LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VỀ HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ TRÊN BIỂN VÀ THỰC TRẠNG Ở BIỂN ĐÔNG Trần Thị Kim Nguyên 1 , Võ Thị Thanh Nguyên 2 , Lê Thị Xuân Phương 3 Khoa Luật Quốc tế, trường Đại học Luật Th
Trang 1LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VỀ HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ TRÊN BIỂN
VÀ THỰC TRẠNG Ở BIỂN ĐÔNG
Trần Thị Kim Nguyên 1 , Võ Thị Thanh Nguyên 2 , Lê Thị Xuân Phương 3
Khoa Luật Quốc tế, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Hoạt động quân sự trên biển có tác động rất lớn đến an ninh biển Đặc
biệt, thực trạng hoạt động quân sự trên Biển Đông ngày càng diễn biến phức tạp
đe dọa an ninh và hòa bình trong khu vực cũng như trên thế giới Hiện nay, hoạt động quân sự và an ninh biển vẫn chưa nhận được nhiều nghiên cứu dưới góc độ pháp lý Bài viết nhằm mục tiêu làm sáng tỏ khuôn khổ của luật pháp quốc tế về hoạt động quân sự trên biển, quân sự hóa, an ninh biển và luận giải mối quan hệ biện chứng của hoạt động quân sự, quân sự hóa đối với an ninh biển trong khu vực Biển Đông
Từ khóa: An ninh biển, đảo nhân tạo, hiện đại hóa quân đội, hoạt động quân sự, liên
minh quân sự, quân sự hóa, UNCLOS 1982
1
Chủ nhiệm đề tài Email: tranthikimnguyen1994@gmail.com Facebook: Cát Vàng CQ
2
Thành viên đề tài Email: nguyenvo.nguyen83@gmail.com Facebook: Nguyên Thanh Võ
3
Thành viên đề tài Email: xuanphuongcq@gmail.com Facebook: CQ Xuân Phương
Xin trân trọng giới thiệu với Quý bạn đọc page: “Vì Biển Đông”
[https://www.facebook.com/biendong.1982/] của chúng tôi
Đây là chuyên trang cung cấp thông tin chính trị - xã hội - pháp lý của Biển Đông do nhóm tác giả tâm huyết biên tập để giới thiệu cùng bạn đọc Rất mong nhận được sự quan tâm theo dõi của Quý bạn đọc!
Trang 21 Đặt vấn đề
Trong bối cảnh hiện nay, hoạt động
quân sự là một trong những thách thức lớn
đối với an ninh nói chung và an ninh biển
nói riêng, đặc biệt đối với những vùng
biển có tranh chấp như Biển Đông Tuy
nhiên, luật pháp quốc tế về hoạt động quân
sự trên biển vẫn chưa được quy định chặt
chẽ và sâu sát Chính vì vậy, việc nghiên
cứu để nhận diện và đưa ra kiến nghị hoàn
thiện khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt
động quân sự trên biển đóng vai trò vô
cùng cần thiết
Có thể nhận thấy, bên cạnh sự thịnh
vượng mà các quốc gia có thể thụ đắc thì
những mâu thuẫn về lợi ích giữa các quốc
gia trong quá trình quản lý, khai thác và sử
dụng biển và đại dương xuất hiện ngày
càng nhiều và có xu hướng trở nên gay
gắt Thêm vào đó, một số quốc gia đã và
đang hiện thực hóa tham vọng độc chiếm
các vùng biển bằng sự gia tăng cả về
cường độ lẫn quy mô của hoạt động quân
sự trên biển Theo hướng đó, hoạt động
quân sự trên biển đã trở thành một thách
thức lớn đối với hòa bình và an ninh của
mỗi quốc gia ven biển, khu vực và thế
giới; trước hết là an ninh hàng hải và an
ninh hàng không
Riêng trong khu vực Biển Đông,
Trung Quốc đã và đang tiến hành hàng
loạt những hoạt động quân sự, từng bước
quân sự hóa khu vực này nhằm mục đích củng cố và mở rộng tham vọng, yêu sách phi pháp về chủ quyền, quyền chủ quyền
và quyền tài phán của họ Cụ thể, Trung Quốc đã và đang tiến hành bồi lấp, xây dựng bảy thực thể địa lý mà nước này đang chiếm đóng trái phép ở quần đảo Trường Sa thành các đảo nhân tạo, từng bước thiết lập khu căn cứ quân sự nhằm kiểm soát toàn bộ Biển Đông Về tốc độ,
từ năm 2013 đến nay, Trung Quốc đã tăng diện tích cải tạo đất từ 20-810ha trên Biển Đông Trung bình mỗi ngày các thực thể
Theo Bộ Quốc phòng Mỹ ngày 08/5/2015, Trung Quốc đã mở rộng diện tích các thực
tinh tháng 6/2015 cho thấy, phần diện tích được Trung Quốc cải tạo trên đá Chữ Thập
của Trung Quốc đã gây sức ép lên các nước trong khu vực phải hiện đại hóa quân đội kéo theo nguy cơ chạy đua vũ trang Bên cạnh đó, một số quốc gia khác vì quan ngại trước hoạt động quân sự của Trung Quốc mà vận dụng mối quan hệ liên minh
4 “Chiếm ba điểm yết hầu ở Biển Đông là âm mưu
lâu dài của Trung Quốc”, Báo Mới, xem tại:
[http://www.baomoi.com/chiem-3-diem-yet-hau-o-
bien-dong-la-am-muu-lau-dai-cua-trung-quoc/c/20117290.epi?utm_source=iapp&utm_medi um=facebook&utm_campaign=share]
(truy cập ngày 01/9/2016)
5 Số liệu được lấy từ Phòng Thông tin khoa học quân sự, Quân khu VII, Bộ Quốc Phòng
Trang 3quân sự, theo đó, tình trạng đối đầu quân
sự gây bùng nổ chiến tranh có khả năng
xảy ra cao hơn Không chỉ trạng thái hòa
bình và an ninh ở Biển Đông bị đe dọa mà
còn ảnh hưởng trong phạm vi thế giới
Trong khi đó, nhóm tác giả nhận thấy
rằng, luật pháp quốc tế đặc biệt là Công
ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982
không trực tiếp điều chỉnh về hoạt động
quân sự trên biển mà chỉ ghi nhận một
nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt là “sử
dụng biển cả nhằm mục đích hòa bình”
Theo đó, các khái niệm về hoạt động quân
sự, hoạt động quân sự trên biển cùng mối
quan hệ với an ninh biển vẫn chưa nhận
được nhiều sự đầu tư nghiên cứu nghiêm
túc và bài bản dưới góc độ khoa học pháp
lý Vì lẽ đó cho đến nay, cơ sở lý luận để
đánh giá tính hợp pháp hay bất hợp pháp
của hoạt động quân sự là chưa được hoàn
bị Đây là một trong những nguyên nhân
khiến cho hoạt động quân sự của các quốc
gia rất ít được kiểm soát nên đã trở thành
một thách thức không nhỏ đối với an ninh
biển
Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, tồn
tại một số nguyên tắc và quy định trong
luật quốc tế cũng có một phần gián tiếp
hình thành nên một khuôn khổ pháp lý cho
hoạt động quân sự của các quốc gia Từ
đó, việc nghiên cứu các quy định của luật
pháp quốc tế có liên quan đến hoạt động
quân sự và mối quan hệ biện chứng với an
ninh biển là vô cùng cần thiết để nhận diện được khuôn khổ pháp lý này cũng như là đưa ra các kiến nghị khả dụng nhằm hạn chế hay đi đến loại trừ nguy cơ đe dọa hòa bình và an ninh từ các hoạt động quân sự trên biển
Với công trình này, nhóm tác giả đã thu thập, phân tích và đánh giá các thuật ngữ “hoạt động quân sự” và “an ninh biển”
để đề xuất ra hai khái niệm trên góc độ pháp lý, đồng thời phân tích mối quan hệ biện chứng giữa chúng Bên cạnh đó, công trình cũng đã phân tích và đánh giá các quy định của luật pháp quốc tế có liên quan hoạt động quân sự theo hai hướng: luật biển quốc tế và các quy định khác của luật pháp quốc tế về hoạt động quân sự Từ những nền tảng kiến thức vừa nêu, công trình tiến hành phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động quân sự của một số quốc gia trong không gian Biển Đông như: Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Mỹ và Nhật Bản Qua đó, làm rõ thực trạng hoạt động quân sự của các quốc gia này qua việc đánh giá phân tích dựa trên khía cạnh pháp lý quốc tế, dựa vào đó, các quốc gia
sẽ có định hướng, sách lược nhằm ứng phó kịp thời với những nguy cơ đe dọa đến hòa bình ổn định của khu vực
2 Những vấn đề lý luận về hoạt động quân sự và an ninh biển
2.1 Khái niệm về hoạt động quân sự
và an ninh biển
Trang 4Khái niệm hoạt động quân sự
Có thể khẳng định, quân đội là một
phần không thể thiếu của bất kỳ quốc gia
Hầu như không có quốc gia nào có thể tồn
tại mà không có quân đội, cũng như là các
hoạt động quân sự Trong phạm vi công
trình này, khái niệm hoạt động quân sự
được giới hạn trong 03 đặc điểm sau để
phân biệt với hoạt động quân sự trên mặt
đất Cụ thể: một là, không gian tiến hành là
không gian biển; hai là, lực lượng tiến
hành hoạt động quân sự trên không gian
biển, là sự kết hợp giữa lực lượng trên
không và trên biển bao gồm không quân,
hải quân (như cách thức tổ chức quân đội
hầu hết các quốc gia); ba là, về phương
tiện tiến hành, hoạt động quân sự trên biển
thường có phương tiện hỗ trợ như tàu
ngầm, tàu thuyền nổi trên mặt nước, máy
bay Trong đó, không gian tiến hành hoạt
động quân sự là trên bộ hay trên biển sẽ
đóng vai trò quyết định đối với hai đặc
điểm còn lại
Qua quá trình nghiên cứu, nhóm tác
giả đã tiến hành phân loại hoạt động quân
sự dựa vào hai tiêu chí chính là chủ thể
thực hiện và mục đích thực hiện Cụ thể:
Một là, về chủ thể, đối với tiêu chí chủ
thể thực hiện hoạt động quân sự thì có ba
trường hợp xảy ra là: đơn phương; song
phương và đa phương Đối với hình thức
song phương và đa phương chúng có điểm
chung là có nhiều bên cùng tham gia vào
một hoạt động quân sự tại một khu vực xác định Hình thức hoạt động quân sự song phương hoặc đa phương này có thể xuất phát từ mối quan hệ liên minh quân
sự hoặc hợp tác quân sự Theo đó, sẽ tạo ra mối liên hệ biện chứng trên hai phương diện tích cực và tiêu cực Nhìn chung, tính chất tích cực và tiêu cực của hành động liên minh quân sự đan xen, chuyển hóa tác động lẫn nhau; gây nguy hại đến các mục tiêu chung là hòa bình, ổn định và an ninh
Hai là, về mục đích hoạt động quân
sự, nhóm tác giả chia thành hai mục đích chính: (1) đe dọa và chiến tranh; (2) bảo vệ
và hòa bình Phải thấy rằng, các hoạt động quân sự với mục đích đe dọa và chiến tranh là hết sức nguy hiểm và gây đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình của thế giới Trong khi đó, hoạt động quân sự với mục đích bảo vệ và hòa bình sẽ loại trừ những dấu hiệu của hoạt động quân sự nhằm mục đích, đe dọa và chiến tranh
Từ những phân tích trên, nhóm tác giả
đưa ra khái niệm hoạt động quân sự: là hoạt động có kế hoạch được tiến hành bởi quân đội của các quốc gia, dựa trên sự liên minh, hợp tác hay chính các quốc gia
6 Nguyễn Văn Quang, “Mưu đồ gì ẩn sau những lời kêu gọi Liên minh quân sự”, Viện Khoa học
XHQSVN – Bộ quốc phòng, Tạp chí Quốc phòng
toàn dân, xem tại:
[http://tapchiqptd.vn/zh/van-de- su-kien/muu-do-gi-an-sau-nhung-loi-keu-goi-lien-minh-quan-su/7302.html] (truy cập ngày
12/4/2016)
Trang 5tự thực hiện nhằm mục đích chiến tranh
hoặc hòa bình
Từ khái niệm nêu trên, có thể rút ra
những đặc điểm cơ bản và đặc trưng của
hoạt động quân sự là: (1) hoạt động quân
sự là hoạt động có kế hoạch; (2) cách thức
tiến hành hoạt động quân sự có thể là liên
minh, hợp tác giữa các quốc gia hoặc quốc
gia độc lập thực hiện và (3) chủ thể tiến
hành hoạt động quân sự là lực lượng quân
đội của quốc gia Tổng thể bốn đặc điểm
làm nên nội hàm của khái niệm hoạt động
quân sự giúp phân biệt được với những
hoạt động thông thường khác Đây là cơ sở
cho các chủ thể khi thực hiện hành vi hiểu
rõ hoạt động mà mình đang tiến hành có
tính chất pháp lý nào mà có cơ chế điều
chỉnh cho phù hợp
Khái niệm an ninh biển
An ninh là trạng thái ổn định, an toàn,
không có dấu hiệu nguy hiểm, đe dọa sự
tồn tại và phát triển bình thường của cá
nhân, của tổ chức, của từng lĩnh vực hoạt
ninh”, hiểu theo một nghĩa đơn giản nhất,
là khả năng giữ vững sự an toàn trước các
mối đe dọa Tuy nhiên, “an ninh” không
phải là một khái niệm tĩnh mà là một khái
niệm động và trải qua nhiều thay đổi về
7 Trung tâm từ điển Bách khoa Quân sự (2004), Từ
điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, NXB Quân đội
Nhân dân, tr 25
Xem thêm: Viện Ngôn ngữ học (2010), Từ điển
Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách khoa, tr 21.
cách hiểu cũng như cách tiếp cận Từ một
ý niệm truyền thống xoay quanh các chủ
đề quân sự, chiến tranh và bạo lực, khái niệm an ninh với những kết nối mới đã mở
ra những chiều kích xuất phát từ nhiều lĩnh vực khác nhau
Để đưa ra được khái niệm an ninh biển, nhóm tác giả đã tiến hành tổng hợp, phân tích và so sánh các khái niệm đã có
về an ninh biển Qua đó, nhóm tác giả nhận thấy khái niệm an ninh biển đã được nhìn nhận rất đa diện nhưng trong đó, góc
độ quan hệ quốc tế, địa chính trị đóng vai trò chủ đạo Những khái niệm này ra đời nhằm phục vụ cho mục đích nhất định của các tác giả Tuy nhiên, các khái niệm đó chưa thể đáp ứng được các yếu tố mà nhóm tác giả cần cho Công trình nghiên cứu này Đó là: (1) về góc độ nhìn nhận thì khái niệm phải xuất phát từ cơ sở pháp lý
mà cụ thể là UNCLOS 1982 và (2) về mục đích nghiên cứu là làm rõ được các quy định về an ninh biển của UNCLOS 1982
Từ đó, để đạt được mục đích nghiên cứu, nhóm tác giả tiến hành xây dựng một khái niệm an ninh biển thỏa mãn được hai yếu
tố đó
Xét thấy, UNCLOS 1982 đóng vai trò như Hiến pháp của biển và đại dương ràng buộc tất cả các quốc gia thành viên của mình trong một khung pháp lý nên phải nhìn nhận khái niệm an ninh biển dưới góc
độ pháp lý thì mới nhận diện được chân
Trang 6xác khung pháp lý mà Công ước đã đề ra
Dựa trên cơ sở những quy định của
UNCLOS 1982, nhóm tác giả cho rằng: An
ninh biển là một khái niệm pháp lý chỉ
trạng thái hòa bình, an toàn và n đ nh
trong không gian biển; cho các chủ thể
khai thác, sử dụng và quản lý biển và đại
dương nhằm mục đích hòa bình
Như vậy, khái niệm an ninh biển mà
nhóm tác giả đưa ra có những đặc điểm
như sau: (1) an ninh biển được nhìn nhận
như một khái niệm pháp lý; (2) khái niệm
này chỉ ra trạng thái hòa bình, an toàn và
ổn định trong không gian biển; (3) chủ thể
của các hoạt động trên biển bao gồm quốc
gia, vùng lãnh thổ, tổ chức, pháp nhân, cá
nhân khi khai thác, sử dụng và quản lý
biển và đại dương; (4) mục đích hòa bình
Qua quá trình nghiên cứu, nhóm tác
giả nhận thấy có ba điều kiện để đảm bảo
an ninh biển Thứ nhất, điều kiện tiên
quyết và quan trọng nhất là các quốc gia
phải tuân thủ luật pháp quốc tế, cùng với
những cam kết quốc tế mà các bên đã thỏa
dựng được chiến lược an ninh biển cụ thể
và rõ ràng Chiến lược an ninh biển quốc
gia được cấu thành bởi ba bộ phận chính:
8 Tại Diễn đàn Biển ASEAN lần III và Diễn đàn
Biển ASEAN (EAMF) mở rộng lần I diễn ra ở
Philippines từ ngày 03-05/10/2012, các nước tham
dự hai diễn đàn đều nhấn mạnh tầm quan trọng của
việc hợp tác trong lĩnh vực biển mang tính chất liên
ngành nhằm phục vụ cho lợi ích mỗi quốc gia cũng
như cả cộng đồng ASEAN
mục tiêu chiến lược, phương châm chiến lược và biện pháp chiến lược Trong đó, mục tiêu chiến lược là nhân tố hàng đầu, quyết định chiến lược an ninh biển, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động duy trì an ninh
Giúp các quốc gia xác định được mục tiêu và biện pháp tiến hành các hoạt động nhằm duy trì và đảm
bảo an ninh biển Thứ ba, các quốc gia
phải xây dựng hệ thống giải pháp chung để cùng nhau bảo vệ nền an ninh biển
Mối quan hệ giữa hoạt động quân sự
và an ninh biển
Trong phần này, mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động quân sự và an ninh biển được phân tích trên bốn khía cạnh sau: (1) an ninh hàng hải, (2) an ninh hàng không; (3) thương mại quốc tế và (4) môi trường biển
Một là, mối quan hệ giữa hoạt động
quân sự và an ninh hàng hải Có thể nhận thấy, nếu trong vùng biển diễn ra hoạt động quân sự thì việc đi lại bình thường của các tàu thuyền ít nhiều đều sẽ bị tác động trên hai phương diện tích cực và tiêu cực Hoạt động quân sự hợp pháp góp phần duy trì hòa bình, an ninh tại vùng biển, qua đó đảm bảo việc di chuyển bình thường của các loại tàu thuyền đi qua vùng biển này Còn hoạt động quân sự bất hợp
9
Phân tích sự phát triển trong chiến lược an ninh
biển của Trung Quốc, Phòng Thông tin khoa học
quân sự, Quân khu VII, Bộ Quốc phòng
Trang 7pháp sẽ cản trở, đe dọa đến an ninh hàng
hải
Hai là, mối quan hệ giữa hoạt động
quân sự và an ninh hàng không Xét thấy,
an ninh hàng không trên không gian biển
cũng là một bộ phận nằm trong an ninh
biển Vì quyền đi qua không gây hại chỉ
đặt ra đối với tàu thuyền chứ không phải
phương tiện bay nên phương tiện bay được
qua vùng biển thuộc quyền tài phán của
quốc gia khi có thỏa thuận riêng với quốc
gia ven biển Cũng giống mối quan hệ với
an ninh hàng hải, các loại hình hoạt động
quân sự hợp pháp duy trì, củng cố nền an
ninh hàng không Còn hoạt động quân sự
bất hợp pháp thì ảnh hưởng xấu đến sự an
toàn của những phương tiện bay
Ba là, mối quan hệ giữa hoạt động
quân sự và thương mại quốc tế Có thể
nhận thấy, so với các phương thức vận
chuyển bằng đường bộ và hàng không, vận
chuyển bằng đường biển được xem là hiệu
quả nhất về số lượng và chi phí nên các
hoạt động vận chuyển thương mại quốc tế
phần lớn được tiến hành bằng đường biển,
do đó, những hoạt động quân sự trên biển
khó tránh khỏi tác động đến lĩnh vực này
Bốn là, mối quan hệ giữa hoạt động
quân sự và môi trường biển Môi trường
biển được hiểu là không gian khai thác của
con người cùng với những hệ sinh thái
biển và địa chất, địa mạo của biển Nhóm
tác giả cho rằng, đa số hoạt động quân sự
cả hợp pháp và bất hợp pháp đều có tác
động xấu đến hệ sinh thái biển và địa chất địa mạo của môi trường biển Chỉ một số ít hoạt động quân sự hợp pháp có tác động tích cực đến hệ sinh thái biển và địa chất, địa mạo của biển như: nghiên cứu khoa học về môi trường biển, cải tạo khắc phục
ô nhiễm môi trường biển, … Còn những hoạt động quân sự hợp pháp khác như chiến tranh chính nghĩa, tập trận, công tác hậu cần quân đội, … đều ít nhiều tác động không tốt đến hệ sinh thái biển và địa chất địa mạo của biển
Ngoài ra, hoạt động quân sự trên biển còn gây ảnh hưởng đến hoạt động khai thác của con người trong không gian biển
Cụ thể, hoạt động quân sự hợp pháp giúp duy trì nền hòa bình ổn định, qua đó, hoạt động khai thác của con người được diễn ra một cách bình thường, bảo vệ con người ra khỏi các nguy cơ về cướp biển và được cứu trợ khi gặp thiên tai, hiểm họa, … Còn hoạt động quân sự bất hợp pháp diễn ra tại vùng biển là ngư trường, hệ quả kéo theo
là một cộng đồng ngư dân bị mất ngư trường Sinh hoạt không được ổn định do cản trở hoạt động sinh kế Nguy hiểm hơn, hoạt động quân sự bất hợp pháp rất có khả năng đe dọa trực tiếp đến tính mạng và sức khỏe của những người đang thực hiện hoạt động dân sự trên biển
Như vậy, xét về mặt thực tiễn, có thể khẳng định rằng, các hoạt động quân sự đều ít nhiều có tác động xấu đến an ninh biển Tuy nhiên, các hoạt động quân sự
Trang 8hợp pháp thì có mức độ ảnh hưởng thấp
hơn và sự ảnh hưởng này tồn tại như là
một rủi ro mà các quốc gia tiến hành hoạt
động quân sự hợp pháp không mong
muốn
Theo chiều hướng ngược lại, an ninh
biển cũng có chiều tác động đến hoạt động
quân sự Đảm bảo an ninh hàng hải, an
ninh hàng không, thương mại quốc tế và
môi trường biển là động lực tiến hành hoạt
động quân sự vì mục đích hòa bình và
phản đối hoạt động quân sự vì mục đích
chiến tranh Theo đó, để đảm bảo được an
ninh biển, các quốc gia phải tiến hành hoạt
động quân sự rất thận trọng và tuyệt đối
không vì mục đích chiến tranh
2.2 Luật pháp quốc tế về hoạt động
quân sự
Các nguyên tắc và quy định của luật
biển quốc tế về hoạt động quân sự
Trong phần này nhóm tác giả phân
tích các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt
động quân sự có trong các nguyên tắc đặc
trưng của luật biển quốc tế, UNCLOS
1982 và các bộ quy tắc quốc tế khác có
liên quan
Những vấn đề pháp lý cơ bản thể hiện
ở các nguyên tắc đặc trưng của luật biển
quốc tế có chi phối đến hoạt động quân sự
trên biển bao gồm: (1) nguyên tắc đất
thống trị biển; (2) nguyên tắc tự do biển cả
và (3) nguyên tắc bảo vệ và giữ gìn môi
trường biển
Một là, nguyên tắc tự do biển cả với
nội dung biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia có biển hay không có biển
có hoạt động quân sự Nguyên tắc này làm
rõ một điều, hoạt động quân sự trên biển là quyền của mỗi quốc gia trong vùng biển quốc tế Tuy nhiên, quyền này bị hạn chế dần theo hướng từ biển cả vào lãnh thổ của quốc gia ven biển
Hai là, nguyên tắc đất thống trị biển
Nguyên tắc này mang hàm nghĩa lãnh thổ trên bộ quyết định lãnh thổ trên biển của một quốc gia Xuất phát từ chủ quyền lãnh thổ trên bộ, các quốc gia có quyền đơn phương hoặc thỏa thuận với các quốc gia hữu quan để hoạch định các vùng lãnh thổ khác của quốc gia bao gồm: lãnh thổ trên biển, lãnh thổ trên không và lãnh thổ trong
Phạm vi hoạt động quân sự trên biển của quốc gia phụ thuộc vào việc xác định các vùng biển dựa vào chủ quyền đối với lãnh thổ kế cận
Ba là, nguyên tắc bảo vệ và gìn giữ
môi trường biển Việc quy định nguyên tắc này góp phần bảo vệ và gìn giữ môi trường biển trước những tác động xấu của con người và thiên nhiên
10
Trường Đại học Luật Tp HCM (2013), Giáo
trình công pháp quốc tế, NXB Hồng Đức, tr 312
11 Trường Đại học Luật Tp HCM (2013), Giáo
trình công pháp quốc tế, NXB Hồng Đức, tr 311
Trang 9Bên cạnh những nguyên tắc đặc thù
của luật biển quốc tế thì những quy định
của UNCLOS 1982 cũng có vị trí rất quan
trọng trong khuôn khổ pháp lý về hoạt
động quân sự, những quy định có liên
quan đến hoạt động quân sự trong
UNCLOS 1982 là một cơ sở pháp lý vững
chắc ràng buộc các quốc gia thành viên
thực hiện
Nhóm tác giả nhận định, UNCLOS
1982 không trực tiếp điều chỉnh các hoạt
động quân sự trong từng vùng biển Tuy
nhiên, UNCLOS 1982 đã loại ra các
trường hợp sử dụng biển có thể đe dọa đến
hòa bình và an ninh của các quốc gia bằng
cách quy định nguyên tắc sử dụng biển cả
cho mục đích hòa bình Trong công trình
này, nhóm tác giả đã thống kê và phân tích
những điều luật có trong UNCLOS 1982
có liên quan đến vấn đề hoạt động quân sự
theo từng vùng biển, để có được một nền
tảng pháp lý riêng về hoạt động quân sự
trong Công ước này
Các quy định khác của luật pháp
quốc tế về hoạt động quân sự
Bên cạnh những nguyên tắc đặc thù
luật biển quốc tế cũng như các quy định cụ
thể có trong UNCLOS 1982, hoạt động
quân sự còn chịu sự chi phối bởi hệ thống
quy định chung của luật pháp quốc tế như
các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế,
Hiến chương Liên hợp quốc 1945, một số
điều ước quốc tế có liên quan và những
quy định mang tính chất khu vực trong một số cam kết quốc tế song phương và đa phương khác
Một là, Các nguyên tắc cơ bản và quy
định chung của luật quốc tế liên quan đến hoạt động quân sự Nhóm tác giả nhận thấy trong số bảy nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế thì những nguyên tắc sau đây
có liên quan đến vấn đề hoạt động quân sự là: (1) nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia; (2) nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác; (3) nguyên tắc các quốc gia giải quyết tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình; (4) nguyên tắc cấm dùng
vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan
hệ quốc tế; (5) nguyên tắc tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda)
Hai là,quy định điều chỉnh về hoạt
động quân sự trong Hiến chương liên hợp quốc về quyền tự vệ của quốc gia khi bị tấn công vũ trang Cụ thể: quyền này được quy định tại Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc như sau:
Không có một điều khoản nào trong Hiến chương này làm tổn hại đến quyền tự vệ cá nhân hay tập thể chính đáng trong trường hợp thành viên Liên hợp quốc bị tấn công vũ trang cho đến khi Hội đồng bảo an
Trang 10chưa áp dụng được những biện
pháp cần thiết để duy trì hoà
bình và an ninh quốc tế
Những biện pháp mà các thành
viên Liên hợp quốc áp dụng
trong việc bảo vệ quyền tự vệ
chính đáng ấy phải được báo
ngay cho Hội đồng bảo an và
không được gây ảnh hưởng gì
đến quyền hạn và trách nhiệm
của Hội đồng bảo an, chiếu
theo Hiến chương này, đối với
việc Hội đồng bảo an áp dụng
bất kỳ lúc nào những hành
động mà Hội đồng thấy cần
thiết để duy trì hoặc khôi phục
Hoạt động quân sự nếu là nhằm tự vệ
thì không vi phạm luật pháp quốc tế Điều
luật cũng quy định rõ, quyền tự vệ này
được đặt ra khi quốc gia bị tấn công vũ
trang Điều này có nghĩa là, hoạt động
quân sự mang tính tự vệ không thể được
tiến hành trước mà chỉ được tiến hành sau
12
Điều 51, Hiến chương Liên hiệp quốc, nguyên
văn tiếng Anh: “Nothing in the present Charter
shall impair the inherent right of individual or
collective selfdefense if an armed attack occurs
against a Member of the United Nations, until the
Security Council has taken the measures necessary
to maintain international peace and security
Measures taken by Members in the exercise of this
right of selfdefense shall be immediately reported
to the Security Council and shall not in any way
affect the authority and responsibility of the
Security Council under the present Charter to take
at any time such action as it deems necessary in
order to maintain or restore international peace
and security”.
khi phía đối phương đã phát động tấn công
Ba là, Điều ước, cam kết quốc tế đa
phương trong khu vực Biển Đông có liên quan đến hoạt động quân sự Trong phần này, nhóm tác giả tập chỉ tập trung vào một số điều ước quốc tế có liên quan và những quy định mang tính chất khu vực trong một số cam kết quốc tế song phương
và đa phương khác Các cam kết quốc tế cần ưu tiên nhắc tới có điều chỉnh về hoạt động quân sự ở Biển Đông chính là Tuyên
bố về Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung
lập năm 1971 (Zone of Peace, Freedom and Neutrality – ZOPFAN)13 với nội dung loại trừ hoạt động quân sự của các quốc gia ngoài khu vực trong không gian Biển Đông can thiệp vào sự Hòa bình, Tự do và Trung lập của các quốc gia Đông Nam Á; Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (Treaty of Amity and Cooperation
in Southeast Asia – TAC) năm 1976 cũng
có liên quan đến hoạt động quân sự của
; Tuyên bố
13 Tuyên bố về Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập được ký kết vào ngày 27/11/1971 tại Kuala Lumpur, Malayasia gồm năm nước Indonesia, Malaysia, Phillippines, Singapore và Thái Lan Xem tại:
[http://asean.mofa.gov.vn/thong-tin/24/tuyen-bo-ve-khu-vuc-hoa-binh-tu-do-trung-lap-zopfan.html] (truy cập ngày 02/9/2016)
14 Hiệp ước Thân Thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á được ký kết ngày 24/12/1976 tại Denpasar, Bali, Indonesia gồm năm nước: Indonesia, Malaysia, Phillippines, Singapore và Thái Lan Xem tại: [http://asean.org/treaty-amity-cooperation-southeast-asia-indonesia-24-february-1976/] (truy cập 02/9/2016)