Hiện nay, Khu di tích căn cứ địa cách mạng K20 được thành phố Đà Nẵng đầu tư chỉnh trang, nâng cấp khang trang nhưng nơi vẫn giữ được nét đẹp hiền hòa, yên ả của một vùng quê ngay giữa l
Trang 1EEÅ EÅ
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
GV hướng dẫn : ThS TĂNG CHÁNH TÍN
Đà Nẵng, 04/2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đề tài này được hoàn thành nhờ vào sự nỗ lực của bản thân, sự động viên của gia đình, sự giúp đỡ của bạn bè và đặc biệt là sự giúp đỡ của quý Thầy Cô Khoa Lịch Sử Vì vậy, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến
Đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy Cô Khoa Lịch
Sử - Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã tận tâm giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong thời gian học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn đến Thầy Tăng Chánh Tín đã tận tình
hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận Cảm ơn đến tất cả các du khách, người dân đang sinh sống tại Khu di tích Căn cứ địa cách mạng K20 đã dành khoảng thời gian quý báu của mình để trả lời câu hỏi điều tra của đề tài khóa luận
Cuối cùng cho tôi gửi lời cảm ơn đến Phòng Văn hóa – Thông tin quận Ngũ Hành Sơn, Ban Quản lý Khu du lịch thắng cảnh Ngũ Hành Sơn, Ban Quản
lý Khu di tích Căn cứ địa cách mạng K20 đã giúp đỡ tôi trong việc cung cấp tài liệu, số liệu, đóng góp ý kiến cho đề tài khóa luận này
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng, nỗ lực trong quá trình thực hiện nhưng do còn nhiều lý do hạn chế chủ quan và khách quan nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi kính mong nhận được sự góp ý chân thành của quý Thầy
Cô, bạn bè để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của Khóa luận 6
7 Bố cục Khóa luận 6
PHẦN NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG K20 – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 7
1.1 Khái quát về căn cứ địa cách mạng 7
1.1.1 Khái niệm của căn cứ địa cách mạng, căn cứ “lõm” 7
1.1.2 Phân loại căn cứ địa cách mạng 7
1.1.3 Vai trò của căn cứ địa cách mạng 7
1.1.4 Một số căn cứ địa cách mạng tại Việt Nam 8
1.2 Căn cứ địa cách mạng K20 – thành phố Đà Nẵng 9
1.2.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư và truyền thống cách mạng 9
1.2.2 Vai trò của Căn cứ địa K20 trong công cuộc kháng chiến, giải phóng dân tộc 12
1.2.2.1 Trong kháng chiến chống Pháp 12
1.2.2.2 Trong kháng chiến chống Mỹ 15
1.2.3 Các giá trị của Căn cứ địa K20 17
1.2.3.1 Giá trị lịch sử 17
Trang 41.2.3.2 Giá trị văn hóa 19
1.2.3.3 Giá trị cảnh quan, sinh thái 19
1.2.3.4 Giá trị giáo dục truyền thống 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI KHU DI TÍCH CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG K20 – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 22
2.1 Thực trạng phát triển du lịch ở một số căn cứ địa tại Việt Nam 22
2.2 Thực trạng phát triển du lịch tại Căn cứ địa K20 hiện nay 25
2.2.1 Một số tài nguyên được đưa vào phát triển du lịch 26
2.2.1.1 Nhà truyền thống K20 26
2.2.1.2 Nhà ông Huỳnh Phiên (Huỳnh Vấn) 26
2.2.1.3 Nhà thờ Bà Nhiêu 28
2.2.1.4 Nhà thờ tộc Huỳnh 31
2.2.1.5 Nhà ông Huỳnh Trưng 32
2.2.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật 34
2.2.3 Chính sách đầu tư cho phát triển du lịch 35
2.2.4 Một số tour, tuyến du lịch 36
2.2.5 Số lượng, thành phần khách du lịch 37
2.2.6 Các hoạt động của du khách 39
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI KHU DI TÍCH CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG K20 - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 41
3.1 Cơ sở đưa ra giải pháp 41
3.1.1 Chính sách quy hoạch, phát triển du lịch của địa phương 41
3.1.2 Ý kiến phản hồi của du khách 43
3.1.3 Ý kiến, nguyện vọng của người dân K20 45
3.2 Một số đề xuất, giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển du lịch tại căn cứ địa K20 Đà Nẵng 46 3.2.1 Giải pháp nghiên cứu quy hoạch tổng thể Khu căn cứ địa K20 46
Trang 53.2.2 Giải pháp nghiên cứu, tôn vinh giá trị của căn cứ địa K20 47
3.2.3 Giải pháp đầu tư phục hồi, tôn tạo các di tích 47
3.2.4 Giải pháp phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật 48
3.2.5 Giải pháp xây dựng tour tuyến du lịch 49
3.2.6 Giải pháp đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ du lịch 52
3.2.7 Giải pháp để quảng bá, tuyên truyền 53
3.2.8 Giải pháp khai thác và phát huy hiệu quả lao động địa phương phục vụ tại Khu Căn cứ cách mạng K20 54
KẾT LUẬN 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 PHỤ LỤC HÌNH ẢNH
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như là một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội ở các nước Về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước Các lợi ích kinh tế mang lại từ du lịch là điều không thể phủ nhận, thông qua việc tiêu dùng của du khách đối với các sản phẩm của du lịch Nhu cầu của
du khách bên cạnh việc tiêu dùng các hàng hoá thông thường còn có những nhu cầu tiêu dùng đặc biệt: nhu cầu nâng cao kiến thức, học hỏi, vãn cảnh, chữa bệnh, nghỉ ngơi, thư giãn… Mạng lưới du lịch đã được thiết lập ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển, lượng khách quốc tế đến cũng như khách du lịch nội địa Du lịch Việt Nam ngày càng được biết đến nhiều hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước được bình chọn là địa chỉ yêu thích của du khách quốc tế Du lịch đang ngày càng nhận được sự quan tâm của toàn xã hội Hiện nay các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành ở Việt Nam đã và đang đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn để đầu tư trong định hướng phát triển của đất nước Trong đó, Đà Nẵng được các ban ngành đoàn thể và cơ quan chức năng đưa vào thành phố trọng điểm phát triển kinh tế du lịch
Đà Nẵng là một thành phố nằm ở miền Trung Việt Nam, có vị trí gần như là trung tâm khoảng cách giữa thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Sở hữu rất nhiều cảnh quan thiên nhiên đa dạng, các khu du lịch đẳng cấp, di tích lịch sử, bảo tàng,… tạo nên sự phong phú cho du lịch Đà Nẵng Ngoài ra, Đà Nẵng còn là điểm trung chuyển của 3 di sản văn hóa nổi tiếng thế giới là Cố đô Huế, phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn Với những lợi thế như vậy, Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm du lịch thu hút khách du lịch trong nước và nước ngoài Theo đó, loại hình du lịch cũng được phong phú hơn để thỏa mãn nhu cầu du lịch ngày càng tăng của xã hội Bên cạnh những hình thức Teambuilding, du lịch
Trang 7khám phá, du lịch mạo hiểm,… đang được ưa chuộng trên thị trường, thì loại hình trở về chiến trường xưa hay tham quan, học tập tại các di tích lịch sử cũng đang được thành phố tập trung đưa vào khai thác và phát triển Điển hình là tại Khu căn cứ địa cách mạng K20
K20 là tên gọi do Quận ủy Quận 3 (Đà Nẵng) đặt để làm mật hiệu liên lạc thời chống Mỹ Khu căn cứ cách mạng K20 nằm trên địa bàn Khu dân cư Đa Mặn 5, phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn Nơi đây còn lưu giữ những di vật, hiện vật
và hệ thống hầm bí mật trong kháng chiến chống Mỹ, có giá trị minh chứng lịch sử
về một thời đấu tranh ngoan cường, bất khuất ngay trong lòng địch của cán bộ và nhân dân K20 thành phố Đà Nẵng Khu căn cứ cách mạng K20 được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 2010 Hiện nay, Khu di tích căn cứ địa cách mạng K20 được thành phố Đà Nẵng đầu tư chỉnh trang, nâng cấp khang trang nhưng nơi vẫn giữ được nét đẹp hiền hòa, yên ả của một vùng quê ngay giữa lòng đô thị để du khách trong thành phố, trong nước và quốc tế đến tham quan, tìm hiểu về những giá trị lịch sử được lưu lại Đó chính là lý do tôi lựa chọn đề tài
“Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tại căn cứ địa K20 – quận Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng” để làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến nội dung đề tài đã có một số công trình trong nước phản ánh,
đề cập với các cấp độ và từ những cách tiếp cận khác nhau, cụ thể là:
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuốn “Mấy vấn đề về đường lối quân sự
Việt Nam và Đường lối quân sự của Đảng ta là ngọn cờ trăm trận trăm thắng của chiến tranh nhân dân ở nước ta” đã khái quát ở góc độ lý luận về căn cứ địa
cách mạng, cụ thể là các khái niệm về căn cứ địa, các hình thức phát triển, cơ sở xây dựng và vai trò của căn cứ địa trong chiến tranh nhân dân
Các bài viết “Vài suy nghĩ về hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam”;
“Căn cứ địa cách mạng truyền thống và hiện tại” của tác giả Trần Bạch Đằng và
tác giả Văn Tạo được đăng trên Tạp chí Lịch sử quân sự đã tập trung làm rõ những vấn đề về căn cứ địa nói chung như: Khái niệm, tính chất, nguồn gốc, đặc điểm,… trên cơ sở đó các tác giả đã nêu lên những nét đặc trưng của căn cứ địa
ở Việt Nam và căn cứ địa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
Trang 8Lịch sử Đảng bộ thành phố Đà Nẵng, tập III (1954 – 1975) của Đảng bộ tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng; Lịch sử Đảng bộ Quận Sơn Trà (1930 – 1975) của Ban Chấp hành Đảng bộ Quận Sơn Trà; Lịch sử Đảng bộ Quận Ngũ Hành Sơn (1930 – 2000) là công trình mô tả một cách khái lược về sự ra đời của Căn cứ lõm K20, nơi có trú được từ 50 – 100 chiến sĩ biệt động Tuy nhiên, vai trò cụ thể của Căn cứ K20 về quân sự, chính trị,… chưa được đề cập đến
Trong công trình “Vành đai diệt Mỹ trên chiến trường Khu 5 – một sáng
tạo của chiến tranh nhân dân Việt Nam” của Bộ Tư lệnh Quân khu V – Viện
Lịch sử Quân sự Việt Nam có bài “Căn cứ lõm” trong hoạt động của vành đai
diệt Mỹ của Nguyễn Quang Tuấn đã luận giải từ thực tiễn vai trò, vị trí, tính chất
hoạt động của một số “Căn cứ lõm” ở Đà Nẵng như K20, Thạc Gián, Thanh
Khê, Hồng Phước,…
Trong đó, Căn cứ K20 được tác giả nhìn nhận như là “Căn cứ lõm điển
hình” ở Đà Nẵng trong những năm kháng chiến chống Mỹ Mặc dù vậy, quá
trình xây dựng, vai trò về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và đặc điểm của Căn cứ K20 vẫn chưa được làm rõ
Công trình Lịch sử đấu tranh cách mạng và xây dựng Đảng bộ phường Bắc
Mĩ An (1930 – 2005) do Đảng bộ hai phường Mỹ An và Khuê Mĩ ấn hành năm
2010 đã trình bày một cách khái lược về sự ra đời, tổ chức và hoạt động của Căn
cứ K20 trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Một số bài báo về khai thác du lịch tại K20, điển hình như bài viết trên báo
Đà Nẵng: “Di tích K20 – điểm đến còn bỏ ngõ” số ra ngày 20/10/2015 của tác
giả Nhật Hạ đã trình bày được các sản phẩm độc đáo để khai thác các giá trị của Căn cứ K20, những nguyên nhân tại đây chưa được khai thác hiệu quả để đáp ứng nhu cầu giáo dục truyền thống cũng như chưa đẩy mạnh phát triển du lịch tại địa phương
Ngoài ra còn một số bài nghiên cứu về Căn cứ K20 được đăng trên các Tạp chí khoa học và các trang báo điện tử như www.vietnamtourism.com, tourism.danang.gov.vn, toptendulichdanang.com,… đã trình bày một cách khái quát về vai trò của Căn cứ K20 trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước cũng như K20 ngày nay Tuy nhiên, đây chỉ mới dừng lại ở
Trang 9một bài báo mà chưa thật sự đi sâu vào thành công trình nghiên cứu khoa học đưa ra các giải pháp cũng như định hướng phát triển du lịch tại Khu Căn cứ K20 Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã cung cấp những thông tin quan trọng về Căn cứ K20 trong kháng chiến chống Mỹ Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào đi sâu nghiên cứu về quá trình xây dựng, đặc điểm và những đóng góp của Căn cứ K20 đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ Cũng như nghiên cứu về phát triển du lịch tại Căn cứ địa K20 – thành phố Đà Nẵng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu quá trình hình thành, vai trò, các giá trị và đóng góp của căn cứ địa cách mạng K20 Nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch hiện nay tại căn cứ địa cách mạng K20 đối với địa phương Qua đó, nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển du lịch nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy, giáo dục truyền thống của người dân địa phương, đáp ứng nhu cầu tham quan, thăm lại chiến trường xưa DMZ của các cựu chiến binh và để du khách trong nước và quốc tế hiểu hơn về cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân Ngũ Hành Sơn nói riêng và Đà Nẵng nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng phát triển du lịch và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển du lịch tại Căn cứ K20 hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian: Tìm hiểu vai trò lịch sử của Căn cứ địa K20 từ năm 1954 đến nay Những giá trị và thực trạng khai thác du lịch từ khoảng năm 2010 đến nay Tuy nhiên, để việc trình bày nội dung chính được logic, đề tài được đề cập khái quát truyền thống và cách mạng của nhân dân K20 trước năm 1954
+ Về không gian: khu Căn cứ K20 thuộc địa bàn thuộc địa bàn phường Khuê
Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
- Nguồn tư liệu:
Trang 10+ Các văn kiện: Hệ thống các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và Quân đội Nhân dân Việt Nam về cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước
+ Tác phẩm của các vị lãnh tụ và lãnh đạo: Tác phẩm của Hồ Chí Minh, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội về cách mạng giải phóng dân tộc, về cuộc kháng chiến chống Mỹ, về căn cứ địa cách mạng trong chiến tranh giải phóng dân tộc
+ Tài liệu lưu trữ: Các tài liệu liên quan đến cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước hiện được lưu trữ ở Bộ tư lệnh Quân khu V; Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam; Viện Lịch sử Đảng; Ban Tuyên giáo thành phố Đà Nẵng Ban Quản lý Khu di tích Ngũ Hành Sơn và Ban Quản lý Khu di tích K20 – thành phố Đà Nẵng
+ Các công trình nghiên cứu đã công bố: Các công trình nghiên cứu về việc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Viện Lịch sử Đảng,…; Các chuyên khảo, bài viết, báo cáo khoa học đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành trong những năm gần đây Các công trình Lịch sử Đảng bộ, Lịch sử kháng chiến và Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân địa phương của thành phố Đà Nẵng và quận Ngũ Hành Sơn; Các luận án, luận văn về đề tài căn cứ địa cách mạng đã được bảo vệ và xuất bản
+ Tài liệu khảo sát thực tế: Tài liệu khảo sát thực địa tại di tích căn cứ địa cách mạng K20 và xung quanh địa bàn nghiên cứu
+ Các hồi ký cách mạng: Hồi ký và lời kể của các cán bộ lão thành cách mạng, nhân chứng lịch sử còn sống đã và đang hoạt động, sinh sống trên địa bàn nghiên cứu
+ Báo cáo hoạt động của Ban Quản lý Khu di tích K20 và Ban Quản lý Khu
di tích Ngũ Hành Sơn qua các năm
- Phương pháp nghiên cứu:
Kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic là chủ yếu Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu còn sử dụng một số phương pháp: So sánh, thống kê, phân tích, tổng hợp , khái quát trên cơ sở nguồn tư liệu văn bản, thực địa và tiếp
Trang 11xúc với chính quyền địa phương, Ban Quản lý Khu di tích Ngũ Hành Sơn, Ban Quản lý Khu di tích Căn cứ địa cách mạng K20, các nhân chứng lịch sử
6 Đóng góp của Khóa luận
Nghiên cứu, tìm hiểu một cách căn bản và tương đối đầy đủ về Căn cứ K20 nhằm phục vụ công tác giáo dục truyền thống và bổ sung tư liệu về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước của quân và dân thành phố Đà Nẵng Bên cạnh đó, đề tài cũng tìm hiểu thực trạng phát triển du lịch tại Căn cứ K20 và nghiên cứu để tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển du lịch tại đây Nhằm góp phần bổ sung thêm loại hình du lịch tại Đà Nẵng thêm đa dạng, cũng như đóng góp vào nền kinh tế của người dân xung quanh khu vực Căn cứ K20 địa phương nói riêng cũng như thành phố Đà Nẵng nói chung
7 Bố cục Khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Khóa luận có phần nội
dung chia làm ba chương:
- Chương 1: Tổng quan về Căn cứ địa cách mạng K20 – Thành phố Đà Nẵng
- Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tại Khu di tích Căn cứ địa cách mạng K20 – thành phố Đà Nẵng
- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển du lịch tại Khu di tích Căn cứ địa cách mạng K20 – thành phố Đà Nẵng
Trang 12PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG K20 – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
1.1 Khái quát về căn cứ địa cách mạng
1.1.1 Khái niệm của căn cứ địa cách mạng, căn cứ “lõm”
Theo Từ điển thuật ngữ quân sự Việt Nam: “Căn cứ địa cách mạng là vùng
lãnh thổ và dân cư do lực lượng cách mạng làm chủ, tương đối an toàn (có thể
là vùng tự do hoặc căn cứ du kích đã được xây dựng, củng cố vững chắc).” [5, tr.127]
Cuốn Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông do Phan Ngọc Liên chủ biên định
nghĩa: “Căn cứ địa cách mạng là khu vực lãnh thổ có đầy đủ các yếu tố”địa lợi,
nhân hòa”, “Tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ”, có cơ sở vững chắc về chính trị
và quân sự, được dùng làm nơi xây dựng lực lượng cách mạng để từ đó phát
triển rộng ra nơi khác” [27, tr.77]
Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu ta thấy rằng, căn cứ “lõm” là thuật ngữ dùng
để chỉ căn cứ địa cách mạng của ta song điểm khác cơ bản giữa căn cứ địa bình
thường và căn cứ “lõm” là ở địa bàn, phạm vi hoạt động, trong khi căn cứ địa là
khu vực lãnh thổ và dân cư do ta làm chủ, tương đối an toàn thì căn cứ lõm là
“Căn cứ của lực lượng kháng chiến nằm sâu trong vùng địch tạm chiếm trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ; xuất hiện trong chiến tranh nhân dân Việt Nam để đấu tranh chống địch có hiệu quả Căn cứ lõm thường có quy mô không lớn nhưng chiếm vị trí xung yếu mà lực lượng kháng chiến dựa vào đó để xây dựng và phát triển lực lượng phục vụ cho đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang trong vùng địch hậu.” [5, tr.96]
1.1.2 Phân loại căn cứ địa cách mạng
Theo Từ điển thuật ngữ quân sự Việt Nam: “Theo đơn vị hành chính, có căn
cứ địa cách mạng: Trung ương, địa phương, cơ sở Theo địa hình và vùng lãnh
thổ, có căn cứ địa cách mạng: ở đồng bằng, vùng núi, đô thị” [5, tr.127]
1.1.3 Vai trò của căn cứ địa cách mạng
Trang 13Cuốn Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông: “Căn cứ địa là nơi cung cấp sức
mạnh vật chất, quân sự, nguồn cổ vũ về tinh thần, chính trị trong cách mạng và kháng chiến.” [27, tr.77]
Cũng theo các nguồn tư liệu khác được nghiên cứu cũng cho thấy được vai trò của các căn cứ địa cách mạng Cụ thể:
“Căn cứ địa ở Việt Nam là chỗ dựa, nơi bày thế trận tiêu diệt đối phương tại chỗ, đồng thời làm nơi xuất phát, bàn đạp cho các lực lượng kháng chiến tiến công địch ở bên ngoài căn cứ, tạo điều kiện cho phong trào du kích chiến tranh phát triển ở vùng tạm bị chiếm, góp phần tạo ra cục diện chiến trường ngày càng có lợi cho cách mạng và kháng chiến.”
1.1.4 Một số căn cứ địa cách mạng tại Việt Nam
Trên phạm vi cả nước, ngay trong kháng chiến chống Pháp, hàng loạt căn
cứ địa ra đời và từng bước phát triển, như: Việt Bắc, các chiến khu Thanh - Nghệ
- Tĩnh, Nam - Ngãi - Bình - Phú, Chiến khu Đ, Đồng Tháp Mười, U Minh, Dương Minh Châu…
Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, miền Bắc trở thành hậu phương lớn của tiền tuyến miền Nam Trên cơ sở các chiến khu cũ, hàng loạt căn cứ địa cách mạng được xây dựng và phát triển trong thế xen kẽ và thông nối toàn bộ chiến trường miền Nam Trong kháng chiến chống Pháp, Căn cứ địa Việt Bắc trở thành Thủ đô kháng chiến của cả nước Trong kháng chiến chống Mỹ, Vĩnh
Linh, rồi Tây Ninh trở thành “Thủ đô kháng chiến” của miền Nam Các khu, tỉnh, huyện, xã đều có căn cứ địa, “Thủ đô kháng chiến” của riêng mình
Việt Bắc là một vùng phía Bắc Hà Nội trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp bao trùm nhiều tỉnh ở Bắc Bộ Ngày nay nó thường được hiểu là khu vực gồm 6 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên hay còn được gọi tắt là Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái Việt Bắc
là căn cứ địa cách mạng ra đời sớm nhất và lớn nhất, được gọi một cách văn hoa
là “Thủ đô kháng chiến”, bởi đây là nơi trú đóng của đầu não Đảng Cộng sản
Việt Nam thời trước khi khởi nghĩa năm 1945, và là nơi trú đóng của đầu não chính phủ Việt Minh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) Nó
Trang 14cũng được gọi là “Thủ đô gió ngàn”, tên gọi này được bắt nguồn từ bài thơ “Sáng tháng năm” của nhà thơ Tố Hữu Quá trình củng cố, phát triển của
căn cứ địa Việt Bắc gắn liền với hoạt động lãnh đạo cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ
Chiến khu Đ là một căn cứ quân sự ở miền Đông Nam bộ của Mặt trận Việt Minh và Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Chiến tranh Đông Dương và của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam Chiến khu được thành lập vào tháng 2 năm 1946, bao gồm 5 xã: Tân Hòa, Mỹ Lộc, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An (nay thuộc thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương)
Căn cứ địa U Minh là căn cứ cách mạng trong các thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ và có lúc là căn cứ của nghĩa quân Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, nơi đây là căn cứ của Quân khu IX,
Xứ uỷ, Trung ương Cục Miền Nam, Ủy ban Kháng chiến hành chánh Nam Bộ
U Minh Thượng có kinh xáng Chắc Băng là trung tâm khu tập kết 200 ngày thi hành Hiệp định Giơnevơ của miền Nam Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đồng chí
Võ Văn Kiệt và một số đồng chí lão thành Cách mạng xây dựng lại cơ sở, gây dựng lại phong trào Và từ đó, U Minh Thượng là căn cứ Cách mạng của Liên Tỉnh ủy miền Tây (sau được đổi tên là Khu Tây Nam Bộ, tức Khu IX), Liên
Tỉnh ủy Hậu Giang, là nơi thành lập Tỉnh ủy lâm thời Rạch Giá,…
1.2 Căn cứ địa cách mạng K20 – thành phố Đà Nẵng
1.2.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư và truyền thống cách mạng
Về vị trí địa lý, Căn cứ K20 nằm trên địa bàn khu dân cư Đa Mặn 5 (thuộc phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn) cách phố cổ Hội An khoảng 20km và danh thắng Ngũ Hành Sơn khoảng 1,5km về phía Tây; cách trung tâm thành phố
Đà Nẵng khoảng 10km về phía Đông Nam; phía Đông, phía Bắc giáp đường quy hoạch khu số 4 mở rộng – Nam cầu Tuyên Sơn; phía Tây giáp đường Trần Hưng Đạo; phía Nam giáp đường cách ly đường dây 110KV Có diện tích gần 9ha, dân
cư ở đây thưa thớt, sống trong khu căn cứ chỉ vài trăm hộ, co cụm thành từng xóm nhỏ về phía Nam, giữa vùng đất thấp để tiện cho việc sản xuất nông nghiệp trồng lúa và hoa màu
Trang 15Theo các nhân chứng lịch sử, trong thời kỳ chống Mỹ địa bàn Căn cứ K20 bao gồm các xóm Đa Phước (xóm Cát), Nước Mặn (xóm Đồng) và một phần của làng Mĩ Thị, Bà Đa thuộc quận III – Đà Nẵng, trung tâm căn cứ chính là xóm Đồng với lũy tre bao bọc xung quanh, cây cối rậm rạp; phía Đông tiếp giáp với song và đồng ruộng , phía Tây giáp sông Cổ Cò, Hòa Quý, Hòa Xuân; phía Nam giáp cánh đồng trũng vào tới đập Bờ Quan, phía Bắc giáp cánh đồng rộng lớn kéo dài xuống đập Mĩ Thị Mỹ - Ngụy muốn vào xóm Đồng thì phải qua một chiếc cầu độc đạo Vì bốn phía đều trống nên việc cảnh giới, bảo vệ cho căn cứ rất thuận lợi, có thể phát hiện địch hoặc người lạ vào xóm từ xa để báo động cho cán bộ cách mạng xuống hầm bí mật trú ẩn
Tại xóm Đồng thời bấy giờ có tổng cộng 32 hộ dân sinh sống và ở đây lúc cao điểm có thể che giấu được gần 100 cán bộ, du kích, chiến sĩ biệt động của ta Với địa thế thuận lợi, được che chở, bao bọc giữa ranh giới tự nhiên nên nơi đây
đã trở thành điểm khởi đầu cho việc thông tin liên lạc từ vùng giải phóng vào căn cứ và từ căn cứ vào trung tâm thành phố bằng hệ thống giao thông thủy, bộ
Do đặc điểm vị trí, địa hình nói trên nên K20 luôn được cả ta và địch xác định là một địa điểm trọng yếu ở phía Đông Nam thành phố Đà Nẵng Địch sử dụng nơi này làm chốt chặn, kiểm soát lực lượng cách mạng, tạo ra hành lang quân, dân sự bảo vệ trung tâm thành phố ở phía Đông Nam, trong khi đó ta xác định đây là địa bàn chiến lược để xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng, cầu nối giữa cách mạng địa phương với vùng giải phóng, là bàn đạp để lực lượng
vũ trang của ta từ hậu cứ phục kích vào vùng địch hậu
Về khí hậu, Căn cứ K20 nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình hàng năm là 25 – 26oC; lượng mưa trung bình ở mức 2066mm, mưa tập trung nhiều vào các tháng 9,10,11,12 và chiếm khoảng 70% tổng lượng mưa hàng năm; độ ẩm trung bình là 82%
Về chế độ gió, ở đây có hai hướng gió chủ đạo là gió Đông và gió Bắc Gió Đông thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm và gió Bắc thịnh hành từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Vì gần biển nên hàng năm nơi đây cũng thường phải đón nhận các đợt gió bão từ biển Đông thổi vào, với cấp bão thường gặp là cấp 9 đến cấp 10, rơi vào khoảng thời gian từ tháng 9 dến tháng 12
Trang 16Về chế độ thủy văn, vùng Căn cứ K20 trong chống Mỹ tiếp giáp với biển và các con sông nên vào mùa mưa, nhiều khu vực ở đây bị ngập nước và xâm thực mặn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, hoạt động sản xuất nông nghiệp của nhân dân
Theo sử cũ, quá trình “Nam tiến” vùng đất Đa Mặn, Mĩ Thị, Bà Đa đã được
những cư dân Việt ở phía Bắc đèo Ngang vào khai phá và sinh sống từ những thập niên cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI Tại đây, trên các cánh đồng trũng, các bãi bồi ven sông cư dân đã quầy tụ sinh sống chủ yếu dựa trên sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước và các loại hoa màu khác như khoai, sắn, ngô,… bên cạnh phát triển nghề chài lưới, đánh bắt thủy sản trên các dòng sông lân cận Cũng bắt đầu từ đó, trên mảnh đất này cũng đã dần hình thành nên các làng như Khuê Bắc,
Mĩ Thị, xóm An Thượng, xóm Vạn Du,…
Vùng Căn cứ K20 trước đây là một khu vực khá hoang vu, đất đai khô cằn, khí hậu khắc nghiệt rất khó để làm ăn sinh sống, nhưng bằng sự cần cù, chịu thương, chịu khó những cư dân đầu tiên đi khai hoang lập ấp đã kiên trì bám đất, đấu tranh với thiên nhiên để lập nên các xóm làng Chính từ trong gian khổ đã tôi rèn cho người dân nơi đây ý chí kiên cường và tinh thần cố kết cộng đồng rất cao mà không phải nơi đâu cũng có được
Nhân dân Căn cứ K20 luôn có ý thức giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Vì vậy, dù vất vả mưu sinh song những phong tục cổ truyền, những sinh hoạt giải trí tinh thần, những lễ hội dân gian địa phương vẫn được người dân gìn giữ, phát huy với nội dung hết sức phong phú, đa dạng phản ánh bức tranh lao động đa màu sắc, thể hiện ước mơ về một cuộc sống tươi đẹp, hạnh phúc
Hiện nay, trước tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, một bộ phận cư dân nơi đây đã nhanh chóng chuyển đổi nền kinh tế sang các lĩnh vực khác như buôn bán, sản xuất đồ thủ công bên cạnh bộ phận cư dân tiếp tục bán đất, bám ruộng để trồng lúa nước, hoa màu làm cho bức tranh kinh tế nơi đây cũng có những chuyển biến tích cực
Trang 171.2.2 Vai trò của Căn cứ địa K20 trong công cuộc kháng chiến, giải phóng
dân tộc
1.2.2.1 Trong kháng chiến chống Pháp
Cư dân Căn cứ K20 luôn mang trong mình tinh thần yêu nước nồng nàn sẵn sang vùng lên quật khởi chống lại cường quyền áp bức, đạp đổ các thế lực ngoại xâm Trong lực sử chống ngoại xâm, vào trung đại nơi đây đã xuất hiện nhiều
nhân vật tiêu biểu như “danh tướng Trần Quang Diệu, đô úy tướng quân Trần
Viết Hậy và nhiều tấm gương tiêu biểu khác” [10, tr.19]
Bước sang thời cận đại khi thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lược nước
ta ngày 1/9/1858, bằng lòng yêu nước nồng nàn nhân dân vùng Căn cứ K20 đã cùng với nhân dân cả nước đứng lên chống Pháp Dưới ngọn cờ Cần Vương, tại Quảng Nam, tiến sĩ Trần Văn Dư đã thành lập Nghĩa hội Quảng Nam đem quân chống Pháp ở nhiều nơi, làm chủ tỉnh lỵ Quảng Nam trong vòng 3 năm từ 1885 đến 1887, trong thắng lợi chung đó, nhân dân vùng Căn cứ K20 đã góp phần
không nhỏ “Nhân dân các làng Khuê Bắc, Mĩ Thị, xóm An Thượng đã tích cực
tham gia Nghĩa hội Quảng Nam, theo Huỳnh Bá Chánh và Nguyễn Văn Diêu tham gia đánh Pháp, đốt chợ Hà Thân để chặn nguồn tiếp tế của quân Pháp”
[11, tr.22]
Bước sang đầu thế kỷ thứ XX, trong phong trào yêu nước của các văn thân sĩ phu như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Thái Phiên, Trần Cao Vân,… nhân dân nơi đây tiếp tục hưởng ứng tích cực, có những thời điểm vùng Bắc Mĩ An, Khuê Bắc đã trở thành một trong những địa bàn hoạt động của phong trào Duy Tân, phong trào chống sưu cao, thuế nặng của nông dân Quảng Nam và các tỉnh Trung Kỳ
Có thể nói rằng trước khi trở thành một căn cứ nổi tiếng, một vùng đất
“thánh” của cách mạng Đà Nẵng dưới thời chống Mỹ thì ngay thời trung đại và
cận đại, K20 đã là một vùng đất anh hùng Đặc biệt, từ khi có Đảng ra đời, dưới ngọn cờ cách mạng nhân dân K20 tiếp tục phát huy truyền thống đấu tranh bất khuất cho đến ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đánh dấu một mốc vàng son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Nước
Trang 18Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Cùng với cả nước, nhân dân Đa Mặn, Mĩ Thị, Bà Đa tích cực, hồ hởi hưởng ứng, tham gia xây dựng, bảo vệ thành quả cách mạng vừa giành được, trong đó tập trung thực hiện 3 nhiệm vụ lớn, cấp bách là diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, theo chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ cách mạng
Đầu năm 1946, huyện Hòa Vang tiến hành sắp xếp, thay đổi đơn vị hành chính trực thuộc Lúc này, Đa Mặn, Mĩ Thị và Bà Đa thuộc xã An Bắc, huyện Hòa Vang Trên cơ sở đó ngày 16 tháng 01 năm 1946, tại nhà bà Xã Dậu xóm Nước Mặn, dưới sự chủ trì của Ủy viên Thường vụ Huyện ủy Hòa Vang Nguyễn Xuân Diệp, Chi bộ xã An Bắc được thành lập, lấy mật danh là Chi bộ Đặng Tuyến Khi mới thành lập Chi bộ có 3 đảng viên, đến tháng 9 năm 1946 tăng lên
9 đảng viên, gồm: Trần Viết Thăng, Nguyễn Luận (Bà Đa), Huỳnh Kim Bảng (Mĩ Thị), Nguyễn Đẩu, Nguyễn Đấu, Nguyễn Thi, Đặng Sự (Đa Mặn) và Trần Văn Hoa, Trần Văn Huyền (Sơn Thủy) do Trần Văn Hoa làm Bí thư
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chi bộ và chính quyền cơ sở, nhân dân Đa Mặn, Mĩ Thị, Bà Đa càng tích cực tham gia vào các tổ chức cách mạng ở địa phương như lực lượng tự vệ chiến đấu xã, các tổ chức đoàn thể quần chúng và đặc biệt, nhiều thanh niên hăng hái xung phong tham đoàn quân Nam tiến vào chiến trường miền Nam Tất cả đã sẵn sàng cùng nhân dân Đà Nẵng và cả nước bước vào một cuộc chiến không tránh khỏi với thực dân Pháp
Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ ngày 19 tháng 12 năm 1946 Tại Đà Nẵng, sau hơn một tháng bị quân ta kháng cự quyết liệt, địch đã chiếm được vùng nội thành Từ đó chúng tung quân liên tục tổ chức những cuộc tiến công lớn ra các vùng xung quanh để mở rộng phạm vi chiếm đóng Cùng với đó, chúng xây dựng hệ thống đồn bốt dày đặc, tổ chức bộ máy tề ngụy khắp các thôn
ấp, và tăng cường thực hiện các cuộc càn quét nhằm bình định, kiểm soát và kìm kẹp vùng tạm chiếm, tiêu diệt lực lượng cách mạng hòng tạo thành vành đai vững chắc bảo vệ trung tâm Đà Nẵng
Từ tháng 3 năm 1947, Đa Mặn, Mĩ Thị, Bà Đa đã nằm trong vùng địch tạm chiếm và bị kẹp giữa các đồn địch Một đồn ngay tại Mĩ Thị, ngoài ra, ngoại trừ phía Đông Bắc giáp biển, còn phía Nam là đồn Canh, phía Tây – Tây Nam bên
Trang 19kia ngã ba sông là đồn Cồn Dầu, phía Bắc là đồn Mĩ Khê và đồn An Hải Nhân dân K20 bước vào giai đoạn đấu tranh ngay trong lòng địch
Để đảm bảo công tác bảo mật phòng gian, tránh các tổn thất cho cách mạng
do những đợt lung sục, cản quét của kẻ thù, cùng với các tổ chức dân quân tự vệ, công an xung phong đã được hình thành trước đó, đầu năm 1948, Chi bộ Đặng Tuyến chỉ đạo thành lập tổ quân báo Nước Mặn Tổ được trang bị các loại vũ khí
tự chế, đặc biệt có cả lựu đạn, súng ngắn (cướp được của địch) có nhiệm vụ theo dõi, bám sát địch để kịp thời báo cáo, tham mưu cho lãnh đạo về tình hình địch Trong trường hợp cần thiết hoặc nguy cấp thì sẵn sàng chiến đấu tiêu diệt địch Không chỉ có các đội vũ trang mà quần chúng nhân dân cũng tham gia tích cực, thậm chí còn là lực lượng quan trọng trong công tác cảnh giới, truyền tin cho cách mạng Tất cả những người dân dù lớn hay nhỏ, trong mọi lúc, mọi nơi, bằng nhiều hình thức đã thống nhất, kịp thời báo hiệu cho cán bộ, cơ sở cách mạng về hoạt động lùng sục, càn quét của địch
Cũng từ năm 1948, do yêu cầu của cuộc kháng chiến, Liên Khu ủy khu V chỉ đạo Thành ủy Đà Nẵng và Liên Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng tăng cường cán
bộ lãnh đạo vào thành phố nắm tình hình, hoạt động và chỉ đạo trực tiếp phong trào cách mạng Vì thế, từ đây các hầm hào, công sự mật ở K20 còn đảm thêm vai trò nuôi giấu các cán bộ lãnh đạo của Thành ủy Đà Nẵng và Liên Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng Trong phong trào đào hầm bí mật nuôi giấu cán bộ đã nổi lên những tấm gương điển hình, kiên định với cách mạng, sẵn sàng chấp nhận cực hình và hy sinh cả bản thân mình để bảo vệ cán bộ Các ông Nguyễn Phúng, Hồ Ngô, Hồ Cường khi bị địch bắt, chúng tra tấn cực kỳ dã man, buộc chỉ hầm bí mật, nhưng các ông vẫn không lung lay ý chí, ông Nguyễn Phúng và
Hồ Ngô hy sinh anh dũng
Sẵn tinh thần yêu nước, cách mạng, lòng căm thù giặc sâu sắc, được sự chỉ đạo hướng dẫn trực tiếp của cán bộ cơ sở, phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân K20 phát triển liên tục, rộng khắp và thu được nhiều thắng lợi quan trọng như đấu tranh chống bắt lính, đòi các quyền dân sinh, dân chủ, bảo vệ môi trường, chấm dứt càn quét, cướp bóc, khủng bố nhân dân… Tiêu biểu như cuộc đấu tranh không cho địch đổ chất thải rắn xuống sông Hàn năm 1949; phong trào
Trang 20chống nộp thuế ghe, thuế đất và nộp vật liệu cho địch xây đồn bốt từ năm 1951 đến 1953
Cuối năm 1953, địch tổ chức một cuộc bủa vây lớn ở khu Đông – Đà Nẵng Chúng bắt nhiều thanh niên về tập trung tại Ngã ba Non Nước Ngay lập tức Đảng bộ khu Đông phát động phong trào đấu tranh chống bắt lính Nhân dân khu Đông, trong đó có nhân dân K20 rầm rập kéo đến bao vây đoàn xe địch Trước khí thế đấu tranh hừng hực, cương quyết của quần chúng, địch buộc phải thả hết
số người bị lính bắt
Cuối năm 1953 đầu năm 1954,cùng với chiến trường cả nước, quân và dân
Đà Nẵng đã đẩy mạnh tấn công địch và giành được những thắng lợi giòn giã Ngày 7 tháng 5 năm 1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi đã giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp và làm xoay chuyển cục diện chiến tranh Đông Dương Ngày 21 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Gionevo về lập lại hòa bình ở Đông Dương đã được ký kết Từ đây nhân dân K20 chuyển sang
giai đoạn đấu tranh cách mạng mới với muôn vàn cam go và thử thách
1.2.2.2 Trong kháng chiến chống Mỹ
Căn cứ K20 là mảnh đất đầu não của cách mạng quận III và là bàn đạp quan trọng của cách mạng Đà Nẵng Ngay sau khi có quyết định chính thức xây dựng Căn cứ K20, đầu năm 1965, tất cả các bộ phận lãnh đạo cách mạng quận III đều tập trung về đây, và từ đó không ngừng được củng cố, kiện toàn và phát triển cho đến ngày giải phóng Đà Nẵng Đó là những cơ quan, bộ phận gồm: Quận ủy, Ban An ninh, Quân đội, các bộ phận phụ trách kinh tế, chính trị - binh vận, xây dựng cơ sở quận, Đoàn thanh niên nhân dân cách mạng Bởi vậy, các cán bộ Quận ủy, từ Bí thư, phó Bí thư đến Quận ủy viên qua các thời kỳ đều đã thường xuyên ăn ở, hoạt động trên mảnh đất kiên cường K20 Nhà ông Huỳnh Trưng, nhà ông Huỳnh Vấn, nhà thờ tộc Huỳnh, nhà thờ Bà Nhiêu, nhà bà Phạm Thị Mua là những địa chỉ trú đóng quen thuộc, an toàn của các đồng chí lãnh đạo
Là căn cứ cách mạng của quận, K20 trở thành trung tâm huấn luyện, bồi dưỡng phương pháp, hình thức hoạt động đấu tranh cách mạng cho lực lượng cơ
sở trên toàn địa bàn Quận III là một địa bàn hoàn toàn nằm trong vùng địch hậu,
bị khống chế và kiểm soát cực kỳ nghiêm ngặt Để cho lực lượng hoạt động
Trang 21mạnh, có hiệu quả, hạn chế tối đa sự tổn thất trước thủ đoạn ngày càng xảo quyệt của kẻ thù thì việc huấn luyện, bồi dưỡng kiến thức cách mạng cho lực lượng này đòi hỏi cần phải được đáp ứng không chỉ một lần, một thời điểm mà phải thường xuyên, liên tục cho đến ngày cách mạng thắng lợi Và K20 được vinh dự
mang trong mình sứ mệnh là “ngôi trường” của cách mạng quận III Nhiều cán
bộ, đảng viên, du kích, cơ sở cách mạng ở trong quận được rút về K20 để được hướng dẫn cách thức xây dựng cơ sở, hoạt động nội tuyến, công tác tuyên truyền, địch vận, hình thức che dấu và chuyển phát tài liệu, truyền đơn; phương
pháp và hình thức đấu tranh cách mạng theo phương châm “hai chân, ba mũi”
ngay trong lòng địch; hướng dẫn cách sử dụng vũ khí, chiến thuật chiến đấu,… K20 là nơi tiếp nhận, phổ biến và truyền đạt mọi chỉ đạo, chỉ thị, nghị quyết của các đồng chí lãnh đạo và tập thể Thành ủy Đà Nẵng, Đặc Khu ủy Quảng Đà
về xây dựng và phát triển phong trào cách mạng của quận Như chỉ đạo của đồng chí Hồ Nghinh về đẩy mạnh công tác củng cố và phát triển Căn cứ K20, trong các năm 1971 – 1972 Đặc biệt nhất, vào những ngày tháng 3 năm 1975, trong không khí sôi sục của cách mạng miền Nam, thành phố Đà Nẵng, tại K20, Quận
ủy quận III liên tục nhận được các mật điện của Đặc Khu ủy Quảng Đà chỉ đạo phải nắm chắc tình hình, kịp thời hình thành các ban khởi nghĩa trên địa bàn toàn quận, huy động đến mức tối đa lực lượng tại chỗ cùng nhân dân toàn thành phố nổi dậy giải phóng quê hương
Đồng thời, đây cũng là nơi diễn ra nhiều hội nghị, nhiều buổi họp, trao đổi của Quận ủy quận III, trong đó có những hội nghị có tính chất quyết định đến sự chuyển biến của công cuộc kháng chiến ở địa phương Đó là: Hội nghị giữa năm
1965, khi Mỹ đã trực tiếp đổ bộ vào Đà Nẵng Quận ủy đã phát động phong trào thi đua đánh Mỹ; Hội nghị cuối năm 1967 về xây dựng kế hoạch, chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; Hội nghị ngày 29 tháng 1 năm 1968 kiểm tra về công tác chuẩn bị vật lực cho Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; tiếp sau đó là Hội nghị chuẩn bị kế hoạch thực hiện chiến dịch Hè năm 1968
K20 là nơi triển khai kế hoạch, tổ chức xuất quân tấn công địch của lực lượng vũ trang quận III Hầu hết, các trận đánh lớn, nhỏ của lực lượng vũ trang
Trang 22quận tấn công vào các trụ sở, căn cứ điểm Mỹ - Ngụy trên địa bàn đều trải qua một thời gian bàn thảo, chuẩn bị kỹ lưỡng tại K20 Đây là nơi các chiến sĩ đi nắm thông tin từ cơ sở, trinh sát mục tiêu, trận địa rồi trao đổi, xây dựng kế hoạch tác chiến Đồng thời, đây cũng là nơi chuẩn bị đầy đủ nhất khí tài, đạn dược, đảm bảo công tác hậu cần cho mỗi trận đánh Và, đây là nơi đội quân xuất trận, tiếp áp mục tiêu để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu
Căn cứ địa K20 là hậu phương tại chỗ, nơi bảo đảm một phần quan trọng tiềm lực của cuộc kháng chiến Muốn tiến hành chiến tranh một cách thật sự, phải có hậu phương được tổ chức vững chắc Trong quá trình kháng chiến, quân
và dân cả nước đã xây dựng được hậu phương chiến tranh nhân dân tại chỗ, gồm
hệ thống các cơ sở chính trị, cơ sở kinh tế, khu vực du kích, căn cứ du kích, căn
cứ địa cách mạng; nhờ vậy đã tạo chỗ dựa và cung cấp một phần tiềm lực quan trọng cho cuộc kháng chiến, bảo đảm kịp thời mọi yêu cầu của chiến trường Tại K20, dựa vào ưu thế tự nhiên quân và dân nơi đây đã nỗ lực khai thác phục vụ cho kháng chiến Đất đai được khai phá để trồng lúa và các cây hoa màu, sông suối trong vùng được tận dụng để đánh bắt cá tôm, nhờ đó mặc dù chịu thiên tai, lụt lột, nhất là luôn bị Mỹ - Ngụy tìm cách phá hoại bằng phương tiện cơ giới, đốt cháy thóc gạo, rải chất độc hóa học để phá cây cối, mùa màng nhân dân K20 vẫn tích cực đóng góp lương thực, thực phẩm để nuôi quân, phục
vụ chiến đấu, đảm bảo cung cấp cho cuộc kháng chiến lâu dài: “Tính từ năm
1964 đến năm 1974 nhân dân K20 dã đóng góp quỹ nuôi quân gần 2 triệu đồng (khoảng 20 lượng vàng), hơn 4 tấn gạo, 87kg thuốc chữa bệnh và nhiều quần áo cho bộ đội, vận chuyển nhiều tấn thuốc nổ, hàng tram vũ khí dưới sự kiểm soát
vô cùng khắc nghiệt của kẻ thù” [29, tr.12] Do đó, mặc dù tại căn cứ, đất hẹp,
người thưa, ít lương thực, thực phẩm lại bị kẻ thù ráo riết thực hiện chiến thuật bao vây chia cắt, nhưng công tác bảo đảm sức người, sức của cho kháng chiến
vẫn được thực hiện một cách thường xuyên và có hiệu quả
1.2.3 Các giá trị của Căn cứ địa K20
1.2.3.1 Giá trị lịch sử
Căn cứ K20 là mật danh của “lõm chính trị” độc đáo được Quận ủy quận
III Đà Nẵng trực tiếp chỉ đạo xây dựng tại Đa Mặn, Mĩ Thị, Bà Đa (nay là
Trang 23phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn) từ cuối năm 1964 và tồn tại trong lòng
địch suốt cho đến ngày thành phố được giải phóng
Với diện tích khoảng 9ha, dân số không đông song do nằm trên địa bàn quân sự quan trọng, là cửa ngõ chốt chặn, bảo vệ thành phố từ hướng Đông Nam cho nên nơi đây đã trở thành địa bàn triển khai các cứ điểm quân sự mạnh của
Mỹ ngụy trong kế hoạch xây dựng Đà Nẵng thành khu liên hợp quân sự lớn nhất miền Trung Có những thời điểm chúng tập trung tới 6000 quân với đủ các loại lính: thủy quân lục chiến, biệt kích, bộ binh cơ giới,… Đi liền theo đó là một hệ thống dày đặc các đồn bốt, trạm gác, cơ sở thông tin, trại huấn luyện quân sự,… với trang bị kỹ thuật và phương tiện chiến tranh hiện đại Đặc biệt, chúng còn xây dựng ở đây một sân bay quân sự chiến thuật nhằm giảm tải cho sân bay Đà Nẵng, đáp ứng yêu cầu ngày càng mở rộng của cuộc chiến tranh Trong khi đó,
ta cũng xác định đây là địa bàn chiến lược cực kỳ quan trọng để xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng, cất giấu vũ khí,… là cầu nối giữa phong trào cách mạng địa phương với vùng giải phóng và tỉnh Quảng Nam, và là bàn đạp để
lực lượng vũ trang của ta từ hậu cứ đột kích vào vùng địch hậu
Vượt qua biết bao gian khổ, hy sinh, bằng sự khôn khéo, mưu trí, dũng cảm,
quần chúng nhân dân K20 đã biến nơi đây thành vùng đất “thép” trong phong
trào đấu tranh cách mạng ngay giữa lòng địch với mạng lưới hầm bí mật dày đặc, có thời điểm lên tới 157 hầm Tất cả đều được ngụy trang hết sức khéo léo, kín đáo, đa dạng và được bảo vệ trong một thế trận lòng dân giàu truyền thống cách mạng Nhân dân K20 luôn có ý thức tự cảnh giác cách mạng, đoàn kết thành một khối thống nhất, không phân biệt già trẻ, gái trai kiên quyết bám trụ
xóm làng, đấu tranh vì mục tiêu giải phóng quê hương
Cứ mỗi lần địch vây ráp, lùng sục, đánh phá, càn quét vào làng là nhân dân, đặc biệt là các mẹ, các chị lại hiên ngang đứng chặn trước đầu xe, họng súng kẻ thù để đấu tranh, đồng thời mưu trí đánh lạc hướng địch và nhanh chóng thông báo cho các cơ sở của ta kịp thời đối phó, bảo toàn được lực lượng Đi liền với
đó, nhân dân rất coi trọng vấn đề “thuần khiết” nội bộ Vì vậy, dù bọn địch đã
bày đủ trò, xuất đủ kế từ lừa bịp mỵ dân, đánh đòn tâm lý song không hề lung lay được tinh thần đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân nơi đây Nhân
Trang 24dân cũng làm tốt công tác địch vận, nên có một số người ban đầu theo địch, sau ngả theo cách mạng trở thành lực lượng hậu thuẫn tích cực cho phong trào đấu tranh của ta Với tất cả những điều đó, khu Căn cứ K20 đã tồn tại ngay trong lòng địch và ngày càng phát triển hoàn chỉnh từ Chi bộ Đảng, chính quyền cách
mạng, lực lượng vũ trang và đội quân chính trị mạnh để bảo vệ vùng đất “thép”, tạo cơ sở thuận lợi để ta tấn công địch
1.2.3.2 Giá trị văn hóa
Căn cứ địa K20 là biểu tượng của lòng yêu nước của nhân dân thành phố
Đà Nẵng nói chung, truyền thống văn hóa đó được biểu hiện qua tinh thần, truyền thống đoàn kết trong những năm tháng chống giặc Pháp và Mỹ - Ngụy cứu nước Qua đó còn thể hiện được tấm lòng của người dân địa bàn khu Căn cứ địa K20 đối với cách mạng Tại đây, giá trị văn hóa làng xã vẫn được duy trì cho đến tận ngày hôm nay, đó là những giá trị của sự đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau trong quần chúng nhân dân, một lòng một dạ với đường lối cách mạng
1.2.3.3 Giá trị cảnh quan, sinh thái
K20 là tên gọi do Quận ủy Quận III (Đà Nẵng) đặt để làm mật hiệu liên lạc thời chống Mỹ Khu căn cứ cách mạng K20 nằm trên địa bàn Khu dân cư Đa Mặn 5, phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn, cách thành phố Đà Nẵng về phía Đông Nam khoảng 5 km; Phía Đông, phía Bắc giáp đường quy hoạch khu số 4
mở rộng – Nam cầu Tuyên Sơn; Phía Tây giáp đường Trần Hưng Đạo; phía Nam giáp đường cách ly đường dây 110KV Có diện tích hơn 6 ha, dân cư ở đây thưa thớt, sống trong khu căn cứ chỉ khoảng gần 200 hộ, co cụm thành từng xóm nhỏ
về phía nam, giữa vùng đất thấp để tiện cho việc sản xuất nông nghiệp trồng lúa
và hoa màu K20 nằm ở một vị trí có giá trị đặc biệt về sinh thái cảnh quan khi nằm ngay bên dòng sông Cổ Cò và danh thắng Ngũ Hành Sơn
Sông Cổ Cò là trục cảnh quan để bảo tồn môi trường sinh thái tự nhiên, hài hòa với cuộc sống con người Bên cạnh đó, việc khơi thông tuyến sông Cổ Cò sẽ làm cho thị trường bất động sản chạy khu vực này trở nên sôi động, thu hút nhiều nhà đầu tư Ngoài ra, khơi thông dòng sông sẽ có tác dụng rất lớn đến khả năng thoát lũ cho các khu đô thị ven sông
Trang 25Chính vì tầm quan trọng đó, mà cố Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh cũng đã có tâm huyết thực hiện chủ trương khơi thông sông Cổ Cò, kết nối Đà Nẵng - Hội An, phát triển kinh tế du lịch, hướng đến đa mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Sông Cổ Cò có xuất phát từ cửa sông Trường Giang, huyê ̣n Núi Thành, Quảng Nam về Đà Nẵng Vào thế kỷ 17, sông
Cổ Cò là thủy lộ huyết mạch nối Cửa Hàn, Đà Nẵng và phố cổ Hội An Tuy nhiên, do thờ i gian và chiến tranh tác đô ̣ng , nhiều đoạn sông bị bồi lấp, dẫn đến tắc nghẽn, nhất là đoạn qua Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Dòng sông Cổ
Cò là con sông chạy gần và song song bờ biển với nhiều khu resort cao cấp, từ bến sông Hàn đến bến Cửa Đại Hội An, con uốn lượn qua nhiều dự án phát triển
du lịch và khu đô thị lớn, hiện đại: khu đô thị Nam Việt Á, tổ hợp du lịch nghỉ dưỡng cao cấp Cocobay Đà Nẵng, sân golf Montgomerie Links, sân gôn VinaCapital, khu đô thị Sea View, khu đô thị Công nghệ FPT, khu đô thị Phú
Mỹ An… Dòng Cổ Cò sẽ uốn lư ợn qua núi Ngũ Hành Sơn với nhiều truyền thuyết và huyền thoại được người dân lưu truyền như sự tích hình thành 5 ngọn núi Ngũ Hành Sơn Nơi đây có nhiều ngôi chùa cổ kính tựa lưng vào ngọn Kim Sơn, đặc biệt chùa Quán Thế Âm hướng ra dòng sông Cổ Cò Sông Cổ Cò cũng
là dòng sông tạo nên sự thơ mộng, gần gũi, gắn liền với khu Căn cứ K20
Dường như ai từng biết đến Đà Nẵng là biết đến Ngũ Hành Sơn Nó nổi tiếng đến độ nhiều người muốn xem nó như là biểu tượng của vùng đất này Không gian huyền ảo, thơ mộng, chùa chiền và hang động, cây cỏ và tiếng chuông chùa, sóng Gần 200 năm trước, vua Minh Mạng đã từng đến đây Ông
đã tự mình đặt tên cho núi, cho các hang động, chùa chiền Không ai biết những cái tên như Ngũ Hành Sơn, Huyền Không, Hóa Nghiêm, Lăng Hư, Tàng Chân, Vân Nguyệt, Thiên Long đã làm nhà vua phải suy nghĩ mất hết biết bao nhiêu thời gian Nhưng có một điều chắc chắn rằng, giữa những lo toan quốc kế dân sinh, trong tâm hồn của con người này, cảnh trí Ngũ Hành Sơn đã chiếm một phần quan trọng như một nỗi tự hào về một miền đất xinh đẹp
Cũng như nhiều địa danh khác, những ngọn núi này bao bọc quanh mình nó rất nhiều những huyền thoại khác nhau Không gian thơ mộng của cảnh trí và vẻ bãng lãng cổ tích của những câu chuyện cổ đã mang lại cho Ngũ Hành Sơn cái ý
Trang 26vị mà ít nơi nào có được Trong tư duy triết học của Trung Hoa, Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là những yếu tố cấu thành vũ trụ Con số 5 là con số cực
kỳ quan trọng trong tư duy và trong đời sống phương Đông Nhìn như thế, trong
sự trùng hợp ngẫu nhiên, 5 ngọn Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn, Thổ Sơn tự trong mình nó đã hàm chứa những vẻ kỳ bí dị thường Nằm trong khu vực của Ngũ Hành Sơn, khi đến với khu Căn cứ địa K20, có thể chiêm ngưỡng
được toàn bộ khung cảnh của thắng cảnh Ngũ Hành Sơn
1.2.3.4 Giá trị giáo dục truyền thống
Lịch sử địa phương là một phần quan trọng trong bộ môn Lịch Sử được Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo đưa vào giảng dạy trong các trường phổ thông Giảng dạy lịch sử địa phương nhằm giúp cho học sinh có những kiến thức cơ bản về truyền thống yêu nước, truyền thống đấu tranh cách mạng, lịch sử về hình thành và phát triển cũng như hiểu biết những đặc trưng văn hóa của địa phương
Từ đó góp phần hình thành ở học sinh tình yêu quê hương, đất nước và bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức tốt đẹp trong tư duy và hành động
Tuy nhiên việc dạy học lịch sử địa phương ở nước ta nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng hiện nay gặp không ít khó khăn do chưa có tài liệu biên soạn cụ thể để đưa vào giảng dạy Đa số giáo viên phải tự sưu tầm, nghiên cứu
và soạn giảng theo cách riêng của mình nên dẫn tới chất lượng giảng dạy đối với nội dung này chưa cao Sẽ thú vị và hiệu quả biết bao nếu giáo viên kết hợp tổ chức tham quan, giảng dạy các tiết học Lịch sử ngay tại di tích, nơi diễn ra sự kiện liên quan đến địa phương mà các em học tập, sinh sống Đối với Đà Nẵng, một thành phố có khá nhiều các di tích lịch sử, đặc biệt là các di tích cấp quốc gia như khu Căn cứ K20 thì việc kết hợp và đưa vào chương trình lịch sử địa phương thì sẽ đem lại nhiều điều hứng thú mới cho học sinh Với ý nghĩa đó, việc đưa di tích K20 vào giảng dạy phần lịch sử địa phương ở các trường phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng là hết sức khả thi
Trang 27CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI KHU DI TÍCH CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG K20 – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Thực trạng phát triển du lịch ở một số căn cứ địa tại Việt Nam
Đầu tiên, phải nhắc đến thực trạng phát triển du lịch tại Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi tại Thành phố Hồ Chí Minh Di tích Địa đạo Củ Chi hiện được bảo tồn ở hai khu vực Bến Dược và Bến Đình, cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng hơn 70km về phía Tây Bắc Khu du lịch thích hợp cho những du khách thích tham quan và khám phá lịch sử, bên cạnh đó trong khu du lịch còn
có nhiều khu vực với nhiều hạng mục và nhiều công trình khác nhau giúp du khách có thể thỏa sức tham gia trải nghiệm các hoạt động đời sống thực tế thú vị của người dân địa phương trong thời gian trải qua hai cuộc chiến tranh cam go
và gian khổ Giúp cho khách du lịch đặc biệt là giới trẻ trong nước có thể hiểu biết hơn về lịch sử của dân tộc
Với giá trị và tầm vóc chiến công được đúc kết bằng xương máu, công sức của hàng vạn chiến sỹ, đồng bào, Khu Căn cứ Địa đạo Củ Chi đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia
Địa đạo Củ Chi nhanh chóng thu hút sự chú ý của mọi người Khách trong nước, ngoài nước tới tham quan, tìm hiểu ngày càng đông Từ ngày thống nhất đất nước (1975), đã có hàng chục ngàn đoàn khách du lịch với đủ màu da, sắc tộc trên thế giới đến viếng thăm Địa đạo Củ Chi Từ các vị Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản, nguyên thủ quốc gia, đến các chính khách, tướng lĩnh, nhà khoa học, triết học, nhà văn, nhà báo, cựu chiến binh Mỹ,…
Ðịa đạo thuờng xuyên được gia cố, tôn tạo, đảm bảo độ bền vững lâu dài; kết hợp với các công trình giải trí vui chơi, du lịch trong một khu rừng thiên nhiên rộng rãi, mát mẻ
Khu di tích liên hoàn gồm căn cứ của Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn – Gia Ðịnh trong thời kháng chiến được khôi phục lại đầy đủ chi tiết như nguyên trạng vốn có truớc đây, là nơi hấp dẫn thu hút du khách
Ðền tuởng niệm liệt sĩ Bến Dược được xây dựng trên khu đất rộng 70.000m2, gồm có cổng tam quan, nhà van bia, tháp 9 tầng cao khoảng 40m và ngôi điện chính Trong điện chính có đặt bia khắc tên khoảng 50.000 nguời con
Trang 28của tổ quốc Việt Nam đã chiến đấu và hy sinh trên đất Sài Gòn – Gia Ðịnh Từ năm 1995 đến nay, Ðền Tưởng niệm Liệt sĩ Bến Dược đuợc trùng tu nâng cấp 2 lần thay đổi các chất liệu composite bằng dá và đồng như: hoa văn đế cột, rồng, liễn, hạc,… nhằm mang tính vĩnh cửu, cũng như bổ sung thêm nhiều danh sách liệt sĩ khắc tên trên bia đá
Ðịa đạo Bến Dược nằm trong hệ thống Địa đạo Củ Chi, Ðịa đạo Bến Dược
là căn cứ của Khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu Sài Gòn – Gia Ðịnh Ðây là một công trình kiến trúc độc đáo, là hệ thống đuờng hầm nằm sâu trong lòng dất, có nhiều tầng hầm, nhiều ngõ ngách như mạng nhện dài trên 200km, có nơi ăn, ở, hội họp và chiến đấu
Bên cạnh Củ Chi, Căn cứ Chiến khu Đ (Tây Ninh) cũng là một điểm đến hấp dẫn của du khách Thực tiễn, trong nhiều năm qua, loại hình du lịch về nguồn đã và đang phát triển theo chiều hướng tích cực trong hoạt động du lịch
và đã đem lại những thành quả đáng ghi nhận cho tỉnh Tây Ninh Hệ thống di tích được đầu tư tôn tạo, nâng cấp, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch được cải thiện, các dịch vụ du lịch ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của du khách, lượng khách du lịch nội địa gia tăng, buớc đầu thu hút được khách quốc tế, góp phần nâng cao chất lượng đời sống của nguời dân ở những địa phương có di tích
Trong nhiều năm qua cũng như hiện nay, lượng khách du lịch về nguồn
trong nước đến với Tây Ninh chủ yếu là từ thị trường TPHCM và các tỉnh lân cận Khách đa phần là học sinh, sinh viên, cựu chiến binh hoặc cán bộ, công chức; các thành phần khác vẫn còn rất hạn chế Khách du lịch quốc tế chủ yếu đến từ thị trường Cam-pu-chia, Mỹ, vì ở vị trí gần và nhu cầu quay trở lại những địa điểm có mối liên hệ với cuộc chiến tranh Việt Nam – Mỹ Mặc dù vị thế của loại hình du lịch này được đánh giá cao trong ngành du lịch tỉnh, nhung việc khai thác lợi thế phát triển du lịch về nguồn tại các di tích lịch sử - văn hóa còn rất hạn chế
Di tích đặc biệt Căn cứ Trung ương Cục miền Nam: Căn cứ Trung ương Cục miền Nam là cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam trong suốt cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc Hầu hết khách du lịch về nguồn đến với Tây Ninh đều có nhu cầu đến địa điểm này Tuy nhiên, do sự hạn chế về cơ sở hạ
Trang 29tầng cũng như thiếu các điểm vui chơi, giải trí nên du khách đến đây thuờng đi
về trong ngày cũng như chi tiêu khá ít
Theo uớc tính của Phòng quản lí và khai thác di tích, tuy mỗi năm có đến hàng chục nghìn khách du lịch trong nuớc và kể cả khách quốc tế đến với di tích, nhưng việc khai thác di tích phục vụ mục đích kinh tế chưa đặt ở vị trí quan trọng, doanh thu từ bán sản phẩm du lịch hàng năm còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng
Căn cứ Trung ương Cục miền Nam cùng với núi Bà Ðen là hai trong số những di tích ở Tây Ninh đang được khai thác chủ yếu cho loại hình du lịch về nguồn Trong những năm qua, lượng khách đến có xu huớng tăng (cả số lượng
và thành phần), nhưng doanh thu còn rất khiêm tốn, đặc biệt là di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam Nguyên nhân của tình trạng trên là do lãnh đạo địa phương, ngành chưa xem Trung ương Cục như là một điểm du lịch cần đầu tư lớn, nên mới chỉ đầu tư ban đầu hoặc tôn tạo, phục dựng lại một phần để tuởng niệm, ghi lại dấu ấn xua, chưa chú trọng đến vấn đề tạo sức thu hút du khách, giữ chân du khách; vì vậy, lượng khách quay lại các điểm du lịch, các điểm vui chơi, giải trí, sử dụng các dịch vụ du lịch còn ít
Nhìn vào thực trạng phát triển du lịch nói chung và loại hình du lịch về nguồn nói riêng ở Tây Ninh trong những năm qua, có thể thấy số lượng các diểm dịch vụ du lịch, các điểm vui choi, giải trí đi kèm còn khá ít, phần lớn những
“địa chỉ đỏ” mới đang ở dạng đầu tư ban đầu hoặc chỉ ở dạng tiềm năng
Có thể thấy, loại hình du lịch về nguồn ở Tây Ninh bên cạnh vấn đề chất luợng sản phẩm du lịch và dịch vụ chưa cao thì hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch ở địa phương cũng chưa hiệu quả, nhất là đối với các thị truờng quốc tế Ðây
là nguyên nhân dẫn dến việc lượng khách nuớc ngoài đến những địa danh này rất thấp, chỉ chiếm khoảng 1% so với lượng du khách đến đây trong cả năm Các đề
án tiếp thị, giới thiệu điểm đến, xác định thị truờng, dòng khách gần như chưa
có Khách du lịch về nguồn chủ yếu xuất phát từ nhu cầu cá nhân và các tổ chức đoàn thể với mục đích thăm lại chiến truờng xưa, tuởng nhớ đồng đội hay giáo dục thế hệ trẻ
Trang 302.2 Thực trạng phát triển du lịch tại Căn cứ địa K20 hiện nay
Đất nước thống nhất, nhân dân Đa Mặn, Mĩ Thị, Bà Đa bắt tay xây dựng cuộc sống mới, cùng cả nước phấn đấu đi lên chủ nghĩa xã hội Chuyện của một thời là mảnh đất anh hùng đánh giặc, kiên trinh với cách mạng đã dần lùi vào quá khứ Cũng vì thế, những di tích ở K20 ít được sự quan tâm gìn giữ, bảo vệ Căn cứ K20 là di tích lịch sử cấp quốc gia, khu căn cứ cách mạng là di tích sống động về lịch sử hào hùng một thời của nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng Được coi là điểm đến mới của du lịch về nguồn, nhưng đến nay điểm đến này vẫn còn
bỏ ngỏ
Đa Mặn, Mĩ Thị, Bà Đa, cũng như nhiều địa phương khác ở miền Trung, thường xuyên hàng năm phải đối mặt với các trận mưa bão, lũ lụt lớn Sự khắc nghiệt của khí hậu, thủy văn trở thành một trong những tác nhân gây ảnh hưởng quan trọng đến sự tồn tại của các di tích Nhiều căn hầm bí mật, nhiều căn nhà của các gia đình từng là cơ sở cách mạng đã lần lượt bị sụt lún, vùi lấp và ngã
đổ, không còn giữ được dấu tích lịch sử
Sự phát triển của lịch sử - xã hội đất nước nói chung, Đà Nẵng nói riêng kéo theo sự thay đổi cuộc sống, diện mạo của vùng đất K20 Từ sau giải phóng năm 1975 đến nay, rất nhiều khu vườn, mảnh đất của các gia đình ở đây đã bị chia tách, thay đổi chủ sở hữu Số người nhập cư vào đây càng đông và ngược lại, người dân bản địa thay đổi chỗ ở, đi định cư nơi khác cũng rất đáng kể Mặt khác, hàng loạt các gia đình đã tiến hành thay đổi kiến trúc, kết cấu nhà ở sinh hoạt của mình để phù hợp với sự phát triển Vấn đề quan trọng nữa là quá trình
đô thị hóa mạnh ở Đà Nẵng diễn ra trong vài thập niên gần đây, cũng có những
tác động nhất định
Tất cả các yếu tố trên đều đã gây ảnh hưởng lớn, trực tiếp đến quá trình tồn tại của hệ thống các di tích thuộc căn cứ cách mạng K20 Vì thế, hiện nay chỉ còn 6 địa điểm bảo lưu tốt nhất những dấu tích lịch sử của Khu căn cứ và 4 trong
số đó được xếp hạng di tích, đó là nhà ông Huỳnh Phiên (Vấn), nhà thờ Bà Nhiêu, nhà thờ tộc Huỳnh và nhà ông Huỳnh Trưng
Trang 312.2.1 Một số tài nguyên được đưa vào phát triển du lịch
2.2.1.1 Nhà truyền thống K20
Chính quyền và nhân dân địa phương đã xây dựng được Nhà truyền thống K20 - nơi lưu giữ và trưng bày nhiều bút tích, tài liệu, hiện vật có giá trị - là những trang sử sống động phản ánh rõ nét truyền thống cách mạng anh hùng của nhân dân K20 nói riêng và nhân dân Đà Nẵng nói chung Nơi đây vẫn còn lưu giữ các loại phương tiện và vũ khí được nhân dân và cán bộ K20 dùng để đào hầm bí mật và chiến đấu Những địa chỉ đỏ, hầm bí mật, chiến hào xưa đang được vào các chương trình tham quan, giáo dục truyền thống Mỗi hiện vật, mỗi
sự tích đều gắn liền những con người có thật, trong đó có người đang còn sống,
đang xây dựng cuộc sống mới ngay tại mảnh đất lịch sử này
2.2.1.2 Nhà ông Huỳnh Phiên (Huỳnh Vấn)
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhà ông Huỳnh Vấn là địa điểm để tuyên truyền, sinh hoạt chính trị của cán bộ cách mạng cơ sở và quần chúng nhân
dân địa phương
Lúc bấy giờ, thân sinh của ông Huỳnh Vấn là ông Huỳnh Miên, một ông
“đồ làng” có kiến thức về nho, y, lý, số Tại nhà, ông mở một quầy thuốc bắc để
phục vụ khám chữa bệnh cho bà con dân làng Ông rất được nhân dân trong vùng tôn trọng Sẵn có tinh thần yêu nước, căm ghét giặc Pháp nên khi được cán
bộ tuyên truyền, vận động, ngôi nhà của ông trở thành một trong những cơ sở của cách mạng Thông qua hình thức khám bệnh, bốc thuốc, các tổ chức nông hội, nông đoàn, các cụ lão thành có tâm huyết với cách mạng đã tổ chức hội họp
để tuyên truyền, làm ca dao, hò vè ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh, nêu cao tinh thần đánh giặc, cứu nước; các cán bộ cơ sở của ta cũng thường xuyên lui tới, hòa vào quần chúng để trao đổi, sinh hoạt và móc nối liên
lạc với nhau, tim cách để phát triển thêm cơ sở mới
Đồng thời, tại đây cũng là nơi mở các lớp học bình dân học vụ, xóa mù chữ cho quần chúng mà giáo viên chính là chủ nhà – ông Huỳnh Miên
Trang 32Từ năm 1954, ông Huỳnh Vấn tham gia tổ du kích mật (tổ “tam tam”) của
Nước Mặn do Chi bộ Nước Mặn (A2) xây dựng và trực tiếp chỉ đạo Vì thế một
số cán bộ hoạt động bất hợp pháp ở Đa Mặn, Mĩ Thị, Bà Đa vẫn thường lui tới nhà ông Huỳnh Vấn để sinh hoạt và hội họp
Từ năm 1968, ông Huỳnh Vấn được ta cài vào trong bộ máy cai trị ở cơ sở của ngụy, với chức vụ Trưởng ấp (cho đến cuối năm 1974) Từ đây căn nhà ông ngày càng là cơ sở quan trọng Đây được chọn là một trong những điểm gặp gỡ
và hội bàn của nhiều cán bộ trong quá trình đứng chân hoạt động tại K20
Các đồng chí trong Quận ủy quận III như: Lê Quý, Bồn Thông (tức Hồ Trương) đã có một thời gian sử dụng nhà ông Huỳnh Vấn để chỉ đạo phong trào Lực lượng an ninh vũ trang quận III cũng đóng quân tại đây như các đồng chí Trưởng Ban an ninh: Đặng Hồng Vân, Văn Thành Công, cán bộ an ninh quận III như đồng chí: Trần Công Dũng, Mai Xuân Thu,… Nhà ông Huỳnh Vấn cũng là nơi sinh hoạt, hội họp của thanh niên, du kích địa phương trong suốt thời gian từ năm 1968 đến năm 1974 Các đồng chí lãnh đạo Đoàn đã từng ở tại đây để chỉ đạo phong trào Đoàn, học sinh, thanh niên trong quận cũng như tại K20, như đồng chí Trần Xuân Tiến, Bí thư Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng quận III
Vì có ông Huỳnh Vấn là cơ sở nội tuyến an toàn, mặt khác, nhà ông ở ngay điểm kết thúc của con đường độc đạo từ xóm Cát vào xóm Đồng (nhà thờ tộc Nguyễn Văn ở điểm đầu), nên cùng với nhà thờ tộc Nguyễn là điểm bảo vệ vòng ngoài, nhà ông Huỳnh Vấn là chốt điểm bảo vệ vòng 2 rất quan trọng cho toàn
bộ mạng lưới cơ sở bên trong Ở đây, liên tục từ năm 1968 đến 1974, ban đêm luôn có lực lượng du kích hoặc cơ sở của ta trong lực lượng phòng vệ dân sự ngụy đến làm nhiệm vụ tuần tra, canh gác
Cùng với tính chất như trên nên căn nhà ông còn là nơi dừng chân tạm thời của cán bộ, chiến sĩ từ ngoài thâm nhập vào K20 trước khi chuyển đến các cơ sở khác và ngược lại, từ các nơi khác về K20, qua xóm Đồng để chuyển lên hậu cứ Các đồng chí Hồ Nghinh, Trần Thận – Phó Bí thư Đặc Khu ủy Quảng Đà khi về K20 những ngày tết Mậu Thân, sau khi được đón tại nhà ông Huỳnh Trưng và
Trang 33sinh hoạt ở các cơ sở khác, thì cũng thông qua nhà ông Huỳnh Vấn để vào xóm Cát, Mĩ Thị, Bà Đa và thâm nhập vào trung tâm thành phố
Như vậy, có thể nói rằng trong suốt hai cuộc kháng chiến, đặc biệt là thời
kỳ chống Mỹ, nhà ông Huỳnh Vấn là một cơ sở hợp pháp rất quan trọng của Khu Căn cứ cách mạng K20
Nhà ông Huỳnh Vấn từ lúc xây dựng đến nay không có những sửa chữa gì lớn; diện tích mặt bằng không có gì thay đổi Từ năm 2000, để tiện cho việc ăn ở sinh hoạt của ông bà, đồng thời trước nhu cầu cần có một địa điểm riêng để thờ cúng gia tiên, ông bà Huỳnh Vấn đã chuyển về ở cùng con cháu tại xóm Đa Phước (xóm Cát), dành ngôi nhà của mình làm nơi thờ tự Cũng vì thế ngôi nhà của ông càng được ông và đại gia đình giữ gìn nghiêm cẩn, rất khang trang, bền vững
2.2.1.3 Nhà thờ Bà Nhiêu
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, từ năm 1946 đến năm 1954, nhà thờ
Bà Nhiêu là địa điểm làm việc và hội họp thường xuyên của Chi bộ xã An Bắc (Chi bộ Đặng Tuyến) và Khu ủy khu Đông – Đà Nẵng, như các đồng chí Trần Viết Thăng, Nguyễn Luận, Huỳnh Kim Bảng, Nguyễn Tùy, Nguyễn Đẩu, Nguyễn Hữu Hề, Nguyễn Đấu, Nguyễn Thi, Đặng Sự, Trần Văn Hoa, Trần Văn Huyền Có thể nói rằng, trong thời kỳ này nhà thờ Bà Nhiêu là một trung tâm
lãnh đạo của cách mạng địa phương
Cuối năm 1962, sau các hầm bí mật ở nhà Bà Hải, nhà ông Hồ Như, nhà ông Hồ Nhàn,… Ban cán sự Đà Nẵng quyết định đào hầm bí mật tại nhà thờ Bà Nhiêu Lúc bấy giờ chỉ đào một hầm ở dưới nền nhà thờ, kích thước hầm là: dài 4m, rộng 2m và cao hơn 1m; các mặt chung quanh xây bờ lô, còn mặt trên được kết các tấm bê tông đã được đúc sẵn Tiếp tục những năm 1963 đến 1968, trước đòi hỏi của tình hình mới, đặc biệt là để chuẩn bị cho cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đã có 5 căn hầm nữa được xây dựng dưới lòng đất, tại các vị trí: góc trước sân nhà, sau vườn, dưới các bàn thờ còn lại và trong nhà bếp Những căn hầm này về cơ bản vẫn giống kiến thức, kết cấu như căn hầm đã
Trang 34xây dựng năm 1962 Riêng có một hầm ở phía sau vườn có kích thước lớn hơn,
rộng 2m, cao hơn 1m và dài đến 6m
Với địa thế nằm lọt giữa xóm Đồng, chung quanh đều là các gia đình cơ sở cách mạng, lại có số lượng hầm bí mật nhiều nhất, quy mô lớn và bền vững nên trong suốt thời gian từ năm 1963 đến ngày giải phóng (29 tháng 3 năm 1975),
nhà thờ Bà Nhiêu là địa điểm quan trọng nhất ở K20
Đây là trung tâm, là cơ quan làm việc của Khu ủy khu Đông rồi Quận ủy quận III (từ cuối năm 1964) – Đà Nẵng Hầu hết các đồng chí trong Ban Thường
vụ, trong đó, các đồng chí Bí thư qua các thời kỳ đều đã từng đến ở sinh hoạt và làm việc tại nhà thờ Bà Nhiêu Cũng chính vì thế từ sau năm 1964, các đồng chí trong Thành ủy Đà Nẵng, Đặc Khu ủy Quảng Đà (từ cuối năm 1967) như Nguyễn Duy Hưng, Đặng Trung Kiên cũng thường xuyên lui tới đây để trực tiếp trao đổi công việc cùng Quận ủy quận III và chỉ đạo công tác đấu tranh cách
mạng cho tập thể Quận ủy
Mặt khác, nhà thờ Bà Nhiêu trở thành đầu mối tiếp nhận các bức mật điện
từ phía lãnh đạo cấp trên chuyển vào từ vùng hậu cứ; đồng thời, là nơi chuyển tiếp các tài liệu mật vào nội thành thông qua hệ thống cơ sở Vào những ngày tháng 3 lịch sử (năm 1975), trong không khí sôi sục của cách mạng miền Nam, thành phố Đà Nẵng, tại nhà thờ Bà Nhiêu, Quận ủy quận III liên tục nhận được các mật điện của Đặc Khu ủy Quảng Đà chỉ đạo phải nắm chắc tình hình, kịp thời hình thành các ban khởi nghĩa trên toàn địa bàn quận, huy động đến mức tối
đa lực lượng tại chỗ cùng nhân dân toàn thành phố nổi dậy giải phóng quê
hương
Là trung tâm làm việc của Quận ủy nên tại đây, qua các cuộc bàn thảo, các hội nghị quan trọng, những chỉ đạo của Quận ủy về phong trào cách mạng quận III đã được hình thành và truyền đi khắp cán bộ, đảng viên, lực lượng cách mạng
cơ sở, có tác dụng quyết định thúc đẩy sự phát triển phong trào cách mạng địa
phương
Trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, nhà thờ Bà Nhiêu đã thể hiện vai trò nổi bật trong hệ thống cơ sở Khu Căn cứ K20 Tại đây,
Trang 35ngày 29 tháng 1 năm 1968, Quận ủy quận III đã tổ chức Hội nghị Quận ủy, dưới
sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Hữu Nì (Năm Thông), Thường vụ Đặc Khu ủy Quảng Đà, Bí thư Quận ủy Đồng chí Năm Thông đã kiểm tra công tác chuẩn bị
ở các cánh về thực lực chính trị, vũ trang, về việc chuyển vũ khí, tài liệu và truyền đạt mệnh lệnh Tổng tiến công và nổi dậy; phân công các đồng chí trong Quận ủy tiếp tục về địa bàn cơ sở để trực tiếp chỉ đạo phong trào Sau hội nghị, mọi công tác chuẩn bị được gấp rút hoàn tất, các cán bộ được phân công lãnh đạo địa bàn đã nhanh chóng rời K20 về đứng chân an toàn tại các cơ sở trong
quận
Trước đó, trên đường từ căn cứ miền tây Quảng Nam về Đà Nẵng để tăng cường công tác chỉ đạo cho Chiến dịch Mậu Thân tại thành phố, các đồng chí Hồ Nghinh, Trần Thận đã được cơ sở dẫn đường về dừng chân tại K20 Tại đây, các đồng chí đã được nhân dân bảo vệ, che giấu tại một số cơ sở, trong đó có nhà thờ
Bà Nhiêu Đến ngày 30 Tết, cơ sở hợp pháp của ta đã đưa đồng chí vào nội
thành (quận I) một cách an toàn
Như đã trình bày, nhà thờ Bà Nhiêu có căn hầm bí mật lớn sau vườn nhà, mục đích là để dành riêng cho việc chăm sóc y tế cho các cán bộ, đồng chí bị thương trong quá trình hoạt động cách mạng Chính đây, riêng trong Tết Mậu Thân, đã có hàng chục lượt cán bộ, chiến sĩ được cứu chữa vết thương, chăm sóc
sức khỏe đến khi bình phục để trở về hậu cứ
Trong suốt quá trình tồn tại, nhà thờ Bà Nhiêu là một trong những cơ sở vững chắc nhất, an toàn nhất ở khu căn cứ cách mạng K20, nó đã đóng góp một phần quan trọng vào vai trò to lớn của khu căn cứ trong sự nghiệp cách mạng
giải phóng dân tộc của quận III nói riêng và Đà Nẵng nói chung
Nhà thờ Bà Nhiêu nguyên là nhà ở sinh hoạt của gia đình bà Nhiêu cùng chồng là ông Nguyễn Văn Trị, được dựng vào năm Ất Sửu, Khải Định thứ 10 (1925) Lúc bấy giờ ông Trị giữ một chức võ quan cấp thấp của triều đình Đến khoảng giữa thập niên 30 của thế kỷ 20, vợ chồng ông Trị bà Nhiêu mất, do vô
tự nên con cháu cùng chi phái của ông Trị trực tiếp quản lý căn nhà, đồng thời chuyển căn nhà thành nhà thờ phái và vợ chồng bà Nhiêu Trong thời kỳ kháng