1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vi mo 2 đánh giá chung về cán cân thương mại VN

31 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 212,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhậpkhẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định quý hoặc năm cũngnhư mức chênh lệch giữa chúng xuất khẩu trừ đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 4

I.

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM 2

1.1 Khái niệm Cán cân thương mại 2

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại 2

1.3 Tác động của cán cân thương mại đến GDP 3

1.3.1 Xuất khẩu ròng và GDP cân bằng 4

1.3.2 Số nhân trong nền kinh tế mở 6

CHƯƠNG 2 NHẬN DIỆN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 7

2.1 Thực trạng cán cân thương mại của Việt Nam 7

2.2 Ưu tiên cân bằng cán cân thương mại 9

CHƯƠNG 3: CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG NĂM 2015 11

CHƯƠNG 4: TÌNH HÌNH CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM TRONG QUÝ 1 NĂM 2016 14

CHƯƠNG 5 CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN CÁN CÂN VÃNG LAI 17

5.1 Biện pháp cải thiện cán cân thương mại 17

5.2 Biện pháp cải thiện cán cân dịch vụ 19

5.3 Biện pháp cải thiện cán cân thu nhập 20

5.4 Biện pháp thúc đẩy chuyển giao vãng lai một chiều 21

5.5 Các biện pháp quản lý kinh tế vĩ mô của Chính phủ 21

KẾT LUẬN 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

Cán cân thương mại là một trong những vấn đề cơ bản của nền kinh tế vĩ mô, là một

bộ phận cấu thành của cán cân thanh toán và được phản ánh cụ thể trong cán cânvãng lai Tình trạng cán cân thương mại phản ánh mức độ an toàn hay bất ổn củamột nền kinh tế Nó thể hiện một cách tổng quát các chính sách điều tiết kinh tế vĩ

mô, như chính sách thương mại, chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư và tiết kiện,chính sách cạnh tranh Vì vậy, việc điều chỉnh cán cán cân mại để cân đối vĩ mô,kích thích tăng trường kinh tế và nâng cao khả năng cạnh tranh được các quốc giatrên thế giới hết sức quan tâm

Ở Việt Nam, tình trạng thâm hụt cán cân thương mại kéo dài trong suốt những nămgần đây Tình trạng thâm hụt cán cân thương mại, nếu tiếp tục kéo dài và khôngđược hạn chế, sẽ gây ảnh hưởng xấu tới cán cân thanh toán và nợ quốc tế Việtnghiên cứu và phân tích thực trạng cán cân thương mại Việt Nam, qua đó đưa ra cácgiải pháp nhằm điều chỉnh cán cân thương mại, thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhậpkhẩu là điều rất cần thiết

Chúng em rất mong sẽ nhận được những nhận xét, ý kiến đóng góp, bổ sung từ thầy

để bài tiểu luận được hoàn thiện và chính xác hơn

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 8

CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM

1.1 Khái niệm Cán cân thương mại

Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán

quốc tế Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhậpkhẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũngnhư mức chênh lệch giữa chúng (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) Khi mức chênh lệch

là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư Ngược lại, khi mức chênh lệchnhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt Khi mức chênh lệch đúng bằng 0,cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng

Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại.

Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giátrị dương Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư thương

mại mang giá trị âm Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại Tuy nhiên,

cần lưu ý là các khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu, xuất khẩu ròng, thặng dư/thâm hụtthương mại trong lý luận thương mại quốc tế rộng hơn các trong cách xây dựngbảng biểu cán cân thanh toán quốc tế bởi lẽ chúng bao gồm cả hàng hóa lẫn dịch vụ.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại

 Nhập khẩu: có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăng nhanhhơn Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩubiên (MPZ) MPZ là phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho nhậpkhẩu Ví dụ, MPZ bằng 0,2 nghĩa là cứ 1 đồng GDP có thêm thì người dân có xuhướng dùng 0,2 đồng cho nhập khẩu Ngoài ra, nhập khẩu phụ thuộc giá cả tươngđối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa sản xuất tại nước ngoài Nếu giá

cả trong nước tăng tương đối so với giá thị trường quốc tế thì nhập khẩu sẽ tăng lên

và ngược lại Ví dụ: nếu giá xa đạp sản xuất tại Việt Nam tăng tương đối so với giá

xe đạp Nhật Bản thì người dân có xu hướng tiêu thụ nhiều xe đạp Nhật Bản hơn dẫnđến nhập khẩu mặt hàng này cũng tăng

 Xuất khẩu: chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc giakhác vì xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác Do vậy nó chủ

Trang 9

yếu phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng Chính vì thếtrong các mô hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định.

 Tỷ giá hối đoái: là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnhhưởng đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thịtrường quốc tế Khi tỷ giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả củahàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở nên đắt đỏhơn đối với người nước ngoài Vì thế việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợicho xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm.Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ có lợi thế trong khi nhậpkhẩu gặp bất lợi và xuất khẩu ròng tăng lên Ví dụ, một bộ ấm chén sứ Hải Dương

có giá 115.000 VND và một bộ ấm chén tương đương của Trung Quốc có giá

33 CNY (Nhân dân tệ) Với tỷ giá hối đoái 3400 VND = 1 CNY thì bộ ấmchén Trung Quốc sẽ được bán ở mức giá 112.200 VND trong khi bộ ấm chén tươngđương của Việt Nam là 115.000 VND Trong trường hợp này ấm chén nhập khẩu từTrung Quốc có lợi thế cạnh tranh hơn Nếu VND mất giá và tỷ giá hối đoái thay đổithành 3600 VND = 1 CNY thì lúc này bộ ấm chén Trung Quốc sẽ được bán với giá118.800 VND và kém lợi thế cạnh tranh hơn so với ấm chén sản xuất tại Việt Nam.1.3 Tác động của cán cân thương mại đến GDP

Đối với một nền kinh tế mở, cán cân thương mại có hai tác động quan trọng: xuấtkhẩu ròng bổ sung vào tổng cầu (AD) của nền kinh tế; số nhân đầu tư tư nhân và sốnhân chi tiêu chính phủ khác đi do một phần chi tiêu bị "rò rỉ" qua thương mại quốctế

Trang 10

1.3.1 Xuất khẩu ròng và GDP cân bằng

Bảng dưới đây trình bày một nền kinh tế với các bộ phận cấu thành ban đầu nhưmột nền kinh tế đóng, sau đó bổ sung xuất khẩu, nhập khẩu cho nền kinh tế mở Cột

1 là mức GDP ban đầu trong nền kinh tế đóng Cột 2 là cầu trong nước bao gồmtổng tiêu dùng (C), đầu tư (I) và mua hàng hóa, dịch vụ của chính phủ (G) Cột 3 làxuất khẩu và vì xuất khẩu phụ thuộc tình hình kinh tế của các nước bạn hàng nêngiả định nó không thay đổi Cột 4 là nhập khẩu, nhập khẩu chủ yếu phụ thuộc GDPnên giả định nó luôn bằng 10% GDP Giá trị xuất khẩu ròng tại cột 5 bằng xuấtkhẩu trừ đi nhập khẩu, nó mang giá trị dương nếu xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu vàngược lại, sẽ mang giá trị âm Sau khi cộng giá trị đóng góp của xuất khẩu ròng vàocầu nội địa để tạo thành tổng chi tiêu và chính là tổng cầu ta được giá trị ghi tại cột

6 Nền kinh tế mở đạt mức cân bằng khi tổng chi tiêu bằng GDP nghĩa là đườngtổng chi tiêu cắt đường phân giác OO'(ứng với mức GDP ban đầu là 35 tỷ USD)

Đó chính là điểm E trên đồ thị bên phải Ở điểm này cầu nội địa chỉ có 31,5 tỷ USDnhưng cầu về xuất khẩu ròng (khoảng cách giữa đường C+G+I+X và đườngC+G+I) là 3,5 nên tổng chi tiêu là 35 tỷ USD và đúng bằng GDP Như vậy nền kinh

tế mở có thể đạt mức sản lượng cân bằng ở mức xuất khẩu ròng khác 0 Tại điểm có

Trang 11

mức xuất khẩu ròng bằng 0 (đường C+G+I cắt đường C+G+I+X), tổng cầu trongnước bằng với tổng cầu và đều bằng 63 tỷ USD Về phía bên trái điểm này, cầu xuấtkhẩu ròng luôn dương, tổng cầu nội địa nhỏ hơn tổng chi tiêu và ở bên phải, cầuxuất khẩu ròng luôn âm, tổng cầu nội địa lớn hơn tổng chi tiêu.

Cân bằng trong nền kinh tế mở

Nhập khẩu (m)

Xuất khẩu ròng (X = e - m)

Tổng chi tiêu (C+I+G+X)

Trang 12

1.3.2 Số nhân trong nền kinh tế mở

Trong đồ thị trên, độ dốc của đường tổng chi tiêu C+I+G+X nhỏ hơn độ dốc củađường cầu nội địa C+G+I, điều đó là do sự "rò rỉ" qua nhập khẩu Giả sử nền kinh

tế có xu hướng tiêu dùng cận biên MPC là 0,75 thì khi GDP tăng 100 USD, chi chotiêu dùng tăng 75 USD Nhưng cũng theo giả định trong ví dụ này, xu hướng nhậpkhẩu biên MPZ là 0,10 (nhập khẩu luôn bằng 10% GDP) nên chi tiêu cho nhập khẩucũng tăng 10 USD Do đó chi tiêu cho hàng hóa sản xuất trong nước chỉ còn tăng 65USD mà thôi Chính vì thế độ dốc của đường chi tiêu giảm từ 0,75 xuống còn có0,65 Tác động của "rò rỉ" qua nhập khẩu có tác động mạnh đến số nhân của nềnkinh tế Trong nền kinh tế đóng, số nhân là 1/(1-MPC) còn trong nền kinh tế mở, do

sự rò rỉ qua nhập khẩu, số nhân chỉ còn 1/(1-(MPC-MPZ)) Khi không có ngoạithương, với MPC bằng 0,75 thì số nhân là 1/(1-0,75) = 4; khi có ngoại thương sốnhân chỉ còn 1/(1-(0,75-0,10)) = 2.857 Những nền kinh tế nhỏ hầu hết đều rất mở,

do vậy tác động của nhập khẩu đến số nhân của nền kinh tế đặc biệt quan trọng Từ

ví dụ trên có thể dễ dàng suy ra nếu xu hướng nhập khẩu biên là 0,75 thì số nhân là

1 nghĩa là hiệu ứng số nhân đã bị triệt tiêu hoàn toàn bởi rò rỉ qua nhập khẩu

Trang 13

CHƯƠNG 2 NHẬN DIỆN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAMViệt Nam đang trở thành một trong những quốc gia có độ mở lớn với tỷ lệ tổng giá trị xuất nhập khẩu/GDP cao hơn 150% Đổi lại nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt với bài toán về thâm hụt thương mại Tuy nhiên, nhiều chuyên gia kinh tế nhận định cán cân thương mại đang ngày càng nghiêng về phía sáng sủa hơn.

2.1 Thực trạng cán cân thương mại của Việt Nam

Trong 5 năm trở lại đây, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua những thăng trầm do ảnhhưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng như xuất phát từ nội tại củanền kinh tế: Tăng trưởng cao nhưng chưa ổn định; Lạm phát tăng cao và đặc biệt làtình trạng thâm hụt cán cân vãng lai bắt nguồn từ thâm hụt cán cân thương mại ngàycàng gia tăng Bên cạnh đó, do tác động của cuộc khủng hoảng và môi trường đầu

tư của Việt Nam chưa được cải thiện như mong đợi, dòng vốn đầu tư trực tiếp vàgián tiếp nước ngoài vào Việt Nam chưa vững chắc Mặc dù mức thâm hụt hiện nay

có xu hướng được cải thiện song tình trạng này chắc chắn sẽ gây sức ép không nhỏđến cán cân thanh toán quốc tế về khả năng chống đỡ các cú sốc bên ngoài và tính

Trang 14

Nam xuất siêu 2,05 tỷ USD Trong 4 tháng đầu năm, Ngân hàng Nhà nước cũng đãmua vào hơn 10 tỷ USD, nâng dự trữ ngoại hối đạt khoảng 35 tỷ USD Đây là dựtrữ ròng, tức là nguồn ngoại tệ có thể sử dụng bất cứ lúc nào Còn dự trữ ngoại hốitiềm năng của Việt Nam là khoảng 45 tỷ USD.

Về cán cân thanh toán, trong 4 tháng, cán cân thương mại tiếp tục thặng dư Kiềuhối đạt 2,3 tỷ USD trong 3 tháng đầu năm Cán cân thanh toán tổng thể thặng dư rấtlớn, riêng tháng 4/2014 đạt 2,3 tỷ USD, cộng dồn 4 tháng đạt mức kỷ lục, hơn 10 tỷUSD Bên cạnh đó, nhìn vào số liệu về xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ2000-2013 cho thấy, thâm hụt thương mại đỉnh điểm vào năm 2008 (hơn 18 tỷUSD), sau đó giảm liên tiếp và đến năm 2012 - 2013, thặng dư thương mại trởthành dương, tương ứng 749 triệu USD và 863 triệu USD Cùng với tỷ giá tươngđối ổn định trong thời gian qua, cho thấy tình trạng thâm hụt thương mại của ViệtNam đã được cải thiện và không đáng lo ngại

Tuy nhiên, nếu xét trên phương diện cấu trúc về sở hữu của xuất, nhập khẩu thì sẽkhiến cho không ít người lo lắng Nếu như năm 2000 tỷ trọng xuất khẩu của khuvực kinh tế trong nước chiếm 53% tổng giá trị xuất khẩu thì đến năm 2013 chỉ còn33%, trong khi tỷ trọng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tổng giá trịxuất khẩu tăng từ 47% lên 67% Riêng 4 tháng năm 2014, tổng kim ngạch xuấtkhẩu của khối FDI đã đạt 28,943 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2013 trongkhi nhập khẩu chỉ đạt 25,457 tỷ USD, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm 2013 Lũy kế

4 tháng đầu năm, khối DN này xuất siêu gần 3,5 tỷ USD

Thống kê cho thấy, năm 2000 thặng dư thương mại khu vực FDI 2,4 tỷ USD và đếnnăm 2013 thặng dư xấp xỉ 14 tỷ USD, tăng 568% Trong khi đó, tuy hai năm 2012

và 2013 xét về tổng quát thặng dư thương mại về hàng hóa dương nhưng xét vềtừng khu vực sở hữu, khu vực kinh tế trong nước luôn nhập siêu Cụ thể, nếu nhưnăm 2000, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu khoảng 3 tỷ USD thì đến năm

2013 đã tăng lên 13 tỷ USD, tương đương 362% Theo nhiều chuyên gia kinh tế,trong ngắn hạn, dường như thặng dư thương mại dương và GDP tăng trưởng dotăng trưởng của khu vực FDI là điều tốt nhưng về trung và dài hạn, chưa hẳn đã cólợi, khi nền sản xuất trong nước bị nước ngoài khống chế

Trang 15

2.2 Ưu tiên cân bằng cán cân thương mại

Trên thực tế, nhập siêu không hoàn toàn tiêu cực đối với các nền kinh tế Nhữngquốc gia đang phát triển có thể phải chấp nhận thâm hụt thương mại trong quá trìnhchuyển đổi khi có nhu cầu lớn đối với nguyên vật liệu, thiết bị máy móc hay côngnghệ của nước ngoài trong khi khả năng và trình độ sản xuất trong nước còn thấpkém, điều kiện nguồn vốn trong nước còn hạn chế

Tuy nhiên, nếu quy mô nhập siêu tăng cao và kéo dài, thì cũng đồng nghĩa với quátrình tích lũy tư bản, công nghệ từ nước ngoài trước đã chuyển hóa không hiệu quả.Bên cạnh đó, tình trạng này cũng phản ánh những vấn đề nội tại mang tính “cơ cấu”của nền kinh tế Nhập siêu kéo dài được coi là một trong những nguyên nhân quantrọng dẫn đến bất ổn kinh tế vĩ mô, làm sâu thêm vòng xoáy tỷ giá - lạm phát – tỷgiá và đẩy nền kinh tế ở trạng thái dễ bị tổn thương từ những cú sốc bên ngoài Dovậy, thu hẹp nhập siêu và tiến tới cân bằng cán cân thương mại phải được coi là mộttrong những ưu tiên trong thời gian tới

Theo các chuyên gia kinh tế, tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Namcũng có phần xuất phát từ nguyên nhân thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN).Thâm hụt NSNN cao cộng với nợ công tăng cao là minh chứng cho sự thâm hụt cáncân vãng lai ngày càng gia tăng của Việt Nam Thâm hụt NSNN (tiết kiệm ròng củaChính phủ mang dấu âm) ở mức cao và dai dẳng trong thời gian dài để phục vụ cho

mô hình tăng trưởng đã đóng góp lớn vào tỷ lệ tiết kiệm nội địa thấp Tất nhiên,thâm hụt cán cân vãng lai chưa hẳn là xấu Đôi khi thiếu hụt tài khoản vãng lai thểhiện sự thu hút vốn FDI vào để phát triển sản xuất tăng xuất khẩu và tăng sản lượng

Trang 16

thâm hụt sẽ là vấn đề đáng lo ngại hơn rất nhiều so với khi quốc gia đó đang trongtình trạng tăng trưởng cao và lạm phát thấp.

Trong thời gian tới, nhằm góp phần giảm thâm hụt thương mại nói chung, hạn chếtình trạng nhập siêu nói riêng, cần chú ý vào một số vấn đề sau:

Một là, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng đầu tư có hiệu quả hơn Trong đó, việc

định hướng lại cơ cấu đầu tư là rất cần thiết để đưa vốn vào các ngành có độ lan tỏakinh tế cao và ít kích thích nhập khẩu Trong nhiều năm qua, Việt Nam duy trì tăngtrưởng bằng cách dựa vào vốn đầu tư nhưng hiệu quả đầu tư còn chưa cao Thực tếcho thấy, trong những năm qua, nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo khôngtạo ra nhiều giá trị gia tăng mà chỉ làm tăng thâm hụt thương mại Trong khi đó,nhóm ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trở thành khu vực trụ đỡ cho nềnkinh tế Việt Nam hiện đang tiến hành chuyển đổi mô hình tăng trưởng và việc tậptrung cho nông nghiệp cần đặt lên hàng đầu

Hai là, cần tạo đà cho DN trong nước xác lập lại địa vị của mình, tạo mọi điều kiện,

tạo cơ chế thuận lợi để kinh tế trong nước, đặc biệt kinh tế tư nhân, cùng phát triểnbình đẳng Cần thực hiện quyết liệt việc tái cấu trúc nền kinh tế, thể chế và thay đổithái độ ứng xử của chính sách đối với DN trong nước

Ba là, có chính sách hỗ trợ nhằm tăng cường mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất

khẩu và hạn chế nhập khẩu Tuy nhiên, chính sách này chỉ có tác dụng làm giảmthiếu hụt (hay tăng thặng dư) cán cân vãng lai lúc ban đầu Nhưng sau đó, nhữngchính sách này lại có tác dụng làm tăng tổng cầu đối với nền kinh tế trong nước vàdẫn đến thu nhập quốc dân tăng Thu nhập quốc dân tăng sẽ làm cho nhập khẩu tăng

và cuối cùng làm cho sự cải thiện cán cân vãng lai ban đầu giảm đi

Ngày đăng: 06/10/2019, 14:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w