Xuất phát từ những lý do trên nên tôi chọn vấn đề Thiết kế các chủ đề phục vụ dạy học chương I “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” SGK Lịch sử lớp 1
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA LỊCH SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
THIẾT KẾ CÁC CHỦ ĐỀ PHỤC VỤ DẠY HỌC CHƯƠNG I
“CÁC CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN TỪ GIỮA THẾ KỈ XVI ĐẾN NỬA CUỐI THẾ
KỈ XIII” THEO HƯỚNG HÌNH THÀNH
NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC
Đà Nẵng, 04/2018
Sinh viên thực hiện: Đặng Thị Hồng Sương
Lớp: 13SLS, Khoa Lịch Sử, trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Trương Trung Phương
Khoa Lịch Sử, trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô Khoa Lịch sử đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện ở trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến thầy Trương Trung Phương đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành tốt khoá luận
Mặc dù có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, song
do những hạn chế về trình độ lí luận và kinh nghiệm thực tiễn nên không tránh khỏi những điều thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô để khoá luận hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 4 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Đặng Thị Hồng Sương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 6
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4.1 Mục đích nghiên cứu 6
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7
5.1 Nguồn tư liệu 7
5.2 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của đề tài 8
7 Bố cục của đề tài 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ CÁC CHỦ ĐỀ PHỤC VỤ DẠY HỌC THEO HƯỚNG HÌNH THÀNH NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC 9
1.1 Cơ sở lí luận 9
1.1.1 Quan niệm dạy học theo chủ đề, thiết kế các chủ đề dạy học 9
1.1.2 Quan niệm năng lực, năng lực người học 12
1.1.3 Một số năng lực cần hình thành cho học sinh trong dạy học Lịch Sử ở trường THPT 14
1.1.4 Vị trí, ý nghĩa của việc thiết kế các chủ đề phục vụ dạy học Lịch sử theo hướng hình thành năng lực người học 16
Trang 51.2 Cơ sở thực tiễn 18
1.2.1 Mục đích điều tra 19
1.2.2 Nội dung điều tra 19
1.2.3 Kết quả thu được 20
CHƯƠNG II: HỆ THỐNG CÁC CHỦ ĐỀ PHỤC VỤ DẠY HỌC CHƯƠNG I “CÁC CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN TỪ GIỮA THẾ KỈ XVI ĐẾN NỬA CUỐI THẾ KỈ XVIII” (SGK LỊCH SỬ LỚP 10, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) THEO HƯỚNG HÌNH THÀNH NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC 26
2.1 Nội dung cơ bản của chương I “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn) 26
2.2 Quy trình xây dựng các chủ đề phục vụ dạy học chương I “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn) 33
2.3 Các chủ đề phục vụ dạy học chương I “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn) 37
2.4 Yêu cầu khi thiết kế các chủ đề phục vụ dạy học chương I “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVIII” (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn) theo hướng hình thành năng lực người học 37
2.4.1 Đảm bảo mục tiêu dạy học 37
2.4.2 Góp phần khắc sâu kiến thức cơ bản của bài học 37
2.4.3 Đảm bảo tính khoa học 38
2.4.4 Đảm bảo tính vừa sức 39
2.5 Thiết kế các chủ đề phục vụ dạy học chương I “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVIII” (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn) theo hướng hình thành năng lực người học 40
2.5.1 Lí do chọn chủ đề 40
2.5.2 Mục tiêu chủ đề 42
Trang 62.5.3 Nội dung chủ đề 45
Chương III: TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ TRONG CHƯƠNG I “CÁC CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN TỪ GIỮA THẾ KỈ XVI ĐẾN NỬA CUỐI THẾ KỈ XVIII” (SGK LỊCH SỬ LỚP 10, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) THEO HƯỚNG HÌNH THÀNH NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC 51
3.1 Tổ chức dạy học theo chủ đề 51
3.1.1 Chủ đề: Khái quát chung về cách mạng tư sản 51
3.1.2 Chủ đề: Sự xác lập của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trong các cuộc CMTS 53 3.1.3 Chủ đề: Động lực cách mạng trong các cuộc CMTS 55
3.1.4 Chủ đề: Vấn đề ruộng đất và quyền lợi của nông dân trong các cuộc CMTS 64 3.1.5 Chủ đề: Tác động của các cuộc cách mạng tư sản đối với lịch sử thế giới 67
3.2 Một số biện pháp phục vụ dạy học chương I “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn) theo hướng hình thành năng lực người học 72
3.2.1 Tổ chức hoạt động tự học 72
3.2.2 Tổ chức dạy học theo nhóm 74
3.2.3 Tổ chức dạy học nêu vấn đề 75
3.2.4 Tổ chức dạy học theo dự án 76
3.3 Thực nghiệm sư phạm: 77
3.3.1 Khái quát quá trình thực nghiệm 77
3.3.2 Mục đích thực nghiệm sư phạm: 78
3.3.3 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm: 78
3.3.4 Nội dung và phương pháp thực nghiệm: 78
3.3.5 Kết quả quá trình thực nghiệm: 80
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Xuất phát từ yêu cầu đó đòi hỏi giáo dục phải có những chuyển biến mới để đào tạo ra lớp người lao động năng động, sáng tạo và phát triển toàn diện Cùng với các môn học khác, môn Lịch sử trong trường phổ thông góp phần to lớn trong việc giáo dục thế hệ trẻ thành nguồn nhân lực chất lượng cao Nâng cao chất lượng giáo dục được xem là vấn đề sống còn
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc về giáo dục chỉ rõ: “Đổi mới chương trình, nội
dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi và kiểm tra theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt là coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội” [39, tr.131]
Thực tiễn giáo dục trong những năm gần đây cho thấy, việc giáo dục Lịch sử cho học sinh có những bước phát triển nhất định Nhiều giáo viên cố gắng trong cải tiến phương pháp và nâng cao tính hấp dẫn của môn học Bên cạnh đó, chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay đang thực hiện theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa, các nội dung phân chia thành những đơn vị kiến thức khá cụ thể theo từng bài học và được sắp xếp tuần tự, phù hợp với tiến trình lĩnh hội kiến thức cho người học Tuy nhiên, hạn chế của sự phân chia này là các nội dung, các đơn vị kiến thức trong các bài mang tính độc lập, tương đối với nhau, kiến thức học sinh thu nhận được sẽ rời rạc, dẫn đến việc lưu giữ kiến thức không bền vững, khó vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn Từ đó làm cho hiệu quả giáo dục Lịch sử có nhiều bất cập, hạn chế gây ra sự bức xúc và trở thành nỗi lo âu của cả xã hội Điều đó không chi được phản ánh qua điểm số các kì thi tốt nghiệp phổ thông và thi tuyển vào đại học, cao đẳng mà còn qua kết quả điều tra xã hội học, qua các sân chơi truyền hình và dư luận xã hội
Tổ chức dạy học theo chủ đề là định hướng phù hợp với chương trình, nội dung
và cách thức tổ chức quá trình dạy học hiện nay Nội dung chương trình môn Lịch
sử ở cấp THPT lần này không thiết kế theo mạch thông sử mà theo hệ thống chủ đề Các chủ đề sẽ bao quát, chứa đựng những nội dung kiến thức tương đối trọn vẹn cần
Trang 8trang bị cho học sinh và các kiến thức này sẽ liên quan đến một hay nhiều lĩnh vực khác nhau, góp phần tạo ra môi trường học tập tốt, thuận lợi giúp học sinh giải quyết các vấn đề Từ đó học sinh dễ dàng ghi nhận kiến thức một cách chặt chẽ, có
hệ thống, không nhồi nhét, quá tải và hơn thế là gắn liền với thực tiễn cuộc sống Tổ chức dạy học theo thiết kế các đề là một trong những biện pháp tạo hứng thú đối với môn Lịch sử nhằm nâng cao chất lượng dạy – học
Xuất phát từ những lý do trên nên tôi chọn vấn đề Thiết kế các chủ đề phục
vụ dạy học chương I “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn) theo hướng hình thành năng lực người học làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình nhằm nâng cao
chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu đề tài thiết kế các chủ đề trong dạy học lịch sử đã được đề cập trong nhiều nguồn tư liệu khác nhau đạt được những kết quả nhất định
Cuốn “Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh” (quyển 2), NXB Đại
học Sư phạm Hà Nội đã cung cấp một số cơ sở lí luận cần thiết về dạy học tích hợp theo hướng phát triển năng lực đồng thời giới thiệu các chủ đề tích hợp với các mức
độ tích hợp khác nhau, từ tích hợp ở mức độ lồng ghép/ liên hệ đến tích hợp ở mức
độ chương trình Các chủ đề minh họa trong cuốn sách nhằm giúp tác giả có cơ sở
để lựa chọn chủ đề tích hợp, thiết kế các hoạt động dạy học và xây dụng công cụ kiểm tra, đánh giá để phát triển năng lực cho học sinh Đây là một trong những cuốn sách đầu tiên cụ thể hóa nội dung dạy học theo chủ đề theo định hướng đổi mới giáo dục hiện nay, trở thành tài liệu hữu ích giúp tác giả thực hiện đề tài
Cuốn “Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở
trường phổ thông” NXB Đại học Sư phạm, chủ biên Lê Đình Trung – Phan Thị
Thanh Hội đã nói lên tác dụng của việc thiết kế các chủ đề trong dạy học Lịch sử, đồng thời cung cấp kiến thức làm thế nào để thiết kế một chủ đề hoàn chỉnh và khoa học, giúp tác giả khi thực hiện chủ đề mang tính hệ thống, các nội dung kiến thức không bị trùng lặp trong bài học
Tài liệu được biên soạn với mục đích hướng dẫn ôn tập như: “Hướng dẫn học
và ôn tập lịch sử trung học phổ thông” tập 1, tập 2 (2003) do Phan Ngọc Liên chủ
Trang 9biên chỉ ra việc vận dụng dạy học theo chủ đề trong các bài ôn tập để củng cố kiến thức cho học sinh đồng thời chú ý đến việc xây dựng chủ đề trong kiến thức lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam
Tài liệu phương pháp dạy học lịch sử theo chủ đề tạo cho giáo viên có thể linh hoạt trong quá trình giảng dạy, học sinh học được nhiều và chủ động tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức Hơn nữa khi dạy học theo chủ đề sẽ giúp học sinh ôn tập có hệ thống
và dễ dàng ghi nhớ kiến thức Trong cuốn Phương pháp ôn tập Lịch sử ở trường
phổ thông – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (2012) TS Hoàng Thanh Tú đã chỉ
ra việc căn cứ vào trình độ học sinh, loại bài ôn tập trong chương trình, mục tiêu cần đạt để lựa chọn, cấu trúc nội dung ôn tập phù hợp với hình thức tổ chức và
phương pháp tiến hành “Các nội dung ôn tập có thể cấu trúc theo hai kiểu điển
hình là cấu trúc theo chủ đề khái quát và so sánh các sự kiện trong mối quan hệ đồng đại/lịch đại và cấu trúc theo chủ đề tương ứng với các nội dung về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, khởi nghĩa, kháng chiến, chiến tranh” [34, tr 215-216]
Dạy và học lịch sử theo các chủ đề, chuyên đề không chỉ tạo tư duy logic cho học sinh, tăng khả năng khả năng hiểu bài mà còn giúp quá trình ôn tập hiệu quả hơn Trên cơ sở đó học sinh được ôn tập, củng cố, tổng hợp các kiến thức ở mức độ cao
và biết vận dụng sáng tạo trong học tập
Trong cuốn “Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử”(2002) TS Ngô Quang Oanh Trong bài viết “Vế mối quan hệ giữa các kiến thức lịch sử thế
giới và lịch sử Việt Nam ở trường phổ thông” đã nêu lên cơ sở thực tiễn và cơ sở
khoa học của vấn đề và con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học và vai trò của giáo viên là vô cùng quan trọng trong việc vận dụng sáng tạo các phương pháp
và biện pháp dạy học thích hợp.Từ mối quan hệ mật thiết gắn bó giữa lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam chúng ta có thể xây dựng được các chủ đề lịch sử phù hợp dựa trên sự tích hợp giữa kiến thức lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc, so sánh với các dân tộ trên thế giới cũng như sự đóng góp của dân tộc vào lịch sử nhân loại
Nước ta đang tiến tới xây dựng một chương trình và bộ SGK lịch sử phù hợp với yêu cầu của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông sau năm 2015
PGS.TS Nghiêm Đình Vỳ trong báo cáo tham luận “Một số suy nghĩ ban đầu về
định hướng xây dựng chương trình và SGK môn lịch sử ở trường phổ thông sau 2015” tại Hội thảo khoa học quốc gia về dạy học môn lịch sử ở trường phổ thông
Trang 10Việt Nam hiện nay đã nhấn mạnh: Hiện nay môn lịch sử ở trường THPT đang được học theo chương trình đồng tâm với THCS nhưng mức độ chưa được tốt Chúng tôi
đề nghị không nên học lặp lại mà nên áp dụng dạy học theo chủ đề cả về lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam Nói như vậy không có nghĩa môn lịch sử là môn tự chọn,
mà như tôi đã đề nghị là môn cơ bản, bắt buộc Nhưng vẫn theo xu thế trong nội bộ môn lịch sử có những chủ đề bắt buộc và có cả chủ đề tự chọn” Xuất phát từ thực
trạng dạy và học môn lịch sử ở trường phổ thông hiện nay thì yêu cầu đổi mới là vấn đề cấp bách Dự kiến dạy học lịch sử theo những chủ đề là một trong những hướng đi phù hợp và đúng đắn với thực tế giáo dục của chúng ta hiện nay Đó là xu thế chung mà nhiều nước trên thế giới thực hiện với nhiều thành tựu to lớn
TS Nguyễn Xuân Trường trong bài viết “Nhìn nhận lại chương trình SGK
lịch sử hiện hành và một số vấn đề trao đổi, định hướng xây dựng chương trình, SGK sau năm 2015” tại Hội thảo khoa học quốc gia về dạy học lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam đã đề xuất ở cấp THPT, nội dung kiến thức lịch sử không lặp
lại tiến trình như THCS, mà được thiết kế thành các chủ đề Tuy nhiên, phải đảm bảo tính toàn diện giữa các chủ đề về chiến tranh với chủ đề về kinh tế, văn hóa Như vậy, có thể thấy dạy học theo chủ đề là một tong những định hướng được nhiều nhà nghiên cứu, quả lí giáo dục đưa ra tại hội thảo và đây là một trong những hướng đi đúng đắn, phù hợp với thực trạng dạy và học lịch sử ở nước ta hiện nay góp phần xây dựng chương trình SGK mới sau năm 2015
Tháng 10 năm 2013 một hội thảo quốc tế “Đổi mới và hiện đại hóa và
chương trình và SGK theo định hướng phát triển bền vững” được tổ chức tại Hà
Nội nhằm tăng cường hợp tác nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm phục vụ cho chương trình đổi mới sau năm 2015 Trong hội thảo TS Hoàng Thanh Tú đã trình bày quan điểm của mình về về vai trò của SGK và đề xuất ý kiến cho SGK mới
trong bài viết “biên soạn và sử dụng SGK lịch sử phổ thông theo định hướng phát
triển năng lực của học sinh” Qua khảo sát ý kiến đánh giá mong muốn của GV và
HS về SGK lịch sử, cũng như ưu điểm của các nước như vương quốc Anh và Australia Tác giả đề xuất ý kiến cho việc biên soạn SGK mới trong dạy học môn lịch sử ở Việt Nam theo định hướng phát triển năng lực của HS THPT Về nội dung theo chủ đề của chương trình quốc gia SGK được biên soạn theo hướng tích hợp lịch sử thế giới với lịch sử Việt Nam các chủ đề quan trọng được chọn làm chủ đề
Trang 11nghiên cứu sâu (bắt buộc hoặc tự chọn) tập trung vào những vấn đề gắn với thực tiễn cuộc sống hoặc có nghĩa với học sinh trong hiện tại và tương lai
Cũng tại hội thảo này, PGS.TS Nghiêm Đình Vỳ đã đề xuất “Đổi mới biên
soạn SGK lịch sử ở trường phổ thông trong quá trình dạy hội nhập quốc tế” Trong
đó trình bày dự kiến SGK ở trường THPT nên viết dưới dạng chủ đề Chủ đề cũng
là sự tích hợp môn học gồm những nội dung có tính tổng quát, cũng có thể riêng biệt cũng có thể liên quan đến nhiều lĩnh vực, liên quan đến thế giới và Việt Nam Gắn liền với thực tiễn Tác giả cũng nhấn mạnh đây là xu thế hiện nay của nhiều nước trên thế giới
Một góc nhìn khác, nhà sư phạm N.G.Đai-ri (1973) lại tiến hành phân tích và chỉ rõ những yêu cầu quan trọng nhất của giờ học và việc chuẩn bị giờ học lịch sử
trong chuyên khảo “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” Tác giả nhấn mạnh đến việc thiết lập hệ thống kiến thức trong các bài học vì ”Nội dung của hầu như giờ
học nào cũng gắn bó chặt chẽ với những giờ học trước và giờ học sau” [13, tr 98]
Việc xây dựng thành các chủ đề trong môn lịch sử sẽ giúp học sinh thấy rõ hệ thống kiến thức vì các sự kiện có mối quan hệ gắn bó với nhau
Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu trình bày quan niệm về phương pháp dạy học mới, các công trình này đã khẳng định sự cần thiết và ý nghĩa của việc dạy học theo chủ đề trong dạy học lịch sử nhằm nâng cao chất lượng bộ môn, tăng khả năng nhận thức kiến thức một cách hệ thống và tư duy hơn cho học sinh Những công trình này đã góp phần giúp tôi xác định được vấn đề lý luận, phương pháp thiết kế và áp dụng dạy học theo chủ đề trong dạy học lịch sử Tuy nhiên, việc xác
định nội dung, cách thức, quy trình và biện pháp “Thiết kế các chủ đề phục vụ dạy
học chương I “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” (SGK Lịch sử lớp 10) theo hướng hình thành năng lực người học” thì chưa
có công trình nào đi sâu nghiên cứu triệt để, vì vậy tôi hy vọng khóa luận này có thể đóng góp một phần nào đó để giải quyết vấn đề này
Trang 123 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu thiết kế các chủ đề phục vụ dạy học chương I “Các cuộc cách mạng
tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn) theo hướng hình thành năng lực người học
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Do điều kiện và khuôn khổ của khóa luận, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những
cơ sở lý luận của việc thiết kế các chủ đề trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, mối liên hệ giữa các chủ đề và tình huống có vấn đề, cách thức thiết kế quá trình sử dụng dạy học theo chủ đề Trên cơ sở đó, đi vào thiết kế và gợi ý cách vận dụng các chủ đề trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông lịch sử Thế giới cận đại chương I
“Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn) theo hướng hình thành năng lực người học và tiến hành thực nghiệm giáo dục ở ba trường THPT trên đại bàn tỉnh Quảng Nam là trường THPT Sào Nam, Lương Thế Vinh, Nguyễn Hiền để trên cơ sở đó rút ra ưu
và nhược điểm cũng như bài học kinh nghiệm trong việc thiết kế chủ đề trong dạy học lịch sử
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận dạy học nói chung và thực tiễn việc DHLS ở trường THPT nói riêng, đề tài khẳng định tầm quan trọng của việc thiết kế các chủ
đề phục vụ dạy học trong môn Lịch sử ở trường THPT Đồng thời, đề xuất quy trình thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề đã nêu theo hướng phát huy tích cực học sinh
Trang 134.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu nêu trên, khóa luận cần thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học theo chủ đề phục vụ dạy học chương I “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn) theo hướng hình thành năng lực người học
- Đề xuất một số biện pháp cụ thể trong việc dạy học theo chủ đề phục vụ dạy học chương I “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn) theo hướng hình thành năng lực người học nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh
- Thực nghiệm đánh giá hiệu quả của các biện pháp dạy học theo chủ đề phục vụ dạy học chương I “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế
kỉ XVIII” (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn) theo hướng hình thành năng lực người học
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng tài liệu từ các sách chuyên khảo, một
số công trình nghiên cứu, báo điện tử, thông tin liên quan đến đề tài cũng như kết quả thực tế khảo sát được
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu các tài liệu: Phương pháp dạy học Lịch sử, tạp chí, lịch sử chuyên đề
và các tài liệu khác có liên quan
- Nghiên cứu thực tiễn:
+ Điều tra cơ bản: tiến hành quan sát, điều tra bằng phiếu điều tra đối với giáo viên
Trang 14dạy học mà đề tài đưa ra
Đề xuất một số biện pháp sư phạm để thiết kế các chủ đề phục vụ dạy học chương I “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn) theo hướng hình thành năng lực người học
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, cấu trúc đề tài gồm ba chương:
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc thiết kế các chủ đề phục vụ dạy học
theo hướng hình thành năng lực người học
Chương II: Hệ thống các chủ đề phục vụ dạy học chương I “Các cuộc cách mạng tư
sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn) theo hướng hình thành năng lực người học
Chương III: Tổ chức dạy học các chủ đề trong chương I “Các cuộc cách mạng tư
sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn) theo hướng hình thành năng lực người học
Trang 15
NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ CÁC CHỦ ĐỀ PHỤC VỤ DẠY HỌC THEO HƯỚNG HÌNH THÀNH NĂNG
LỰC NGƯỜI HỌC 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Quan niệm dạy học theo chủ đề, thiết kế các chủ đề dạy học
1.1.1.1 Quan niệm về dạy học theo chủ đề
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về dạy học theo chủ đề với những quan niệm khác nhau về mức độ rộng hẹp hay phạm vi của các thành tố cấu thành nên chủ đề Tuy nhiên, nhìn chung quan niệm hiện đại đã vượt qua cách hiểu truyền thống, không chỉ bó hẹp chủ đề trong mục tiêu và nội dung dạy học Chủ đề dạy học
có thể xem là một nội dung học tập/đơn vị kiến thức tương đối trọn vẹn nhằm trang
bị cho học sinh một số kiến thức, kĩ năng, năng lực nhất định trong quá trình học tập Chủ đề là nội dung kiến thức chuyên sâu chủ yếu một mặt nào đó của vấn đề
Theo Lê Đình Trung – Phan Thị Thanh Hội: “Dạy học theo chủ đề
(Themes-based learning) là hình thức dạy học dựa vào việc thiết kế chủ đề dạy học và tổ chức dạy học chủ đề đó Giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, không chỉ truyền thụ kiến thức mà tập trung vào việc hướng dẫn học sinh tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập Dạy học theo chủ đề tăng cường sự tích hợp kiến thức, làm cho các kiến thức có mối liên hệ mạng lưới đa chiều, tích hợp vào nội dung kiến thức các ứng dụng kĩ thuật và thực tiễn đời sống làm cho nội dung học có ý nghĩa hơn, hấp dẫn người học hơn, rèn luyện đồng thời được cả năng lực chung và năng lực chuyên biệt” [32, tr.121]
Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa: “Dạy học theo chủ đề là nội
dung chính hoặc mục tiêu chính được đề cập dựa trên hình thức tìm tòi những khái niệm, tư tưởng, đơn vị kiến thức, nội dung bài học, chủ đề,… có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn làm thành nội dung học trong một chủ đề có ý nghĩa hơn, thực tế hơn, nhờ đó học sinh có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn” [27, tr.133]
Trang 16Theo Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường
(2002): “Dạy học theo chủ đề là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống và
hiện đại, ở đó giáo viên không dạy học chỉ bằng cách truyền thụ (xây dựng) kiến thức mà chủ yếu là hướng dẫn học sinh tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ có ý nghĩa thực tiễn” [24, tr.92]
Tác giả Ngô Quang Oanh cho rằng: “Dạy học theo chủ đề là một kiểu mô
hình mới cho hoạt động lớp học thay thế cho lớp học truyền thống (với đặc trưng là những bài học ngắn, cô lập, những hoạt động lớp học mà giáo viên giữ vai trò trung tâm) bằng việc chú trọng những nội dung học tập có tính tổng quát, liên quan đến nhiều lĩnh vực Với mô hình này, học sinh có nhiều cơ hội làm việc theo nhóm
để giải quyết những vấn đề xác thực, có hệ thống và liên quan đến nhiều kiến thức khác nhau Các em thu thập thông tin từ nhiều nguồn kiến thức” [26, tr.120]
Việc học của học sinh thực sự có giá trị vì nó kết nối với thực tế và rèn luyện được nhiêu kĩ năng hoạt động và kĩ năng sống Học sinh cũng được tạo điều kiện minh họa kiến thức mình vừa nhận được và đánh giá mình học được bao nhiêu và giao tiếp tốt như thế nào Với cách tiếp cận này, vai trò của giáo viên chỉ là người hướng dẫn, chỉ bảo thay vì quản lý trực tiếp học sinh làm việc
Vì vậy, theo tác giả quan niệm dạy học theo chủ đề là sự kết hợp kiến thức, làm cho kiến thức có mối liên hệ mạng lưới nhiều chiều; là sự tích hợp vào những nội dung kiến thức có liên quan đến nhau một cách logic cùng với những ứng dụng
kĩ thuật, gần với đời sống làm cho nội dung học có ý nghĩa hơn, hấp dẫn hơn Bên
cạnh đó, khi xây dựng nội dung dạy học theo chủ đề áp dụng vào dạy học sẽ làm cải thiện rất nhiều đến chất lượng học tập bộ môn của học sinh
1.1.1.2 Quan niệm thiết kế các chủ đề dạy học
Thiết kế các chủ đề được được xem là nguyên tắc dạy học được các nhà giáo dục quan tâm, nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử Các nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan niệm khác nhau về thiết kế các chủ đề:
Theo Lê Đình Trung – Phan Thị Thanh Hội: “Thiết kế các chủ đề dạy học là chú
trọng những nội dung học tập có tính tổng quát, liên quan đến nhiều lĩnh vực, với trung tâm tập trung vào học sinh và nội dung tích hợp với những vấn đề, những thực hành gắn liền với thực tiễn, học sinh có nhiều cơ hội làm việc theo nhóm để
Trang 17giải quyết những vấn đề xác thực, có hệ thống và liên quan đến nhiều kiến thức khác nhau Các em thu thập thông tin từ nhiều nguồn kiến thức” [32, tr.145]
Khi dạy học lịch sử, theo Phạm Kim Chung: “Người giáo viên phải luôn chú ý
đến mối quan hệ ngang dọc, trước sau của các vấn đề lịch sử cũng như mối quan hệ ngang, nội tại giữa các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa để cung cấp cho học sinh những tri thức lịch sử khoa học mang tính hệ thống và hoàn chỉnh” [11, tr.121]
Việc sắp xếp kiến thức lịch sử theo từng chủ đề sẽ làm rõ được mối quan hệ đó giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử
Theo Phan Ngọc Liên: “Thiết kế các chủ đề dạy học là xây dựng một nội dung
học thành một kết cấu chặt chẽ, logic theo một hệ thống chứ không thành những bài học rời rạc Học sinh phải tự tìm tòi các kiến thức thực tế liên quan đến nội dung và vận dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập Trong quá trình thiết kế chủ đề thường có sự tích hợp liên môn làm cho nội dung học có ý nghĩa hơn, thực tế hơn và học sinh có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn” [25, tr.19]
Theo quan niệm của tác giả thì thiết kế các chủ đề dạy học là quá trình tổng hợp các kiến thức liên quan đến nhau, thiết kế hệ thống câu hỏi và dẫn chứng có phù hợp với tên chủ đề đưa ra Và thiết kế các chủ đề dạy học là một quá trình người giáo viên xây dựng nội dung bài dạy phù hợp với trọng tâm kiến thức chương trình đồng thời đưa ra những ý tưởng tổ chức tiến trình bài học mang yếu tố linh hoạt Bởi vậy, việc thiết kế các chủ đề dạy học, xây dựng tiến trình dạy học và tổ chức thực hiện chủ đề hoàn toàn linh hoạt, giao quyền chủ động cho giáo viên, không khuôn mẫu, cứng nhắc, luôn mang tính sáng tạo và đổi mới Trong một chủ
đề có nhiều tiết học thì có thể soạn chung, không phải tách ra theo từng tiết, không phải lặp lại những phần chung (như: mục tiêu chủ đề, yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ những nội dung này chỉ ghi một lần nhưng đã phản ánh đầy đủ cho
cả chủ đề)
Đối với bộ môn Lịch sử ở trường THPT, bên cạnh những bài học quy định trong chương trình sách giáo khoa, rất cần thiết kế các chủ đề nhằm bồi dưỡng, mở rộng và nâng cao kiến thức lịch sử (cả về nội dung và phương pháp) để giúp các em tối ưu hóa nhiệm vụ học tập của mình Nội dung các chủ đề không dừng lại ở biết
Trang 18lịch sử mà nâng cao trình độ nhận thức lịch sử, tức là hiểu và vận dụng các kiến thức
mà các em đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn đòi hỏi Từ đó sẽ góp phần phát triển tư duy nói chung, đề cập đến mọi lĩnh vực, đời sống xã hội con người, do
đó chủ đề lịch sử cũng rất đa dạng, phong phú
1.1.2 Quan niệm năng lực, năng lực người học
1.1.2.1 Quan niệm về năng lực
“Năng lực” là một khái niệm rộng, được sử dụng phổ biến trong đời sống ngày nay, tùy thuộc vào đặc thù của từng lĩnh vực và khái niệm “năng lực” được hiểu theo những nghĩa khác nhau
Theo Nguyễn Công Khanh: “Năng lực là khả năng làm chủ hệ thống kiến
thức, kỹ năng, thái độ và vận hành chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra trong cuộc sống Năng lực là một cấu trúc trừu tượng, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội thể hiện tính sẵn sàng hành động trong những điều kiện thực tế, hoàn cảnh thay đổi” [18, tr.79]
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế lại cho rằng: “Năng lực là khả năng cá
nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong bối cảnh cụ thể”[7]
Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa: “Năng lực là khả năng điều
kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao” [27, tr.193] Chiếu theo định nghĩa này ta có thể hiểu năng lực
vừa như là một khả năng có thực, mang tính bẩm sinh có sẵn trong bản thân mối con người được bộc lộ ra thông qua việc cá nhân đó giải quyết một công việc cụ thể trong cuộc sống đồng thời năng lực cũng là một khả năng có thể tạo ra được thông qua quá trình rèn luyện, học tập có chủ đích của con người
Trong khi đó tác giả Đỗ Ngọc Thống trong bài viết “Giáo dục phổ thông: Tiếp cận năng lực là thế nào?” đã giới thiệu định nghĩa về năng lực của một số học
giả thế giới như F.E Weinert: “Năng lực được thể hiện như một hệ thống khả năng,
sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có khả năng, sự thành thạo hoặc những
Trang 19kỹ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ diều kiện vươn tới một một đích cụ thể”
hoặc của J Coolahan xem năng lực như là “những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở
tri thức, kinh nghiệm các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục”
Từ những định nghĩa nêu trên, ta có thể hiểu năng lực như là khả năng của con người được sử dụng để thực hiện hiệu quả một công việc, một hoạt động nào đó trong cuộc sống theo những mục tiêu xác định hoặc biến đổi tùy theo sự thay đổi của đối tượng, hoàn cảnh trên cơ sở nắm bắt kiến thức về vấn đề đó, biết cách lựa chọn, vận dụng khóe léo những tri thứ, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo có được
1.1.2.2 Quan niệm về năng lực người học
Giáo dục nước ta trong những năm trở lại đây đang có những thay đổi mạnh
mẽ, quan điểm dạy học theo hướng tiếp cận nội dung đang dần thay thế theo hướng tiếp cận nội dung đang dần được thay thế bằng quan điểm dạy học tiếp cận năng lực Chính vì vậy, tìm hiêu làm rõ quan niệm về năng lực người học là điều kiện quan trọng để từng bước thực hiện những thay đổi đó
Theo Nguyễn Công Khanh: “Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ
những hệ thống kiến thức, kỹ năng thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận hành chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống” [18, tr.79] Hiểu như
vậy, năng lực của học sinh có nghĩa là toàn bộ khả năng tái hiện, thông hiểu tri thức,
kỹ năng học được và quan trọng hơn đó là khả năng vận dụng những hiểu biết đó để giả quyết các vấn đề cụ thể đặt ra trong cuộc sống của các em
Tác giả Nguyễn Thành Ngọc Bảo lại cho rằng: “Năng lực của học sinh chính
là khả năng vận dụng kết hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, giải quyết có hiệu quả những vấn đề có thực hiện trong cuộc sống của các em” [1, tr.158]
Từ những quan niệm về năng lực người học của các tác giả như trên, chúng
ta có thể đi đến kết luận: Năng lực của người học là toàn bộ khả năng chiếm lĩnh, tái hiện và vận dụng những tri thức, kỹ năng học được của người học được để giải quyết những vấn đề đặt ra trong quá trình học tập ở nhà trường và trong đời sống thực tiễn Năng lực của người học được hình thành và phát triển trong suốt quá trình
Trang 20học tập ở nhà trường và trong đời sống thực tiễn Năng lực của người học được hình thành và phát triển trong suốt quá trình học sinh học tập và rèn luyện có mục đích, chịu sự tác động và chi phối của môi trường giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội, trong đó nhà trường là môi trường giúp học sinh hình thành nên những năng lực chung, cần thiết của của gia đình và xã hội là những yếu tố bổ sung, tác động để giúp học sinh hoàn thiện năng lực của bản thân
1.1.3 Một số năng lực cần hình thành cho học sinh trong dạy học Lịch Sử ở trường THPT
Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống Năng lực của học sinh là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang
thay đổi của xã hội
Năng lực của học sinh trong học tập môn Lịch sử bậc THPT được hình thành trên cơ sở những năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực tự quản lí, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực ngôn ngữ/giao tiếp, năng lực sử dụng công nghệ, năng lực suy nghĩ sáng tạo, năng lực tính toán…Kết hợp với đặc thù môn Lịch sử và chương trình giáo dục phổ thông Năng lực chuyên biệt cần hình thành và phát triển cho học sinh trong môn Lịch sử ở cấp THPT là:
- Năng lực tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử: Là khả năng của
học sinh tái hiện lại các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng đến lịch
sử thế giới và dân tộc Năng lực tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử của học sinh được thể hiện dưới hình thức ngôn ngữ nói và viết Trong dạy- học lịch sử hiện nay, nhiều giáo viên còn coi nhẹ việc hình thành năng lực này cho học sinh
Để hình thành được năng lực này cho học sinh, giáo viên cần hướng dẫn học sinh: Thứ nhất, học sinh phải nắm vững các sự kiện, hiện tượng hay nhân vật lịch sử
Trang 21Thứ hai, ngôn ngữ trình bày trong sáng, gãy gọn, dùng từ chính xác và bằng ngôn ngữ của mình
Thứ ba, có thể kết hợp với sử dụng đồ dùng trực quan, tài liệu tham khảo Nhiều học sinh rất lúng túng trong việc trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử Do đó giáo viên phải hướng dẫn cụ thể cho các em, động viên các em tự tin, bình tĩnh
- Năng lực thực hành với đồ dùng trực quan:quan sát, đọcvà trình bày diễn
biến trên bảng đò, lược đồ Lập bảng niên biểu diễn biến các cuộc cách mạng qua các giai đoạn Khai thác nội dung lịch sử cần thiết thông qua lược đồ, bản đồ, tranh ảnh, phim tư liệu, hiện vật,…
- Năng lực xác định và giải quyết mối liên hệ, ảnh hưởng tác động giữa các
sự kiện lịch sử với nhau: xác định và giải quyết được mối liên hệ và ảnh hưởng, tác
động giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử với nhau, thông qua đó lí giải được mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử như chỉ ra mối quan hệ cảu các sự kiện, hiện tượng với hoàn cảnh lịch sử , với tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong và ngoài nước, những tác động tích cực hoặc tiêu cực của tình hình thế giới với lịch sử Việt Nam Qua đó lí giải nguồn gốc, bản chất của mối quan hệ và tác động qua lại giữa sự kiện, hiện tượng lịch sử đó
- Năng lực so sánh, phân tích, phản biện, khái quát hóa: Là khả năng so
sánh, phân tích, phản biện các sự kiện, nhân vật, nhận định, luận điểm lịch sử trong nhiều thời kỳ lịch sử Từ đó thấy được tác động, ảnh hưởng của của nó đối với sự phát triển của lịch sử
- Năng lực nhận xét, đánh giá rút ra bài học lịch sử từ những sự kiện, hiện tượng, vấn đề, nhân vật lịch sử: nhận xét đánh giá các vấn đề lịch sử: các phong
trào yêu nước theo những khuynh huớng khác nhau, những hoạt động của các cá nhân tiêu biểu, các phong trào cách mạng, các hiệp định, các hoạt động quân sự, chính trị , ngoại giao Rút ra bài học lịch sử từ công cuộc dựng nước, giữ nước của ông cha ta và các bài học lịch sử khác
- Năng lực vận dụng, liên hệ kiến thức lịch sử đã học để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra: biết vận dụng kiến thức lịch sử và liên hệ với thực tiễnđể
giải quyết những vấn đề trong cuộc sống hiện nay: ô nhiễm môi trường, xung đột trên thế giới, tranh chấp biên giới, biển đảo, xu thế toàn cầu hóa…
Trang 22- Thông qua sử dụng ngôn ngữ lịch sử thể hiện chính kiến của mình về các vấn đề lịch sử: biết sự dụng ngôn ngữ lịch sử qua các thời kì để trình bày, lập
luận các vấn đề lịch sử qua đó thể hiện được chính kiến của mình về các vấn đề đó, như lập luận khẳng định hoặc phủ định của các nhận định, nhận xét về một sự kiện, hiện tượng, vấn đề hay nhân vật lích sử…
1.1.4 Vị trí, ý nghĩa của việc thiết kế các chủ đề phục vụ dạy học Lịch sử theo hướng hình thành năng lực người học
1.1.4.1 Vị trí
Với quan niệm về dạy học theo chủ đề, chúng ta có thể thấy rằng phương pháp dạy theo chủ đề có vai trò rất lớn trong việc hình thành cho học sinh những năng lực, tư duy tích cực trong học tập lịch sử
Học là quá trình tự điều khiển việc chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên Còn dạy là điều khiển hoạt động học, làm sao cho người học đi tới đích là chiếm lĩnh khái niệm khoa học một cách tự giác, tích cực Phương pháp dạy học theo đề nhằm phát huy cao độ sự cộng tác giữa dạy và học Trong quá trình dạy học, nếu học sinh chỉ hoàn thành những bước riêng biệt của việc giải quyết vấn đề thì họ sẽ không biết cách giải quyết tất cả các bước một cách hoàn chỉnh Và do đó, khi ra thực tiễn họ sẽ gặp nhiều khó khăn khi phải tự lực giải quyết những vấn đề lớn, phức tạp Nhưng khi thông qua hệ thống các chủ đề, giáo viên sẽ giúp học sinh tiếp cận và xử lý thông tin từ những nguồn khác nhau, có khả năng xâu chuỗi các sự kiện có liên quan, đưa ra nhận xét cá nhân về các sự kiện lịch sử, xây dựng năng lực phản biện và sáng tạo, từ đó có khả năng vận dụng những tri thức lịch sử để giải quyết những vấn đề hiện tại
Như vậy, dạy học theo chủ đề là quá trình dạy cho học sinh không những nắm được những tri thức cần thiết trong chương trình đào tạo mà cao hơn thế nữa là biết vận dụng những tri thức đó vào để giải quyết các vấn đề và tình huống gặp phải trong học tập và công tác sau này
Đặc điểm của bộ môn lịch sử gắn liền với những sự kiện, vấn đề đã xảy ra trong quá khứ, không lặp lại ở hiện tại, học sinh sẽ khó hình dung, khó xây dựng biểu tượng về vấn đề lịch sử Nhưng trong bài học nếu giáo viên sử dụng phương pháp dạy học theo chủ đề thông qua các nguồn sử liệu khác nhau để tái hiện lịch sử,
Trang 23phục dựng một cách khoa học, khách quan, chân thực quá trình phát triển của lịch
sử Thông qua việc tổ chức các hoạt động dạy học đa dạng các chủ đề, giáo viên giúp học sinh phát huy năng lực sáng tạo trong học tập Lịch sử, trở thành “người đóng vai lịch sử”, hay “người làm lịch sử” để khám phá kiến thức lịch sử, vận dụng sáng tạo kiến thức vào các tình huống học tập và thực tiễn cuộc sống
Tóm lại, sử dụng phương pháp dạy học theo chủ đề trong dạy học lịch sử có vai trò quan trọng, là cơ sở để hình thành cho học sinh năng lực, tư duy tích cực để giải quyết vấn đề đặt ra trong bài học một cách có hệ thống chặt chẽ, góp phần kích thích tinh thần học tập của học sinh, tạo ra thái độ học tập tích cực Giúp học sinh tìm thấy sự say mê, hứng thú với môn học
1.1.4.2 Ý nghĩa
Quá trình dạy học lịch sử là một quá trình sư phạm phức tạp, việc sử dụng phương pháp dạy học theo đề trong dạy học lịch sử có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường THPT
Thứ nhất, sử dụng phương pháp dạy học theo đề trong dạy học lịch sử giúp
phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh Vì phương pháp dạy học theo đề dựa trên cơ sở tâm lý kích thích hoạt động nhận thức bởi sự tò mò và ham hiểu biết nên sẽ ảnh hưởng đến thái độ học tập của học sinh Khơi dậy ở học sinh sự tò mò, mong muốn khám phá, giải quyết những vấn đề mới Không chỉ dừng lại ở những sự kiện mà học sinh còn muốn khám phá về bản chất, nguyên nhân của sự kiện đó Vì vậy, học sinh sẽ có thái độ học tập tích cực Năng lực tư duy của học sinh một khi được khơi dậy sẽ giúp họ cảm thấy thích thú và trở nên tự giác hơn trên con đường tìm kiếm tri thức
Thứ hai, sử dụng phương pháp dạy học theo chủ đề trong dạy học lịch sử giúp
học sinh được rèn luyện các kỹ năng cần thiết Khi các vấn đề lịch sử có liên quan được hệ thống thành một chủ đề chung và đưa ra yêu cầu học sinh phải tìm cách giải quyết nó Học sinh phải vận dụng những năng lực của mình để giải quyết vấn
đề về nhân vật, sự kiện lịch sử Thông qua hoạt động tìm kiếm thông tin và lý giải vấn đề của cá nhân và tập thể, học sinh được rèn luyện thói quen/kỹ năng đọc tài liệu, phương pháp tư duy khoa học, tranh luận khoa học, làm việc tập thể… Đây là những kỹ năng rất quan trọng cho học sinh trong học tập cũng như trong cuộc sống
Trang 24Thứ ba, sử dụng phương pháp dạy học theo chủ đề trong dạy học lịch sử giúp
học sinh được sớm tiếp cận những vấn đề thực tiễn Hiện nay, xu hướng dạy học là gắn những kiến thức đã học với những vấn đề thực tiễn, vận dụng kiến thức đã học giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đặt ra Phương pháp nêu vấn đề có thể giúphọc sinh tiếp cận sớm với những vấn đề đang diễn ra trong thực tế có liên quan chặt chẽ với kiến thức trong bài học, đồng thời học sinh cũng được trang bị những kiến thức, kỹ năng để giải quyết những vấn đề đó
Thứ tư, dạy học dạy học theo chủ đề giúp học sinh tiếp thu bài học vừa rộng
vừa sâu, và được lưu giữ lâu trong trí nhớ Do được được gợi ý từ các chủ đề, học sinh sẽ dựa trên gợi ý đó rồi chủ động đi tìm đáp án để giải quyết vấn đề nên qua đó học sinh có thể nắm bắt bài học một cách sâu sắc và vì vậy học sinh nhớ bài rất lâu
so với trường hợp tiếp nhận thông tin một cách thụ động thông qua lời giảng của giáo viên
Thứ năm, dạy học dạy học theo chủ đề đòi hỏi giáo viên không ngừng vươn
lên Việc điều chỉnh vai trò của giáo viên từ vị trí trung tâm sang hỗ trợ cho hoạt
động học tập của học sinh đòi hỏi nhiều nỗ lực từ phía giáo viên Giáo viên cần tìm tòi, xây dựng những chủ đề vừa lý thú vừa phù hợp với môn học và thời gian cho phép; biết cách xử lý khéo léo những tình huống diễn ra trong thảo luận… Có thể nói rằng dạy học dạy học theo chủ đề tạo môi trường giúp giáo viên không ngừng tự nâng cao trình độ và các kỹ năng sư phạm tích cực
Tóm lại, dạy học lịch sử theo các chủ đề ở trường THPT nói chung và trong dạy học LSTG lớp 10 nói riêng có vai trò, ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục học sinh phát triển một cách toàn diện không chỉ là tri thức mà còn về kĩ năng, năng lực Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực đang là vấn
đề được quan tâm, thực hiện nên các giáo viên cần phải tìm tòi, nổ lực để vận dụng một cách có hiệu quả phương pháp dạy học theo chủ đề trong giờ học lịch sử nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
1.2 Cơ sở thực tiễn
Để nắm tình hình thực tiễn việc thiết kế các chủ đề phục vụ dạy học môn lịch sử, tôi tiến hành điều tra một số trường của tỉnh Quảng Nam như: Trường THPT Lương Thế Vinh, trường THPT Nguyễn Hiền và trường THPT Sào Nam
Trang 251.2.1 Mục đích điều tra
Để quá trình dạy học trở nên tích cực hơn, nhằm đến mục tiêu xa hơn như
là nuôi dưỡng hứng thú học đường, tạo sự tự giác trong học tập và quan trọng hơn
là gieo vào lòng học sinh niềm tin, tôi có năng lực gì? việc học giúp gì cho tôi trong tương lai?, đồng thời khắc phục tình trạng học vẹt, học tủ và học để đối phó với việc kiểm tra chứ không phải là đánh giá vì sự tiến bộ Việc thiết kế các chủ đề dạy học theo hướng đánh giá về năng lực học sinh đang là vấn đề đang được chú trọng ở các trường phổ thông
Các trường phổ thông cũng đã áp dụng phương pháp dạy học thiết kế chủ
đề theo năng lực học sinh Song, các chủ đề đó đã đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong giáo dục hiện nay chưa? Những điều rút ra từ lí luận đã giúp tôi tìm hiểu thực tế nhận thức của giáo viên về vị trí, vai trò, ý nghĩa của việc thiết kế các chủ
đề theo hướng hình thành năng lực người học trong học tập nói chung, học tập Lịch sử nói riêng Từ đó đề xuất các biện pháp sư phạm để phục vụ dạy học Lịch
sử thế giới cận đại chương I “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” (chương trình chuẩn)
+ Đối tượng điều tra: Công tác điều tra được tiến hành đối với giáo viên
và học sinh ở trường THPT Nguyễn Hiền, trường THPT Lương Thế Vinh và trường THPT Sào Nam
+ Phương pháp tiến hành: Để tiến hành điều tra, tôi đã đến các trường
quan sát, dự giờ, trao đổi, tiếp xúc với giáo viên và cả học sinh Tôi đã điều tra thực trạng bằng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan và một số đề kiểm tra (đối với học sinh) theo mẫu để thăm dò ý kiến của giáo viên và học sinh, một mặt xem xét tình hình dạy học lịch sử, mặt khác, nắm bắt một số đề xuất, nguyện vọng của giáo viên và học sinh Sau đó phân tích, xử lí các số liệu để có những
cơ sở rút ra kết luận vấn đề này
1.2.2 Nội dung điều tra
+ Đối với học sinh: Tôi sử dụng 6 câu hỏi trắc nghiệm (xem phụ lục 1) để
nắm bắt được tình hình học tập theo chủ đề được áp dụng ở trường THPT có tạo hứng thú khi học lịch sử cho các em không? Bên cạnh đó tôi còn khảo sát tình hình học tập cũng như những kiến thức xem các em có nắm được nội dung lịch
sử thế giới cận đại không? (xem phụ lục 2)
Trang 26+ Đối với giáo viên: Tôi sử dụng 11 câu hỏi trắc nghiệm khách quan (xem
phụ lục 3): Để khảo sát những hiểu biết của giáo viên về vị trí, ý nghĩa việc dạy học theo thiết kế các chủ đề trong giáo dục hiện nay, biết được những chủ đề mà giáo viên thường sử dụng, những khó khăn khi sử dụng các các chủ đề khi dạy học Lịch sử của học sinh
+ Ngoài ra tôi còn quan sát và tham gia các tiết học, kiểm tra, nghe các thầy/cô trong trường báo cáo kết quả mà các em đạt được đối với bộ môn Lịch
sử
1.2.3 Kết quả thu được
+ Đối với học sinh
Tìm hiểu xem học sinh có hiểu biết sâu sắc những nội dung lịch sử Thế giới cận đại chương I “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” thông qua kiểm tra và đánh giá (câu 1 đến 10, phụ lục 2) Sau khi điều tra, tôi tiến hành xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê toán học và kết quả thu được như sau:
Học sinh chưa hiểu sâu sắc nội dung lịch sử Thế giới cận đại chương I
“Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” thông
qua quá trình khảo sát và kết quả thu được cho thấy tư tưởng, tình cảm của học sinh đối với lịch sử Thế giới cận đại còn hạn chế
- Nội dung 1: Điều tra về thực trạng nhận thức “Giờ học lịch sử ở nhà trường
đem đến cho em cảm xúc như thế nào?”
Kết quả điều tra được cho thấy, các em rất hứng thú học Lịch sử, vì môn
này gắn liền với cội nguồn của dân tộc, bên cạnh đó còn giúp các em hiểu biết về lịch sử thế giới, môn này có ý nghĩa rất lớn và thiết thực trong cuộc sống, chiếm 41% Lý do này giải thích cho đặc điểm tâm sinh lý học sinh ở lứa tuổi này là các
em muốn nắm chương trình một cách sâu sắc, đang phát triển tư duy lí luận Bên cạnh đó có những học sinh chọn khối C thi vào đại học nên các em thích chăm chú vào môn học này là điều bình thường
Và qua thực tiễn điều tra tôi cũng thu lại được những kết quả trái ngược Có hơn 59% các em không thích thú học môn lịch sử, bởi nó khó học, khó nhớ, dài và
do phương pháp dạy học của giáo viên chưa phù hợp, chưa hấp dẫn
Trang 27Dù là thích hay không thì các em vẫn chưa ý thức được tầm quan trọng, và ý nghĩa thực sự của Lịch sử là rất lớn, các em chỉ “nói mồm” theo kiểu học vẹt, khi tôi hỏi vào thực tế thì các em không có câu trả lời hay chỉ đơn thuần nói qua loa không có trọng tâm, các em đều không nhận thức được lịch sử để làm gì? thực trạng
về nhận thức là như vậy
- Nội dung 2: Điều tra về việc mức độ tổ chức dạy học theo chủ đề để thấy được kết
quả học tập của các em “Việc dạy học theo chủ đề được giáo viên tổ chức với cường độ như thế nào?”
Kết quả thu được hơn 15% các em trả lời dạy học theo chủ đề được thường xuyên sử dụng và 85% các em cho rằng việc dạy học theo chủ đề thỉnh thoảng mới
tổ chức Với kết quả thu được cho ta thấy, việc dạy học theo chủ đề ở trường phổ thông hiện nay tuy có đổi mới theo yêu cầu giáo dục nước ta Tuy nhiên, phần lớn việc dạy học theo chủ đề đôi cũng được giáo viên tiến hành nhưng có khi rời rạc, không hệ thống Việc thiết kế các chủ đề để dạy học theo hướng nâng cao năng lực học sinh đối với học lịch sử là rất hạn chế
- Nội dung 3: “Theo em, đối với môn Lịch sử có cần thiết tổ chức dạy học theo chủ
đề hay không?”
Theo kết quả điều tra 90% các em cho rằng rất cần thiết khi thầy/cô sử dụng
đa dạng các chủ đề để dạy học, có thể kết hợp thông qua hình thức một số trò chơi
để tạo sự sôi động trong quá trình dạy các chủ đề
- Nội dung 4: Khảo sát về tác dụng khi được học lịch theo chủ đề sử ở các em
“Việc dạy học theo chủ đề có tác dụng như thế nào đối với việc học tập lịch sử của học sinh?”
Phần lớn các em cho rằng việc dạy học theo chủ đề làm cho bài học hấp dẫn
và sinh động hơn, giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức, phát triển được năng lực tư
duy của học sinh, đồng thời các em phải tập trung nghe giảng và ghi chép bài đầy
đủ, làm đầy đủ các bài tập mà thầy cô yêu cầu, đọc sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo để nâng cao được tác dụng dạy học theo chủ đề môn lịch sử đạt được hiệu quả cao
- Nội dung 5: Để dạy học theo các chủ đề em thấy giáo viên thường sử dụng những
phương pháp dạy học nào?
Trang 28Kết quả điều tra thu được, 45,5% các em cho rằng, GV thường sử dụng biện
pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề để trực tiếp giải đáp cụ thể những câu hỏi thắc mắc của từng cá nhân học sinh 33% HS cho rằng GV sử dụng phương pháp làm việc theo nhóm, với phương pháp này tạo điều kiện cho học sinh trong nhóm ghi nhận chính kiến của các các nhân rồi trình lên một cách logic 21.5% các em cho rằng GV sử dụng phương pháp dạy học theo dự án tránh sự nhầm lẫn giữ kiến thức này với kiến thức khác của học sinh
Điều này cho thấy, các GV đã sử dụng phong phú các phương pháp dạy học với cùng một mục đích là khơi gợi sự hứng thú học tập lịch sử trong mỗi học sinh, tạo cho các em niềm đam mê học lịch sử
- Nội dung 6: Em thường học Lịch sử như thế nào?
Qua kết quả điều tra thu lại được, tôi thấy đa số các em cũng đã có ý thức
đối với việc học tập môn lịch sử, thông qua việc đọc sách giáo khoa, bài ghi trên lớp
và nghiên cứu tài liệu để trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa chiếm 60%, học thuộc lòng bài ghi trên lớp thì chiếm 35% học sinh, còn 5% học sinh là học thuộc
lòng sách giáo khoa
+ Đối với giáo viên
- Nội dung 1: “Thầy/cô đã từng tổ chức dạy học theo chủ đề hay chưa?”
Kết quả điều tra thu được, 56% giáo viên được khảo sát cho rằng đã thường xuyên tổ chức dạy học theo thiết kế chủ đề cho học sinh, 44% giáo viên cho
rằng thỉnh thoảng mới tổ chức, 0% giáo viên không tổ chức
Với kết quả này cho thấy, hầu hết các giáo viên thấy được tầm quan trọng của việc dạy học theo thiết kế các chủ đề Nó không chỉ giúp giáo viên truyền tải kiến thức một cách có hệ thống cho học sinh trong quá trình học tập mà còn giúp giáo viên thấy được khả năng tư duy, giải quyết vấn đề và áp dụng các kiến thức vào thực tiễn của từng học sinh Tạo điều kiện cho các em phát huy năng lực của mình, đồng thời các giáo viên có những điều chỉnh các chủ đề cho phù hợp
Bên cạnh đó, còn một số giáo viên chưa thấy được tầm quan trọng của việc dạy học theo các chủ đề Hiểu biết của giáo viên về triết lý, các phương pháp, kỹ thuật, các chủ đề tạo ra chưa sát với học sinh, chưa thiết thực và thiếu sinh động để lôi cuốn HS, nhiều giáo viên qua phỏng vấn, khảo sát của chúng tôi còn hiểu một
Trang 29cách lơ mơ về dạy học theo thiết kế các chủ đề nên chưa khác thác được hết năng lực học lịch sử của HS
- Nội dung 2: Thầy/cô hiểu như thế nào về dạy học theo chủ đề?
Theo kết quả điều tra, 55% giáo viên cho rằng dạy học theo chủ đề là hình thức tìm tòi những khái niệm, tư tưởng, đơn vị kiến thức, nội dung bài học, chủ đề, có
sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên có cơ sở các mối liên hệ về lí luận và
thực tiễn 40% giáo viên cho rằng đó là quá trình xây dựng nội dung bài dạy với những sự kiện vấn đề có liên quan đến nhau và 5% giáo viên cho rằng là hình thức
dạy học theo khuôn mẫu
- Nội dung 3: “Trong quá trình giảng dạy phần LSTG cho học sinh thầy/cô đã tiến
hành xây dựng các chủ đề hay chưa?”
Với kết quả thu được, 53 % GV thường xuyên tiến hành xây dựng các chủ đề khi dạy Lịch sử cho học sinh, còn lại 47% GV thỉnh thoảng mới tiến hành, 0% chưa bao giờ tiến hành
- Nội dung 4: “Theo thầy/cô việc giảng dạy theo chủ đề có tác dụng như thế nào đối
với bài học trên lớp của học sinh?”
Theo kết quả cho thấy, 69% việc áp dụng dạy học theo các chủ đề đã kích thích học sinh hứng thú học tập 31% làm cho bài học hấp dẫn hơn 0% không có tác dụng gì nhiều và
- Nội dung 5: “Hiện nay các trường phổ thông đã thiết kế được các chủ đề phục vụ
hoạt động dạy học các môn học hay chưa?”
Kết quả điều tra thu được, 75% đã thiết kế các chủ đề để phục vụ dạy học Lịch sử, 25% chưa thiết kế được nhiều chủ đề, 0% không thực hiện thiết kế các chủ đề Việc
thiết kế các chủ đề để dạy học Lịch sử đa số được các trường phổ thông áp dụng trong giảng dạy
- Nội dung 6: “Theo thầy/cô việc dạy học theo chủ đề có giúp phát huy tính tích cực
học tập của học sinh hay không?”
Theo kết quả thu được cho thấy, có hiệu quả, tác dụng tốt tính tích cực của học sinh chiếm 80%, bình thường chiếm 20%, 0% không có hiệu quả
Trang 30- Nội dung 7: “Theo thầy/cô việc dạy học theo chủ đề sẽ phát triển những năng lực
gì cho học sinh?”
Kết quả điều tra thu được, 33% năng lực phân tích, đánh giá, 29.5% năng lực giải quyết vấn đề, 37,5% năng lực tổng hợp, so sánh Các năng lực của học sinh dần được hoàn thiện và nâng cao qua quá trình dạy học theo các chủ đề
- Nội dung 8: “Theo thầy/cô việc dạy học theo chủ đề có những thuận lợi nào?”
Theo kết quả khảo sát được cho thấy, đa số học sinh đều hứng thú với việc trực tiếp quan sát di tích lịch sử chiếm 8%, giáo viên có điều kiện để khắc sâu nội dung bài học cho học sinh chiếm 28%, tạo không khí học tập sôi nổi và làm cho nội dung bài học trở nên phong phú, hấp dẫn hơn chiếm 64%
- Nội dung 9: “Theo thầy/cô việc dạy học theo chủ đề gặp những khó khăn nào?”
Kết quả điều tra thu được, 10% học sinh chưa thực sự hứng thú, 40% tài liệu tham khảo thiếu, lâu nay chưa được chú trọng, thời lượng tiết học, 50% phương tiện dạy học chưa đáp ứng được
- Nội dung 10: “Thầy/cô hãy cho biết những thuận lợi của việc thiết kế các chủ đề
dạy học bộ môn Lịch sử hiện nay?”
Theo kết quả khảo sát được cho thấy, 38% giữa các bài trong chương trình (của một khối hay các khối lớp có mối liên hệ chặt chẽ với nhau) giáo viên có thể lựa chọn nội dung để xây dựng chủ đề cho bài học 47% Lịch sử là môn xã hội nên khi dạy học theo chủ đề thì việc liên hệ thực tiễn cuộc sống khá dễ dàng, đó là định hướng để giáo viên yêu cầu học sinh ứng dụng vào thực tế, và 15% dạy học theo chủ đề được thiết kế có nội dung, tài liệu đa dạng để giáo viên tham khảo và tổ chức học sinh học tập
- Nội dung 11: “Thầy/cô hãy cho biết những khó khăn của việc thiết kế các chủ đề
dạy học bộ môn Lịch sử hiện nay”
Theo kết quả khảo sát được cho thấy, điều kiện cơ sở vật chất không đảm bảo
để thực hiện tổ chức dạy học theo chủ đề trong bộ môn lịch sử chiếm 26,8%, học sinh không có hứng thú với môn học, lãnh đạo chưa quan tâm đúng mức đến môn hoc chiếm 42.3%, giáo viên còn thiếu kinh nghiệm và phương pháp thực hiện chiếm 30,9%
Trang 31Từ kết quả có được cho thấy, giáo viên cần phải đa dạng hóa các chủ đề sẽ làm cho hoạt động học tập trở nên sôi động, sẽ có khả năng phát triển các năng lực bậc cao ở người học (như năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy sáng tạo…)
Bên cạnh đó, trong quá trình điều tra, tôi nhận thấy rằng giáo viên thường thiết kế các chủ đề theo lối mòn mà ít khi để ý đến cơ sở khoa học của việc thiết kế chủ đề theo hướng phát triển năng lực người học Các chủ đề chủ yếu là khái quát chung kiến thức, mà ít chú ý đến việc giúp tăng khả năng cho học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống trong thực tiễn đời sống, ít chú ý đến việc hình thành năng lực người học theo chuẩn mong đợi Giáo viên chọn kiểu câu hỏi, cấu trúc bài giảng sơ sài … mà ít khi để ý đến kết quả thu được và họ không định hình rõ ràng
Tóm lại, qua điều tra thực tế chúng tôi nhận thấy, hiện nay trong quá trình dạy học cũng như việc thiết kế các chủ đề tì các giáo viên và học sinh đã có nhận thức một cách đúng đắn về việc dạy học theo chủ đề để phát triển năng lực học sinh Một số trường và một số giáo viên cũng đã có những phương pháp dạy học mới, chú trọng đến năng lực học tập của học sinh Tuy nhiên, những biện pháp đưa ra chưa thật đồng bộ và triệt để nên kết quả thu được còn hạn chế
Trang 32CHƯƠNG II: HỆ THỐNG CÁC CHỦ ĐỀ PHỤC VỤ DẠY HỌC CHƯƠNG I
“CÁC CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN TỪ GIỮA THẾ KỈ XVI ĐẾN NỬA CUỐI THẾ KỈ XVIII” (SGK LỊCH SỬ LỚP 10, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
THEO HƯỚNG HÌNH THÀNH NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC
2.1 Nội dung cơ bản của chương I “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn)
Nội dung cơ bản của lịch sử thế giới cận đại (lớp 10, chương trình chuẩn) là sự chuyển biến từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa, sự xác lập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trên phạm vi thế giới và bước chuyển ấy được mở đầu bởi các cuộc cách mạng tư sản
* Khái quát về tiến trình lịch sử của cách mạng tư sản:
Ở thời kì trung đại, nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa đã hình thành và phát triển ngay trong lòng xã hội phong kiến Sản xuất thủ công nghiệp ở thành thị ngày càng lớn mạnh Việc trao đổi hàng hóa nông nghiệp trở nên thường xuyên ở nông thôn và thị trường hàng hóa dân tộc cũng được hình thành Chế độ phong kiến các cứ bị thủ tiêu, nhường chỗ cho nhà nước trung ương tập quyền Điều đó đã thúc đẩy quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời và lớn mạnh ở Tây Âu Đến giữa thế
kỉ XV và đầu thế kỉ XVI, do nhu cầu đòi hỏi về thương nghiệp (buôn bán) ngày càng cao Các thương nhân châu Âu đã tìm con đường sang châu Á, châu Phi, châu
Mỹ Những phát kiến địa lý mới làm cho thương nghiệp, hàng hải, công nghiệp của nhiều nước châu Âu phát triển mạnh Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha nhanh chóng trở thành những nước có nền thương nghiệp phát triển nhất Bồ Đào Nha đã chiếm độc quyền buôn bán ở Ấn Độ Dương, đoạt được nhiều căn cứ rải rác trên đường bờ biển châu Phi đến Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Tây Ban Nha khai thác mạnh và cướp bóc ở châu Mỹ, bắt người châu Phi sang để khai phá châu Mỹ Ở các nước Hà Lan, Anh, Pháp, sản xuất hàng hóa trong các công trường thủ công phát triển nhanh, không những đáp ứng được nhu cầu trong nước mà còn có hàng hóa dư thừa buôn bán với Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha – những nước công nghiệp kém phát triển hơn Giai cấp tư sản Hà Lan, Anh, Pháp đã làm phá sản nông dân, thợ thủ công, biến
họ thành những người đi bán sức lao động Sản xuất hàng hóa, trao đổi hang hóa
Trang 33mậu dịch không ngừng phát triển, trong đó có mậu dịch hàng hải Vì thế, nhiều công ty buôn bán lần lượt ra đời chiếm lĩnh thị trường thuộc địa ở khắp nơi
Sự phát triển nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Tây Âu đưa đến sự chuyển biến từ chế độ phong kiến lên chế độ tư bản Công thương nghiệp phát triển, giai cấp tư sản
có thế lực về kinh tế, nhưng chưa có địa vị chính trị, trong lúc đó, chế độ chính trị hiện đại đã ngăn cản bước phát triển của nó Vì vậy, giai cấp tư sản nhận thấy cần phải lật đổ chế độ phong kiến lạc hậu, lỗi thời, thiết lập nền thống trị của giai cấp mình
Bước chuyển đó được thực hiện thành công qua một loạt các cuộc cách mạng tư sản Cách mạng tư sản Hà Lan (1566 - 1572) vừa là cuộc chiến tranh giải phóng ách thống trị của Tây Ban Nha, vừa là cuộc cách mạng tư sản, báo hiệu sự sụp đổ chế độ phong kiến ở châu Âu, mở đầu thời đại tư bản chủ nghĩa Bởi vì, sau cách mạng, Hà Lan trở thành trung tâm kinh tế thương mại lớn Hà Lan có đội thương thuyền mạnh nhất, buôn bán khắp nơi Cách mạng tư sản Anh (1640 - 1689) nổ ra và giành thắng lợi, lật đổ chế độ phong kiến , mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển, ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình lịch sử thế giới và sự phát triển của xã hội loài người Cuộc chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ (1775 – 1783) là cuộc cách mạng tư sản nổ ra
và giành thắng lợi ngoài châu Âu Tiếp đó là cuộc cách mạng Pháp (1789 – 1799) giành thắng lợi, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển
Các cuộc cách mạng tư sản nổ ra và giành thắng lợi đã đưa đến sự xác lập chủ nghĩa tư bản Cách mạng tư sản Hà Lan và cách mạng tư sản Anh đã chính thức báo hiệu một thời đại mới xuất hiện – thời đại tư bản chủ nghĩa Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản với chế độ phong kiến diễn ra rất gay go và quyết liệt Khi cách mạng tư sản Pháp nổ ra gần như đồng thời với cuộc chiến tranh giành độc lập ở Bắc
Mỹ, đến cuộc cách mạng công nghiệp Anh đã khẳng định đầy đủ rằng chủ nghĩa tư bản đã trở thành hệ thống thế giới
* Tiền đề của cách mạng tư sản:
Để cách mạng tư sản nổ ra và thắng lợi thì phải có những tiền đề cần thiết, hay còn gọi là thời cơ đã chín muồi Tiền đề cách mạng là những yếu tố chủ quan thuận lợi tạo nên cách mạng tư sản Tiền đề của cách mạng tư sản phải hội đủ các yếu tố sau đây:
Trang 34Tiền đề kinh tế: Phương thức sản xuất TBCN đã ra đời và phát triển Tức là
phải có lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất TBCN mà cụ thể là quan hệ tư hữu
về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lí sản xuất giữa tư bản và công nhân, quan
hệ phân phối theo kiểu TBCN (nền kinh tế hàng hoá phát triển)
Như vậy, đã có cơ sở hạ tầng của CNTB tất tương ứng – đây là nhiệm vụ của cách mạng tư sản nờn nó tất yếu phải nổ ra Mặt khác cách mạng tư sản tất yếu phải diễn ra để khẳng định quan hệ sản xuất TBCN đã được xác lập (nhiệm vụ dân chủ: công nhận pháp lí chế độ tư hữu, chế độ lao động làm thuê, quan hệ phân phối TBCN) nhằm tạo nên sự vững chắc của phương thức sản xuất TBCN LLSX, QHSX TBCN ngày càng mâu thuẫn gay gắt với chế độ phong kiến đang tạo ra những lực cản, kìm hãm đối với cái mới của lịch sử Mâu thuẫn ngày càng sâu sắc đến mức không thể điều hoà được Đây là nguyên nhân phải có một cuộc CMTS để giải quyết, xoá bỏ cái cũ lạc hậu, mở đường cho cái mới tiến bộ
Tiền đề xã hội: Giai cấp tư sản là đại diện cho PTSX mới đã ra đời và trưởng
thành ngày càng mâu thuẫn gay gắt với chế độ phong kiến, muốn đứng lên lật đổ
nó Tư sản kinh doanh và trở nên vô cùng giàu có nhưng họ không có quyền chính trị, đó là không kể đến việc phong kiến đã gây ra nhiều trở lực đối với sự phát triển của kinh tế TBCN Chính vì vậy tư sản muốn lật đổ chế độ phong kiến, lập nền chuyên chính tư sản Tư sản lớn mạnh về thế lực kinh tế, có số lượng đông, đoàn kết, đặc biệt là có hệ tư tưởng riêng, có những lí luận cách mạng cần thiết chuẩn bị cho việc nắm chính quyền cách mạng trong tương lai
Do đặc điểm của từng nước nên có thể còn phải xét đến các tầng lớp khác như: quý tộc mới ở Anh, chủ nô miền nam ở Mỹ,…đó chuyển hướng kinh doanh theo lối TBCN
Tiền đề tư tưởng: Giai cấp tư sản ra đời đồng thời phải có hệ tư tưởng dân chủ
tư sản Thực tế hệ tư tưởng tư sản đó có nền tảng từ phong trào Văn hoá phục hưng Đến thế kỉ ánh sáng (thế kỉ XVIII), với trào lưu triết học Ánh sáng (thế kỉ XVII – XVIII) đã như ánh đèn pha soi sáng cho con đường tiến lên của tư sản, cổ vũ cho mọi tầng lớp quần chúng tham gia đấu tranh chống phong kiến vì một tương lai tươi sáng, bình đẳng, dân chủ, hạnh phúc Ở những cuộc CMTS đầu tiên chưa có hệ tư tưởng tư sản soi đường (như cách mạng Netherland, CMTS Anh), giai cấp tư sản đã
Trang 35sử dụng tôn giáo cải cách: đạo Tin Lành, Thanh giáo để lôi kéo các tầng lớp khác tham gia
Trên cơ sở đầy đủ các điều kiện tiền đề đầy đủ thì CMTS mới có thể nổ ra và thắng lợi được Nhưng để cách mạng nổ ra thì cũng cần có tình thế cách mạng hay còn gọi là duyên cớ Đây có thể được coi là một nhân tố khách quan, bổ trợ như giọt nước làm tràn li khơi lên cuộc cách mạng
Tình thế cách mạng: Theo Lênin , tình thế cách mạng bao gồm ba điều kiện: giai cấp thống trị như cũ nữa, nó khủng hoảng mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa tư tưởng; giai cấp bị trị cũng không muốn và không thể tiếp tục cam chịu như cũ được nữa mà đã nổi dậy đấu tranh mạnh mẽ, tầng lớp trung giang đã ngã về phe cách mạng mà giai cấp lãnh đạo đã sẵng sang đứng lên lãnh đạo cách mạng
Trong các cuộc CMTS, giai cấp phong kiến đều đã khủng hoảng về mọi mặt
Ví dụ ở Anh, vua Saclơ I ăn chơi xa xỉ đến mức ngân sách trống rỗng, không có tiền đàn áp cách mạng ở Scotland Vua không thể tiếp tục thống trị độc đoán, không cần Quốc hội như cũ Về chính trị thì chế độ phong kiến bị mọi tầng lớp nhân dân chống lại Về tư tưởng thì những lý thuyết của nhà thờ, giáo hội – chỗ dựa tư tưởng của chế độ phong kiến – sau nhiều thế kỉ che tai mắt con người đã bị đưa ra ánh sáng Chế độ phong kiến tỏ ra không thể tiếp tục đứng vững được nữa, nó khủng hoảng trầm trọng
* Tiến trình của các cuộc cách mạng tư sản
Cách mạng tư sản diễn ra khắp nơi trên thế giới mà mạnh nhất ở châu Âu trong các thế kỉ XVI, XVII, XVIII, XIX Rõ ràng trong lịch sử nhân loại cách mạng
tư sản là một sự kiện diễn ra trong một thời gian dài: bốn thế kỉ, thậm chí còn là cả thể kỉ XX với các nước ở khu vực châu Á, Phi, Mĩ la tinh Chứng tỏ CMTS là một cuộc vật lộn đầy khó khăn quyết liệt, vì tính sống còn Tiến trình của các cuộc cách mạng tư sản buổi đầu cận đại có thể chia làm bốn giai đoạn sau:
1 Cách mạng tư sản Nêđeclan thế kỉ XVI
Từ giữa thế kỉ XVI, Nêđéclan là thuộc địa của vương quốc Tây Ban Nha Mặc
dù vậy Nêđéclan là vùng kinh tế công thương nghiệp phát triển nhất châu Âu lúc
đó Nhưng chế độ cai trị hà khắc của vua Tây Ban Nha đã kìm hãm sự phát triển
Trang 36kinh tế Nêđéclan, bóp nghẹt sự tự do tín ngưỡng làm cho các tầng lớp nhân dân bất mãn và mâu thuẫn ngày càng lớn bao trùm giữa toàn thể nhân dân Nêđéclan với vương triều phong kiến Tây ban Nha Vì vây cách mạng tư sản đã bùng nổ vào năm
1566 Đến 1572, chính quyền cách mạng được thành lập Chiến tranh diễn ra quyết liệt, nhân dân đã tự vũ tra chống lại vương triều phong kiến Tây Ban Nha
2 Cách mạng tư sản Anh ở thế kỉ XVII:
Cách mạng tư sản Anh diễn ra dưới hình thức nội chiến, giữa quân đội với nhà vua Saclơ I với quân của Quốc hội Cuộc nội chiến bắt đầu ngày 22-8-1642 và kết thúc nội chiến vào cuối 1648 Giai đoạn đầu của nội chiến quân của nhà vua chiếm được ưu thế, nhưng sau đó quân đội của quốc hội chiếm ưu thế, tình thế đảo ngược Quần chúng nhân dân đóng vai trò quan trọng trong quá trình nội chiến, nòng cốt của quân đội Quốc hội là “đội quân vườn sắt” của Cromoen gồm những người nông dân theo Thanh giáo
Ngày 31-1-1649, vua Sáclơ I bị xử tử, nước Anh tuyên bố thành lập nước cộng hòa Cách mạng đã đạt đến đỉnh cao, sự kiện nước Anh trở thành nước Cộng hòa đánh dâu cách mạng tư sản Anh không thể tiến xa hơn nữa Nhưng cách mạng chưa dừng hẳn vì quần chúng nhân dân, họ chưa được quyền lợi gì mà cách mạng đem lại, họ muốn đẩy cách mạng đi xa hơn và đề ra yêu cầu riêng của mình Để bảo
vệ quyền lợi của mình giai cấp tư sản đã đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân và đưa Cromoen lên làm bảo hộ công, thiết lập chế độ độc tài quân
sự 1653 Đến 1 - 1689, thiết lập chế độ quân chủ lập hiến do Vin-hem-Orangio làm vua
3 Cuộc chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc mỹ (1775 - 1783)
Ngày 19 – 4 – 1775, chiến tranh bùng nổ Chỉ huy quân đội Bắc Mỹ là sinh-tơn 4-7-1776 đại biểu của 13 thuộc địa họp ở Philadenphia đã thông qua một bản “Tuyên ngôn độc lập” nổi tiếng, đã tuyên bố quyền tự do của con người và khẳng định các thuộc địa liên hiệp lại với nhau tách ra khỏi nước Anh, thành lập một quốc gia độc lập
Cuộc chiến tranh kéo dài tám năm, đến 1781 quân Anh ở Bắc Mỹ đầu hàng Năm 1783, hòa ước được kí kết tại Vecxai, chiến tranh kết thúc Anh phải công nhận nền độc lập của các thuộc địa ở Bắc Mỹ Một nước tư bản mới ra đời: Hợp
Trang 37chủng quốc Hoa kì của mười ban Năm 1787, hiến pháp Hoa Kì ra đời, tuyên bố nước Mỹ theo chính thể cộng hòa
Cuộc chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ vừa là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, vừa là cuộc cách mạng tư sản
4 Cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789 – 1799)
Tiến trình của cách mạng tư sản Pháp chia làm bốn giai đoạn và phát triển theo chiều tiến lên Trong giai đoạn thứ nhất, 26 – 8- 1789 Quốc hội lập hiến thông qua bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền với khẩu hiệu nổi tiếng “tự do, bình đẳng, bác ái” Bản tuyên ngôn đã xác định quyền tự do, dân chủ bình đẳng giữa các công dân Đây là văn kiện chính trị quan trọng thứ hai trong thời kì cận đại Giai đoạn thứ ba là đỉnh cao của cách mạng, phái Giacôbanh đã thực hiện nhiều biện pháp cách mạng kiên quyết để ổn định đời sống nhân dân, chống thù trong giặc ngoài Giai đoạn thứ tư, cách mạng bước vào thời kì thoái trào nhiều thành quả cách mạng bị tước bỏ, những người tham gia cách mạng bị đàn áp Ngày 9 – 11 – 1799, Nabôlêông Boonapac thực hiện cuộc đảo chính nắm mọi quyền trong tay Nước Pháp chuyển sang chế độ độc tài quân sự mới Cách mạng kết thúc
* Tác động của các cuộc cách mạng tư sản
Cách mạng tư sản đã xác lập quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển “giai cấp tư sản trong quá trình thống trị chưa đầy một thế
kỉ đã tạo ra lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của các thế hệ trước cộng lại Đối với các cuộc cách mạng tư sản diễn ra trong những năm
50, 60 của thế kỉ XIX thì thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản đã góp phần là tăng lực lượng sản xuất mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển và tạo điều kiện cho các nước tiến nhanh đến con đường tư bản chủ nghĩa Nó tạo ra nền dân chủ và các thể chế dân chủ.Từ nền dân chủ đó chúng ta mới có thể sáng tạo ra những thành tựu vĩ đại, chuyển từ nền văn hóa nông nghiệp sang nền văn hóa công nghiệp Sự ra đời nền dân chủ là nấc thang quan trọng trong lịch sử phát triển loài người Cách mạng tư sản đã thủ tiêu tận gốc chế độ phong kiến thiết lập chế độ cộng hòa và chế
độ quân chủ chuyên chế lập hiến Đập tan phong kiến vấn đề ruộng đất được giải quyết – tùy từng nước Đối với từng nước, mỗi nước cuộc cách mạng tư sản là bước ngoặt vĩ dại đối với lịch sử nước đó , sự thăng hoa về lâu dài về kinh tế lâu dài Như
Trang 38đã biết kinh tế là một yếu tố cực kì quan trọng Giai cấp tư sản đã khẳng định sự vượt bậc của mình so với phong kiến, bằng cách khẳng định vị thế của mình về kinh
tế Hàng hóa được trao đổi mua bán từ nơi này đến nơi khác, hình thức mậu dịch hàng hóa, bỏ hàng rào thuế quan, lưu lượng hàng hóa đưuọc sản xuất ra và trao đổi giữa các nước là vô cùng lớn, những thành phố công nghiệp mọc lên, cư dân thành thị tăng nhanh chóng chính sự phát triển trên đã chứng tỏ chủ nghĩa tư bản đã vượt
xa chế độ phong kiến lỗi thời Về chính trị sự ra đời của chủ nghĩa tư bản đã xuất hiện nhiều hình thái mới của nhà nước như : quân chủ lập hiến ở Anh, chế độ cộng hòa ở Mĩ, pháp Hệ thống cách mạng tư sản hình thành hà nước kiểu mẫu từ đó đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử hình thành lập pháp, từ đây loài người biết đến hiến pháp trong đó quy định quyền con người và quyền của công dân Tuy nhiên dù dưới hình thức nào đi nữa thì mục đích cuối cùng của nó cũng đều nhằm phục vụ lợi ích cho giai cấp tư sản đi lên Và chính phủ nào cũng thục hiện mục đích đó qua việc ban hành những chính sach như cho thành lập nhiều công trình thủ công mới với quy mô lớn và trang bị máy móc, kĩ thuật vào sản xuất: ban hành chính sách thuế khóa nhằm hạn chế việc nhập khẩu công nghiệp và xuất khẩu nguyên liệu; đưa quân đi chiếm thuộc địa Những chính sách này bên cạnh việc mang lại lợi ích cho các giai cấp tư sản nó còn thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển nhanh chóng
Nhìn chung các cuộc cách mạng tư sản đã đem lại hệ quả vô cùng to lớn Ngoài ý nghĩa to lớn của nó đối với sự phát triển của lịch sử và tầm vóc quốc tế của mỗi cuôc cách mạng, mỗi cuộc cách mạng tư sản đều là trường học vĩ đại với nhân dân nước đó, chuẩn bị cho nhân dân những hiểu biết mới để bước lên những nấc thang cao hơn nhưng cũng để lại không ít hạn chế.Cách mạng tư sản là cái mới nhưng cái mới không hoàn toàn Cách mạng đã giải phóng con đường thoát khỏi xiềng xích phong kiến nhưng thay vào đó là xiềng xích tư bản Cách mạng tư sản không thủ tiêu hình thức bóc lột mà thay đổi hình thức bóc lột này bằng hình thức bóc lột khác Cái tự do cách mạng tư sản đem lại là tự do cho tầng lớp trên, cho giai cấp tư sản, nhưng người có của trong xã hội Còn đa số quần chúng nhân dân vẫn tiếp tục bị bóc lột và sống trong Cách mạng tư sản thủ tiêu ách áp bức dân tộc trong nước, xây dựng đất nước thành một dân tộc tư sản nhưng đồng thời lại thực hiện áp bức dân tộc với các dân tộc và quốc gia khác.Trong phần lớn các cuộc cách mạng tư
Trang 39sản, giai cấp lãnh đạo khác đã không chịu đưa cách mạng đến cùng, còn phối hợp với phong kiến chông lại quần chúng nhân dân Về những hạn chế của cách mạng tư sản Hồ Chí Minh có nói: “Tư bản đã dùng chữ tự do bình đẳng, đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến rồi thì nó lại thay phong kiến áp bức dân”
2.2 Quy trình xây dựng các chủ đề phục vụ dạy học chương I “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” (SGK Lịch sử lớp
10, chương trình chuẩn)
Khi tổ chức dạy học theo chủ đề, GV có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhưng hiệu quả nhất là phương pháp dạy học theo dự án Mỗi chủ đề dạy học sẽ được giải quyết trọng vẹn một vấn đề học tập Vì vậy, việc xây dựng mỗi chủ
đề dạy học cần thực hiện theo quy trình như sau:
Bước 1: Phân tích nội dung chương trình để xác định các chủ đề
Bước đầu tiên cần phải phân tích nội dung của chương trình để xác định các chủ đề trọn vẹn, từ các chủ đề lớn đó có thể phân chia thành các chủ đề nhỏ hơn phù hợp với việc dạy học trên lớp
Ví dụ: Nội dung chương I “Các cuộc cách mạng tư sản từ cuối thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII” là nói về lịch sử thế giới - các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại cung cấp cho học sinh về sự hình thành và phát triển của CNTB trên thế giới và mô hình nhà nước tam quyền phân lập cho nhân loại Trên cơ sở đó giúp học sinh hiểu rõ được mối liên hệ giữa lịch sử Việt Nam và Lịch sử Thế giới trong giai đoạn này Toàn bộ chương I phần III Lịch sử lớp 10 được thiết kế thành 6 chủ đề trong đó chủ đề 1 là khái quát về thắng lợi của CMTS; 5 chủ đề còn lại xoay quanh việc hình thành một nền kinh tế xã hội mới sau khi CMTS thành công như sự xác lập kinh tế TBCN, giai cấp lãnh đạo, lực lượng tham gia,…Mỗi chủ đề đều trang bị cho học sinh các vấn đề trong các cuộc CMTS
Cách thiết kế chuyên đề Lịch sử lớp 10 phần Lịch sử thế giới cận đại như trên thuận lợi cho việc dạy học theo chủ đề, mỗi chuyên đề có thể thiết kế thành các chủ
đề dạy học Như vậy tương ứng với chương I, Lịch sử lớp 10 phần lịch sử thế giới cận đại có thể thiết kế thành 6 chủ đề (Ví dụ: về kinh tế, giai cấp, lực lượng tham gia,…) Trừ chủ đề đầu tiên, các chủ đề khác đều tập trung nghiên cứu các vấn đề
Trang 40trong mỗi cuộc CMTS với các câu hỏi khái quát CMTS là gì? CMTS do giai cấp nào lãnh đạo? Thực hiện CMTS để làm gì?
Bước 2: Xác định một chủ đề cụ thể và mục tiêu chủ đề
Tên chủ đề đại diện cho nội dung kiến thức đã được xác định ở bước trên Tên chủ đề có thể giữ nguyên tên chương hoặc tên phần kiến thức hoặc nếu muốn nhấn mạnh sự vận dụng kiến thức của chủ đề để giải quyết yêu cầu của bài học hoặc cũng
có thể đặt tên chủ đề khác dựa vào các nội dung kiến thức đã xác định trong chủ đề
Mục tiêu chủ đề: Về kiến thức cần bám chặt vào các câu hỏi khái quát về các cuộc CMTS; Về kĩ năng cần nhấn mạng các nhóm kĩ năng như kĩ năng tư duy, kĩ
năng học tập, kĩ năng khoa học Dạy học theo chủ đề rất có ưu thế trong việc hình thành và phát triển năng lực người học, vì vậy, ở mỗi chủ đề cũng cần xác định các năng lực hướng tới, các năng lực chung như năng lực tự học; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; năng lực hợp tác; năng lực giao tiếp; năng lực công nghệ thông tin và truyền thông Các năng lực đặc thù môn học như năng lực tái hiện sự kiện, hiện tương, nhân vật lịch sử; năng lực xác định và giải quyết mối liên hệ, ảnh hưởng tác động giữa các sự kiện lịch sử với nhau; năng lực so sánh, phân tích, phản biện, khái quát hóa;…
Bước 3: Xác định mạch nội dung kiến thức của chủ đề
Để xác định mạch nội dung kiến thức của chủ đề, giáo viên cần nghiên cứu sách giáo khoa và từ các bài học kết hợp các câu hỏi khái quát, căn cứ chuẩn kiến thức để xác định nội dung người học cần được học trong mỗi chủ đề Mạch nội dung kiến thức thường sẽ có 2 nhóm vấn đề chính là nhóm kiến thức cơ sở khoa học
và nhóm kiến thức vận dụng kiến thức cơ sở đó vài trong thực tiễn cuộc sống
Bước 4: Thiết kế các hoạt động học tập
Dạy học theo chủ đề nhấn mạnh phát triển năng lực tự học của học sinh, vì vậy, giáo viên cần thiết kế các hoạt động theo hướng hướng dẫn học sinh tự tìm ra kiến thức thông qua các hoạt động như quan sát tranh ảnh, sơ đồ tư duy, bài tập nhận thức, giải quyết các tình huống có vấn đề,…
Quá trình tổ chức hoạt động học tập theo chủ đề được thực hiện qua 5 bước tương tự dạy học theo mô hình trường học mới VNEN, bao gồm: