1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tạo chế phẩm sinh học ứng dụng xử lý mùn cưa tràm làm cơ chất trồng nấm sò tím

49 165 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài góp phần tuyển chọn được các chủng vi khuẩn Bacillus sp., xạ khuẩn Streptomyces sp., nấm mục trắng, có khả năng phân giải cellulose mạnh, từ đó t

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG

PHAN THỊ HUYỀN TRANG

NGHIÊN CỨU TẠO CHẾ PHẨM SINH HỌC ỨNG DỤNG XỬ LÝ MÙN CƯA TRÀM LÀM CƠ

CHẤT TRỒNG NẤM SÒ TÍM

Đà Nẵng – Năm 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG

PHAN THỊ HUYỀN TRANG

NGHIÊN CỨU TẠO CHẾ PHẨM SINH HỌC ỨNG DỤNG XỬ LÝ MÙN CƯA TRÀM LÀM CƠ

CHẤT TRỒNG NẤM SÒ TÍM

Ngành: Công nghệ sinh học

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN ThS NGUYỄN THỊ BÍCH HẰNG

Đà Nẵng – Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi

Các số liệu, kết quả trong luận văn là kết quả trung thực và chưa từng

ai công bố trong bất kỳ công trình khác

Tác giả luận văn

PHAN THỊ HUYỀN TRANG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được khóa luận này, trước tiên phải kể đến công sức của

cô giáo hướng dẫn ThS Nguyễn Thị Bích Hằng Em cảm ơn cô đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho em trong quá trình thực hiện khóa luận

Em xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô khoa Sinh – Môi trường – Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thực cho em trong quá trình học tập tại trường

Cuối cùng em xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ em trong suốt thời gian em làm khóa luận

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC:

MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI: 3

3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI: 3

3.1 Ý nghĩa khoa học: 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 TỔNG QUAN VỀ VI SINH VẬT 4

1.1.1 Tổng quan về vi khuẩn Bacillus 4

1.1.2.Tổng quan về xa khuẩn Streptomyces 5

1.2.3 Tổng quan về nấm mục trắng Phanerochaete chrysosporium 6

1.2 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH NẤM VÀ QUY TRÌNH NUÔI TRỒNG NẤM TRUYỀN THỐNG 7

1.2.1 Tổng quan về ngành nấm ở nước ta 7

1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm trên thế giới 7

1.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm tại Việt Nam 8

1.3 Sơ lược về giá trị, đặc tính sinh thái kỹ thuật nuôi trồng nấm sò truyền thống 9

1.3.1 Giá trị dinh dưỡng của nấm sò: 9

1.3.2 Giá trị kinh tế của nấm sò: 9

1.3.3 Đặc tính sinh học của nấm sò 10

1.4 Tổng quan về chế phẩm sinh học 13

1.4.1 Khái niệm chế phẩm sinh học 13

1.4.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng vi sinh vật trong sản xuất chế phẩm sinh học 13

1.4.3 Tình hình nghiên cứu, ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử lý cơ chất trồng nấm 14

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 17

2.1.1 Đối tượng 17

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu: 17

2.1.3 Nguyên liệu, hóa chất và thiết bị: 17

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 18

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU 18

2.3.1 Phương pháp phân lập và giữ giống 18

2.3.2 Phương pháp xác định khả năng phân giải cellulose 19

2.3.3 Phương pháp định lượng vi sinh vật 19

2.3.4 Phương pháp sản xuất chế phẩm vi sinh 20

2.3.5 Phương pháp ủ mùn cưa 21

2.3.6 Phương pháp đánh giá cảm quan đống ủ 22

2.3.7 Phương pháp đánh giá năng suất sinh học (BE%) 22

2.3.8 Phương pháp sử lý số liệu 22

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 23

3.1 KẾT QUẢ PHÂN LẬP CÁC CHỦNG VSV 23

3.1.1 Phân lập vi khuẩn Bacillus: 23

3.1.2 Phân lập xạ khuẩn Streptomyces 24

3.2.3 Phân lập nấm mục trắng 25

Trang 6

3.2 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG PHÂN GIẢI CELLULOSE 27

3.2.1 Khả năng phân giải cellulose của các chủng vi khuẩn Bacillus 27

3.2.2 Khả năng phân giải cellulose của các chủng xạ khuẩn Streptomyces 28

3.2.3 Khả năng phân giải cellulose của các chủng nấm mục trắng 29

3.3 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH TÍNH ĐỐI KHÁNG GIỮA NẤM MỤC TRẮNG VÀ NẤM SÒ TÍM (ST) 30

3.4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT CHẾ PHẨM SINH HỌC 31

3.5 KẾT QUẢ TỐC ĐỘ LAN TƠ CỦA NẤM SAU KHI XỬ LÝ MÙN CƯA BẰNG CHẾ PHẨM 32

3.6 KHẢO SÁT TỈ LỆ NHIỄM CỦA CÁC BỊCH PHÔI 33

3.7 NĂNG SUẤT NẤM BÀO NGƯ TÍM 33

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35

4.1 Kết luận 35

4.2 Kiến nghị 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

Trang 8

được phân lập từ mẫu đất

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH

được phân lập từ mẫu đất

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Nấm là thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, chứa nhiều protein, nhiều loại vitamin như vitamin B1, B2, PP,… và các axit amin thiết yếu, không gây xơ cứng động mạch và không làm tăng lượng cholesterol trong máu Nấm còn có nhiều tác dụng dược lý khá phong phú như: tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, kháng ung thư và kháng virus, ngăn ngừa và trị liệu các bệnh tim mạch, hạ đường máu, chống phóng xạ, chống oxy hóa, giải độc và bảo vệ tế bào gan, an thần, rất có lợi cho việc điều chỉnh hoạt động của hệ thần kinh trung ương

Trên thế giới có khoảng 2.000 loài nấm ăn được, trong đó có 80 loại nấm

ăn ngon và được nuôi trồng nhân tạo Ở Việt Nam, ngành nấm đang ngày càng phát triển, các loại nấm được trồng phổ biến là: mộc nhĩ, nấm rơm, nấm

mỡ, nấm bào ngư, nấm linh chi các loại

Nước ta có tiềm năng lớn về sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu do có nguồn nguyên liệu trồng nấm phong phú, nguồn lao động nông thôn dồi dào, điều kiện thời tiết thuận lợi cho phát triển nhiều chủng loại nấm và có thể trồng nấm quanh năm Chúng ta đã cơ bản làm chủ được công nghệ nhân giống và sản xuất nấm đối với các loại nấm chủ lực, thị trường tiêu thụ nấm ngày càng rộng mở Chính vì vậy, ngày 16/ 4/ 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 439/QĐ- TTg, đưa nấm ăn, nấm dược liệu vào Danh mục sản phẩm quốc gia được ưu tiên đầu tư phát triển (Cổng Thông Tin Điện

Tử Chính Phủ Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam)

Nước ta sản xuất khoảng 16 loại nấm, các tỉnh phía Nam chủ yếu trồng nấm rơm, nấm mộc nhĩ Các tỉnh phía Bắc chủ yếu trồng nấm hương, nấm sò, nấm linh chi với Sản lượng nấm khoảng 250.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu 25

- 30 triệu USD (không tính xuất khẩu tiểu ngạch), trong đó: nấm mộc nhĩ 120.000 tấn, nấm rơm 64.500 tấn, nấm sò 60.000 tấn, nấm mỡ 5.000 tấn, nấm linh chi 300 tấn, các loại nấm khác như nấm vân chi, nấm đầu khỉ, nấm kim châm, nấm ngọc châm khoảng 700 tấn

Một trong những loài nấm phổ biến và dễ trồng ở Việt Nam đó là nấm sò

là một loài nấm ăn được có giá trị dinh dưỡng cao, có vị ngọt, thơm, dai, có giá trị dinh dưỡng cao, cung cấp các chất cần thiết cho cơ thể Nấm bào ngư chứa nhiều protein, gluxit, vitamin và các acid amin có nguồn gốc từ thực vật,

dễ hấp thụ bởi cơ thể con người Hàm lượng protein có trong nấm sò từ 33 - 34% Nấm sò hoàn toàn có thể thay thế lượng đạm từ thịt, cá… có nguồn gốc

từ động vật Do đó, nấm sò còn được gọi là “rau sạch”, “thịt sạch” khi được

sử dụng như nguồn cung cấp protein chủ yếu qua các bữa ăn Do đặc tính sinh học, các chất dinh dưỡng và vi chất có lợi cho sức khỏe con người dễ dàng

Trang 11

được chuyển hóa thành năng lượng cho cơ thể, phù hợp với các giải pháp “ăn kiêng” dành cho các bệnh nhân tiểu đường, gút, mỡ máu… cũng như người

có thói quen ăn chay Đối với người suy nhược cơ thể, các món ăn chế biến từ nấm giúp phục hồi sinh lực nhanh chóng Việc chế biến các món ăn cũng không đòi hỏi cầu kì mà vẫn rất ngon miệng như nấu cháo, xào, nấu canh, luộc… vừa có tác dụng bổ dưỡng, vừa có tác dụng trị bệnh nhờ Gluxit trong nấm sò có được xem là thành phần quan trọng có vai trò tích trữ và vận chuyển năng lượng và các thành phần cấu trúc khác trong các cơ thể sống Ngoài ra chúng có vai trò chính trong hệ miễn dịch, thụ tinh, và sinh học phát triển

Bên cạnh đó khoảng một nửa hợp chất carbon trong sinh khối (biomass) trên mặt đất là cellulose, chiếm tới 35 – 50% khối lượng khô sinh khối thực vật Tất cả sản phẩm sinh khối sẽ được khoáng hóa nhờ hệ thống enzyme được cung cấp bởi vi sinh vật Hệ thống enzyme phân giải cellulose thường chậm và không hoàn toàn Tuy nhiên, trong khoảng thời gian ngắn (48 giờ) hệ

vi sinh vật trong dạ cỏ bò có thể phân giải 60 – 65% cellulose Việc sử dụng

vi sinh vật phân giải cellulose đã và đang được các nhà khoa học trên thế giới

và ở Việt Nam nghiên cứu Ở Ấn Độ, Behera và cs (2014) đã phân lập được

vi khuẩn phân giải cellulose từ đất rừng Đước và xác định đó là các loài

Micrococcus spp., Baccilus spp., và Pseudomonas spp.; ở Trung Quốc, Yang

Ling Liang và cs (2011) đã phân lập được 22 dòng vi khuẩn phân lập cellulose Ở Việt Nam Hà Thanh Toàn và cs (2011), Võ Văn Phước Quệ và Cao Ngọc Điệp (2011), Lê Phạm Tường Anh (2012) cũng đã nghiên cứu vi sinh vật phân giải cellulose Mặt khác, Việt Nam là một nước nông nghiệp và giàu tiềm năng về lâm nghiệp, do đó nguồn phế thải nông – lâm nghiệp như

bã mía, rơm rạ, mạt cưa rất dồi dào, đây là nguồn nguyên liệu thích hợp cho việc trồng nấm Hiện nay việc xử lý nguyên liệu trồng nấm vẫn còn rất thô sơ, thông thường người dân vẫn ủ mạt cưa với vôi cho hiệu quả không cao và thời gian ủ kéo dài Từ những vấn đề cấp thiết trên chúng tôi quyết định thực

hiện đề tài “Nghiên cứu tạo chế phẩm sinh học ứng dụng xử lý mùn cưa tràm làm cơ chất trồng nấm sò tím”

Trang 12

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI:

Tuyển chọn được các chủng vi khuẩn Bacillus sp., xạ khuẩn Streptomyces sp., nấm mục trắng Phanerochaete chrysosporium Có hoạt tính

phân giải cellulose cao được phân lập trên cây gỗ tràm mục Từ đó ứng dụng vào sản xuất chế phẩm vi sinh nhằm xử lý cơ chất gỗ tràm trong trồng nấm sò tím

3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI:

3.1 Ý nghĩa khoa học:

Kết quả của đề tài góp phần tuyển chọn được các chủng vi khuẩn

Bacillus sp., xạ khuẩn Streptomyces sp., nấm mục trắng, có khả năng phân

giải cellulose mạnh, từ đó tạo chế phẩm vi sinh xử lí mùn cưa tràm trước khi trồng nấm sò là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa khoa học hiện nay

3.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Sản phẩm của đề tài có thể ứng dụng trong việc trồng nấm sò tím nhằm nâng cao năng suất và chất lượng trong sản xuất nấm sò tím Giúp xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân Đề tài hoàn hợp với xu hướng hiện nay là ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp

Trang 13

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TỔNG QUAN VỀ VI SINH VẬT

1.1.1 Tổng quan về vi khuẩn Bacillus

Vi khuẩn Bacillus là những vi khuẩn Gram dương, thuộc chi Bacillaceae, nội bào tử hình ovan có khuynh hướng phình ra ở một đầu Bacillus được

phân biệt với các loài vi khuẩn sinh nội bào tử khác bằng hình dạng tế bào hình que, sinh trưởng dưới điều kiện hiếu khí hoặc kỵ khí không bắt buộc Tế

bào Bacillus có thể đơn hoặc chuỗi và chuyển động bằng tiêm mao Nhờ khả năng sinh bào tử nên vi khuẩn Bacillus có thể tồn tại trong thời gian rất dài

dưới các điều kiện khác nhau và rất phổ biến trong tự nhiên Chúng có thể được phân lập từ rất nhiều nguồn khác nhau như đất, nước, trầm tích biển, thức ăn, sữa, nhưng chủ yếu là từ đất nơi đóng vai trò quan trọng trong chu

kỳ C và N [1]

Tất cả các loài thuộc chi Bacillus đều có khả năng dị dưỡng theo kiểu

hoại sinh nhờ khả năng phân giải nhiều loại hợp chất hữu cơ đa dạng như đường, acid amin, acid hữu cơ Một vài loài có thể lên men carbonhydrate

tạo thành glycerol và butanediol; một vài loài như Bacillus megaterium thì

không cần chất hữu cơ để sinh trưởng, một vài loài khác thì cần acid amin, vitamin B Hầu hết đều là loài ưa nhiệt trung bình, sống ở nhiệt độ tối ưu là

30 – 45oC, nhưng cũng có nhiều loài ưa nhiệt với nhiệt độ ưa thích là 65o

C [13, 18]

Đa số Bacillus sinh trưởng ở pH = 7, một số phù hợp với pH = 9 – 10 như Bacillus alcalophillus, hay có loại phù hợp với pH = 2 – 6 như Bacillus acidocaldrius

Bacillus có khả năng sản sinh nhiều enzyme ngoại bào (amylase,

protease, cellulase…), do đó chúng được ứng dụng rất nhiều trong công nghiệp, trong bảo vệ môi trường… Một số loài Bacillus thường gặp trong tự

nhiên: Bacillus subtilis, Bacillus megaterium, Bacillus mensentericus, Bacillus pumilus…[11]

n 1.1 Hình ảnh nhuộm Gram một số chủng Bacillus

Trang 14

1.1.2.Tổng quan về xa khuẩn Streptomyces

Xạ khuẩn là nhóm lớn vi khuẩn gram dương, hiếu khí, sống hoại sinh và

có cấu tạo dạng sợi phân nhánh Xạ khuẩn phân bố rất rộng rãi trong môi trường đất, tham gia vào quá trình chuyển hoá tự nhiên của nhiều hợp chất trong đất

Xạ khuẩn cùng nhóm với vi khuẩn có nhân nguyên thủy (prokaryota) thuộc giới khởi sinh (Monera)

Xạ khuẩn có nhiều đặc điểm giống vi khuẩn và khác nấm mốc như sau:

- Kích thước của xạ khuẩn nhỏ bé tương tự kích thước của vi khuẩn

- Nhân của xạ khuẩn là nhân nguyên thủy chưa có dạng nhân phân hóa hình thái

- Thành tế bào của xạ khuẩn không chứa cellulose hay chitin mà có

glucopeptit

- Sự phân chia tế bào của xạ khuẩn theo kiểu amytoz là tính chất đặc trưng thấy ở vi khuẩn

- Xạ khuẩn không có giới tính đực cái hoặc chưa rõ giới tính [3]

Xạ khuẩn có thể sinh tổng hợp nhiều sản phẩm trao đổi chất quan trọng, đặc biệt có ý nghĩa là các chất kháng sinh Khoảng 80% thuốc kháng sinh đã biết có đến có nguồn gốc từ xạ khuẩn Trong đó quan trọng nhất là kháng sinh thuộc nhóm tetracyclines, macrolides và aminoglycosides Xạ khuẩn còn có khả năng sinh ra các enzyme, một số vitamin thuộc nhóm B và axit hữa cơ Hai nhóm xạ khuẩn quan trọng là tác nhân gây bệnh ở người là

Mycobacterium tuberculosis gây bệnh lao và Corynebacterium diphtheriae

gây bệnh bạch hầu Một số xạ khuẩn thuộc nhóm Mycobacteria và Corynebacteria sống cộng sinh ở động vật

Trước đây xạ khuẩn được xếp chung nhóm với nấm do chúng có hình thức phát triển dạng sợi phân nhánh Ngày nay xạ khẩn được xếp vào nhóm vi khuẩn thật do chúng có nhiều đặc điểm giống với vi khuẩn và khác với nấm như sau:

- Có giai đoạn đa bào và đơn bào;

- Kích thước rất nhỏ;

- Thể nhân là nhân nguyên thủy;

- Vách tế bào không chứa celluloze hoặc kitin;

- Không có giới tính;

- Sống hoại sinh hoặc ký sinh [8]

Xạ khuẩn phân bố rộng rãi trong tự nhiên, có trong đất, nước, rác, bùn, thậm chí có trong cả những cơ chất mà vi khuẩn và nấm mốc không phát triển được Xạ khuẩn là một trong những loại VSV đóng vai trò quan trọng trong tự nhiên, tích cực tham gia vào các quá trình chuyển hóa nhiều hợp chất trong

Trang 15

đất, nước, đặc biệt quan trọng nhất của xạ khuẩn là khả năng hình thành chất kháng sinh, 60 - 70% xạ khuẩn phân lập từ đất có khả năng này Cho tới nay trong số hơn 10000 chất kháng sinh được mô tả khoảng 80% có nguồn gốc từ

xạ khuẩn, trong đó 15% có nguồn gốc từ loại xạ khuẩn hiếm như

Micromonospora v.v… Các xạ khuẩn hiếm cung cấp nhiều chất kháng sinh

có giá trị chiếm tới 1/3 các chất kháng sinh kháng khuẩn đang sử dụng trong y học như gentamixin, tobramixinv.v…

Ngoài khả năng hình thành chất kháng sinh xạ khuẩn còn có khả năng sản sinh hàng loạt các chất hữu cơ có giá trị như Vitamin nhóm B, (vitamin B1, vitamin B2 v, v…) các acid hữu cơ (lactic, axetic ); các acid amin có giá trị như asparaginic, alanine, metionin v,v… các loại enzyme như protease, amylasea…[3]

1.2.3 Tổng quan về nấm mục trắng Phanerochaete chrysosporium

Phanerochaete chrysosporium là một trong những nấm tạo thành lớp

trắng trên gỗ và phân hủy gỗ Xuất hiện ở mặt bên dưới của khúc gỗ như mạng nhện Hệ thống enzyme phân hủy ligin của nấm này làm cho nó trở nên đặc biệt Thành phần của gỗ chủ yếu là cellulose có màu trắng mà lignin có

màu nâu Loài Phanerochaete chrysosporium có một số đặc điểm rất hữu

Phanerochaete chrysosporium

Hệ thống phân hủy lignin của Phanerochaete chrysosporium không bị

cảm ứng bởi lignin mà nó xuất hiện trong giai đoạn chuyển hóa thứ cấp của quá trình nuôi cấy tức là sự tăng trưởng sơ cấp dừng lại do sự giảm một số thành phần dinh dưỡng Sự chuyển hóa thứ cấp khởi đầu khi có sự hạn chế của các chất như nitrogen, carbon hay sulphur nhưng không hạn chế phosphor Sự điều hòa chuyển hóa thứ cấp bao gồm sự phân hủy lignin được liên kết với chuyển hóa glutamate Khi nuôi cấy nấm trong môi trường giới

Trang 16

hạn nitrogen thì sự phân hủy lignin xảy ra Trong sự kiện này, Kirk và Fenn (1982) đã nghiên cứu rằng sự phân hủy lignin là một sự kiện chuyển hóa thứ cấp do hàm lượng nitrogen của gỗ thấp Chẳng bao lâu sau khi nấm mục trắng tấn công gỗ, nitrogen sẽ bị thiếu và sự chuyển hóa thứ cấp bao gồm sự phân hủy lignin sẽ bắt đầu

1.2 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH NẤM VÀ QUY TRÌNH NUÔI TRỒNG NẤM TRUYỀN THỐNG

1.2.1 Tổng quan về ngành nấm ở nước ta

Nước ta có tiềm năng lớn về sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu do có nguồn nguyên liệu trồng nấm phong phú, nguồn lao động nông thôn dồi dào, điều kiện thời tiết thuận lợi cho phát triển nhiều chủng loại nấm và có thể trồng nấm quanh năm Chúng ta đã cơ bản làm chủ được công nghệ nhân giống và sản xuất nấm đối với các loại nấm chủ lực, thị trường tiêu thụ nấm ngày càng rộng mở Chính vì vậy, ngày 16/ 4/ 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 439/QĐ- TTg , đưa nấm ăn, nấm dược liệu vào Danh mục sản phẩm quốc gia được ưu tiên đầu tư phát triển (Cổng Thông Tin Điện

Tử Chính Phủ Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam)

Thời gian qua đã có nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh nấm có hiệu quả

ở quy mô hộ gia đình, trang trại, gia trại, hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp sản xuất, sơ chế, chế biến, kinh doanh nấm Sản xuất nấm đang từng bước phát triển theo hướng chuyên nghiệp, quy mô hàng hóa; gắn kết đồng bộ các khâu sản xuất, sơ chế, bảo quản, tiêu thụ Nhờ vậy đã có nhiều mô hình bền vững, đạt hiệu quả kinh tế cao, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho nông dân Đồng thời, việc phát triển ngành nấm còn góp phần bảo vệ môi trường, nâng cao giá trị gia tăng của sản xuất trồng trọt nhờ sử dụng các phụ phẩm của trồng trọt

1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm trên thế giới

Ngày nay, đã phát hiện trên 2.000 loài nấm, trong đó có khoảng 80 loài

có thể ăn được và nuôi trồng thành công như nấm mỡ, nấm bào ngư, nấm rơm, nấm mộc nhĩ, nấm kim châm, nấm đùi gà…, và nấm sử dụng trong lĩnh vực dược liệu như nấm linh chi, nấm phục linh, nấm vân chi, nấm đầu khỉ…

Có trên 100 quốc gia/ vùng lãnh thổ trồng nấm, sản lượng nấm thế giới đạt khoảng 25 triệu tấn/năm, tốc độ tăng trưởng bình quân 7% - 10%/ năm Các nước sản xuất nấm hàng đầu thế giới (số liệu năm 1994) là: Trung Quốc 2.850.000 tấn (trong đó Đài Loan 71.800 tấn), chiếm 53,79% tổng sản lượng nấm thế giới, Hoa Kỳ 393.400 tấn (7,61%), Nhật Bản 360.100 tấn (7,34%), Pháp 185.000 tấn, Indonesia 118.800 tấn, Hàn Quốc 92.000 tấn, Hà Lan 88.500 tấn, Ý 71.000 tấn, Canada 46.000 tấn, Anh 28.500 tấn (Công Phiên, 2012)

Trang 17

Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan đã áp dụng kỹ thuật tiên tiến và công nghiệp hoá nghề nấm nên đã đạt mức tăng trưởng gấp hàng trăm lần trong vòng 10 năm qua Nhật Bản đạt gần 1 triệu tấn nấm hương/ năm Hàn Quốc nổi tiếng với nấm linh chi, mỗi năm xuất khẩu thu về hàng trăm triệu USD Trung Quốc có nhiều Viện, Trung tâm nghiên cứu nấm lớn, là đầu tàu để phát triển nghề trồng nấm mỗi năm đem lại hàng tỷ USD từ xuất khẩu

Năm 2008 tổng giá trị sản xuất nấm ở Hàn Quốc đạt gần 8 tỷ USD, chiếm 3% tổng giá trị ngành nông nghiệp Trong đó, nấm ngân nhĩ chiếm 27,8%, đùi gà 23,3%, nấm sò 20,2%, nấm hương 19,3%, nấm mỡ 5,4% Hàn Quốc hiện là nước đang nhập khẩu nguyên liệu (mùn cưa, rơm rạ) từ Việt Nam, Trung Quốc để trồng nấm, đồng thời xuất khẩu nấm sang 80 quốc gia, trong đó có Việt Nam (Hiệp hội nấm ăn Hàn Quốc, 2010)

Trung Quốc là nước sản xuất nấm lớn nhất thế giới Năm 1995, sản lượng là 3 triệu tấn, chiếm 60% tổng sản lượng thế giới, riêng tỉnh Phúc Kiến 0,8 triệu tấn, chiếm 26,7% cả nước, 6,4% toàn thế giới Năm 2008 Trung Quốc đã sản xuất được 18 triệu tấn nấm tươi các loại Năm 2009 riêng tỉnh Phúc Kiến sản xuất gần 2 triệu tấn đạt giá trị trên 8,6 tỷ Nhân dân tệ thu hút trên 3 triệu lao động trồng nấm chuyên nghiệp Năm 2010 Trung Quốc sản xuất được 20,2 triệu tấn, tương đương mức giá trị khoảng 300 tỉ NDT (Tổng cục thống kê Trung Quốc, 2011)

Thị trường tiêu thụ nấm ăn lớn nhất hiện nay là Đức (300 triệu USD), Hoa Kỳ (200 triệu USD), Pháp (140 triệu USD), Nhật Bản (100 triệu USD) Mức tiêu thụ nấm bình quân theo đầu người của Châu Âu, Mỹ, Nhật, Đức khoảng 4,0 - 6,0 kg/năm; dự kiến tăng trung bình 3,5%/năm Tại thị trường châu Âu nấm mỡ chiếm khoảng 80 - 95%, mộc nhĩ khoảng 10% thị phần Những năm trước của thế kỷ 20, Mỹ chiếm khoảng 50% thị trường nấm mỡ của thế giới (Công Phiên, 2012)

Theo ITC, năm 2010 thế giới nhập khẩu 1,26 triệu tấn, giá trị 3,3 tỷ USD Trong đó nấm tươi 572 nghìn tấn, giá trị 1,52 tỷ USD; nấm chế biến ăn liền 504 nghìn 3 tấn, giá trị gần 1 tỷ USD, nấm khô 60,6 nghìn tấn, giá trị gần

740 triệu USD Từ năm 2006 đến 2010 tốc độ tăng trưởng thị trường xuất nhập khẩu nấm khoảng 10%/năm

1.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm tại Việt Nam

Nước ta sản xuất khoảng 16 loại nấm, các tỉnh phía Nam chủ yếu trồng nấm rơm, nấm mộc nhĩ; các tỉnh phía Bắc chủ yếu trồng nấm hương, nấm sò, nấm linh chi

Sản lượng nấm: hàng năm nước ta khoảng 250.000 tấn, kim ngạch xuất

khẩu 25 - 30 triệu USD (không tính xuất khẩu tiểu ngạch), trong đó: nấm mộc nhĩ 120.000 tấn, nấm rơm 64.500 tấn, nấm sò 60.000 tấn, nấm mỡ 5.000 tấn,

Trang 18

nấm linh chi 300 tấn, các loại nấm khác như nấm vân chi, nấm đầu khỉ, nấm kim châm, nấm ngọc châm khoảng 700 tấn

Các vùng sản xuất nấm:

+ Nấm rơm được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long (Đồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ, Đồng Nai ) chiếm 90% sản lượng cả nước + Nấm mộc nhĩ được trồng tập trung ở các tỉnh miền Đông Nam bộ (Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước ), chiếm khoảng 70% sản lượng cả nước

+ Nấm mỡ, nấm sò, nấm hương được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, sản lượng khoảng 3.000 tấn/năm

+ Nấm làm dược liệu (linh chi, vân chi, đầu khỉ ) mới được phát triển, trồng ở một số tỉnh/thành phố (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Đồng Nai, ), sản lượng khoảng 300 tấn/năm

+ Một số loại nấm khác như nấm trân châu, nấm kim châm, nấm đùi gà, nấm chân dài, nấm ngọc châm đang nghiên cứu và trồng thử nghiệm thành công tại một số cơ sở, sản lượng khoảng 100 tấn/ năm

Tình hình tiêu thụ trong nước: Nhu cầu tiêu thụ nấm (nấm tươi, nấm

khô) trong nước tăng nhanh trong những năm gần đây, giá nấm luôn đứng ở mức cao, nấm hương 70.000 - 80.000 đồng/kg, nấm rơm, nấm mỡ 50.000 -

60.000 đồng/ kg, nấm tai mèo 60.000 - 70.000 đồng/ kg

Tình hình xuất khẩu: Nấm xuất khẩu dưới nhiều dạng như nấm muối,

nấm hộp, nấm khô của các loại nấm mộc nhĩ, nấm hương, nấm rơm; kim ngạch xuất khẩu năm 2009 là 60 triệu USD, tăng lên 90 triệu USD (năm 2011) Giá nấm rơm muối xuất khẩu tháng 1/ 2009 là 1.299 USD/ tấn, tăng lên 1.790 USD/ tấn (tháng 11/ 2009), hiện nay khoảng 2.000 USD/tấn; nhiều công ty xuất khẩu nấm có uy tín ở các tỉnh phía Nam là West Food Cần Thơ, Vegetexco Hồ Chí Minh, Vegehagi, NutriWorld Đồng Nai

1.3 Sơ lược về giá trị, đặc tính sinh thái kỹ thuật nuôi trồng nấm sò truyền thống

1.3.1 Giá trị dinh dưỡng của nấm sò:

Nấm sò được coi là một loại rau sạch cao cấp, có hàm lượng vitamin và chất khoáng rất cao được so sánh với nhiều loại thực phẩm khác như: thịt, cá, trứng gà

1.3.2 Giá trị kinh tế của nấm sò:

Nấm sò là sản phẩm hàng hóa không chỉ được mua bán ở trong nước mà

còn xuất khẩu ra nước ngoài như: Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan… Hiện nay, nấm sò tươi ở thị trường Đà Nẵng và một số nơi khác đơn giá có thể từ 45.000 – 55.000đồng/1kg

Trang 19

1.3.3 Đặc tính sinh học của nấm sò

- Nấm sò thường có nhiều loại, chúng khác nhau về màu sắc, hình dạng và khả năng thích nghi với nhiệt độ

- Nấm có dạng hình phễu lệch, mọc thành cụm gồm 3 phần chính: Mũ, phiến, cuống

- Đến giai đoạn trưởng thành nấm sò sẽ phát tán bào tử, nhờ gió, bào tử rải

ra khắp mọi nơi, gặp điều kiện môi trường thích hợp sẽ hình thành hệ sợi nấm

sơ cấp với một nhân Hệ sợi nấm sơ cấp phát triển đầy đủ tạo nên một mạng rời để hình thành hệ sợi nấm thứ cấp, sau đó có sự kết hợp của hệ sợi nấm thứ cấp hình thành quả thể nấm hoàn chỉnh

Các điều kiện phù hợp cho nấm sò:

*N iệt dộ:

- Đối với nấm chịu lạnh là 13 - 200C

- Đối với nấm chịu nhiệt độ cao hơn là 24 - 280C

(Nấm Sò có thể trồng được quanh năm nhưng thuận lợi nhất từ tháng 10 đến tháng 3 dương lịch hàng năm)

- Không cần thiết trong giai đoạn nuôi sợi (pha sợi)

- Khi nấm hình thành quả thể cần ánh sáng khuyếch tán (ánh sáng phòng-

Đối với nhóm nấm Sò chịu nóng: nhiệt độ từ 24 - 280C, có màu trắng, thường nuôi trồng từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm

Kỹ thuật nuôi trồng nấm sò truyền thống:

Trang 20

- Rơm rạ, bông phế thải hoặc mùn cưa

- Rơm rạ: Phơi khô, có màu vàng, mùi thơm

- Bông phế thải hoặc mùn cưa: Không mủn, không mốc, chưa qua xử lý hoá chất

- Túi nilon chịu nhiệt kích thước 30 x 40cm đối với nguyên liệu là rơm Kích thước 25 x 35cm đối với nguyên liệu là bông và mùn cưa

*Giống:

- Giống tốt là giống có màu trắng đồng nhất, không loang lổ, sợi nấm ăn

kín đáy, có mùi dễ chịu

- Tuổi giống: 18 - 25 ngày (đối với thời tiết nóng)

25 - 30 ngày (đối với thời tiết lạnh)

*Xử lý nguyên liệu:

- Làm ướt mùn cưa trong dung dịch nước vôi có độ pH = 12 (1% vôi)

- Thời gian ủ đống từ 4 - 6 ngày

- Sau đó cho mùn cưa vào túi nilon, rồi hấp thanh trùng như đối với bịch

mùn cưa để, để nguội, cấy giống trên bề mặt túi nilon

*Đóng bịc và cấy giống:

- Nguyên liệu đã được băm nhỏ (Đối với rơm), làm tơi (Đối với bông)

và đã được điều chỉnh độ ẩm đạt từ 60 - 65% (nắm chặt nguyên liệu chỉ ướt tay không có nước chảy qua kẽ tay)

- Đưa nguyên liệu vào túi nilon, kích thước 30 x 40cm (đối với rơm), kích thước 25 x 35 cm (Đối với bông phế thải)

- Dồn nguyên liệu vào túi Nilon thành từng lớp dày 5 - 7cm (Đối với rơm); 4 5cm (Đối với bông), thì rắc 1 lớp giống xung quanh thành túi Lần lượt như vậy 3 lớp, lớp trên cùng (Lớp thứ 4) rắc giống đều trên bề mặt

(Ươm sợi)

Thu hái, Sơ chế

Treo bịch, Rạch bịch

Trang 21

- Đủ 4 lớp thì dùng bông sạch đặt chính giữa bề mặt trên của bịch, một tay giữ, tay kia vén phần túi nilon ôm chặt nút bông và dùng dây chun buộc lại Riêng đối với nguyên liệu là mùn cưa thì dùng thêm cổ bịch

*Ươm sợi:

- Xếp các bịch đã cấy giống trên giá hoặc nền nhà sạch sẽ, khoảng cách giữa các bịch từ 5 - 10cm (Có thể thay đổi khoảng cách tuỳ theo nhiệt độ môi trường)

- Nhiệt độ phòng ươm: 22 - 280C (Đối với nấm Sò trắng) 13 - 180C (Đối với nấm sò tím)

- Thời gian ươm sợi: Từ 20 - 30 ngày

- Khi sợi nấm ăn kín đáy bịch, bịch rắn chắc thì chuyển sang giai đoạn chăm sóc

*Treo bịc :

- Tháo gỡ nút bông và buộc lại miệng túi, không buộc chặt để tránh đọng nước khi tưới, úp miệng túi quay xuống phía dưới

- Nếu đặt bịch lên giá, thì khoảng cách các bịch cách nhau 15 -20cm

Nếu treo bịch lên dây thì từ 5 7 bịch/dây, các dây treo cách nhau 25

- Sau khi rạch bịch không được tưới nước trực tiếp lên bịch, mà chỉ duy trì

độ ẩm gián tiếp (phun nước vào tường, xung quanh nhà, nền của phòng ươm)

- Sau 5 - 7 ngày nấm bắt đầu mọc, thì tưới nước ở dạng sương mù trực tiếp vào bịch, sao cho mũ nấm lúc nào cũng ướt

- Trung bình mỗi ngày tưới nước 4 - 6 lần (Tuỳ theo thời tiết của từng ngày)

- Khi quả thể mọc, mở hé cửa phòng để điều chỉnh ánh sáng tăng dần về

mọi phía (ánh sáng khuếch tán)

- Duy trì nhiệt độ trong phòng ươm từ 20 - 300C

- Sau 3 - 4 ngày, kích thước mũ nấm bằng miệng chén, bề mặt căng, mép cánh mỏng thì tiến hành thu hái

*T u ái:

- Thu hái chọn các cụm to

Trang 22

- Xếp nấm trong túi nilon, mỗi túi nặng không quá 2kg chuyển đến nơi tiêu thụ (chợ, nhà hàng, công ty xuất khẩu )

- Vệ sinh các bịch sau khi hái nấm

- Sau khi thu hái 2 - 3 đợt, thì ép lại các bịch và duy trì độ ẩm gián tiếp cho đến khi nấm mọc đợt sau Kéo căng túi nilon để nấm ra đợt 2, 3, 4 không

*P ân loại

- Theo tính chất, CPSH được chia thành 3 dạng chính: Dạng lỏng (nước), dạng bột, dạng viên Trong đó thường gặp dạng lỏng và dạng bột

- Theo công dụng, chia thành các loại

+ CPSH có tác dụng xử lý chất thải, nước thải, rác thải (sinh hoạt, chăn nuôi, trồng trọt, công nghiệp, y tế …)

+ CPSH có tác dụng kích thích sinh trưởng, sinh sản của vật nuôi cây trồng [7]

1.4.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng vi sinh vật trong sản xuất chế phẩm sinh học

Đặc điểm quan trọng của vi sinh vật là sinh trưởng nhanh Trong điều kiện thuận lợi, tế bào có thể phân chia sau 20 – 30 phút Như vậy, sau 24 giờ

có tới 48 -72 vòng tăng đôi số lượng và từ 1 tế bào có thể đạt được khối lượng ngàn tấn Tuy nhiên, trong thực tế không thể có điều kiện lý tưởng để tăng sinh khối như vậy Tốc độ sinh trưởng của vi sinh vật tùy thuộc đáng kể vào điều kiện dinh dưỡng, nhiệt độ, mức độ hiếu khí và nhiều yếu tố khác Trong điều kiện nuôi cấy bình thường, vi sinh vật cần có thời gian để làm quen với môi trường mà chưa thể sinh trưởng ngay Ở giai đoạn này, thường được gọi

là pha lag Khi đã qua giai đoạn làm quen, vi khuẩn bắt đầu sinh sản bằng cách nhân đôi theo cấp số nhân Ở giai đoạn này, sinh khối tăng mạnh, các chất dinh dưỡng trong môi trường được sử dụng mạnh Khi môi trường đã cạn kiệt dinh dưỡng, sự tăng trưởng dừng lại và cuối cùng tế bào già đi và chết Tùy theo từng loài vi sinh vật và điều kiện nuôi cấy mà có thể thu hồi lượng sinh khối tối đa trong khoảng thời gian thích hợp [4]

Đặc điểm sinh trưởng nhanh là một trong những thuận lợi cơ bản khi sử dụng vi sinh vật vào sản xuất các chế phẩm sinh học Bên cạnh đó, vi sinh vật

Trang 23

có thể nuôi cấy được trên cơ chất rẻ tiền mà vẫn sinh ra lượng lớn sinh khối một cách ổn định Mặt khác, vi khuẩn cũng là nguồn cung cấp những enzyme cần thiết, thực hiện quá trình sinh học trong những điều kiện đơn giản, không đòi hỏi phương pháp phức tạp Đặc biệt, việc sản xuất không phụ thuộc vào

sự thay đổi thời tiết [21]

Những VSV sử dụng trong sản xuất chế phẩm sinh học phải được lựa chọn trên cơ sở toàn những đặc tính sinh học theo thời gian, không có nguy

cơ biến đổi về di truyền học

1.4.3 Tình hình nghiên cứu, ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử

lý cơ chất trồng nấm

Nhiều năm qua, trong nuôi trồng nấm, kỹ thuật xử lý nguyên liệu rơm bằng phương pháp truyền thống là sử dụng nước vôi Ca(OH)2 đã bộc lộ nhiều hạn chế Quá trình xử lý này khá tốn kém và mất nhiều thời gian, công sức, hệ

số vòng quay trong sản xuất nấm không cao, lợi nhuận thấp, việc chuẩn độ pH trong quá trình sử dụng nước vôi để xử lý nguyên liệu khá phức tạp đối với bà con nông dân Điều đáng nói là trong quá trình xử lý nguyên liệu, nếu lượng vôi nhiều, độ pH cao, sợi nấm sẽ bị co lại và không phát triển được Nếu lượng vôi ít, độ pH thấp, nguyên liệu chua, dễ bị nhiễm bệnh, sử dụng nước vôi để xử lý nguyên liệu thường hay bị ăn da, trong quá trình pha vôi sẽ tạo ra khí CO2 và tỏa nhiệt, gây cho người sử dụng cảm thấy nóng và khó thở Đó là chưa kể đến việc hiệu quả, năng suất và chất lượng của nấm thành phẩm sẽ không cao Từ chính những hạn chế làm ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng nấm thành phẩm mà hiện nay, công nghệ dùng chế phẩm sinh học vi sinh xử lý nguyên liệu trồng nấm đã được nghiên cứu và phát triển ở nhiều nơi Đây là loại chế phẩm trung tính, bảo đảm và đặc biệt là không ảnh hưởng đến sức khỏe có tác dụng phân giải các chất phức tạp thành các chất đơn giản,

dễ hấp thu, chế phẩm còn có khả năng sinh ra các chất kháng sinh chống lại các vi sinh vật và một số loại nấm mốc gây hại cho quá trình phát triển của sợi nấm và quá trình hình thành quả thể

1.4.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong những năm gần đây có nhiều nghiên cứu ứng dụng chế phẩm vi

sinh để xử lý cơ chất trồng nấm như: Tại trường đại học Khoa Học Tự Nhiên, ĐHQG – HCM năm 2006, Lương Bảo Uyên và Phạm Thị Ánh Hồng đã nghiên cứu xử lý mạt dừa sau trồng nấm bào ngư bằng xạ khuẩn sau khi ủ 60 ngày và kết quả cho thấy hàm lượng Lignin giảm xuống còn 34%, cellulose còn 7% và tỉ lệ C/N là 19 thích hợp ứng dụng sản xuất phân sinh hóa hữu cơ Học Viện Nông Nghiêp Việt Nam, năm 2006, Nguyễn Thị Minh đã nghiên cứu xử lý phế phụ phẩm trồng nấm làm giá thể hữu cơ trồng rau an toàn và kết quả cho thấy trồng rau mồng tơi trên giá thể hữu cơ chứng tỏ giá

Trang 24

thể cho hiệu quả rõ rệt đến sự sinh trưởng phát triển của rau, các chỉ tiêu theo dõi của rau trồng trên giá thể đều cao hơn so với đối chứng ở mức sai số có ý nghĩa, năng suất rau tăng 20-34%, đặc biệt tỉ lệ sâu bệnh giảm hơn 15% Hơn thế nữa, rau trồng trên giá thể từ xử lý bã nấm có chất lượng đạt tiêu chuẩn rau an toàn theo Quyết định số 106/2007/QĐ-BNNPTNT, không chứa vi sinh vật gây bệnh và kim loại nặng [6].

Ứng dung EM trong xử lý mùn cưa trồng nấm sò của trang trại trồng nấm Kajornvit, Thái Lan thì kết qủa cho thấy rất tốt năng suất sinh học tăng 10-15% và tỉ lên nhiễm bệnh giảm 10-15% so với không sử dụng chế phẩm

EM Tại Việt Nam hiện nay có một số hợp tác xã đã và đang ứng dụng chế phẩm EM để xử lý cơ chất trồng nấm cũng như xử lý cơ chất sau khi trồng nấm và đạt kết quả tốt

Theo Lê Vĩnh Thúc và công sự (2015) khi so sánh một số loại cơ chất tiềm năng trồng nấm bào ngư xám ở đồng bằng sông Cửu Long đã cho thấy tơ nấm lan nhanh nhất và thu hoạch nấm sớm nhất (26 ngày sau khi cấy tơ) trên

cơ chất trấu Rơm và mụn dừa là 2 cơ chất có tơ nấm lan chậm và thời gian thu hoạch muộn (41-43 ngày sau khi cấy tơ) Bã mía cho năng suất bịch phôi cao nhất là 359,2 g, mùn cưa cao su là 305,23 g, trấu là 288,8 g, rơm là 224,2

g và thấp nhất là mụn dừa (99,1 g) Phần trăm khối lượng khô của nấm bào ngư cao nhất trên cơ chất mùn cưa cao su (10,2%) và bã mía (10%), các nghiệm thức còn lại thấp hơn dao động từ 8,4 - 8,8% Hiệu quả sinh học của nấm bào ngư trên cơ chất mùn cưa và trấu tương đương nhau (34%) [12]

1.4.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Trong nghiên cứu của Ceci sales-campos và cộng sự về đánh giá thành

phần dinh dưỡng của nấm Pleurotus ostreatus được sản xuất trong các chất

nền thay thế trong nông nghiệp và dư lượng nông nghiệp ở vùng Amazon: C,

N, pH, độ ẩm, chất rắn hoà tan, protein, chất béo, tổng số sợi, tro, carbohydrate và năng lượng được xác định Kết quả cho thấy thành phần dinh

dưỡng của Pleurotus ostreatus thay đổi theo chất nền trồng trọt và nó có thể

được coi là yếu tố quan trọng cho các đặc tính dinh dưỡng của nó như: hàm lượng protein cao; carbohydrate chuyển hóa và chất xơ; và lipid thấp và hàm

lượng calo [20]

Theo nghiên cứu “Sử dụng EM để tăng hiệu quả trồng nấm Pleurotus ostreatus” của Sopit Vetayasuporn: 0, 0.5, 1.0, 2.0, 4.0 và 8 ml các nồng độ

EM đã được pha loãng với 1000 ml nước máy và ở mỗi nồng độ đã được sử

dụng để trộn với cơ chất rắn trồng nấm Pleurotus ostreatus Sự phát triển nhanh chóng của nấm Pleurotus ostreatus đã được phát hiện trong môi trường

nuôi cấy kết hợp với EM Môi trường không kết hợp với EM đã phát hiện có 20% tỉ lệ nhiễm, trong khi đó 0 -5% được phát hiện trong môi trường nuôi

Ngày đăng: 06/10/2019, 06:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] TS.NCVC. Tăng Thị Chính (2009), Nguyên cứu sản xuất các chế phẩm vi sinh vật và ứng dụng chúng để xử ký ô nhiễm môi trường, Viện Công nghệ môi trường, Viện KH&CN Việt Nam Khác
[2] Nguyễn Lâm Dũng (dịch) (1983), Thực hành vi sinh vật học, NXB Đại Học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Khác
[3] Đỗ Thu Hà, Giáo trình vi sinh vật đại cương, Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng Khác
[4] Trần Thanh Loan, TT Sông Hồng, Đỗ Ngọc Biền, ArecA (7/2012) Kỹ thuật sử dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp, Hƣng Yên Khác
[5] Nguyễn Đức Lƣợng (2003), Thí nghiệm công nghệ sinh học tập 2, Thí nghiệm VSV học, Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh Khác
[6] Nguyễn Thị Minh (2006), Nghiên cứu xử lý phế phụ phẩm trồng nấm làm giá thể hữu cơ trồng rau an toàn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Khác
[7] Trần Tú Ngà, Đoàn Văn Lư, Phạm Thị Hương, Ngô Bích Hảo (1993), Kết quả bước đầu nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 82-83.15 Khác
[8] Đặng Thị Hoàng Oanh (2008), giáo trình vi sinh đại cương, Đại học Cần Thơ Khác
[9] Phan Thị Bích Phƣợng (2013), Nghiên cứu và sử dụng một số chủng vi khuẩn Bacillus sp. để sản xuất chế phẩm sinh học xử lý nước thải tại TP Đà Nẵng, khoá luận tốt nghiệp, trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng Khác
[10].Võ Văn Phước Quệ và Cao Ngọc Điệp (2011), Phân lập nhận diện vi sinh vật phân giải cellulose, tạp chí khoa học 2011:18a 177-184, trường đại học Cần Thơ Khác
[11] Ngô Tự Thành, Bùi Thị Việt Hà, Vũ Minh Đức, Chu Văn Mẫn (2011), Nghiên cứu hoạt tính enzym ngoại bào của một số chủng Bacillus mới phân lập và khả năng ứng dụng chúng trong xử lí nước thải, Khoa Sinh, Trường đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w