Nó cũng không áp dụng cho hợp đồng mua bán tàu thủy,máy bay hoặc các hợp đồng mua bán điện.Trừ phi hợp đồng của bạn quy định rằng CISG sẽ không áp dụng hoặc các bên kháccũng chỉ ra điều
Trang 1Hướng dẫn cho các nhà quản lý và luật sư
Áp dụng CISG (Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế) Hướng dẫn cho các nhà quản lý kinh doanh và luật sư
Hiệu đính: tháng 11/2009Tác giả: John P.McMahon [*]
PHẦN I
A Giới thiệu
B CISG là gì? Mục đích của CISG và khi nào nó có hiệu lực?
C Những quốc gia nào là thành viên của Công ước? Làm thế nào chúng ta biết được
đó là những nước nào?
D Công ước có hạn chế tính tự do của hợp đồng? Chúng ta có phải giao dịch dựa trêncác điều lệ cơ bản của Công ước hay có thể thương lượng với người mua và ngườibán của chúng ta về việc sử dụng những điều khoản phù hợp?
E Chúng ta có thể không áp dụng CISG đối với đơn đặt hàng, xác nhận đặt hàng haymẫu hợp đồng được không? Nếu chúng ta muốn không áp dụng CISG cho hợpđồng của mình, chúng ta phải làm gì?
F Việc áp dụng CISG làm chúng ta phải thay đổi cách thức thương lượng với ngườimua và người bán của chúng ta
G Khác biệt lớn nhất giữa luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước vàcác quy tắc trong công ước là gì?
1 Tình huống của nước Mỹ
- Quy tắc điều chỉnh quá trình thương lượng
- Thu hồi chào hàng.
- Tính bất hợp lệ
- Việc thiếu quy tắc “lời đề nghị hoàn hảo”
H Bởi vì cách thức chúng ta quản lý hàng tồn kho, quá trình sản xuất, việc bán hàngluôn đúng lúc nên sẽ không có việc giao hàng chậm hoặc giao hàng không phù hợp.Chúng ta sẽ bị CISG điều chỉnh như thế nào?
Trang 2I Có điều gì chúng ta nên biết và đề phòng mà chúng ta chưa hỏi?
1 Tình huống của nước Mỹ:
- Điều khoản giao hàng.
- Phí luật sư coi như là thiệt hại
PHẦN II:
A Hướng dẫn nghiên cứu CISG:
B Tin tức CISG:
1 Ủy ban tư vấn CISG
2 Các tình huống liên quan đến CISG được lựa chọn
3 Các tùy chọn của ủy ban tư vấn CISG
Nó sẽ đem đến cho các nhà buôn và chuyên gia tư vấn của họ những sự phát triển chọnlọc liên quan đến việc giải thích và áp dụng của Công ước và các nguồn thông tin liênquan đến sự phát triển này
Viện Luật thương mại quốc tế, tác giả và biên tập của bài viết này, không phải và cũngkhông nên được coi là cung cấp những lời khuyên hay dịch vụ luật pháp Mục đích của
Trang 3chúng tôi là cung cấp cho người mua, người bán và các nhà tư vấn của họ sự tiếp cậnđến những thông tin chung liên quan đến chủ đề nhập khẩu Để xác định xem điều gì là
có thể áp dụng được và áp dụng đúng cho trường hợp của bạn, bạn nên tham khảo luật
sư hoặc các chuyên gia khác
B CISG là gì?
Theo ngôn ngữ tập quán, Công ước Liên Hợp Quốc về mua bán hàng hóa quốc tế(“Công ước” hay là “CISG”) là một hiệp ước hay bản hợp đồng có tính chất ràng buộcgiữa các nước Nó thiết lập một loạt những quy tắc điều chỉnh những mặt cụ thể trongviệc ký kết và thực hiện các hợp đồng thương mại giữa người bán và người mua mà trụ
sở thương mại của họ ở các nước khác nhau Bằng việc thừa nhận nó, một nước sẽ camkết với các nước khác cũng thừa nhận Công ước này sẽ thừa nhận các quy tắc của Côngước như một phần của pháp luật nước đó
1 Mục đích của CISG
Mục đích của CISG là tạo thuận lợi và hiệu quả cho việc mua bán nguyên liệu thô,hàng tiêu dùng, hàng chế tạo trong thương mại quốc tế Nếu không có Công ước sẽ cónhiều nguy cơ dẫn đến sự không chắc chắn và các tranh chấp Luật mua bán hàng hóa ởcác nước khác nhau thì thường là khác nhau Trong giao dịch quốc tế, thường xảy ravướng mắc về vấn đề luật nước nào sẽ điều chỉnh Khi vướng mắc này xảy ra, các bên
sẽ không chắc chắn về quyền và nghĩa vụ của mình Sự không chắc chắn này tạo nên sựkhông hiệu quả và ý chí không tốt
CISG chứa đựng các quy tắc điều chỉnh quá trình tạo lập và giải thích hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế Nó cũng cung cấp các quy tắc điều chỉnh nghĩa vụ và các biệnpháp khắc phục của các bên trong giao dịch nói trên
CISG không hạn chế sự tự do của người bán và người mua trong việc soạn thảo hợpđồng cho phù hợp với điều kiện của họ Nhìn chung, bạn được tự do sửa đổi các quy tắccủa Công ước hoặc chấp nhận có áp dụng Công ước hay không
2 Khi nào CISG có hiệu lực?
Loại hợp đồng và địa điểm mà các bên có trụ sở thương mại sẽ xác định khả năng ápdụng của Công ước
CISG có thể được áp dụng cho các hợp đồng mua bán giữa các công ty trong nước nếunhư trụ sở kinh doanh của chúng đặt tại các nước tham gia Công ước khác nhau Xem
Asante Technologies, Inc v PMC-Sierra, Inc (United States, Northern District,
California, 27 July 2001), viết về hợp đồng giữa hai công ty Delaware
CISG cũng không áp dụng vào việc cung cấp hàng dịch vụ đơn lẻ Nhìn chung, nókhông áp dụng cho việc bán hàng dùng vào mục đích cá nhân, hộ gia đình hoặc nội trợ
Ví dụ, thông thường nó sẽ không áp dụng vào việc bán máy chụp ảnh hoặc quần áo cho
Trang 4một du khách nước ngoài Nó cũng không áp dụng cho hợp đồng mua bán tàu thủy,máy bay hoặc các hợp đồng mua bán điện.
Trừ phi hợp đồng của bạn quy định rằng CISG sẽ không áp dụng hoặc các bên kháccũng chỉ ra điều đó, CISG có thể được tự động áp dụng cho giao dịch mua bán nguyênliệu thô, hàng tiêu dùng, hàng chế tạo của bạn với người mua/bán nước ngoài CISGđiều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa giữa người mua và người bán cho trụ sở thươngmại ở các nước khác nhau mà các nước này công nhận CISG là một phần của luật phápnước đó, hay còn gọi là “các nước thành viên của Công ước” Đó là quy tắc chung của
Mỹ Có một vài tình huống mà CISG không áp dụng cho các giao dịch trên Nó cũng cóthể điều chỉnh các giao dịch khác Ví dụ, nước Mỹ đã tuyên bố đối với điều 95 Tuyên
bố này loại trừ điều 1 khoản b của Công ước Đối với các nước thành viên của Côngước mà không có tuyên bố đối với điều 95 thì CISG sẽ được áp dụng nếu tư pháp quốc
tế được chọn làm luật điều chỉnh có dẫn chiếu đến việc áp dụng luật của một nước làthành viên của Công ước
Để biết thêm thông tin chi tiết về các quy tắc cơ bản và khả năng áp dụng Công ước,xem tại Editorial analysis of CISG Article 1
Bạn nên lưu ý rằng quốc tịnh của người mua và người bán, địa điểm mà người muanhận hàng hay là việc hàng hóa di chuyển từ một nước sang nước khác không quantrọng CISG sẽ áp dụng khi người mua và người bán có trụ sở thương mại ở các nướckhác nhau là thành viên của Công ước
3 Công ước có điều chỉnh hợp đồng mua bán điện năng?
Việc mua bán điện năng bị loại trừ
4 CISG có áp dụng cho hợp đồng hỗn hợp bao gồm cả hàng hóa và dịch vụ?
Công ước áp dụng cho cả hợp đồng hỗn hợp trừ phi “phần nghĩa vụ nặng hơn của bêncung cấp hàng hóa bao gồm việc cung cấp lao động hoặc các dịch vụ khác” Để tránh
sự không chắc chắn, cần phải đạt được một thỏa thuận về việc áp dụng luật nào và cómột điều khoản hợp đồng quy định luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các bên
5 CISG có áp dụng cho hợp đồng mua bán phần mềm không?
Có vẻ như CISG điều chỉnh cả hợp đồng mua bán phần mềm có sẵn Tuy nhiên, Côngước không đề cập đến phần mềm Để tránh sự không chắc chắn, tốt nhất nên có thỏathuận về việc áp dụng luật nào và có điều khoản hợp đồng quy định rõ luật điều chỉnhmối quan hệ giữa các bên
Xem thêm S Green and D Saidov, Software as Goods và J Lookofsky, Software andthe CISG, và phần giải thích từ ngữ, điều 1 của Công ước
6 CISG có áp dụng khi chúng ta bán hàng hóa cho nhà phân phối nước ngoài?
Trang 5Công ước có thể áo dụng cho việc bán hàng hóa của một thỏa thuận phân phối nhưngkhông áp dụng cho độc quyền hoặc các khía cạnh phi thương mại của thỏa thuận phânphối Chúng được điều chỉnh bới luật áp dụng khác Xem tại Helen Kaminski v Marketing Australian Products, Southern District, New York, 21 July 1997)
C Những nước nào là thành viên của Công ước? Làm thế nào chúng ta biết được
đó là những nước nào?
Trong bài viết này, có 74 nước là thành viên của Công ước Để biết được các nước này,xem bảng “ Các nước thành viên Công ước” hoặc truy cập vào website của Ủy banLiên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) Bộ phận Hiệp ước LiênHợp Quốc công bố danh sánh các nước thành viên Công ước trên Internet cho nhữngngười đăng ký Các nước trong danh sách bao gồm phần lớn các đối tác thương mại lớncủa Mỹ Các nước này chiếm tới hơn ¾ tổng số hàng hóa trong thương mại quốc tế.Ngoài Mỹ còn có Mexico, Canada, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Pháp và Nga
Ở Nhật, Công ước có hiệu lực vào ngày 1/ 8/ 2009 Xem điều 1 điều 1 và 100 để biết khi nào Công ước áp dụng cho hợp đồng của chúng ta
D Công ước có hạn chế tính tự do của hợp đồng? Chúng ta có phải giao dịch dựa trên các quy tắc cơ bản của Công ước hay có thể thương lượng với người mua và người bán của chúng ta về việc sử dụng những điều khoản phù hợp?
CISG không hạn chế sự tự do trong hợp đồng của bạn và đối tác của bạn Như một khíacạnh của thực tế, các điều khoản của nó về vấn đề này ít tính hạn chế hơn điều khoảncủa “ Quy tắc thương mại thống nhất (UCC)” Tòa án giải thích vấn đề này rất rõ ràngtrong Ajax Tool Works, Inc v Can-Eng Manufacturing (Northern District, Illinois, 29January 2003) “CISG không chiếm ưu thế trong một hợp đồng tư giữa hai bên; thayvào đó nó cung cấp một thẩm quyền theo luật định mà từ đó các quy định trong hợpđồng được giải thích, lấp đầy khoảng trống trong ngôn ngữ của hợp đồng và điều chỉnhcác vấn đề không được đề cập trong hợp đồng”
Theo điều 6 của Công ước, bạn được tự do sửa đổi các quy tắc của Công ước hoặc lựachọn không áp dụng Công ước Để biết thêm thông tin về vấn đề này, xem phần giảithích từ ngữ của điều 6 Công ước [*] Xem thêm tập san của UNCITRAL về tìnhhuống luật của điều 6
_
* Phần giải thích thuật ngữ trích dẫn trong Hướng dẫn này chứa đựng những liên kết liên quan đến quá trình soạn thảo và lịch sử của từng điều khoản trong công ước; những trích dẫn nhằm giải thích tình huống luật và danh mục tham khảo; văn bản của các tình huống và tài liệu tham khảo; phân tích các từ ngữ, cụm từ, khái niệm và các tài liệu khác có liên quan.
E Chúng ta có thể không áp dụng CISG cho đơn đặt hàng, xác nhận bán hàng hoặc mẫu hợp đồng của chúng ta được không?
Trang 6Câu trả lời của câu hỏi này phụ thuộc rất nhiều vào tình huống của bạn Bạn nên thamkhảo ý kiến của chuyên gia tư vấn chuyên nghiệp về vấn đề này.
Có một xu hướng giữa rất nhiều công ty thường xuyên mua bán với các đối tác nướcngoài có quy định rằng hợp đồng của họ không được CISG điều chỉnh Nhìn chung,điều này phần nhiều bởi vì Công ước vẫn còn rất mới và chưa được thử nghiệm đầy đủhơn là vì các quy tắc của nó không hiệu quả Công ước không còn mới nữa và cơ hội đểđánh giá cách thức mà CISG được thử nghiệm và giải thích thì luôn sẵn có
Trong bài viết này, có hơn 2000 luật lệ tòa án và trọng tài trong CISG được
đánh dấu trên site Xem thêm tại Cases on the CISG (tình huống về CISG)
Ngoài ra còn có rất nhiều bài bình luận tạp chí pháp luật về CISG Xem
Bibliography (danh mục tham khảo) Bài viết này chứa hơn 8000 trích dẫn.
Xem thêm tại Full Texts of Scholarly Writings Nó chứa đựng hơn 1,200 vănbản bao gồm cả CISG.M và Ph.D mà chúng ta không dễ gì có được ở đâu đó
Bạn có thể chắc chắn rằng nếu một khúc mắc hay một tranh chấp phát sinh thì liệuCISG có không đem đến cho bạn và khách hàng của bạn một kết cục thuận lợi hơnkhông?
1 Nếu chúng ta muốn loại trừ việc áp dụng CISG chúng ta nên làm gì?
Các chuyên gia kiến nghị rằng ngôn ngữ loại trừ việc áp dụng Công ước nên cụ thể,e.g., “ luật của Bắc Carolina loại trừ CISG” hoặc “điều 2 của UUC ban hành tại NewYork” hoặc “luật của Pháp loại trừ CISG” Lý do cho điều này là bởi CISG là luật củaNorth Carolina, New York và Pháp Vấn đề này đã được thảo luận, rất nhiều các gợi ý
có thể được tìm thấy trong Peter Winship, "Changing Contract Practices in Light of theUnited Nations Sales Convention: A Guide for Practitioners" (Thay đổi thực tiễn hợpđồng dưới ánh sáng của Công ước về mua bán hàng hóa của Liên hợp quốc: Hướng dẫn
cho các nhà kinh doanh”) , 29 International Lawyer (1995) 525-554; và B Blair
Crawford, "Drafting Considerations under the 1980 Convention on Contracts for theInternational Sale of Goods" (Những cân nhắc trong việc soạn thảo Công ước năm
1980 về hợp đông mua bán hàng hóa quốc tế”) (, 8 Journal of Law and Commerce
(1988) 187-205 Xem thêm Asante Technologies, Inc v PMC-Sierra, Inc (United
States, N.D California 27 July 2001) và St Paul Insurance Company v Neuromed Medical Systems & Support (United States, S.D NY 26 March 2002) Và rất nhiều cáctrích dẫn của các tình huống ở các nước khác được cung cấp trong tập san củaUNCITRAL về tình huống luật của điều 6
F Áp dụng CISG có nghĩa là chúng ta phải thay đổi cách thức giao dịch với người mua hoặc người bán của chúng ta?
1 Tình huống của nước Mỹ:
Đúng vậy, áp dụng CISG có nghĩa là chúng ta phải thay đổi một số khía cạnh trong việcchúng ta giao dịch với người mua và người bán của chúng ta
Trang 7Đối với người mua và người bán đã lên kế hoạch cho quy trình hợp đồng của mìnhdưới sự áp dụng của luật hợp đồng nội địa của Mỹ, CISG sẽ tạo ra sự thay đổi quantrọng CISG dẫn đến việc dễ bị ràng buộc bởi một hợp đồng có thể được thi hành Nókhiến cho việc tranh luận, sửa chữa các từ ngữ rõ ràng của một văn bản hợp đồng được
ký bởi người chứng kiến hoặc các bằng chứng khác chỉ ra rằng hợp đồng dạng văn bảnkhông phù hợp với thỏa thuận thực sự giữa người mua và người bán trở thành có thể.Xem tại CISG-AC Opinion No 3
MCC-Marble Ceramic Center, Inc v Ceramica Nuova D'Agostina, S.p.A., 144 F 3rd
1384 (United States, 11th Cir., 29 June 1998), đã chỉ ra tầm quan trọng của các khíacạnh sau này của các quy tắc trong Công ước Đại diện của các bên gặp nhau tại mộthội chợ thương mại Họ thống nhất các điều khoản về giá cả, chất lượng, số lượng, giaohàng và thanh toán của một thỏa thuận mua bán gốm sứ vệ sinh Đại diện của phíangười mua đã ký lên mặt trên của mẫu đặt hàng chuẩn của người bán với những điềukhoản đã được thỏa thuận Mặt sau của mẫu đơn chứa đựng các điều khoản mà nếuđược xem xét là một phần của hợp đồng thì sẽ dẫn đến một bản án có lợi cho ngườibán Ngay bên dưới dòng chữ ký của người mua là một phần được in sẵn trong đó đạidiện của người mua nhận thức được rằng anh ta ý thức được và đồng ý với chúng Sựnhận thức này thậm chí dẫn đến một vài điều khoản phù hợp với tình huống theo số.Người mua viện dẫn ra chứng cứ các bên đã dự định rằng các điều khoản ở mặt sau tờthỏa thuận mẫu sẽ không phải là một phần trong các thỏa thuận của họ Chứng cứ baogồm bản khai có tuyên thệ được ký bởi giám đốc điều hành cũ của người bán, người đãxác nhận lại sự khẳng định của người mua và dưới sự chứng kiến của người phiên dịchđược người bán thuê Tòa kết luận rằng chứng cứ như vậy phải được xem xét
Tòa tuyên bố rằng luật lệ của CISG sẽ không có nghĩa là hợp đồng dạng văn bản sẽluôn luôn mâu thuẫn trong các tình huống của nó, bởi vì tình huống không bình thường
ở chỗ hai người chứng kiến, những người thay mặt người bán trong cuộc thương lượng,
đã chứng thực cho chứng cứ của người mua Tuy nhiên, bạn cần nhớ trong đầu rằngtrong Công ước, tồn tại khả năng cho các điều khoản viết được ưu tiên bởi bằng chứngcủa các ý định không hợp lý Tòa gợi ý rằng cách dùng của một loại điều khoản hợpđồng mà các luật sư gọi là “hợp nhất” hay “hòa nhập” Mục đích của việc hợp nhất hayhòa nhập điều khoản là để phân biệt bất kỳ hay tất cả các thỏa thuận và bản ghi nhớkhông được thể hiện trong văn bản hợp đồng Nhưng dưới các quy định trước của tòa
án, dường như chứng cứ của dự định không phù hợp có thể đã được chấp nhận cho dù
đã có điều khoản “hợp nhất” giữa những câu chữ được in phía sau mẫu hợp đồng củangười bán
Nguyên cớ cho việc tòa án tại MCC-Marble kiến nghị rằng , để phù hợp với các tìnhhuống của Công ước, một điều khoản “hợp nhất” hay “hòa nhập” nên đọc đâu đó trongcác dòng này:
“Các bên thỏa thuận và tuyên bố bằng ý định của họ rằng chứng từ này chứa đựng toàn
bộ các thỏa thuận, rằng sẽ không có thỏa thuận, ghi nhớ hoặc xắp xếp nào mà khôngđược quy định trong đó, rằng tất cả mọi thứ mà nó chứa đựng đều đã được thỏa thuận
Trang 8và rằng chứng cứ mâu thuẫn với những điều trong điều khoản này đều không được thừanhận.”
Để biết thêm thông tin về các kỹ thuật bảo vệ việc hòa nhập văn bản hợp đồng của bạn,xem E Allan Farnsworth, The Interpretation of International Contracts and the Use ofPreambles, Revue de Droit des Affaires Internationals / International Business LawJournal (2002) No 3-4, 271-279
G Đâu là khác biệt quan trọng giữa luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước và các quy tắc của CISG.
1 Tình huống của nước Mỹ:
(a) Giới thiệu
(b) Luật điều chỉnh quá trình thương lượng
(c) Xung đột form mẫu
(d) Khả năng thu hồi của chào hàng
(e) Tính bất hợp lệ
(f) Sự thiếu vắng quy tắc “ lời đề nghị hoàn hảo ”
(a) Giới thiệu
Điều 2 của Quy tắc thương mại thống nhất (1952) đã được công nhận khắp nước Mỹngoại trừ 1 bang Nó cung cấp những quy tắc về luật pháp điều chỉnh việc khởi tạo vàthực hiện hợp đồng mua bán nguyên liệu thô, hàng tiêu dùng và hàng chế tạo trongnước Trong bài viết này, việc sửa chữa điều khoản này vào năm 2003 và 2005 vẫnchưa được ban hành bởi bất cứ bang nào thuộc Liên bang dù rằng nó sẽ thay đổi mộtvài phần được viết ở trong bài hướng dẫn này
Dưới đây là những điểm khác biệt quan trọng nhất giữa điều 2 và CISG mà bạn nên chú
ý và ghi nhớ:
(b) Quy tắc điều chỉnh quá trình thương lượng.
Đầu tiên, có sự khác nhau về quy tắc điều chỉnh quá trình thương lượng
CISG xóa bỏ một trong những thay đổi của UCC trong luật hợp đồng mua bán truyềnthống của Mỹ Nhìn chung, dưới sự điều chỉnh của CISG nếu một sự truyền đạt về việcviệc chấp nhận một chào hàng có chứa đựng những điều khoản thêm vào hoặc khác đi,
sự truyền đạt này có vai trò như một sự từ chối hơn là một sự chấp nhận Cách tiếp cận
Trang 9này khá khác so với UUC và có thể tạo ra những vẫn đề dẫn đường cho việc kinh doanhthường làm.
Hiếm khi các cuộc thương lượng không gồm hơn một sự chào hàng được đồng ý mộtcách dễ dàng Thường thì bên nhận được chào hàng sẽ đồng ý với một số nhất địnhnhững điểm thay đổi hay bổ sung Hơn nữa, người bán và người mua có khuynh hướngdùng hợp đồng mẫu hay các mẫu đặt mua hàng chứa những điều khoản chi tiết có lợicho phía mình trong vụ mua bán mà họ tham gia Sự trao đổi của những mẫu như vậynhư là những chào hàng và chấp nhận hoặc là “xác nhận” dẫn đến việc gia tăng của cáigọi là “cuộc chiến của những form mẫu” Những cách kinh doanh thông thường này tạo
ra khó khăn đối với các quy tắc để xác định liệu các cuộc thương lượng có trở thànhnhững bản hợp đồng có tính chất ràng buộc hay không
Dưới chế độ luật Anh – Mỹ, nếu một chấp nhận chào hàng hàm chứa những điều khoảnkhác biệt hoặc bổ sung thì nó được xem như là một sự từ chối và một hoàn giá Do đómột “chấp nhận” làm thay đổi cơ bản của chào hàng sẽ không dẫn đến một hợp đồng
(C) Cuộc chiến những form mẫu:
Các nhà soạn thảo UCC cố gắng tránh những học thuyết luật chung chung, cứng nhắc
mà thay vào đó, họ thiết lập những quy tắc để giải quyế vấn đề “cuộc chiến những formmẫu” Dưới sự điều chỉnh của UCC, trừ khi một chấp nhận được chỉ ra rằng nó là điềukiện để người chào hàng chấp nhận những điều khoản bổ sung hay sửa chữa, một sựtruyền đạt một chấp nhận như vậy, với những điều khoản thêm vào ngẫu nhiên sẽ trởthành một phần của hợp đồng trừ khi người chào hàng đã giới hạn chấp nhận với nhữngđiều khoản của chào hàng hoặc chủ thể của chúng (UCC § 2-207) Việc thiếu vắng đi
sự phản đối, cho dù là một điều kiện bổ sung: điều khoản trọng tài chẳng hạn, là mộtphần của hợp hồng tùy thuộc vào việc nó có được xem xét là “cơ bản” hay không Nếuđiều khoản bổ sung được coi là “cơ bản”, nó sẽ không còn là một phần của hợp đồng
“(2) Mặc dù vậy, một sự phúc đáp có khuynh hướng chấp nhận chào hàngnhưng chứa đựng các điều khoản bổ sung hay những điều khoản khác mà khônglàm biến đổi cơ bản nội dung của chào hàng thì được coi là chấp nhận chàohàng, trừ khi người chào hàng ngay lập tức không biều hiện bằng miệng để biểuthị sự khác biệt đó hoặc gửi thông báo về sự phản đối của mình Nếu người chàohàng không làm như vậy thì nội dung của hợp đồng sẽ là nội dung của chàohàng với những chấp nhận nêu trong chào hàng.”
Trang 10“(3) Các yếu tố bổ sung hay sửa đổi liên quan đến các điều kiện giá cả, thanhtoán, chất lượng, số lượng hàng hóa, địa điểm và thời gian giao hàng, đến phạm
vi trách nhiệm của các bên hay đến việc giải quyết tranh chấp được coi là nhữngđiều kiện làm biến đổi cơ bản nội dung của chào hàng.”
The drafters of the UCC attempted to avoid the strict common law doctrine and establish
Theo điều 19 của CISG, các điều khoản bổ sung hay những điều khoản khác của mộtchấp nhận chào hàng sẽ ngăn trở việc hình thành hợp đồng trừ phi chúng không phải lànhững sửa đổi cơ bản và người chào hàng không phản đối gì Đối với UCC, một sự quyđịnh về trọng tài trong một chấp nhận chào hàng sẽ không ngăn trở việc hình thành hợpđồng Sẽ có một hợp đồng và một câu hỏi: đó là, hợp đồng có bao gồm điều khoản vềtrọng tài hay không? Câu trả lời sẽ xoay thành liệu điều khoản như vậy có “cơ bản”.Nếu theo CISG, sẽ không có hợp đồng trong trường hợp như vậy
Xem phần giải thích từ ngữ của điều 19 CISG để biết thêm những trích dẫn và từ ngữcủa các tình huống và tài liệu in về “cuộc chiến của những form mẫu”
(d) Sự thu hồi chào hàng
Tiếp đến, cần chú ý rằng dưới sự điều chỉnh của CISG việc coi chào hàng là không thểthu hồi là dễ dàng hơn so với UCC Dưới hệ thống luật Anh – Mỹ, người chào hàngđược tự do thu hồi chào hàng của mình mặc dù anh ta đã nói rằng chào hàng đó sẽ đượcchấp nhận trong một khoảng thời gian xác định UCC đã thay đổi quy định đó Mặc dùtheo UCC, quyền và khả năng thu hồi một chào của người chào hàng chỉ bị hạn chế nếunhư chào hàng dưới dạng văn bản được ký và những điều khoản của nó đưa ra sự đảmbảo về việc nó sẽ có duy trì có hiệu lực và mặc dù tiếp đó thời hạn không thể thu hồi làkhông quá 3 tháng Theo CISG, không có sự yêu cầu về hình thức văn bản, không cógiới hạn về thời gian, và một chào hàng chỉ rõ một khoảng thời gian cho việc chấp nhận
có thể được coi như là không thể thu hồi mặc dù nó không chỉ rõ rằng nó sẽ duy trì cóhiệu lực trong khoảng thời gian đó Xem điều 16 (2)(a) Một người bán chào hàng trên
cơ sở là chào hàng đó sẽ hết hạn vào hết ngày làm việc của ngày thứ Sáu có thể nghĩrằng cô ta đang bảo vệ mình khỏi việc thu hồi chào hàng bằng việc để cho nó không thểđược chấp nhận vào thứ Hai Theo CISG, cô ta làm như vậy nhưng vẫn có thể tự tướcđoạt đi quyền thu hồi lại chào hàng trước khi hết ngày làm việc vào thứ Sáu Hơn nữa,dưới sự điều chỉnh của CISG một chào hàng là không thể bị thu hồi “nếu một cách hợp
lý người nhận coi chào hàng là không thể thu hồi được và đã hành động theo hướngđó” Xem điều 16(2) (b) Do đó một người chào hàng sẽ thấy rằng mình sẽ phải đối mặtvới khiếu nại của người được chào hàng, người đã chấp nhận chào hàng bất chấp việctruyền đạt thông báo của người chào hàng về việc thu hồi chào hàng đó
Để biết thêm thông tin về vấn đề này, xem phần giải thích từ ngữ của điều 16 CISG
(e) Tính bất hợp lệ
Trang 11Không giống như UCC, CISG không yêu cầu hợp đồng mua bán hàng hóa phải ở dạngvăn bản Theo CISG, hợp đồng mua bán bằng miệng sẽ không cần được chứng thựcbằng văn bản hay kết hợp với các tài liệu, điều này có nghĩa là thỏa thuận thông quađàm phán bằng điện thoại hay gặp gỡ đều có hiệu lực.
Điều 2 của UCC bao gồm cái mà các luật sư goi là “trạng thái gian lận” Theo § 2-201của UCC, với những loại trừ nhất định được liệt kê tại § 2-201(3), loại hợp đồng màCISG thường xuyên áp dụng sẽ không có hiệu lực trừ phi có văn bản được ký kết bởihoặc cho bên mà hiệu lực áp dụng và văn bản phải phù hợp trong việc chỉ ra rằng hợpđồng mua bán hàng hóa đã được ký giữa các bên Khi một trong hai “nhà buôn”, nếumột bên gửi một văn bản xác nhận hợp đồng cho bên kia và văn bản xác nhận này phùhợp với việc ràng buộc người gửi và nếu người nhận không phản đối văn bản đó trongvòng 10 ngày sau khi nhận, “trạng thái gian lận” của UCC được thỏa mãn UCC § 2-201(2) Nhưng nhìn chung, theo UCC, trừ khi sự tồn tại của hợp đồng được thừa nhậnhoặc đã có việc thanh toán hoặc giao hàng và chấp nhận, hợp đồng mua bán hàng hóavới trị giá hàng lớn hơn hoặc bằng $500 bằng miệng là không có hiệu lực
Điều 11 của CISG tránh đi những thủ tục hình thức trên Nó quy định rằng một hợpđồng mua bán hàng hóa không cần phải được ký kết hoặc được xác nhận lại bằng vănbản và có thể được chứng minh bằng bất kỳ cách nào, kể cả lời khai của nhân chứng.Mặc dù vậy, theo điều 12, điều 11 sẽ không được áp dụng nếu một bên của hợp đồng cótrụ sở thương mại đặt tại một nước thành viên Công ước mà luật pháp nước đó quy địnhrằng hợp đồng mua bán hàng hóa phải được ký hoặc xác nhận lại bằng văn bản và đồngthời nước đó cũng tuyên bố bảo lưu điều 96 của Công ước này về việc sẽ không ápdụng điều 11 Một vài nước thành viên Công ước đã có tuyên bố này, ví dụ như TrungQuốc, Liên Bang Nga và Ac- hen-ti-na Để biết thêm thông tin chung về tuyên bố này,
xem tại Table of Contracting States (Bảng: Các nước thành viên của Công ước Công
ước không thể ngăn cản người mua và người bán trong việc không tuân thủ hiệu lựccủa điều 12 Kết quả là, nếu một hợp đồng bằng miệng thất bại dưới CISG, cần phảixác định xem liệu rằng điều 12 có đang được thực thi
Để biết thêm thông tin về vấn đề này, xem phần giải thích từ ngữ của Điều 11, Điều 12,Điều 96 CISG
(f) Sự thiếu vắng của quy tắc “lời đề nghị hoàn hảo”
Chuyển sang vấn đề về các quy tắc của Công ước điều chỉnh việc thực hiện hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế, sự khác biệt quan trọng nhất giữa luật nội địa của nước Mỹ
và CISG đó là sự chấm dứt của quy tắc “lời đề nghị hoàn hảo” Đây là nơi mà sự khácbiệt giữa CISG và UCC có thể tạo ra những rắc rối quan trọng cho người mua khi anh
ta có một hợp đồng mua hàng hóa được điều chỉnh bởi CISG và một hợp đồng bán lạihàng hóa đó được điều chỉnh bởi UCC Người mua trong trường hợp này có một giaodịch “giáp lưng” được điều chỉnh bởi các quy tắc khác nhau về vấn đề từ chối hàng vàhủy bỏ hợp đồng
Trang 12 Dưới sự điều chỉnh của UCC, người mua có quyền từ chối một đề nghị giaohàng theo điều khoản giao hàng trong một hợp đồng mua bán hàng hóa mà việcgiao hàng đó không thể phù hợp với hợp đồng trong bất kỳ điều kiện nào Phần
2 -601 và bình luận 2 đến § 2-106 Đây chính là quy tắc “đề nghị hoàn hảo”.Theo đó, người mua có thể từ chối nhận hàng và hủy hợp đồng ngay cả trongtrường hợp thiếu sót trong hàng hóa hay chứng từ được giao trước là khôngnghiêm trọng và người mua sẽ nhận được đáng kể những quyền thực thi và hànghóa mà anh ta đã thương lượng để mua (UCC thiết lập một tiêu chuẩn khác choviệc thực thi hợp đồng, § 2-612 và việc thu hồi chấp nhận, § 2-608 Trong mộtvài trường hợp, các quy định của nó về việc khắc phục thiếu sót, § 2-508, sẽmang đến cho người bán cơ hội được khắc phục việc giao trước hàng hóa khôngphù hợp Theo UCC § 1-203, mỗi hợp đồng đều phải quy định nghĩa vụ của cácbên về việc đảm bảo trong việc thực hiện và thi hành hợp đồng Trong một số ítcác tình huống, tòa án đã xem xét nghĩa vụ này như việc hạn chế quyền việndẫn quy tắc “lời đền nghị hoàn hảo”)
CISG quy định một tiêu chuẩn khắt khe hơn trong việc từ chối và hủy bỏ hợpđồng, điều này nghiêng nhiều về việc “phòng ngừa” Theo như các quy định củaCông ước, người mua không thể từ chối hàng hóa có khiếm khuyết và hủy bỏhợp đồng trừ phi việc không phù hợp đó loại trừ người mua khỏi quyền lợi màanh ta có quyền mong đợi từ hợp đồng này, thậm chí, chỉ khi người bán có thểtiên liệu được hoặc một bên khác trong trường hợp tương tự cũng có thể tiênliệu được Điều này áp dụng điều 49 (1) trong đó cho phép người mua hủy bỏhợp đồng chỉ khi mức độ vi phạm hợp đồng của người bán đạt đến mức “viphạm cơ bản” như thuật ngữ được định nghĩa trong điều 25 Xem phần giảithích từ ngữ của Điều 25, Điều 49 và CISG Advisory Council Opinion No 5 -The Buyer's Right to Avoid the Contract in Case of Non-Conforming Goods orDocuments (Hội đồng tư vấn CISG tùy chọn số 5 – Quyền của người muatrong việc hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp hàng hóa hay chứng từ không phùhợp với hợp đồng)
Người mua thậm chí không thể yêu cầu hàng hóa thay thế trừ khi sự không phù
hợp của hàng hóa tạo ra vi phạm cơ bản Xem điều 46 (2) Xem phần giải thích
thuật ngữ điều 46 CISG
Cách khắc phục cho người mua và người bán theo CISG khi họ không muốn từ chốihàng hóa và hủy hợp đồng là tận dụng điều quy tắc “tự do của hợp đồng” được chỉ ra ởđiều 6 Ví dụ, người bán muốn có được việc tuân thủ nghiêm ngặt trong việc thực thiđiều khoản thanh toán thì có thể chỉ ra rằng “ Việc không tuân thủ bất kỳ quy định nàocủa điều khoản này được coi như là vi phạm cơ bản hợp đồng” Đối với người mua màviệc giao hàng đúng thời hạn là rất quan trọng thì phải có cụm từ “thời gian là tuyệt đốiquan trọng” trong bản hợp đồng
H Bởi vì cách thức chúng ta quản lý hàng tồn kho, quá trình sản xuất, việc bán hàng luôn “đúng lúc” nên sẽ không có việc giao hàng chậm hoặc giao hàng không phù hợp Chúng ta sẽ bị CISG điều chỉnh như thế nào?
Trang 13Theo CISG, đối với những người mua mà thời gian hoặc việc phù hợp tuyệt đốicủa hàng hóa với các tiêu chuẩn trong hợp đồng là rất quan trọng thì anh ta phải thươnglượng về điều khoản trong hợp đồng rằng anh ta có quyền từ chối hay hủy hợp đồngnếu có bất kỳ sự trì hoãn hay không phù hợp với hàng hóa của hợp đồng Họ nên dùngcác điều khoản chỉ rõ rằng bất cứ sự trì hoãn nào trong việc thực hiện hợp đồng hoặcgiao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng sẽ là vi phạm “cơ bản” theo nghĩa củaCISG Theo ngôn ngữ của điều 25 CISG, một điều khoản như vậy sẽ nói rằng bất kỳ sựkhông phù hợp với hàng hóa của hợp đồng hay trì hoãn sẽ được coi như là gây ra thiệthại cho nguời mua trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợitrên cơ sở hợp đồng và người mua có quyền được tránh hợp đồng đó Ví dụ, một ngườimua bán lại hàng hóa theo một hợp đồng “giáp lưng” (back – to- back) được điều chỉnhbởi điều 2 UCC với việc áp dụng quy tắc “đề nghị hoàn hảo”, sẽ mong muốn hợp đồngcòn lại được điều chỉnh bởi CISG của mình sẽ cũng phù hợp với nghĩa vụ của anh tavới người mua trong CISG Dưới các quy định của Công ước, người mua không thể từchối hàng hóa có thiếu sót và hủy hợp đồng trừ khi việc không phù hợp đó làm chongười mua trong một chừng mực nào đó bị mất đi cái mà anh ta có quyền chờ đợi trên
cơ sở hợp đồng ngay cả khi chỉ nếu người bán có thể tiên liệu được hoặc một ngườikhác cũng có thể tiên liệu được nếu trong hoàn cảnh tương tự Điều này theo sau quyđịnh của điều 49 (1) cho phép người mua có thể tránh được hợp đồng chỉ khi người bán
vi phạm cơ bản”, như được định nghĩa ở điều 25 Người mua không thể yêu cầu hànghóa thay thể trừ phi sự không phù hợp tạo nên vi phạm cơ bnar Xem điều 46 (2).Những nhà soạn thảo ra Công ước đã lựa chọn không sử dụng quy tắc “để nghị hoànhào” của UCC và một vài luật điều chỉnh hợp đồng nội địa khác
I Có điều gì mà chúng ta cần biết hoặc cần chú ý mà chúng ta chưa hỏi?
A Tình huống của nước Mỹ
(a) Giảm giá
(b) Thông báo hàng không phù hợp với hợp đồng
(c) Đề phòng vi phạm hợp đồng
(d) Quyền được khắc phục thiếu sót
(e) Bất khả kháng
(f) Thời hạn hiệu lực
(g) Điều khoản giao hàng
(h)Phí luật sư coi như là tổn thất
(a) Giảm giá
Trang 14Nếu bạn là người mua, bạn sẽ thích quy định về giảm giá của Công ước, còn nếu bạn làngười bán, bạn rất có thể muốn sửa đổi lại giới hạn hiện thời của điều khoản tráchnhiệm pháp lý để kết thúc điều đó Điều 50 CISG cung cấp cho người mua trong trườnghợp anh ta nhận được hàng hóa không phù hợp với hợp đồng một biện pháp khắc phụcđược quy định trong phạm vi luật dân sự Khi hàng hóa không phù hợp với hợp đồng,nếu người mua chấp nhận hàng như vậy thì có thể đơn phương giảm giá với tỷ lệ căn cứvào sai biệt giữa giá trị thực của hàng hóa vào lúc giao hàng và giá trị của hàng hóa nếuhàng phù hợp với hợp đồng vào lúc giao hàng Có những tình huống mà khi đó điều 50
có thể tạo ra những niềm tin tốt hơn là cái có thể đạt được bằng việc thuyết phục mộtkhiếu nại tổn thất Ví nhụ như trong trường hợp ở một thị trường đang đi xuống hoặckhi khiếu nại tổn thất bị loại trừ bởi bất khả kháng Để biết thêm giải thích về các quyđịnh của điều 50, xem phần giải thích từ ngữ của điều này Nó cho phép bạn tiếp cậncác tình huống luật và các tạp chí pháp luật bình luận về vấn đề này
(b) Thông báo hàng không phù hợp
Có một quy định của CISG nhận được sự chú ý của người mua khi anh ta nhận đượchàng hóa không phù hợp với hợp đồng Người mua phải gửi thông báo về việc hànghóa không phù hợp một cách kịp thời và phù hợp nếu không họ sẽ mất đi các biện phápkhắc phục quy định trong CISG Quy định phù hợp này của CISG là điều 39 Đối vớinhững nhà kinh doanh Mỹ, rắc rối tiềm ẩn với họ về điều khoản này là các phần của nódường như giống với bản đổi chiếu của UCC, nhưng nhiều phạm vi đã được giải thíchchặt chẽ hơn Xem phần giải thích thuật ngữ điều 39 CISG để có được sự phân tích gầnnhất đối với 100 tình huống về điểm này và để tiếp cận với bình luận pháp luật về chủ
đề này và CISG Advisory Council Opionion No 2, Examination of the Goods andNotice of Non-Conformity: Articles 38 and 39 (Hội đồng tư vấn CISG, tùy chọn số 2:Kiểm tra hàng hóa và thông báo hàng không phù hợp với hợp đồng: điều 38 và 39)
Vì một điều khoản phạt cho việc không phù hợp với điều 39 sẽ chấm dứt mọi sự khắcphục theo CISG nên có 3 khía cạnh trong điều 39 mà chúng ta nên nhận thức một cách
rõ ràng Họ cần phải chú ý đến tính kịp thời của thông báo hàng không phù hợp củangười mua, tính đặc trưng trong thông báo của người mua và khuyết tật tiềm ẩn
(1) Mặc dù ngôn ngữ của nó có vẻ giống như UCC nhưng điều 39 (1) yêucầu người mua phải thông báo cho người bán về bất cứ sự không phùhợp của hàng hóa với hợp đồng trong một khoảng thời gian mà một vàitòa án đã giải thích rất chặt chẽ Để biết thêm chi tiết, xem CamillaAndersen, "Reasonable Time in Article 39(1) of the CISG", Pace
Review of the Convention on Contracts for the International Sale of Goods (Kluwer 1998) 63-176 (Camillia Andersen, “Thời gian hợp lý
trong điều 39 (1) của CISG”, Pace Xem xét về hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế (Kluwer 1998) 63 -176.)
(2) Thông báo của người mua phải chỉ rõ tính tự nhiên của sự không phùhợp Một vài tòa án đã giải thích yêu cầu này rất chặt chẽ Một vài tìnhhuống của Đức để minh họa:
Trang 15 Một tình huống của tòa án quận về hàng thời trang, Landgericht München
3/07/1989 (đã có văn bản bằng tiếng Đức và bản dịch tiếng Anh) Thông báocủa người mua hướng sự chú ý đến “trình độ công nhân kém và hàng hóa saikích cỡ” Tòa án coi vấn đề này là việc cụ thể hóa vẫn không thỏa đáng chotính chất tự nhiên của việc thiếu phù hợp của hàng hóa
Một quy tắc khác liên quan đến thịt lợn muối xông khói đông
lạnh , Landgericht München, ngày 20 /03/ 1995 (có sẵn thông tin thêm cho
tình huống này) Thông báo của người mua nói rằng, “hàng hóa bị ôi” Tòa
án cho rằng điều này chưa đủ cụ thể
Nấm cục bị “mềm” là thông báo được đưa ra trong Landgericht Bochum,
ngày 24/01/1996 (có sẵn thông tin bổ sung về tình huống này) Tòa án xếpthông báo này vào loại không phù hợp vì nó có sâu, mặc dù lý lẽ của ngườimua rằng hầu hết các nhà bán nấm phải biết rằng nấm bị mềm là biểu hiệncủa việc bị sâu
Một điểm nhấn (high-water mark) có thể đạt được vào năm 1997 khi tòa ánphúc thẩm từ chối một thông báo chỉ ra rằng 5 cuộn tấm chặn axit acrylic đã
bị thiếu Oberlandesgericht Koblenz, 31/01/1997 (có sẵn thông tin bổ sung
về tình huống này)/ Tòa án cho rằng người bán đã không cụ thể hóa rằng anh
ta muốn người mua phải khắc phục thiếu sót này như thế nào theo tinh thầncủa điều 39 Tòa án chỉ ra rằng mặc dù thông báo này là đúng lúc nhưng mộtthông báo không được cụ thể hóa một cách thỏa đáng thì cũng coi như làkhông có thông báo
Trong một quyết định vào tháng 11 năm 1999, Bundesgerichtshof, VIII ZR
121/98 (có sẵn văn bản của tình huống và bản dịch tiếng Anh), tòa án tối caoĐức đã giải quyết một khiếu nại loại trừ hiệu lực của điều 39 (1) và vấn đềthông báo Tòa án cấp dưới đã quyết định rằng người mua đã mất đi quyền
khiếu nại về việc hàng hóa không phù hợp bởi vì thông báo của nó theo điều
39 (1) không được đưa ra trong khoảng thời gian hợp lý sau khi người mua
buộc phải phát hiện ra sự không phù hợp Tòa án tối cao thấy rằng, trongnhững tình huống như vậy, thời hạn hợp lý bao gồm cả thời gian quyết địnhlàm điều gì tiếp theo, thời gian để tham khảo chuyên gia, cân nhắc quan điểmcủa chuyên gia và một khoảng thời gian “thông thường” 1 tháng Tòa án tốicao Đức giải quyết vấn đề không phù hợp của thông báo của người mua bằngcách chỉ ra rằng, khi mà vấn đề không phù hợp liên quan máy móc hoặc thiết
bị kỹ thuật, “chỉ cần giải thích về các dấu hiệu, không cần phỉa có lời giảithích về nguyên nhân gây ra điều trên” Xem phần bình luận về vấn đề nàycủa giáo sư Peter Schlechtriem, chuyên gia hàng đầu về CISG Ông vừa tánthành nhưng đồng thời cũng phê phán phán quyết này Ông bình góp ý việctòa án từ chối một tiêu chuẩn vượt quá trong việc cụ thể hóa cho thông báo
theo quy định của điều 39 (1) Ông đặt câu hỏi về sự hợp lý trong việc kết hợp thời hạn kiểm tra hàng hóa của điều 38 (1) và thời hạn gửi thông báo hàng không phù hợp của điều 39 thành một điều khoản Ông phê phán tham
Trang 16khảo của tòa tán đối với thời hạn “thông thường” 1 tháng của điều 39 (1),
bằng việc chỉ ra ví dụ rằng 1 tháng là quá dài trong một vài tình huống (Xemthêm phần tình huống luật Annex to CISG Advisory Council Opinion No 2,Examination of the Goods and Notice of Non-Conformity: Articles 38 and 39and Bundesgericht 4C.198/2003/grl (phụ lục CISG – AC tùy chọn số 2, Kiểmtra hàng hóa và thông báo hàng không phù hợp với hợp đồng),tháng 11 năm
2003, một phán quyết của tòa án tối cao Thụy Sĩ về sự khác biệt ý nghĩa củavăn bản tiếng Anh và tiếng Pháp của điều 39 (1) và bản dịch tiếng Đức chođiều 39 (1) sẽ dẫn đến việc áp dụng những yêu cầu cụ thể hóa vô cùng khắtkhe trong một vài phán quyết của tòa án Đức)
(3) Khác với UCC, điều 39 (2) quy định một thời gian cố định tuyệt đối ngay cả trong
trường hợp có những thiếu sót tiềm ẩn mà người mua không thể nào phát hiện đượctrong khoảng thời gian đó
Điều 44 cung cấp một giải pháp chắc chắn để đền bù cho người mua trong trường hợpanh ta có “loại trừ thích đáng” cho việc không cung cấp thông báo bắt buộc về việchàng hóa không phù hợp với hợp đồng Nhưng vì điều 44 lại được thêm vào Công ướctrước sự thúc giục của đại biều các nước đang phát triển mà người mua các các nước đó
có vẻ ít tinh thông hơn, nó sẽ không bảo vệ một cách chính đáng những người mua tinhthông trong nhiều trường hợp Xem phần giải thích thuật ngữ điều 44 CISG
Điều 40 cung cấp một “van an toàn” nữa cho thông báo hàng không phù hợp Để biếtthêm thông tin về điều khoản này, xem phần giải thích từ ngữ điều 40 CISG Điều 40được kiểm tra vào năm 1980 bởi trọng tài thuộc Phòng thương mại Stockholm (có sẵnbản tiếng Anh về tình huống này) Đó là một quá trình trong đó nhà tư vấn Mỹ có thểđạt được niềm tin từ khách hàng của anh ta, người mà 4000 tấn rail press hoàn toàn bịméo sau khi thời hạn thông báo trong điều 39 kết thúc Thất bại do một thay đổi nhỏ vềphần cứng Người mua viện dẫn thành công điều 40 với nội dung:
“Người mua không có quyền viện dẫn các quy định ở điều 38 và 39 [ Điều 38 quy định
về thởi hạn kiểm tra hàng hóa, Điều 39 quy định về thông báo hàng không phù hợp với hợp đồng] nếu như việc không phù hợp đó liên quan đến các yếu tố mà người bán đã biết hoặc không thể không biết và họ đã không thông báo cho người mua.”
(c) Đề phòng vi phạm hợp đồng
Trong rất nhiều tình huống thương mại thông thường, người bán hoặc người mua buộcphải tin tưởng rằng đối phương sẽ thực hiện hợp đồng Người mua sẽ làm gì nếu anh taphát hiện ra rằng nguồn cung hàng thường xuyên của người bán đã bị cắt hoặc ngườibán đã giao hàng hóa khiếm khuyết cho những người khác? Còn người bán sẽ làm gìnếu anh ta phát hiện bản báo cáo rằng người mua đã không nhận hàng hóa được giaocủa một bản hợp đồng với người khác hoặc nếu như ngân hàng quen của người mua đãhủy khoản vay và …thư tín dụng (letter of credit facility) hoặc người mua không kýđược hợp đồng với đối tác chính của anh ta? Dưới sự điều chỉnh của CISG, việc một