pháp đánh giá hiệu quả danh mục đầutư: Sharpe, Treynor, Jensen-những công cụ này đã khẳng định vai trò của nó đối vớiquá trình định giá, lựa chọn cổ phiếu đầu tư, xây dựng và đánh giá danh mục đầu tưtrong thực nghiệm dù đã có nhiều công trình nghiên cứu bổ sung và thay thế Dovậy, nghiên cứu sinh sử dụng các lý thuyết và mô hình này cho việc xây dựng vàquản lý danh mục đầu tư của luận án
2.2 Các công trình nghiên cứu và thực nghiệm trong nước
Việc nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đối với lý thuyết danh mục đầu tư trongnước như vừa đề cập trên đây là chưa nhiều Qua các báo, tạp chí, website, đặt biệt
là cơ sở dữ liệu toàn văn tài liệu khoa học công nghệ của Việt Nam do Trung tâmThông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia xây dựng và cập nhật từ năm 1987 đếnnay, dữ liệu tại thư viện của một số trường đại học, học viện, nghiên cứu sinh tổnghợp được một số công trình tiêu biểu liên quan đến xây dựng và quản lý danh mụcđầu tư:
Trang 142.2.1 Mô hình định giá tài sản vốn
Tác giả Nguyễn Thị Kim sử dụng mô hình định giá tài sản vốn tính hệ số beta vàothị trường chứng khoán Việt Nam Tuy nhiên,tác giả chỉ dừng lại ở góc độ ứngdụng mô hình định giá tài sản vốn tính hệ số beta của các chứng khoán niêm yếttrên thị trường chứng khoán Việt Nam Trong khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến tỷsuất sinh lời của cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịchChứng khoán Thành phố HồChí Minh, tác giả Phan Đình Nguyên và Hà Minh Phước đã sử dụng mô hình địnhgiá tài sản vốn kết hợp với mô hìnhmô hình ba nhân tố của Fama-French, mô hìnhCarhart.Tác giả Nguyễn Thị Hải Bình sử dụng mô hình định giá tài sản vốn để đánhgiá hiệu quả thị trường chứng khoán Việt Nam Tác giả Trương Đông Lộc và TrầnThị Hạnh Phúc đã kiểm định mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro của cổ phiếuniêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh dựa trên mô hìnhđịnh giá tài sản vốn Dữ liệu thực nghiệm là chỉ số HOSE và giá của 80 cổ phiếuniêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh từ 2/1/2007 đến31/12/2009, tần suất quan sát theo tuần Kết quả cho thấy mô hình định giá tài sảnvốn phù hợp với các cổ phiếu được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thànhphố Hồ Chí Minh Tác giả Bạch Đức Hiển với kết quả nghiên cứu ứng dụng môhình định giá tài sản vốn trên thị trường chứng khoán Việt Nam cho rằng mô hìnhnày hầu như chưa được vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam vì một số lý do Trên cơ
sở đó tác giả đã đưa ra một số kiến nghị để mô hình có thể được ứng dụng có hiệuquả trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Tác giả Nguyễn Anh Phong kiểm chứng
sự phù hợp của mô hình định giá tài sản vốn tại thị trường chứng khoán Việt Nam,tác giả dựa vào mô hình định giá tài sản vốn để tính hệ số beta của chứng khoán,quyết định lựa chọn cổ phiếu đầu tư tùy thuộc vào việc chấp nhận rủi ro của nhà đầu
tư, trên cơ sở đó xây dựng một vài danh mục đầu tư mô phỏng Qua kết quả kiểmchứng tác giả kết luận: tỷ suất sinh lợi và beta cổ phiếu có mối quan hệ tuyến tính,chỉ số beta có mối quan hệ dương đến tỷ suất sinh lợi Mô hình định giá tài sản vốnkhông ổn định do đó khó có thế sử dụng nó để đánh giá rủi ro cũng như dự báo suấtsinh lời của cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Tác giả VõThị Thúy Anh sử dụng mô hình định giá tài sản vốn để ước lượng hệ số beta như là
Trang 15thang đo rủi ro hệ thống của cổ phiếu các công ty trong các ngành dịch vụ tiêudùng, dịch vụ công cộng, công nghiệp và nông lâm thủy sản Tác giả Triệu KimLanhđã vận dụng các lý thuyết danh mục đầu tư trên thị trường chứng khoán ViệtNam, trong đó có vận dụngmô hình định giá tài sản vốn để tính toán thu nhập kỳvọng và rủi ro của danh mục đầu tư Tác giả Ngô Đăng Hoàng đã ứng dụng mô hìnhđịnh giá tài sản vốnđể xây dựng danh mục đầu tưtrên thị trường chứng khoán ViệtNam.Tác giả Lê Thị Mỹ Dung đã ứng dụng mô hình định giá tài sản vốn, mô hình
ba nhân tố Fama-French và mô hình bốn nhân tố Carhart định giá chứng khoán.Tuynhiên, nội dung liên quan đến mô hình định giá tài sản vốn tác giả chỉ điểm qua màchủ yếu tập trung vào việc phân tích ứng dụng hai mô hình còn lại
2.2.2 Lý thuyết danh mục đầu tư Harry Markowitz
Tác giả Võ Thị Thúy Anh đã ứng dụng lý thuyết trung bình-phương sai để lựa chọn
cổ phiếu thống trị Theo tác giả cổ phiếu thống trị hoặc danh mục thống trị là danhmục hiệu quả theo tiêu chuẩn lựa chọn danh mục đầu tư của Markowitz năm 1952
Dữ liệu tác giả sử dụng thực nghiệm là 3 năm (2009-2011) cho các cổ phiếu niêmyết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội từ31/12/2008 trở về trước.Tác giả Triệu Kim Lanh đã vận dụng các lý thuyết danhmục đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó tác giả sử dụng lýthuyết Markowitz để tính toán thu nhập kỳ vọng và rủi ro của danh mục đầu tư, tìm
tỷ trọng phân bổ tối ưu tài sản trong danh mục đầu tư Tác giả Ngô Đăng Hoàng đãứng dụng lý thuyết danh mục đầu tư Markowitzđể xây dựng danh mục đầu tư vớimong muốn tìm giải pháp lựa chọn danh mục đầu tư hiệu quả trên thị trường chứngkhoán Việt Nam.Tác giả Lê Quý đã kết hợp lý thuyết Markowitz với phân tíchchứng khoán theo cách tiếp cận Top-down để xây dựng danh mục đầu tư hiệu quảcho nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
2.2.3 Một số mô hình định giá chứng khoán khác
Tác giả Phan Đình Nguyên và Hà Minh Phước đã sử dụng mô hình ba nhân tố củaFama-French, mô hình Carhart để đánh giá các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lờicủa các cổ phiếu.Tác giả Phan Thị Bích Nguyệt trong nghiên cứu ứng dụng mô hình
Trang 16đa nhân tố quản lý danh mục đầu tư đã có nhận định: cần đưa bao nhiêu nhân tố vàđưa những nhân tố nào vào mô hình là vấn đề không dễ giải quyết Đưa nhiều nhân
tố vào mô hình không phải lúc nào cũng phù hợp và mức độ nhạy cảm của thịtrường đối với các sự kiện kinh tế hay các chỉ số kinh tế vĩ mô thường mang tínhtâm lý chủ quan của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam Do vậy, môhình tỷ suất sinh lợi hiện nay khó có thể áp dụng ngay để dự báo các khoản đầu tưchứng khoán trong thời gian tới.Tác giả Triệu Kim Lanh đã vận dụng các lý thuyếtdanh mục đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó tác giả sử dụng
mô hình chỉ số đơn để tính toán thu nhập kỳ vọng và rủi ro của danh mục đầu tư Tác giả Ngô Đăng Hoàng trong việc tìm giải pháp lựa chọn danh mục đầu tư hiệuquả trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã ứng dụng lý thuyết kinh doanh chênhlệch giá (APT) để xây dựng danh mục đầu tư.Tác giả Võ Tấn Lực nghiên cứu ứngdụng lý thuyết đầu tư tài chính hiện đại trong quản lý danh mục đầu tư trên thịtrường chứng khoán Việt Nam Tác giả Lê Thị Mỹ Dung đã ứng dụng mô hình banhân tố Fama-French và mô hình bốn nhân tố Carhart trong định giá chứngkhoán.Tác giả Phạm Ngọc Hải ứng dụng lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại xâydựng danh mục đầu tư tối ưu và quản trị danh mục đầu tư tối ưu Nguyễn Thị NhưTrang , vận dụng mô hình SIM để phân tích đầu tư chứng khoán
Như vậy các nhà nghiên cứu và thực nghiệm trong nước đã tiếp cận lý thuyết danhmục đầu tư hiện đại trong việc lựa chọn cổ phiếu đầu tư, xây dựng danh mục đầu tưchứng khoán Hầu hết các công trình tập trung vào việc ứng dụng, trong đó chủ yếu
sử dụng lý thuyết Markowitz, mô hình định giá tài sản vốn để xây dựng danh mụcđầu tư Bên cạnh đó, một số tác giả cũng đã nghiên cứu và thực nghiệm lựa chọn cổphiếu đầu tư với một số mô hình định giá chứng khoán: mô hinh chỉ số đơn, môhình Fama-French, Carhart
Tuy nhiên chưa có đề tài nào thực hiện đầy đủ việc ứng dụng lý thuyết danh mụcđầu tư hiện đại trong việc xây dựng và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán trênthị trường chứng khoán Việt Nam nhất là bước đánh giá hiệu quả (khả năng thựcthi) danh mục đầu tư làm cơ sở để điều chỉnh danh mục khi điều kiện đầu tư có sựthay đổi
Trang 17Mặc khác, khi sử dụng mô hình định giá tài sản vốn trong lựa chọn cổ phiếu hoặckiểm định sự phù hợp của mô hình định giá tài sản vốn trên thị trường chứng khoánViệt Nam, có tác giả sử dụng dữ liệu 3 năm, thực hiện quan sát theo tuần (TrươngĐông Lộc, Trần Thị Hạnh Phúc) kết luận mô hình phù hợp với các chứng khoángiao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, trong khi đó vớitần suất quan sát theo tháng tác giả Nguyễn Anh Phong lại có kết luận ngược lại.Tuy nhiên, trong bài viết của mình, tác giả Anh Phong chỉ sử dụng dữ liệu với tầnsuất quan sát theo tháng và do vậy số quan sát chưa đủ lớn nên có thể ảnh hưởngđến kết quả hồi quy Nên chăng cần tiến hành thực nghiệm với dữ liệu có tần suấtquan sát phong phú hơn như theo tuần và thậm chí theo ngày, trên nhiều thời lượngkhác nhau như 2 năm, 5 năm…
Với các luận văn, khi vận dụng mô hình định giá tài sản vốn, hầu hết các tác giả đãtính toán beta của chứng khoán mà không sử dụng phương pháp hồi quy để ướclượng nên kết quả tính toán không gắn với ý nghĩa thống kê, độ tin cậy Các đề tàihầu như chỉ sử dụng mô hình định giá tài sản vốn để xác định rủi ro hệ thống (beta)làm cơ sở để đưa ra quyết định đầu tư, không đề cập hoặc đề cập không sâu đến thunhập vượt trội so với thu nhập theo yêu cầu của mô hình
3 Mục đích nghiên cứu: Tìm giải pháp hoàn thiện, tăng hiệu quả quy trình quản trị
DMĐT tài chính nhằm tối thiểu hoá rủi ro gia tăng lợi nhuận và vị thế của VCBStrên thị trường trong nước và quốc tế
4 Đối tượng nghiên cứu: Quy trình quản trị DMĐT tài chính tại VCBS
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu và tìm được đối tượng nghiên cứu, đề tài
tự xác định cho mình những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản trị DMĐT tài chính tại VCBS
- Nghiên cứu, phân tích thực trạng quy trình hoạt động quản trị DMĐT tàichính tại VCBS từ năm 2014 -2016
- Đề xuất biện pháp hoàn quy trình quản trị DMĐT tại VCBS
Trang 186 Giả thuyết khoa học: Nếu tìm ra quy trình quản trị DMĐT tài chính phù hợp và
áp dụng một cách đồng bộ thì sẽ tăng hiệu quả đầu tư, hạn chế được rủi ro tronghoạt động đầu tư tài chính, gia tăng lợi nhuận và vị thế của VCBS trên thị trườngtrong nước và quốc tế
7 Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết, phân loại và hệthống hoá lý thuyết để đưa ra những lý luận chung về quản trị DMĐT tài chính; các
số liệu thực tế được trích dẫn, tổng hợp từ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,Báo cáo thường niên, Báo cáo quý qua các năm của VCBS, luận văn đánh giá thựctrạng quản trị DMĐT tài chính, đánh giá những thành tựu và kết quả đạt được, chỉ
ra những tồn tại, hạn chế trong quy trình quản trị DMĐT đang áp dụng để đưa racác nhóm giải pháp nhằm tăng cường năng lực quản trị DMĐT tại VCBS
8 Giới hạn của đề tài: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tìm ra giải pháp hoàn thiện
quy trình quản trị DMĐT trong thời gian từ năm 2012 đến 2016 và định hướng đến2020
9 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mụcchữ viết tắt, mục lục và các phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện ở bachương sau đây:
Chương I: Lý luận chung về quản trị DMĐT tài chính
Chương II: Thực trạng quản trị DMĐT tài chính tại VCBS
Chương III:Giải pháp hoàn thiện quy trình quản trị DMĐT tài chính tại VCBS
Trang 19CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ DANH MỤC ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH
1.1 Cơ sở lý luận về DMĐT tài chính
1.1.1 Khái niệm DMĐT tài chính:
Đầu tư là sự cam kết bỏ vốn trong hiện tại để thu được những khoản thu nhậplớn hơn trong tương lai nhằm bù đắp cho nhà đầu tư về thời gian vốn được bỏ ra, tỷ
lệ lạm phát dự đoán trong tương lai và sự không chắc chắn của dòng thu nhập trongtương lai
Xét trên góc độ khác đầu tư là một khoản chi phí bỏ ra vào một thời điểmnào đó với kỳ vọng tạo ra các dòng tiền trong tương lai.Những dòng tiền đó được
kỳ vọng là đủ để bù đắp những chi phí cơ hội của quỹ và rủi ro mà người đầu tưphải chịu.Chi phí cơ hội của quỹ tiền là những gì đáng lẽ nhà đầu tư có thể thu về từnhững khoản đầu tư có rủi ro tương tự Chi phí này còn được gọi là lợi suất yêu cầu
vì đây là lợi suất tối thiểu bù đắp cho nhà đầu tư vì sự hy sinh những gì đáng lẽ họ
đã có thể làm với các dự án khác
Như vậy đầu tư tài chính được hiểu như sau: Là sự bỏ vốn trong hiện tại đểđầu tư vào các tài sản tài chính trên thị trường tài chính với kỳ vọng thu sẽ thu vềdòng tiền lớn hơn trong tương lai nhằm bù đắp cho nhà đầu tư giá trị thời gian củatiền, tỷ lệ lạm phát dự đoán trong tương lai
DMĐT tài chính:
DMĐT tài chính là tập hợp các tài sản tài chính được nhà đầu tư lựa chọnvào DMĐT, mỗi tài sản được phân bổ tỷ lệ vốn hợp lý theo chiến lược đầu tư đượcphân tích hết sức kỹ lưỡng và cẩn thận DMĐTđược thực hiện với kỳ vọng thu vềlợi nhuận, mức lợi nhuận kỳ vọng này liên quan trực tiếp tới rủi ro dự kiến củakhoản đầu tư đó
Đầu tư theo DMĐT có thể bao trùm nhiều loại tài sản khác nhau như cổphiếu, trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, tín phiếu kho bạc, quỹ đầu tưbất động sản (REITs), quỹ ETFs, quỹ tương hỗ và chứng chỉ tiền gửi Đầu tư theo
Trang 20DMĐT cũng có thể bao gồm các lựa chọn, các công cụ tài chính phái sinh nhưchứng quyền và hợp đồng tương lai.
Cơ cấu đầu tư vào DMĐT phụ thuộc vào một số yếu tố.Trong đó yếu tố quantrọng nhất gồm khả năng chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư, mức độ đầu tư và số tiềnđầu tư Đối với một nhà đầu tư có số vốn hạn hẹp, quỹ tương hỗ hoặc quỹ giao dịch
có thể là DMĐT phù hợp.Đối với cá nhân có sức mạnh tài chính, DMĐT có thể baogồm cổ phiếu, trái phiếu, các tài sản tài chính hoặc các tài sản hữu hình khác
Để làm rõ khái niệm về danh mục tài sản tài chính chúng ta cần làm rõ: Tàisản tài chính là gì?
1.1.2 Tài sản tài chính
Trên thị trường tài chính có rất nhiều các tài sản tài chính được phát hành vàlưu thông để phục vụ nhu cầu giao dịch của hệ thống tài chính đảm bảo tính thanhkhoản, luân chuyển các khoản vốn từ nơi dư thừa vốn đến nơi thiếu vốn.Tài sản tàichính bao gồm nhóm các tài sản nợ ngắn hạn, tài sản nợ dài hạn, tài sản vốn
1.1.2.1 Các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường:
Các công cụ nợ tài chính ngắn hạn được giao dịch trên thị trường tiền tệ,chúng có tính thanh khoản cao và độ rủi ro thấp, lãi suất thấp Chúng bao gồm cáctài sản sau:
A Tín phiếu kho bạc (T-Bill)
Là giấy nhận nợ ngắn hạn do KBNN phát hành nhằm bù đắp thiếu hụt ngânsách nhà nước tạm thời Tín phiếu kho bạc có độ rủi ro thấp nhất, tính thanh khoảncao, mức lãi suất thấp Tín phiếu kho bạc được phát hành dưới hình thức chiết khấu,khi phát hành bán với mức giá thấp hơn mệnh giá khi đáo hạn thì thanh toán theogiá ghi trên tín phiếu Thông thường ta coi lãi suất tín phiếu khi bạc là lãi suất phi
rủi ro trong phân tích tài chính.(Giáo trình Đầu tư tài chính TS Võ Thị Thuý Anh
Tr29)
Trang 21B Chứng chỉ tiền gửi (Certificate of Deposit)
Là công cụ vay nợ do NHTM phát hành, cam kết trả lãi định kỳ cho khoản tiền gửi
và sẽ hoàn trả vốn gốc( gọi là mệnh giá ) cho người gửi tiền khi đến hạn (Giáo
trình Tài chính tiền tệ GS.TS Nguyễn Văn Tiến,Tr 229)
C Thương phiếu
Là những giấy nhận nợ do các công ty có uy tín phát hành để vay vốn ngắn hạn từthị trường tài chính Thương phiếu được phát hành theo hình thức chiết khấu.(Giáotrình Tài chính tiền tệ GS.TS Nguyễn Văn Tiến,Tr 230) Thương phiếu có rủi ro caohơn tín phiếu kho bạc nhưng mức lãi suất chiết khấu cũng cao hơn
D Chấp phiếu ngân hàng (Banker’s Acceptance)
Bắt đầu như một lệnh thanh toán gửi cho ngân hàng từ một khách hàng của ngânhàng, yêu cầu ngân hàng chi trả một số tiền vào một ngày trong tương lai, thườngtrong vòng 6 tháng.Trong giai đoạn này, hối phiếu có ngân hàng chấp nhận cũnggiống như một tấm séc đề lùi ngày thanh toán về sau.Khi ngân hàng ký hậu vàolệnh thanh toán này là chấp nhận thanh toán, ngân hàng nhận trách nhiệm thanhtoán tối hậu cho người giữ hối phiếu có ngân hàng chấp nhận.Đến lúc này, hối phiếu
có ngân hàng chấp nhận có thể được mua bán trên thị trường thứ cấp như nhữngquyền hưởng lợi khác đối với ngân hàng Hối phiếu có ngân hàng chấp nhận đượcxem là những tài sản rất an toàn, vì nó cho phép người giao dịch thay thế vị thế tíndụng của ngân hàng cho vị thế của riêng họ Hối phiếu có ngân hàng chấp nhậnđược sử dụng rộng rãi trong giao dịch nước ngoài trong những trường hợp một đốitác giao dịch không biết rõ về uy tín tín dụng của đối tác kia Hối phiếu có ngânhàng chấp nhận được bán với giá thấp hơn mệnh giá của lệnh thanh toán, cũng
giống như tín phiếu kho bạc được bán với giá thấp hơn mệnh giá .(Giáo trình Đầu
tư tài chính TS Võ Thị Thuý Anh Tr29)
E Hợp đồng mua lại (Repo) và hợp đồng mua lại nghịch đảo
Là hợp đồng trong đó ngân hàng bán một lượng tín phiếu kho bạc mà họđang nắm giữ kèm theo điều khoản mua lại số tín phiếu đó sau một vài ngày haymột vài tuần với mức giá cao hơn Về bản chất thì đây là công cụ vay nợ ngắn hạn
Trang 22( thường không quá hai tuần ) của các ngân hàng trong đó sử dụng tín phiếu kho bạclàm vật thế chấp.
Các nhà buôn chứng khoán chính phủ sử dụng hợp đồng mua lại, còn gọi làrepo, hay RP, như một hình thức vay mượn ngắn hạn, thường là qua đêm Nhà buôn
sẽ bán chứng khoán cho một nhà đầu tư trên cơ sở qua đêm, với thỏa thuận sẽ mualại chứng khoán này vào ngày hôm sau với giá hơi cao hơn Mức tăng giá là lãi suấtqua đêm Như vậy, nhà buôn vay từ nhà đầu tư một khoản vay trong mộtngày.Chứng khoán đóng vai trò như tài sản thế chấp cho khoản vay.Hợp đồng mualại có kỳ hạn thực chất là một giao dịch tương tự, ngoại trừ thời hạn ngầm ẩn củakhoản vay có thể là 30 ngày hay lâu hơn Các hợp đồng mua lại được xem là rất antoàn về rủi ro tín dụng vì khoản vay được bảo đảm bằng chứng khoán chính phủ.Hợp đồng mua lại nghịch đảo là một thỏa thuận trái ngược với repo.Ở đây, nhàbuôn chứng khoán tìm một nhà đầu tư đang giữ chứng khoán chính phủ và muachứng khoán đó với thỏa thuận sẽ bán lại với mức giá định trước cao hơn vào mộtngày tương lai
F Đô là châu Âu ( EURO DOLLARS)
Những đồng đô là Mỹ do các ngân hàng ngoại quốc ở bên ngoài nước Mỹhoặc có chi nhánh của ngân hàng Mỹ ở ngoại quốc nắm giữ được gọi là đô la châu Âu
1.1.2.2 Các công cụ nợ dài hạn trên thị trường
Trái phiếu (Bonds )
Trái phiếu là chứng thư xác nhận một khoản nợ của người phát hành, trong
đó cam kết sẽ trả khoản nợ kèm với tiền lãi trong một thời hạn nhất định theo lãisuất ghi trên cuống phiếu, thường trả lãi định kỳ Mệnh giá của trái phiếu là khoảntiền người phát hành phải trả khi đáo hạn
Theo Luật Chứng khoán Việt Nam: Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhậnquyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chứcphát hành
Trang 23Thị trường trái phiếu bao gồm các công cụ vay mượn dài hạn hay các công
cụ nợ dài hạn hơn so với các giao dịch trên thị trường tiền tệ.Thị trường này baogồm trái phiếu kho bạc trung hạn và dài hạn, trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị,chứng khoán nợ thế chấp bất động sản, và nợ cơ quan liên bang Các công cụ nàyđôi khi còn được gọi là những công cụ tạo thành thị trường vốn có thu nhập cố định,
vì hầu hết chúng cam kết một dòng thu nhập cố định hay một dòng thu nhập đượcxác định căn cứ vào một công thức cụ thể Trên thực tế, các công thức này có thểdẫn đến một dòng thu nhập không cố định ta gọi các chứng khoán này là các công
cụ nợ hay trái phiếu
Trái phiếu được phát hành rộng rãi trên thị trường, để phân loại chúng cáchphổ biến nhất là căn cứ vào chủ thể phát hành vì khả năng thanh toán gốc và lãi củatrái phiếu phụ thuộc vào uy tín của tổ chức phát hành Với cách phân loại này ta cóthể phân chia trái phiếu thành ba loại chủ yếu sau:
A Trái phiếu chính phủ (Govement bond)
“Là trái phiếu do chính phủ phát hành nhằm mục đích bù đắp thiếu hụt ngânsách, tài trợ cho các công trình phúc lợi xã hội trung ương và địa phương hoặc làm
công cụ điều tiết tiền tệ”(Giáo trình Tài chính học TS Mai Thu Quế Tr92) Đặc
điểm của trái phiếu chính phủ là rủi ro thanh toán thấp nhất trên thị trường, tínhthanh khoản cao nhất khi so sánh với các loại trái phiếu khác Trái phiếu chính phủ
có hai loại sau:
Trái phiếu kho bạc (Treasury bonds):
Do Kho bạc thay mặt Chính phủ phát hành để huy động vốn dài hạn nhằm tàitrợ cho chi tiêu ngân sách Nhà nước Ở Mỹ trái phiếu kho bạc có hai loại làTreasury note với thời hạn trên một năm và không quá mười năm và Treasury bondvới thời hạn trên 10 năm
Công trái nhà nước (State bonds):
Là loại trái phiếu dài hạn đặc biệt, được phát hành từng đợt, không thườngxuyên mặc dù lãi suất thấp nhưng không phải chịu thuế Ở Việt Nam công trái nàyđược phát hành không phải nhằm bù đắp thâm hụt ngân sách mà để đầu tư vào các
Trang 24dự án, công trình phục vụ cho các lợi ích chung của cả xã hội vì vậy nên có tên gọi
là Công trái xây dựng tổ quốc Ví dụ như công trái Giáo dục được phát hành năm
2005 có lãi suất 8,2%/năm có thời hạn 5 năm
B.Trái phiếu chính quyền địa phương(Municipal bond)
“Đây là trái phiếu được các chính quyền địa phương phát hành để huy độngvốn cho các mục đích cụ thể, thường là để xây dựng cơ sở hạ tầng cơ sở phúc lợi xã
hội của địa phương.” ”(Giáo trình Tài chính học TS Mai Thu Quế Tr92) Ví dụ như
trái phiếu phát triển đô thị do UBND TP Hồ Chí Minh phát hành, trái phiếu nàytiềm ẩn rủi ro thanh toán tuỳ theo từng địa phương mà mức độ rủi ro cũng khácnhau
C.Trái phiếu công ty (Corporate bond):
Đây là trái phiếu do các công ty phát hành với mục đích tài trợ dài hạn chocác nhu cầu tăng vốn của công ty Các trái phiếu công ty có quy mô giao dịch nhỏhơn các trái phiếu chính phủ, và trái phiếu địa phương do vậy tính lỏng của chúngkém hơn
1.1.2.3 Các tài sản vốn ( Equity Instruments)
Là công cụ tài chính được phát hành rộng rãi trên thị trường phản ánh sự chia
sẻ quyền sở hữu của chủ thể phát hành với người sở hữu.Khác với các tài sản trênthị trường tiền tệ, các tài sản vốn có tính thanh khoản thấp hơn, mức biến động giámạnh hơn tuy nhiên lợi suất cao hơn
Theo luật chứng khoán Việt Nam: Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhậnquyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với phần vốn cổ phần của tổ chứcphát hành
Bản chất cổ phiếu là một công cụ góp vốn do các công ty cổ phần phát hành
ra thị trường, người nắm giữ cổ phiếu được gọi là cổ đông, cổ đông có quyền cơ bảnđối với công ty như quyền tham gia quản lý công ty, quyền được nhận lợi nhuậnròng sau thuế
Trang 25A Cổ phiếu phổ thông (Common Stock)
Cổ phiếu phổ thông có đầy đủ các đặc trưng đã nêu trên của cổ phiếu, đó là: Không quy định trước số cổ tức mà cổ đông sẽ nhận được Giá trị cổ tức nhiều hay
ít phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty và kế hoạch chia lợi nhuận của Hội ĐồngQuản Trị Nguyên tác của cổ đông là “ lời ăn, lỗ chịu ”
Cổ phiếu chỉ được chia lãi sau khi công ty đã thanh toán lãi cho những chủ
nợ và cổ phiếu ưu đãi Lợi nhuận công ty thu được trước tiên dùng để trả lãi tiềnvay, tiếp theo là trả cổ tức của cổ phiếu ưu đãi, cuối cùng còn lại mới chia cho các
cổ đông cổ phiếu thường.Thời hạn cổ phiếu là vô hạn
Được hưởng quyền tham gia quản lý công ty cùng các quyền khác nhằm duytrì quyền quản lý công ty như: quyền bầu cử, quyền ứng cử vào Hội đồng quản trị,quyền ưu tiên mua trước với giá ưu đãi các cổ phiếu mới phát hành
B Cổ phiếu ưu đãi ( Preferred Stock )
Là loại cổ phiếu cho phép người nắm giữ cổ phiếu được hưởng một số ưu đãihơn so với cổ phiếu phổ thông như:Được hưởng mức cổ tức riêng biệt có tính cốđịnh hàng năm.Được ưu tiên chia lãi cổ phần trước cổ phiếu thường.chia tài sản cònlại của công ty khi thanh lý, giải thể
C Chứng chỉ quỹ
Là chứng khoán được phát hành bởi các Quỹ xác nhận quyền sở hữu của nhàđầu tư đối với phần vốn góp vào Quỹ Ví dụ như CCQ của VCBF,VCBS
1.1.2.4 Chứng khoán phái sinh
Sự phát triển đáng kể của thị trường tài chính trong những năm gần đây là sựtăng trưởng của các thị trường hợp đồng tương lai và quyền chọn Các hợp đồngtương lai và quyền chọn mang lại kết quả đầu tư phụ thuộc vào giá trị của những tàisản khác, như giá hàng hóa, giá trái phiếu và cổ phiếu, hay giá trị chỉ số thị trường
Vì lý do này, các công cụ này đôi khi còn được gọi là các tài sản phái sinh hay cácquyền hưởng lợi phụ thuộc Giá trị của chúng phát sinh từ giá trị của các tài sảnkhác hay phụ thuộc vào giá trị các tài sản khác
Trang 261.1.3 Khái niệm quản trị DMĐT tài chính
a) Khái niệm quản trịDMĐT tài chính:
Quản trị DMĐT tài chính là một tập hợp các bước không thể tách rời tạo lâp vàduy trì một DMĐT( sự kết hợp các tài sản ) để đáp ứng các mục tiêu của kháchhàng
Với mỗi nhà đầu tư khác nhau lại có những mục tiêu khác nhau, nhưng nhìnchung luôn phải cân nhắc mối tương quan rủi ro và lợi suất đầu tư, thời hạn đầu tư
Có nhà đầu tư đặt vấn đề rủi ro cao hơn lợi suất họ sẽ đặt ra mục tiêu tối đa hoá lợisuất ứng với mức rủi ro có thể chấp nhận.Nhà đầu tư khác lại đặt coi trọng lợi suấthơn rủi ro và họ sẽ đặt mục tiêu tối thiểu hoá rủi ro ứng với mức lợi suất nhấtđịnh.Quản trị DMĐT tốt sẽ giúp họ đạt được những mục tiêu đó
b) Khái niệm quản trị DMĐTtài chính của CTCK
Đối tượng áp dụng nghiệp vụ quản trị DMĐT tài chính là các chủ thể đầu tư.Trên thị trường có nhiều chủ thể đầu tư, bao gồm: các nhà đầu tư cá nhân, các quỹđầu tư tài chính và các công ty quản lý quỹ; các công ty bảo hiểm nhân thọ và phinhân thọ; các NHTM, các CTCK Với mục đích là tự doanh và cung cấp dịch vụquản trị DMĐT
Khi thực hiện quản trị DMĐT cho khách hàng, đối với các công ty quản lý
quỹ DMĐT có thể bao gồm tất cả các loại tài sản (như đã trình bày ở mục 1.1.2).
Tuy nhiên đối với các CTCKDMĐTtài chính chỉ gồm các loại chứng khoán màthôi
Trong Luận này, đối tượng nghiên cứu là quy trình quản trị DMĐT tài chính của CTCK Vietcombank.Quy trình quản trị DMĐT tài chính sử dụng cho hoạt động
tự doanh và hoạt động uỷ thác đầu tư tại VCBS.
1.1.4.Vai trò việc quản trị DMĐT
1.1.4.1.Đối với nhà đầu tư:
Mỗi chứng khoán luôn chứa đựng rủi ro mang tính chất cá biệt của công tyhay rủi ro phi hệ thống Những rủi ro này chỉ có thể loại giảm thiểu thậm chí loại bỏ
Trang 27nếu như thực hiện đa dạng hoá đầu tư hiệu quả Tuy nhiên để thực hiện đa dạng hóađầu tư hiệu quả không phải chuyện đơn giản, công việc này đòi hỏi người quản lýphải nắm vững các lý thuyết cơ bản về quản trị DMĐT, vốn đã vô cùng phức tạp,ngoài ra còn phải có khả năng nắm bắt, kinh nghiệm phân tích xử lý thông tin và raquyết định đầu tư đúng đắn Một nhà đầu tư thông thường khó có thể hội tụ đủnhững đòi hỏi trên để thực hiện tốt việc quản trị DMĐT.
Công ty chứng khoán với đội ngũ các chuyên gia chuyên thực hiện nghiệp vụ nàymới có thể đem lại hiệu quả cao nhất cho nhà đầu tư dù họ chưa đủ kiến thức, kinhnghiệm, thời gian để trực tiếp tham gia kinh doanh trên thị trường chứng khoán vẫn
có tham gia một cách gián tiếp qua nghiệp vụ này
Hơn nữa việc đa dạng hoá DMĐT còn đòi hỏi một lượng vốn đủ lớn mà nhàđầu tư nhỏ lẻ với số vốn ít ỏi không thể thực hiện được Các CTCK với nghiệp vụquản trị DMĐT có thể tập hợp các nguồn vốn nhỏ lẻ để tận dụng lợi thế về quy mô.Một lợi ích khác phải kể đến là: So với các quỹ và công ty quản lý quỹ khi thựchiện nghiệp vụ quản trị DMĐT các Công ty chứng khoán còn có một số lợi thế khácnhư sau:
- Khi khách hàng ký hợp đồng quản trị DMĐT với CTCK họ sẽ không phải trả phígiao dịch Trong trường hợp giao dịch với khối lượng lớn thì điều này sẽ đem lạimột lợi ích không nhỏ cho nhà đầu tư
- Trong trường hợp CTCK mua chứng khoán cho tài khoản uỷ thác của khách hàngthì khách hàng vẫn trực tiếp là người sở hữu chứng khoán đó cho nên khách hàng sẽđược hưởng quyền lợi trực tiếp từ các chứng khoán đó đặc biệt là quyền biểu quyết,tham gia hội đồng quản trị công ty…
1.1.4.2 Đối với thị trường chứng khoán:
Người dân nào khi có tiền nhàn rỗi họ cũng muốn tìm cách cho khoản tiềnsinh lợi Tuy nhiên nhiều khi họ vẫn phải để trong két hoặc gửi ngân hàng với mứclãi suất không đáng kể mà không tham gia thị trường chứng khoán mặc dù họ khôngtìm ra bất kỳ một hình thức đầu tư nào khác Có rất nhiều lý do khiến họ không trựctiếp tham gia thị trường chứng khoán như: không đủ kinh nghiệm, kiến thức, lượng
Trang 28vốn nhàn rỗi không đủ lớn CTCK với tư cách là nhà cung cấp dịch vụ quản trịDMĐT sẽ phải tìm cách giải quyết những vấn đề trên mà nhà đầu tư gặp phảicũng như thoả mãn tốt nhất nhu cầu của họ Trong nỗ lực đó CTCK đồng thời cũng
đã thu hút nhà đầu tư tham gia thị trường giúp thị trường chứng khoán thực hiệnđược vai trò là một kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư cá nhân tham gia đầu thị trường chứng khoán nhiều khikhông đủ điều kiện đánh giá đúng giá trị thực tế của chứng khoán hay của các công
ty phát hành Nhiều khi các công ty làm ăn tốt, có những dự án có khả năng sinh lờicao trong tương lai thì việc huy động vốn qua thị trường chứng khoán lại gặp khókhăn Các CTCK có cả một chuyên gia tài chính chuyên làm những công việc này
có thể đánh giá một cách chính xác hơn, làm cho giá chứng khoán phản ánh đúnggiá trị thực của nó hay giá trị thực của công ty Những công ty làm ăn không tốt giáchứng khoán sẽ giảm, còn đối với những công ty làm ăn tốt giá chứng khoán sẽtăng Như vậy CTCK khi thực hiện nghiệp vụ quản trị DMĐT sẽ giúp cho thịtrường chứng khoán trở thành một "phong vũ biểu của nền kinh tế"
CTCK khi thực hiện nghiệp vụ quản trị DMĐT sẽ nâng cao vai trò của các tổchức tài chính trung gian đối với thị trường chứng khoán Điều này sẽ giúp nângcao chất lượng thị trường, tạo ra một thị trường chứng khoán phát triển ổn định
1.2 Cơ sở lý thuyết quản trị DMĐT tài chính hiện đại
1.2.1 Lý thuyết về thị trường hiệu quả
Lý thuyết thị trường có hiệu quả được bắt nguồn từ kết quả nghiên cứu củaMaurice Kendall năm 1953, ông cho rằng giá cổ phiếu thay đổi ngẫu nhiên, không
có quy luật và không thể dự đoán được
Trên cơ sở này, người ta đưa ra Giả thuyết thị trường hiệu quả (EfficientMarket Hypothesis - EMH) như sau: thị trường hiệu quả là thị trường mà tại đó giáchứng khoán đã ngay lập tức phản ánh toàn bộ thông tin trên thị trường Do đó giáchứng khoán thay đổi ngẫu nhiên không thể dự đoán được
Không thể dự đoán được giá chứng khoán vì giá chứng khoán phụ thuộc cácthông tin mới trên thị trường Các thông tin mới này cũng không thể dự đoán được,
Trang 29vì nếu có thể dự đoán được thì ngay lập tức đã được phản ánh trên thị trường Dovậy giá chứng khoán biến động dựa vào các thông tin mới (không dự đoán được)cũng biến động theo chiều hướng không dự đoán được.
Thông thường, dựa trên sự khác nhau của khái niệm “tất cả thông tin” trênthị trường được phản ánh vào giá chứng khoán, người ta phân ra ba cấp độ củaEMH
EMH cấp thấp: giả định rằng thông tin trong quá khứ về giao dịch của thị
trường như khối lượng giao dịch, giá cả chứng khoán được công bố rộng rãi vàkhông mất tiền mua Nếu những số liệu này có thể đưa ra các dấu hiệu tin cậy về xuthế giá chứng khoán trong tương lai, thì tất cả các nhà đầu tư đã sử dụng dấu hiệunày Do đó giá cả chứng khoán đã phản ánh đầy đủ, kịp thời các thông tin trong quákhứ về giao dịch của thị trường Khi tồn tại EMH cấp độ này thì việc phân tích kỹthuật trở nên vô hiệu hóa
EMH cấp trung: khi thị trường ở mức độ hiệu quả này, tất cả các thôngtin
liên quan đến triển vọng phát triển công ty luôn được phản ánh đầy đủ, kịp thời quacác nguồn thông tin công cộng như internet, báo chí, ti vi, đài phát thanh…Do đógiá cả chứng khoán cũng phản ánh đầy đủ và kịp thời những thông tin này
EMH cấp cao: mọi thông tin liên quan đến công ty bao gồm thông tin trong
quá khứ, hiện tại và ảnh hưởng đến triển vọng phát triển trong tương lai của công tyđều được công khai và ngay lập tức được phản ánh qua thị giá chứng khoán Đây làcấp độ hiệu quả lý tưởng và chắc là không bao giờ có được
- Nhân viên đáp ứng được năng lực phù hợp để thực hiện quản trị danh mục
Trang 30- Tất cả các quản trị viên DMĐT đều được xác định từ trước.
- Trong tổ chức có một bộ công cụ chuẩn áp dụng cho việc quản trị đầu tư
1.2.3 Rủi ro và lợi nhuận trong đầu tư tài chính
1.2.3.1 Rủi ro đầu tư (Risk object )
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro và sự không chắc chắn,nhưng trong hầu hết các tài liệu tài chính hai thuật ngữ này được sử dụng thay thếcho nhau.Có thể định nghĩa rủi ro là kết quả không chắc chắn trong tương lai.Mộtđịnh nghĩa khác đó là khả năng thiệt hại
Các rủi ro trong hoạt động đầu tư
Trong hoạt động đầu tư tài chính có nhiều nhân tố rủi ro, xét theo bản chất có thểphân ra các rủi ro sau:
A Rủi ro kinh doanh (Business risk)
Là sự không chắc chắn của dòng thu nhập xuất phát từ hoạt động kinh doanh củacông ty Dòng thu nhập của công ty càng ít chắc chắn bao nhiêu thì tỷ suất lợi tức
càng ít chắc chắn bấy nhiêu.(Giáo trình Đầu tư tài chính TS Võ Thị Thuý Anh
Tr49).
B Rủi ro tài chính (Financial risk)
Rủi ro tài chính là rủi ro đối với cổ đông khi công ty tăng nợ, khi tăng nợ thì chi
phí trả nợ cũng tăng theo dẫn đến thu nhập trả cho nhà đầu tư cũng giảm đi (Giáo
trình Đầu tư tài chính TS Võ Thị Thuý Anh Tr49).
C Rủi ro thanh khoản (Liquidity risk)
Rủi ro thanh khoản là khả năng không chắc chắn khi bán một khoản đầu tư do
khả năng thanh khoản của thị trường thứ cấp.(Giáo trình Đầu tư tài chính TS Võ
Thị Thuý Anh Tr51).
Khi nhà đầu tư nắm giữ một tài sản, anh ta mong đợi rằng tài sản đầu tư này sẽđáo hạn đúng kỳ hạn thanh toán hoặc có khả năng chuyển nhượng trên thị trường.Trong mỗi trường hợp trên, nhà đầu tư kỳ vọng có thể chuyển đổi chứng khoán nắm
Trang 31giữ thành tiền mặt và sử dụng tiền thu được đáp ứng cho các nhu cầu của nhà đầu
tư Khả năng chuyển đổi thành tiền gọi là tính thanh khoản của tài sản càng khókhăn thì rủi ro thanh khoản càng lớn, nhà đầu tư cần xem xét hai vấn đề khi đánhgiá rủi ro thanh khoản của một tài sản đầu tư:
- Mất bao lâu để chuyển đổi tài sản này thành tiền mặt?
- Sự chắc chắn của giá trị nhận được?\
D Rủi ro tỷ giá (Exchange rate risk)
Là sự không chắc chắn của dòng thu nhập đối với nhà đầu tư khi nắm giữ chứngkhoán bằng ngoại tệ Khả năng ghánh chịu rủi ro tỷ giá ngày càng phổ biến cùngvới việc nhà đầu tư đang tăng cường hoạt động mua bán tài sản trên thị trường quốc
tế Một nhà đầu tư Mỹ mua chứng khoán của Việt Nam( bằng đồng Việt Nam ) phảixem xét không chỉ ở phần lợi tức không chắc chắn bằng đồng Việt Nam mà cònphải xem xét bất kỳ sự thay đổi về tỷ giá giữa hai đồng tiền, đồng Việt Nam và đồngđôla Mỹ Nghĩa là ngoài việc phải xem xét hoạt động kinh doanh và rủi ro tài chínhcủa công ty nước ngoài, cũng như rủi ro thanh khoản của chứng khoán, nhà đầu tưphải xem xét thêm sự không chắc chắn của lợi tức của chứng khoán Việt Nam khi
nó được chuyển đổi từ đồng Việt Nam sang đồng đôla Mỹ
E Rủi ro chính trị ( Political risk)
Là sự không chắc chắn của dòng lợi tức nhận được khi có những biến động lớntrong môi trường chính trị hoặc kinh tế - xã hội ở một quốc gia
F Rủi ro lãi suất ( Rate rick )
Là rủi ro bị giảm giá các công cụ nợ đang nắm giữ khi lãi suất thị trường thay
đổi .(Giáo trình Đầu tư tài chính TS Võ Thị Thuý Anh Tr51).
Giá của trái phiếu tỷ lệ nghịch với lãi suất thị trường, khi lãi suất thị trường tăng thìgiá trái phiếu giảm và lãi suất thị trường giảm thì giá trái phiếu sẽ tăng Khi nhà đầu
tư bán trái phiếu trước hạn trong điều kiện lãi suất thị trường tăng, nhà đầu tư sẽ bị
lỗ do giá trị của trái phiếu thấp hơn mệnh giá Tất cả các công cụ nợ dài hạn ( trừcông cụ có lãi suất thả nổi ) đều chịu rủi ro lãi suất
Trang 32G Rủi ro tín dụng ( Credit rick)
Là rủi ro mà tổ chức phát hành trái phiếu có thể vỡ nợ, mất khả năng thanh toán
đúng hạn các khoản lãi và gốc của đợt phát hành .(Giáo trình Đầu tư tài chính TS
Võ Thị Thuý Anh Tr51).Trái phiếu chính phủ được coi là gần như không có rủi ro tín
dụng Trái phiếu các công ty khác nhau có mức độ rủi ro tín dụng là khác nhau tuỳtheo uy tín, đánh giá trên bảng xếp hạng tín nhiệm tín dụng
H Rủi ro phi hệ thống và rủi ro hệ thống
Bên cạnh việc đánh giá và phân loại rủi ro theo bản chất hình thành ở trên, tronghoạt động đầu tư có thể khái quát hoá chia rủi ro đầu tư thành rủi ro phi hệ thống vàrủi ro hệ thống
- Rủi ro phi hệ thống: Là kết quả của những biến cố ngẫu nhiên và chỉ ảnh hưởngđến một công ty hay một ngành nào đó Các yếu tố này có thể là những biến động
về lực lượng lao động, năng lực quản trị, kiên tụng hay chính sách điều tiết củachính phủ Rủi ro phi hệ thống được phân tán bằng cách xây dựng một DMĐT đa
dạng .(Giáo trình Đầu tư tài chính TS Võ Thị Thuý Anh Tr52).
- Rủi ro hệ thống: Là những sự cố xảy ra trong quá trình vận hành của nền kinh tếhoặc những sự cố xảy ra ngoài hệ thống nhưng lại tác động đến phần lớn hệ thống.Những nhân tố rủi ro hệ thống này gây ảnh hưởng tới hầu hết các chứng khoán vàkhông thể phân tán rủi ro bằng cách đa dạng hoá DMĐT Có thể kể đến các nhân tố
như: (Giáo trình Đầu tư tài chính TS Võ Thị Thuý Anh Tr52).
- Sự biến động ngoài dự kiến về lạm phát, lãi suất: Những gì nằm trong kỳ vọngnhư lạm phát kỳ vọng, lãi suất kỳ vọng được các nhà đầu tư đưa vào hành vi vàđược tính toán vào giá nếu lạm phát hay lãi suất thực tế nằm trong dự kiến thìkhông có tác động đến giá chứng khoán Chỉ khi lạm phát , lãi suất biến động ngoài
dự kiến mới tạo ra sự biến động đến giá chứng khoán và tác động tới tỷ suất kỳvọng
- Sự thay đổi của chính sách tiền tệ của Chính phủ: Tuỳ theo mục tiêu điều hành củaChính phủ mà các chính sách tiền tệ sẽ thay đổi, điều này sẽ tác động mạnh tới giácủa hầu hết các chứng khoán trên thị trường
Trang 33- Chu kỳ kinh tế: Trong chu kỳ tăng trưởng kinh tế thì giá chứng khoán có xu hướngtăng lên và ngược lại, khi nền kinh tế trong chu kỳ suy thoái thì giá chứng khoán có
xu hướng giảm
1.2.3.2 Cách thức đo lường và phân tán rủi ro
Trong hoạt động đầu tư xác định các nhân tố rủi ro và đo lường chúng là một vấn đềquan trọng, có một số phương pháp tiếp cận để đo lường rủi ro Trong thực tiễn rủi
ro có thể tính theo các giá trị tuyệt đối hoặc tương đối so với các khái niệm rủi rokhác nhau Đo các mục tiêu rủi ro tuyệt đối là sai lệch của tổng lợi nhuận (độ lệchchuẩn ) Độ lệch chuẩn là căn bậc hai của phương sai Đây là thước đo độ phân táncủa tỷ suất lợi tức quanh giá trị kỳ vọng (giá trị trung bình) của biến ngẫu nhiên.Theo dõi rủi ro (Tracking risk ) là độ lệch chuẩn giữa tổng lợi nhuận của DMĐT sovới tổng lợi nhuận mục tiêu
Rủi ro của DMĐT:
Hiệp phương sai (COV)
Trong đầu tư tài chính, rủi ro là sự không chắc chắn về thu nhập mà nhà đầu tư kỳvọng nhận được trong tương lai từ việc đầu tư Hay nói cách khác, rủi ro là khảnăng theo đó thu nhập mà nhà đầu tư thực sự nhận được khác với thu nhập kỳ vọng
- Mức độ rủi ro của DMĐT được đo lường bởi mức độ biến động của khả năng sinhlời so với tỷ lệ sinh lời kỳ vọng của nó, sự khác biệt càng lớn, mức độ rủi ro càngcao và ngược lại Trong thống kê người ta sử dụng phương sai hay độ lệch chuẩn để
đo lường rủi ro danh mục
- Đối với chứng khoán riêng lẻ, phương sai và độ lệch chuẩn phản ánh tổng mức rủi
ro bao gồm rủi ro hệ thống và rủi ro cá biệt của chứng khoán Khi danh mục baogồm nhiều chứng khoán thì tổng rủi ro của danh mục cũng bao gồm hai thành phầnnày và được đo lường bằng tổng các hiệp phương sai của các cặp chứng khoántrong danh mục Mức độ biến động thu nhập của danh mục không chỉ phụ thuộc vàomức rủi ro riêng của từng loại chứng khoán mà còn chịu ảnh hưởng bởi mức độcộng hưởng hoặc triệt tiêu của thu nhập giữa các chứng khoán với nhau Mức độ
Trang 34cộng hưởng hay triệt tiêu này được đo lường bởi hiệp phương sai giữa các chứngkhoán.
- Hiệp phương sai là đại lượng thống kê đo lường mức độ phụ thuộc của hai biến
ngẫu nhiên Hiệp phương sai được sử dụng để đo lường mức độ biến động cùngnhau của tỉ suất sinh lời hay giá cả của hai chứng khoán
Trong đó:
: hiệp phương sai của chứng khoán 1 và chứng khoán 2
: số thời kỳ quan sát
, : tỷ suất lợi nhuận của chứng khoán 1, chứng khoán 2 trong kỳ i
: tỷ suất sinh lợi trung bình của chứng khoán 1, chứng khoán 2
Tổng các hiệp phương sai của các cặp chứng khoán trong danh mục gồm n chứngkhoán được biểu diễn bằng ma trận hiệp phương sai như sau:
Bảng 1: Ma trận hiệp phương sai của các chứng khoán
Hệ số tương quan:Là sự “chuẩn hóa” của hiệp phương sai nhằm loại bỏ đơn vị đo
lường riêng của các đại lượng ngẫu nhiên khi xem xét mức độ phụ thuộc của haibiến ngẫu nhiên
Trong đó:
Trang 35: hệ số tương quan giữa chứng khoán 1 và chứng khoán 2
: lần lượt là độ lệch chuẩn tỷ suất sinh lời của chứng khoán 1và chứng khoán 2
- Hệ số tương quan biến động trong khoảng (-1,+1), hệ số tương quan dương cónghĩa tỷ suất sinh lợi đối với hai khoản đầu tư có khuynh hướng dịch chuyển vềcùng một hướng so với giá trị trung bình của chúng trong suốt một khoảng thời giannhất định Ngược lại, hệ số tương quan âm cho thấy tỷ suất sinh lời của chúng dịchchuyển ngược hướng nhau
Phương sai và độ lệch chuẩn của DMĐT:
Công thức tổng quát đo lường phương sai của một DMĐT:
: tỷ trọng đầu tư của chứng khoán riêng lẻ trong danh mục
: phương sai của tỷ suất sinh lợi đối với chứng khoán i
: hiệp phương sai tỷ suất sinh lợi giữa chứng khoán i và chứng khoán j, với = ρijσiσj
Độ lệch chuẩn của DMĐT là căn bậc hai của phương sai DMĐT
( i # j)Công thức này cho thấy độ lệch chuẩn của DMĐT bao gồm giá trị trung bình củanhững phương sai riêng lẻ, cộng với tỉ trọng hiệp phương sai giữa tài sản trong danhmục: phần số hạng thứ nhất của vế trái phương trình phản ánh tổng rủi ro của từngphần chứng khoán riêng lẻ trong danh mục và số hạng thứ hai phản ánh mức độ
Trang 36đồng thời phương sai của các cặp chứng khoán trong danh mục Giá trị của số hạngthứ hai, vì thế, có thể lớn hơn, nhỏ hơn hoặc bằng không Điều này có thể thấy rõnếu thay thế Cov (i,j) = i jρij, trong đó ρij là hệ số tương quan biến động từ -1 đến +1.Tổng rủi ro của danh mục có thể bằng tổng rủi ro theo tỷ trọng của các chứng khoánriêng lẻ trong danh mục khi và chỉ khi các chứng khoán này có tương quan dươnghoàn toàn, nghĩa là ρij= 1 Vấn đề này chỉ ra việc đầu tư chứng khoán theo danh mục
ưu thế hơn đầu tư chứng khoán riêng lẻ, đồng thời cũng định hướng khi xây dựngDMĐT chứng khoán, để làm giảm rủi ro cần đa dạng hóa DMĐT theo hướng lựachọn các chứng khoán có tương quan thấp đặc biệt là tương quan âm
Sau khi các nhà đầu tư đã xác định được mức độ rủi ro cụ thể , nhà đầu tư sẽ sửdụng ngân sách rủi ro tổng thể đó để phân bổ cho các khoản đầu tư cụ thể
1.2.3.3 Sự chấp nhận rủi ro và đánh giá khả năng chịu rủi ro của nhà đầu tư
Sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư là tổ chức và nhà đầu tư cá nhân có
sự khác nhau Đối với người quản lý cần cố gắng hiểu hành vi, các yếu tố đằng sau
sự sẵn sàng đánh đổi rủi ro của nhà đầu tư Sự chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư đóngvai trò quan trọng trong việc xây dựng chính sách đầu tư
Đánh giá khả năng chịu rủi ro của nhà đầu tư
Mặc dù đối với các nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận rủi ro thì các giới hạn về mặtthực tế hay giới hạn về tài chính thường giới hạn số lượng rủi ro đã được giả địnhmột cách thận trọng Nói cách khác cho dù các rủi ro được tính toán giả định cẩnthận thì số lượng rủi ro vẫn bị hạn chế không thể bao quát tất cả các trường hợp nhàđầu tư phải đương đầu.Khi đánh giá rủi ro biến động giá trị tài sản ảnh hưởng tớinhà đầu tư chúng ta cần đánh giá ở các mặt sau:
- Nhu cầu chi tiêu: Chúng ta đánh giá có bao nhiêu biến động sẽ ảnh hưởng tới nhàđầu tư những người phụ thuộc vào đầu tư, ngoài ra cần đánh giá có bao nhiêu biếnđộng sẽ ảnh hưởng đối với nhà đầu tư không đủ khả năng để chịu những khoản lỗngắn hạn đáng kể Thông thường các nhà đầu tư giàu có thì sự chấp nhận rủi ro sẽcao hơn, sự giảm tài sản trong ngắn hạn ít gây ảnh hưởng tới họ và họ có khả năngchịu nhiều rủi ro hơn
Trang 37- Đánh giá mục tiêu dài hạn hay về nghĩa vụ thì có bao nhiêu biến động ngăn cảnnhà đầu tư đạt được các mục tiêu này, đối với nhà đầu tư có tài chính mạnh có khảnăng chịu nhiều rủi ro hơn.
- Đánh giá năng lực tài chính của nhà đầu tư: Nghĩa là khả năng gia tăng tiết kiệm,thu nhập khi DMĐT không thể hỗ trợ chi tiêu dự kiến Năng lực tài chính càng tốtnghĩa là chấp nhận rủi ro nhiều hơn
1.2.3.4 Mức độ chịu đựng rủi ro và mục tiêu rủi ro của nhà đầu tư
Nhà đầu tư sẵn sàng chịu đựng rủi ro được bao nhiêu? Câu trả lời cho câu hỏinày xác định mức độ chịu rủi ro của nhà đầu tư Xác định được mức độ chấp nhậnrủi ro là một chức năng của sự sẵn sàng và khả năng của nhà đầu tư để thực hiệnviệc đầu tư
Các mục tiêu rủi ro cụ thể của nhà đầu tư được xây dựng tương ứng mức độ chịurủi ro của nhà đầu tư đó, điều quan trọng bất kỳ sự đánh giá về khả năng chịu rủi ronào cũng phải xem xét cả sự sẵn sàng ( Willingness ) của nhà đầu tư và khả năng( Ability) chịu rủi ro của nhà đầu tư Khi có sự không phù hợp giữa hai yếu tố đóviệc xác định mức độ chấp nhận rủi ro phải được xem xét đánh giá lại
Khi một nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận rủi ro vượt quá khả năng để đầu tư thìnên đặt ra một giới hạn về mức độ rủi ro giả định cho nhà đầu tư
Bảng 2: Khả năng chấp nhận rủi ro
Trang 38Mức độ chấp
nhận rủi ro
( Willingness to
take risk )
Khả năng chấp nhận rủi ro ( Ability to take risk )
Dưới mức trung
bình Khả năng chấp nhận rủi ro dướimức trung bình Cần đặt giới hạn rủi ro
Trên mức trung
bình Cần đặt giới hạn rủi ro Khả năng chấp nhận rủi ro trênmức trung bình
Mục tiêu rủi ro cụ thể của nhà đầu tư
Thông thường nhà đầu tư sẽ đưu ra một mức chấp nhận rủi ro cụ thể một cáchtương đối ví dụ như “ Sự mất mát trong một năm không vượt quá X phần trăm giátrị DMĐT” hoặc “ Sự biến động hàng năm của DMĐT không vượt quá tỷ lệ X %”
1.2.4 Lợi suất đầu tư (Return Object )
1.2.4.1 Định nghĩa và đo lường lợi suất
Trong hoạt động đầu tư bên cạnh đối tượng rủi ro thì lợi suất là đối tượng thứ hainhà đầu tư quan tâm.Lợi suất là phần trăm (%) chênh lệch giữa thu nhập từ chứngkhoán có được sau một khoảng thời gian ( thường là một năm ) và khoản vốn đầu tưban đầu
- Lợi suất bao gồm hai thành phần:
+ Lãi định kỳ ( Cổ tức, trái tức )
+ Lãi vốn ( Chênh lệch giá bán và giá mua )
- Lợi suất yêu cầu được nhà đầu tư đặt ra phải tương xứng với mức độ rủi ro mànhà đầu tư phải chịu Do đó cần có giải pháp xác định lợi nhuận so với các rủi ro
Để xây dựng mục tiêu lợi nhuận nhà đầu tư cần quan tâm tới các vấn đề sau:
Trang 39Đo lường lợi suất
Việc đo lường lợi suất thông thường sử dụng phương pháp tổng lợi nhuận, tổnglợi nhuận của việc tăng giá và lợi nhuận từ thu nhập đầu tư Lợi suất thường tínhtheo số tuyệt đối chẳng hạn như 10% một năm Lợi suất danh nghĩa và lợi suất thực
là khác nhau.Lợi nhuận danh nghĩa không được điều chỉnh cho lạm phát Lợi suấtthực là lợi suất được điều chỉnh theo lạm phát
Thu nhập của DMĐT chứng khoán bắt nguồn từ thu nhập của các chứngkhoán cấu thành trong danh mục Tỷ suất sinh lợi mong đợi DMĐT chứng khoán làgiá trị trung bình theo tỷ trọng của tỷ suất sinh lợi mong đợi đối với những chứngkhoán riêng lẻ trong danh mục
Trong đó :
E( : thu nhập kỳ vọng của DMĐT
: tỷ trọng đầu tư chứng khoán i trong danh mục
: tỷ suất sinh lợi mong đợi của chứng khoán i
n : số chứng khoán có trong danh mục
1.2.4.2 Lợi suất kỳ vọng và lợi suất yêu cầu của nhà đầu tư
Lợi suất yêu cầu:
Trang 40- Lợi suất yêu cầu của nhà đầu tư là mục tiêu cụ thể hơn kỳ vọng vì các nhà đầu tưthường yêu cầu đạt được mức lợi suất đó ít nhất là lợi suất trung bình.
- Lợi suất tối thiểu mà nhà đầu tư yêu cầu được tính toán sao cho lợi suất đạt đượcphải đủ để bù đắp các chi phí của họ Giả sử một người về hưu phải đạt được 4% lợitức sau thuế trên DMĐT hiện tại của mình để đáp ứng các chi phí sinh hoạt hiện tạihàng năm của mình Do đó mức lợi suất yêu cầu của ông là trên cơ sở thực tế Nếuông kỳ vọng lạm phát là 2%/năm và mức thuế suất suất 40% áp dụng cho các khoảnthu nhập từ đầu tư, thì mức lợi suất yêu cầu của nhà đầu tư được xác định như sau:(Lợi suất sau thuế+Tỷ lệ lạm phát dự kiến)/(1-Tỷ lệ thuế)=( 4%+2%)/(1-0,40)=10%
Những yêu cầu đối với lợi suất yêu cầu của nhà đầu tư
- Mục tiêu lợi suất yêu cầu của nhà đầu tư phải phù hợp với mục tiêu rủi ro của nhàđầu tư Một mức lợi suất yêu cầu cao gợi ý rằng việc phân bổ tài sản sẽ ở mức rủi rocao hơn
- Lợi suất yêu cầu phải đáp ứng các mục tiêu của tài sản hoặc nợ phải trả mà DMĐTphải tài trợ
- Đối với các nhà đầu tư có nhu cầu thu nhập từ DMĐT hiện tại, lợi suất yêu cầuphải đáp ứng nhu cầu chi tiêu từ tăng giá giá trị vốn và thu nhập đầu tư
-Khi mức lợi suất yêu cầu được xem xét đánh giá không phù hợp với khả năng chịurủi ro thì phải điều chỉnh mức lợi suất yêu cầu
1.3 Lý thuyết quản trị DMĐT tài chính hiện đại
Lý thuyết quản trị DMĐT tài chính hiện đại cho rằng việc quản trị DMĐT tàichính là một tập hợp các bước không thể tách rời tạo lâp và duy trì một DMĐT (sựkết hợp các tài sản ) để đáp ứng các mục tiêu của khách hàng
Ta hiểu rằng tập hợp các bước không thể tách rời như một hệ thống liên kết vớinhau, các bước trong hệ thống có mối quan hệ với nhau, thiếu một bước thì hệthống hoạt động không hiệu quả Lợi nhuận danh mục sẽ không đạt được tối ưu
Có rất nhiều bước trong quản trị DMĐT tài chính, sau khi xem xét tập hợp cácbước ta có thể mô hình hoá việc quản trị DMĐT tài chính như sau: Nếu coi việc