1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhóm 8 xử lý nước thải nhà máy sx phân đạm

38 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đảm bảo an ninh lương thực cho toàn xãhội việc sử dụng phân bón đặc biệt là phân đạm nhằm tăng năng suất của cây trồng càngtrở nên phổ biến.. Loại phân này chiếm 59% tổng số các loạip

Trang 1

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 2

1.1 Khái niệm 2

1.2 Các loại phân đạm 2

1.3 Tình hình sản xuất 4

1.3.1 Trên thế giới 4

1.3.2 Tại Việt Nam 5

1.4 Tình hình tiêu thụ 6

1.4.1 Trên thế giới 6

1.4.2 Tại Việt Nam 7

CHƯƠNG 2 QUY TRÌNH SẢN XUẤT PHÂN ĐẠM 8

2.1 Nguyên liệu chính dùng cho nhà máy 8

2.2 Các loại hoá chất dùng trong nhà máy 8

2.3 Quy trình sản xuất 8

2.3.1 Xưởng phụ trợ 9

2.3.2 Xưởng tổng hợp amoniac 9

2.3.3 Xưởng tổng hợp urê 14

2.3.4 Xưởng sản phẩm 19

CHƯƠNG 3 20

QUY TRÌNH XỬ LÝ NƯỚC THẢI NHÀ MÁY SẢN XUẤT PHÂN ĐẠM 20

3.1 Nguồn gốc của nước thải 20

3.2 Quy trình xử lý nước thải nhà máy sản xuất phân đạm 23

3.3 Một số công đoạn xử lý nước thải ở nhà máy sản xuất phân đạm Phú Mỹ: 26

3.3.1 Nước thải sinh hoạt 26

KẾT LUẬN 29

TRẢ LỜI CÂU HỎI 30

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền công nghiệp nước ta, tìnhhình ô nhiễm môi trường cũng tăng lên đến mức báo động Điều đó dẫn đến sự ô nhiễmtrầm trọng môi trường sống, ảnh hưởng đên sự phát triển toàn diện của đất nước, sức khỏe,đời sống nhân dân cũng như mỹ quan của khu vực

Dưới sức ép của sự gia tăng dân số, nhu cầu lương thực thực phẩm đang tăng lên cả

về số lượng và chất lượng Việt Nam là một nước đang phát triển có thu nhập bình quânđầu người thấp, nông nghiếp chiếm một vai trò quan trọng đối với 75% lao động và 80%dân số sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp Để đảm bảo an ninh lương thực cho toàn xãhội việc sử dụng phân bón đặc biệt là phân đạm nhằm tăng năng suất của cây trồng càngtrở nên phổ biến Hòa cùng với đó thì ngành công nghiệp sản xuất phân Đạm cũng ngàycàng mở rộng Hiện nay, nước ta đã có nhiều nhà máy phân Đạm đi vào hoạt động nhằmđáp ứng yêu cầu trong nước Tuy nhiên, hằng năm các nhà máy này cũng đã thải ra mộtlượng lớn các chất thải độc hại như nước thải nhiễm dầu hay các loại khí độc hại

Trong đó ô nhiễm nguồn nước là một trong những thực trạng đáng ngại nhất của sựhủy hoại môi trường tự nhiên Ngày nay, vấn đề xử lý nước và cung cấp nước sạch đang làmột mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia, nhiều tổ chức xã hội và chính bản thân mỗi

cộng đồng dân cư Chính vì những nguyên nhân trên, nhóm chúng tôi chọn đề tài: “Xử lý nước thải nhà máy sản xuất phân Đạm” làm đề tài bài tiểu luận của nhóm mình.

Trang 3

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Khái niệm

Phân đạm là tên gọi chung của các loại phân bón vô cơ cung cấp đạm cho cây Đạm

là chất dinh dưỡng rất cần thiết và rất quan trọng đối với cây Đạm là nguyên tố tham giavào thành phần chính của clorophin, prôtit, các axit amin, các enzym và nhiều loại vitamintrong cây Bón đạm thúc đẩy quá trình tăng trưởng của cây, làm cho cây ra nhiều nhánh,phân cành, ra lá nhiều; lá cây có kích thước to, màu xanh; lá quang hợp mạnh, do đó làmtăng năng suất cây Phân đạm cần cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng, đặc biệt là giaiđoạn cây sinh trưởng mạnh Trong số các nhóm cây trồng đạm rất cần cho các loại cây ăn

lá như rau cải, cải bắp…

1.2 Các loại phân đạm

- Phân Urê (CO(NH4)2)

Phân urê có 44 – 48% Nitơ nguyên chất Loại phân này chiếm 59% tổng số các loạiphân đạm được sản xuất ở các nước trên thế giới Urê là loại phân có tỷ lệ Nitơ cao nhất.Trên thị trường có bán 2 loại phân urê có chất lượng giống nhau:

+ Loại tinh thể màu trắng, hạt tròn, dễ tan trong nước, có nhược điểm là hút ẩm mạnh + Loại có dạng viên, nhỏ như trứng cá Loại này có thêm chất chống ẩm nên dễ bảo quản,

dễ vận chuyển nên được dùng nhiều trong sản xuất nông nghiệp

Phân urê có khả năng thích nghi rộng và có khả năng phát huy tác dụng trên nhiềuloại đất khác nhau và đối với các loại cây trồng khác nhau Phân này bón thích hợp trênđất chua phèn, được dùng để bón thúc Có thể pha loãng theo nồng độ 0.5 – 1.5% để phunlên lá Trong chăn nuôi, urê được dùng trực tiếp bằng cách cho thêm vào khẩu phần thức

ăn cho lợn, trâu bò Phân này cần được bảo quản kỹ trong túi pôliêtilen và không đượcphơi ra nắng Bởi vì khi tiếp xúc với không khí và ánh nắng urê rất dễ bị phân huỷ và bayhơi Các túi phân urê khi đã mở ra cần được dùng hết ngay trong thời gian ngắn Trongquá trình sản xuất, urê thường liên kết các phần tử với nhau tạo thành biurat Đó là chấtđộc hại đối với cây trồng Vì vậy, trong phân urê không được có quá 3% biurat đối với câytrồng cạn, 5% đối với lúa nước

- Phân amôn nitrat (NH4NO3)

Phân amôn nitrat có chứa 33 – 35% Nitơ nguyên chất Ở các nước trên thế giới loạiphân này chiếm 11% tổng số phân đạm được sản xuất hàng năm Phân này ở dưới dạngtinh thể muối kết tinh có màu vàng xám Amôn nitrat dễ chảy nước, dễ tan trong nước, dễvón cục, khó bảo quản và khó sử dụng Là loại phân sinh lý chua Tuy vậy, đây là loạiphân bón quý vì có chứa cả NH4+ và cả NO3-, phân này có thể bón cho nhiều loại cây trồngtrên nhiều loại đất khác nhau Amôn nitrat bón thích hợp cho nhiều loại cây trồng cạn như

Trang 4

thuốc lá, bông, mía, ngô… Phân này được dùng để pha thành dung dịch dinh dưỡng đểtưới cây trong nhà kính và tưới bón thúc cho nhiều loại rau, cây ăn quả.

- Phân sunphat đạm (NH4)2SO4

Còn gọi là phân SA Sunphat đạm có chứa 20 – 21% nitơ nguyên chất Trong phânnày còn có 29% lưu huỳnh (S) Trên thế giới loại phân này chiếm 8% tổng lượng phân hoáhọc sản xuất hàng năm Phân này có dạng tinh thể, mịn, màu trắng ngà hoặc xám xanh.Phân này có mùi nước tiểu (mùi amôniac), vị mặn và hơi chua cho nên nhiều nơi gọi làphân muối diêm

Sunphat đạm là loại phân bón tốt vì có cả N và S là hai chất dinh dưỡng thiết yếucho cây Phân này dễ tan trong nước, không vón cục Thường ở trạng thái tơi rời, dễ bảoquản, dễ sử dụng Tuy nhiên, nếu để trong môi trường ẩm phân dễ vón cục, đóng lại thànhtừng tảng rất khó đem bón cho cây Có thể đem bón cho tất cả các loại cây trồng, trênnhiều loại đất khác nhau, miễn là đất không bị phèn, bị chua Nếu đất chua cần bón thêmvôi, lân mới dùng được đạm sunphat amôn Phân này dùng tốt cho cây trồng trên đất đồi,trên các loại đất bạc màu (thiếu S) Đạm sunphat được dùng chuyên để bón cho các loàicây cần nhiều S và ít N như đậu đỗ, lạc v.v và các loại vây vừa cần nhiều S vừa cần nhiều

N như ngô Cần lưu ý đạm sunphat là loại phân có tác dụng nhanh, rất chóng phát huy tácdụng đối với cây trồng, cho nên thường được dùng để bón thúc và bón thành nhiều lần đểtránh mất đạm Khi bón cho cây con cần chú ý là phân này dễ gây cháy lá Không nên sửdụng phân đạm sunphat để bón trên đất phèn, vì phân dễ làm chua thêm đất

- Phân đạm Clorua (NH4Cl)

Phân này có chứa 24 – 25% N nguyên chất Đạm clorua có dạng tinh thể mịn, màutrắng hoặc vàng ngà Phân này dễ tan trong nước, ít hút ẩm, không bị vón cục, thường tơirời nên dễ sử dụng Là loại phân sinh lý chua Vì vậy, nên bón kết hợp với lân và các loạiphân bón khác Đạm clorua không nên dùng để bón cho thuốc lá, chè, khoai tây, hành, tỏi,bắp cải, vừng, v.v Ở các vùng khô hạn, ở các chân đất nhiễm mặn không nên bón phânđạm clorua, vì ở những nơi này trong đất có thể tích luỹ nhiều clo, dễ làm cho cây bị ngộđộc

- Phân Xianamit canxi

Phân này có dạng bột không có tinh thể, màu xám tro hoặc màu trắng, đốt không cómùi khai Xianamit canxi có chứa 20 – 21% N nguyên chất, 20 – 28% vôi, 9 – 12% than

Vì có than cho nên phân có màu xám đen Cũng có loại phân tỷ lệ than thấp hoặc không cóthan nên phân có màu trắng Cần chú ý chống ẩm cho phân khi bảo quản, bởi vì nếu phânhút ẩm sẽ bị biến chất, hạt phân phình to lên làm rách bao bì và làm hỏng dụng cụ đựng.Phân này dễ bốc bụi Khi bám vào da sẽ làm hỏng da, phân bay vào mắt sẽ làm hỏng giácmạc mắt, vì vậy khi sử dụng phân này phải rất cẩn thận Phân này có phản ứng kiềm, bởivậy có thể khử được chua, dùng rất tốt ở các loại đất chua Xianamit canxi thường đượcdùng để bón lót Muốn dùng để bón thúc phải đem ủ trước khi bón Bởi vì phân này khiphân giải tạo ra một số chất độc có thể làm hỏng móng chân trâu bò, hại da chân người

Trang 5

nông dân Thường sau 7 – 10 ngày các chất độc mới hết Thường xianamit canxi được trộn

ủ với phân rác làm cho phân chóng hoai mục Phân này không được dùng để phun lên lácây

- Phân phôtphat đạm (còn gọi là phốt phát amôn)

Là loại phân vừa có đạm, vừa có lân Trong phân có tỷ lệ đạm là 16%, tỷ lệ lân là20% Phôtphat đạm có dạng viên, màu xám tro hoặc trắng, phân dễ chảy nước Vì vậy,người ta thường sản xuất dưới dạng viên và được đựng trong các bao nilông Phân rất dễtan trong nước và phát huy hiệu quả nhanh Phân được dùng để bón lót, bón thúc đều tốt.Phân là loại dễ sử dụng Thường dùng thích hợp ở đất nhiễm mặn vì không làm tăng độmặn, độ chua Phân có tỷ lệ đạm hơi thấp so với lân, cho nên cần bón phối hợp với cácloại phân đạm khác, nhất là khi bón cho các loại cây cần nhiều đạm

Trang 6

Khả năng cung ứng phân đạm của thế giới là 134,5 triệu tấn năm 2011 và sẽ tăngthêm 21,8 triệu tấn trong 5 năm tới, đạt 156,3 triệu tấn năm 2015 Châu Á dự kiến khoảng41%, Châu Phi 21%, châu Mỹ Latinh 15%, Tây Á 9%, Đông Âu và Trung Á 7% còn lạicác vùng khác Theo IFA (2011), trong giai đoạn này sẽ có 58 nhà máy urê mới được đưavào hoạt động và sẽ cung cấp thêm cho thị trường 45 triệu tấn urê, nâng tổng lượng urêcung ứng là 224,5 triệu tấn vào năm 2015 Trong số 58 nhà máy thì 17 nhà máy ở TrungQuốc còn lại ở Nam Á, Đông Á, Tây Á, châu Phi, Mỹ Latinh và châu Đại Dương.

Theo Hiệp hội phân bón quốc tế (IFA), Mỹ vừa xây dựng thêm nhà máy phân đạm(urê) tại Dakota và mở rộng công suất của nhà máy Solagan, đưa tổng công suất tại 2 nhàmáy này đạt 1.6 triệu tấn sản phẩm/năm Tại khu vực Bắc Phi và Trung Đông, nhiều nhàmáy sản xuất phân urê cũng đã được đầu tư mở rộng công suất và thay đổi công nghệ mớinên năng lực sản xuất tăng thêm khoảng 1.5 – 2 triệu tấn sản phẩm/năm

1.3.2 Tại Việt Nam

Hiện tại, Việt Nam đã có các nhà máy sản xuất phân đạm: nhà máy phân đạm HàBắc thuộc tỉnh Bắc Giang sử dụng than đá làm nguyên liệu, công suất 100.000tấn/năm; nhà máy phân đạm Phú Mỹ tại Khu công nghiệp Phú Mỹ tỉnh Bà Rịa-VũngTàu sử dụng khí thiên nhiên làm nguyên liệu, có công suất 800.000 tấn/năm Các nhà máyđang được triển khai thiết kế hoặc xây dựng: nhà máy phân đạm Cà Mau thuộc Dự án Khí

- Điện - Đạm Cà Mau có công suất 800.000 tấn năm (đang đấu thầu xây dựng), nhà máyphân đạm Ninh Bình và nhà máy phân đạm Dung Quất (đang lập dự án)

Theo dự kiến, sản lượng urê trong nước sẽ đạt gần 3 triệu tấn vào năm 2015 Nhàmáy đạm Hà Bắc đang triển khai dự án mở rộng đầu tư nâng công suất từ 190.000 tấn/nămhiện nay lên 500.000 tấn/năm vào năm 2015 Như vậy trong thời gian tới, Việt Nam có thểhoàn toàn tự chủ nguồn phân urê và tiến tới xuất khẩu

Hình 1.1 Sản lượng phân urê của 4 nhà máy phân bón ở Việt Nam qua các năm.

(Nguồn: Saigon Securities Inc, Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí)

Trang 7

Phân đạm có thể sản xuất từ hai nguồn nguyên liệu là than đá và khí thiên nhiên.Việt Nam đang có thế mạnh ở cả hai nguồn nguyên liệu này nhờ đó phân urê sản xuấttrong nước thường rẻ hơn giá thế giới Tuy nhiên, nếu so sánh hai nguồn nguyên liệu chosản xuất đạm hiện nay, khí thiên nhiên đang có ưu thế hơn than đa về chi phí cũng nhưnguồn cung.

Bảng 1.3 Dự báo cân bằng cung-cầu phân đạm ở châu Á

Đvt: Ngàn tấn

(Nguồn: FAO, Current world fertilizer trends and outlook to 2016)

Trang 8

Nhu cầu phân đạm trên thế giới dự kiến sẽ tăng từ 105,3 triệu tấn trong năm 2011lên 112,9 triệu tấn năm 2015 với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 1,7% Trong đó, phầntăng thêm ở châu Á là 68%, châu Mỹ 18%, châu Âu 10%, châu Phi chiếm 3% và 1% ởchâu Đại Dương (FAO,2011) Trong số các nước châu Á, nhu cầu gia tăng tập trung vào

Ấn Độ (25%), Trung Quốc (24%), Pakistan (5%), Việt Nam và Indonesia (3%)

1.4.2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, nhu cầu phân đạm hàng năm khoảng 2 triệu tấn Trước đây phảinhập khẩu hoàn toàn Mỗi năm nông dân Việt Nam đã sử dụng tới khoảng 5 triệu tấn phânbón vô cơ qui chuẩn, không kể phân hữu cơ và các loại phân bón khác do các cơ sở tưnhân và công ty TNHH sản xuất, cung ứng Từ năm 1985 đến nay, mức tiêu thụ phân đạmtăng trung bình 7,2%/năm Ở các giai đoạn 1985-1990; 1991- 1995 và 1996-2001 mứctiêu thụ phân đạm tăng hàng năm là 10,3%; 16,7% và 8,2% tương ứng Như vậy trong 5năm trở lại đây mức tăng tiêu thụ phân đạm đã giảm dần

Hiện nay, ngành sản xuất phân hóa học nước ta mới đáp ứng được khoảng 45% nhu cầucủa nông nghiệp, còn lại phải nhập khẩu gần như toàn bộ phân đạm urê

Trang 9

CHƯƠNG 2 QUY TRÌNH SẢN XUẤT PHÂN ĐẠM 2.1 Nguyên liệu chính dùng cho nhà máy

Trang 10

2.3.1 Xưởng phụ trợ

Hệ thống làm lạnh nước tuần hoàn: Công suất: 36000 m3/h

Hệ thống nước khử khoáng: Công suất: 150 m3/h

Hệ thống sản xuất N2: Công suất: 190m3 khí N2 + 50 lít N2 lỏng/h

Máy phát điện (Gastubine): 21MW/h

Hệ thống sản xuất hơi nước 40 bar

Máy phát điện (Điezen) dự phòng: 650 và 450 kw

Trạm bơm nước sông làm mát: 2 bơm, 4100 m3/h

Nhiệt độ nước vào tháp làm lạnh 39-40oC

Nhiệt độ nước sau làm lạnh: 30-34 oC

Trang 11

Phương trình phản ứng trong 10-R-2001:

oC

Trang 12

Phương trình phản ứng trong 10-R-2002 A/B:

- Công đoạn reforming

CH 4 + 2H 2O t = 650/780 o C CO 2 + 4H - Q

Phương trình phản ứng trong 10-R-2003 :

- Công đoạn chuyển hóa co thành CO 2 và H 2

t = 400oC

t= 650 -780oC

CnH2n+2 + 2H2O Cn-1H2n + CO2 + 4H2 – QPhản ứng phụ:

xt Ni- Mg

toC , xt

Trang 13

Phương trình phản ứng ở 10-R-2004 :

Phương trình ở 10-R-2005 giống như trên Nhiệt độ 195 – 220 oC, xúc tác Cu, Zn, Al

- Công đoạn khử CO 2

Các phản ứng khử CO2 bằng dung dịch MDEA:

R3N + H2O + CO2 R3NH+ + HCO3

Trang 15

Có chức năng tổng hợp Amôniắc và CO2 thành dung dịch urê Dung dịch urê saukhi đã được cô đặc trong chân không sẽ được đưa đi tạo hạt Quá trình tạo hạt được thựchiện bằng phương pháp đối lưu tự nhiên trong tháp tạo hạt cao 105m Phân xưởng urê có

thể đạt công suất tối đa 2.385tấn/ngày

Công suất: 2200 tấn ure/ngày

Hình 2.4 Quy trình tổng hợp urê

Phương trình phản ứng tổng hợp ure:

CO2 + 2NH3 NH2COONH4 + Q

Phương trình phản ứng phân hủy Cacbamat:

Phản ứng hình thành Biuret:

2NH2CONH2 C ONHCONH2 + NH3

- Công đoạn nén CO 2

CO2 bão hòa hơi nước có độ tinh khiết tối thiểu 98,5% thể tích, có nhiệt độ 450C và

áp suất 0.18barg lấy từ phân Xưởng Amonia được đưa vào bình tách 20- V- 2017 Tại đâylượng lỏng cuốn theo được tách ra và được đưa về hệ thống thải lỏng, lượng khí CO2được đưa tới cửa hút cấp 1 của máy nén

Để bảo vệ thiết bị cao áp không bị ăn mòn, một lượng không khí được thêm vàothông qua bộ điều khiển lưu lượng FV-1002 vào cửa hút Lượng oxi thêm vào chiếm0.25% thể tích của lượng CO2 nạp liệu

Máy nén ly tâm bao gồm có 4 cấp trung gian và được chia làm 2 vùng nén thấp áp

và cao áp Sau mỗi cấp đều được trang bị một thiết bị làm mát và một thiết bị tách với mụcđích là để làm nguội và tách lỏng trong dòng khí Nhiệt độ tại cửa hút của cấp nén thứ 4được khống chế để tránh hiện tượng hóa rắn của CO2 Phần nước ngưng trong các bình

Trang 16

tách trung gian được đưa về hệ thống thải lỏng Lưu lượng thải lỏng được khống chế bằngcác van điều khiển mức

Dòng khí CO2 sau khi đi qua thiết bị tách lỏng V-1017, vào đến cửa hút của máynén có áp suất khoảng 0.12barg, được nén đến khoảng 4.6 barg trong cấp nén đầu tiên, đếnkhoảng 18.9 barg trong cấp nén thứ hai, đến 69.9 barg trong cấp nén thứ ba và sau cấp néncuối cùng áp suất lên đến 157 barg

Hai van FV-1001, 1013 được sử dụng như là 2 đường tuần hoàn khi chạy máy,đồng thời chúng cũng được sử dụng để tránh cho máy nén không bị surging khi công nghệgiao động Trong trường hợp máy nén lọt vào vùng surge, 2 van này sẽ tự động mở đểtuần hoàn một phần CO2 từ cửa ra cửa cấp nén 2 về lại cửa hút cấp nén 1 và cửa ra củacấp nén 4 về lại cửa hút cấp nén 3 Ngoài ra tại đầu ra của mỗi vùng nén người ta còntrang bị các van xả HV-1001, PV-1017 để xả khí khi máy nén dừng

Turbin 20-STK-1001 chạy bằng hơi nước được sử dụng làm động cơ dẫn động chomáy nén CO2 Lượng hơi nước này được cung cấp bởi mạng hơi của nhà máy Dòng hơitrung áp quá nhiệt có áp suất 23.5 barg được rút ra từ turbine được sử dụng làm tác nhâncấp nhiệt cho thiết bị phân giải cao áp E-1001 Lượng hơi còn lạị sau khi đi qua các tầngcánh turbin sẽ đi vào thiết bị ngưng tụ hơi nước E-1022 sử dụng nước sông có nhiệt độthấp làm môi chất tải nhiệt ngưng tụ Hệ thống ngưng tụ này hoạt động ở áp suất chânkhông khoảng -0.85 barg Lượng nước ngưng tụ tại 20-E-1022 được bơm 20-P-1018A/Bbơm về xưởng Phụ trợ để tái sử dụng

- Tổng hợp urê và thu hồi NH 3 - CO 2 cao áp

Urê được tạo thành qua phản ứng tổng hợp từ NH3 (lỏng) và CO2 (khí) trong tháptổng hợp urê R-1001 NH3 và CO2 phản ứng tạo thành ammonicacbamat, một phầnammonicacbamat tách nước tạo thành urê

Các phản ứng xảy ra như sau:

2 NH3 + CO2  NH2COONH4

Phần NH2COONH4  (NH2)2CO + H2O

Trang 17

Hình 2.5 Sơ đồ quy trình tổng hợp và thu hồi cao áp

- Phân hủy cacbanmate và thu hồi NH 3 - CO 2 trung & thấp áp

Làm sạch ure và thu hồi khí xảy ra trong hai giai đoạn giảm áp suất như sau:

+ Giai đoạn 1 ở áp suất 18,5 barg

+ Giai đoạn 2 ở áp suất 4 barg

Các thiết bị trao đổi nhiệt trong đó xảy ra quá trình làm sạch urea được gọi là cácthiết bị phân huỷ bởi vì trong các thiết bị này xảy ra sự phân huỷ cacbamat

- Giai đoạn phân hủy cacbanmate và thu hồi NH 3 , CO 2

Hình 2.6 Phân hủy cacbanmate và thu hồi NH3 – CO 2 trung áp

Trang 18

- Bình chứa lỏng ở đáy Z-1004, ở đây tập trung dung dịch urê 85% nhờ bơm P-1006 bơmvào đáy thiết bị cô đặc chân không thứ nhất E-1014 Thiết bị này hoạt động ở cùng áp suấtnhư phía ống E-1004 ( tức là 0,33 bar).

Hơi bão hòa áp suất 3,4 barg được cung cấp vào phía vỏ E-1014 để cô đặc dung dịch Ureachảy trong ống

Pha hỗn hợp ra khỏi phía ống E-1014 đi vào bình tách chân không khí lỏng thứnhất V-1014, từ đây một lần nữa hơi được tách ra nhờ hệ thống chân không thứ nhất PK-

1003 trong khi nhờ trọng lực urê nóng chảy khoảng 95% đi vào đáy thiết bị cô đặc chânkhông thứ hai E-1015 ,hoạt động ở áp suất 0,03 bar

Hơi bão hòa ở áp suất 3,4 barg được cung cấp vào phía vỏ E-1015 để cô đặc urêchảy trong ống

Pha hỗn hợp ra khỏi phía ống của E-1015 đi vào bình tách chân không khí – lỏngthứ hai V-1015, từ đây hơi nước được tách ra nhờ hệ thống chân không thứ hai PK-1004,trong khi urê nóng chảy (khoảng 99,75%) được đưa tới tháp tạo hạt

Trang 19

Urê 99.8%

Urê sản phẩm

Hơi nước, NH3, bụi urê

- Tạo hạt urê

Urea nóng chảy ra khỏi bình chứa Z-1015

được đưa đến vòi phun tạo hạt Z-1009 bằng bơm ly

tâm P-1008

Hạt urea nóng chảy từ vòi tạo hạt rơi dọc

theo tháp tạo hạt bằng gió tự nhiên Z-1008, đóng

rắn và làm lạnh khi tiếp xúc với dòng không khí

ngược chiều

Amonia tự do (vài ppm) có trong urea nóng

chảy từ Z-1015 có thể được thải ra khí quyển do lôi

cuốn theo dòng khí làm lạnh thổi qua tháp tạo

hạt

Để giảm sự thoát khí, dung dịch acid

sunfuric 98%, từ bồn chứa V-1040, được phun vào dòng urea nóng chảy bằng bơm địnhlượng P-1020, ở đầu vào bơm P-1008 bằng cách này H2SO4 phản ứng với NH3 tạo thànhamônisunfat, muối này sẽ trộn lẫn và đóng rắn cùng với sản phẩm urea

Urea được tập trung ở giữa đáy tháp tạo hạt bằng cào quay hình nón, chúng rơi vào băngtải của tháp tạo hạt N-1001

Sàng Z-1012, phía dưới của N-1001 sẽ loại bỏ urea vón cục, urea này đươc xả trựctiếp và được hòa tan trong bồn chứa urea kín TK-1003 thông qua băng tải tuần hoàn ureaN-1002

Hình 2.7 Cô đặc dịch urê

Hình Tháp tạo hạt

Ngày đăng: 06/10/2019, 14:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w