Toyota có thể hiểu được hậu quả đó hơn ai hết khi đánh mất vị thế thống trị thế giới vào tay GM và Volkswagen vào năm 2011 vì cuộc khủng hoảng chất lượng, làm sói mòn niềm tin của người
Trang 1Chương 1:
Cơ hội và lợi thế hoạt động của TOYOTA
1 Môi trường vĩ mô:
- Môi trường kinh tế:
Mức tiêu thụ ô tô qua các năm theo số liệu của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA):
* Năm 2013: 110.519 xe (tăng 19% so với năm 2012)
* Năm 2014: 157.800 (tăng 43% so với năm 2013)
* Năm 2015: 144.674 (Số liệu đến hết tháng 9/2015, tăng 32% so với cùng kỳ 2014)
THỊ TRƯỜNG Ô TÔ NHIỀU TIỀM NĂNG VÀ VẪN CHƯA BẢO HÒA ĐÂY LÀ CƠ HỘI TỐT CHO TOYOTA TẠI VIỆT NAM
- Lương, thu nhập:
Chi phí nhân công rẻ, làm giảm chi phí sản xuất, giá thành giảm, góp phần làm tăng lợi nhuận
Đây là lợi thế chung cho tất cả các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam nói chung, không riêng gì Toyota
- Lạm phát:
* Tình hình lạm phát ở Việt Nam qua các năm không ổn định Tuy nhiên từ năm 2012, nhà nước đẩy mạnh các chính sách kiềm chế lạm phát Năm 2014, lạm phát thấp ở mức kỉ lục 1.84%
* Lạm phát được kiềm chế và giữ ở mức ổn định trong các năm qua tạo cơ hội tốt cho các doanh nghiệp bán hàng hóa cho người tiêu dùng
- Lãi suất ngân hàng:
* Đối với Toyota: Lãi suất cho vay trong thời gian qua càng ngày càng giảm Là cơ hội tốt để Toyota vay vốn để mở rộng sản xuất nếu có nhu cầu
- Môi trường khoa học kỹ thuật công nghệ:
* Toyota Việt Nam đã có sẵn các công nghệ ô tô từ Toyota Nhật Bản Đây là cơ hội cho Toyota sử dụng tại Việt Nam
- Môi trường chính trị :
Môi trường chính trị tương đối ổn định trong thời gian qua giúp Toyota có cơ hội phát triển lâu dài tại Việt Nam
- Môi trường văn hóa – xã hội:
• Dân số, dân tộc
* Dân số đông (90.4 triệu người năm 2014) dẫn đến nhu cầu tiêu dùng đòi hỏi phải cao cấp hơn Tỉ lệ tiêu dùng trên thu nhập cao Toyota có 1 lượng lớn đối tượng để hướng đến
Trang 2* Nhu cầu đi lại của người dân phong phú Các loại xe từ 7 chỗ ngồi trở lên được các doanh nghiệp vận tải ưa chuộng
* Chuộng hàng Nhật
* Thích có ô tô
* Đây là thuận lợi lớn đối với công ty ô tô có nguồn gốc từ Nhật Bản như Toyota
• Hôn nhân và gia đình
Một gia đình thường có từ 3 đến 4 người Việc sử dụng ô tô để đi chung sẽ thuận tiện hơn
- Môi trường thiên nhiên:
* Nhiều tài nguyên thiên thiên hỗ trợ tuy nhiên ngành công nghiệp cơ khí chưa phát triển mạnh
* Khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều có lợi cho ngành kinh doanh ô tô
2 Môi trường vi mô:
- Các yếu tố bên ngoài:
• Đối thủ cạnh tranh:
Đối thủ cạnh tranh trực tiếp:
Thế giới nhìn chung đối thủ cạnh tranh của Toyota gồm rất nhiều hãng xe như: Ford, GM, Huyndai, Honda, Mazda…
Riêng với thị trường xe trong nước nổi bật 2 dòng sản phẩm chính là xe thương mại và xe du lịch.Về dòng
xe thương mại với các sản phẩm xe tải và xe buýt vẫn đang được kiểm soát bởi Trường Hải (THACO).Về dòng xe du lịch thì Toyota Việt Nam vẫn dẫn đầu nhưng chịu áp lực rất lớn từ Trường Hải (THACO) Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn:
Với Toyota Việt Nam, các hãng ô tô nhập khẩu khác có tiềm năng cạnh tranh rất lớn
• Sản phẩm thay thế:
Hiện nay, ô tô vẫn là một mặt hàng khá xa xỉ đối với đại bộ phận dân số Việt Nam Xe máy và các phương tiện khác là những sản phẩm thay thế rất tốt cho ô tô Tuy nhiên, Toyota cũng như các hãng ô tô khác tại Việt Nam không chịu nhiều áp lực từ các sản phẩm thay thế do giá ô tô vẫn rất cao, lợi nhuận hoàn toàn được đảm bảo
• Nhà cung ứng:
Bên cạnh không ngừng kêu gọi các nhà cung ứng nội địa, Toyota Việt Nam luôn kêu gọi các nhà cung cấp của Toyota tại nước ngoài đầu tư tại Việt Nam để hương tới việc mở rộng và phát triển mạng lưới nhà cung cấp tại Việt Nam
Trang 3Tính đến nay, Toyota Việt nam đã có 18 nhà cung cấp phụ tùng ô tô, cung cấp 313 linh kiện cho cả sản xuất trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài
• Khách hàng:
Yếu tố đầu tiên giúp Toyota gây dựng được đó chính là chất lượng Có thể nói, chất lượng mà những dòng xe Toyoata mang lại luôn luôn là số một Đây chính là điểm mấu chốt tạo nên sự thành công khiến các phiên bản xe hơi mang tên Toyota từ bình dân như Toyota Vios, Altis cho đến cao cấp như Toyota 86, Camry, Toyota Fortuner 2015 hay dòng xe dành cho gia đình như Innova,… vẫn luôn là sự lựa chọn ưu tiên khi khách hàng có nhu cầu sắm xe, tậu xế Nhật Bản luôn là quốc gia đề cao tính cầu và thương hiệu Toyota cũng không ngoại lệ, do đó trong sản xuất người ta vẫn ưu tiên lựa chọn những nguyên vật liệu
có chất lượng cao nhất, máy móc thiết bị tốt nhất, để có thể cung ứng ra thị trường những sản phẩm tốt nhất về chất lượng
Thiết kế ấn tượng, bắt kịp xu hướng thời đại chính là tố thứ 2 giúp các dòng xe Toyota tạo nên tên tuổi
So với tất cả những đối thủ “khét tiếng” thì thiết kế tổng thể từ nội thất đến ngoại thất của các dòng Toyota hoàn toàn không có điểm kém cạnh
Mỗi một dòng xế mang tên Toyota được chào bán ra thị trường đều có thiết kế ngoài ấn tượng, bắt mắt
và nội thất thì không kém phần sang trọng, tiện nghi, hiện đại,…Bởi vậy, dù chọn dòng xe cao cấp hay xe bình dân thì người dùng vẫn không lo lắng về vấn đề “tụt hậu”
Giá bán xe ổn định và độ giữ giá chính là yếu tố quan trọng gúp Toyota tạo nên được lợi thế cạnh tranh Các chuyên gia nhận định rằng, trong thời buổi kinh tế còn nhiều khó khăn như hiện nay thì Toyota luôn biết nắm bắt xu thế thời đại để thừ đó thực hiện chính sách điều chỉnh giá để phù hợp nhất với thị trường tiêu dùng Bởi lẽ đó, giá bán của các dòng xe mang thương hiệu xe hơi danh tiếng Nhật Bản dù là bình dân hay cao cấp như Toyota Camry 2015 luôn luôn được đánh giá là ưu đãi hơn so với đối thủ Hơn nữa xét về mức độ giữ giá thì rõ ràng chưa có một thương hiệu nào có thể vượt qua mặt của hãng Toyota
Trong tình hình giá xăng dầu thế giới đang leo thang, khách hàng sử dụng xe có xu hướng tiêu dùng những sản phẩm tiết kiệm xăng dầu hoặc nguồn năng lượng sạch, Toyota đang theo đuổi dự án chế tạo
xe chạy bằng khí ga và hydro bằng cách áp dụng những thành tựu và kỹ thuật tân tiến của thế giới và kết quả của hoạt động R&D Trong khi khách hàng đang tìm kiếm nguồn thay thế dầu thì đây quả là một dự
án béo bở cho công ty
Hiện nay ở rất nhiều quốc gia nơi nhu cầu về xe là lớn nhưng nguồn cung vẫn còn hạn chế Toyota có thể
mở rộng thị trường ra các quốc gia này Chế tạo thêm xe đáp ứng các yêu cầu của điều kiện, địa lý, mở rộng khách hàng mục tiêu ra các giới trẻ hiện đại cũng là những cơ hội giúp Toyota nâng cao thị phần của mình
IV Những thách thức cho sản xuất ô tô:
Thuế giảm, xe nhập khẩu ồ ạt Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, 3 tháng đầu năm 2017, lượng ô tô nhập khẩu có xuất xứ từ các quốc gia ASEAN là 14.460 chiếc, tăng 67,6% so với cùng kỳ năm 2016 Vì vậy, mới đây, tại Báo cáo “Đánh giá ngành sản xuất, lắp ráp ô tô Việt Nam và các giải pháp phát triển”, Bộ Công Thương đã chỉ ra nhiều khó khăn mà ngành công nghiệp ô tô phải đối mặt Cụ thể, khi hiệp định
Trang 4thương mại hàng hóa ASEAN (AFTA) có hiệu lực hoàn toàn vào năm 2018, các sản phẩm ô tô nguyên chiếc (CBU) nhập khẩu từ ASEAN sẽ được nhập khẩu về Việt Nam với giá cả rất cạnh tranh
Trong khi đó, với dự báo nhu cầu ô tô của nước ta năm 2025 theo phương án trung bình khoảng 800-900 nghìn xe và năm 2030 khoảng 1,5-1,8 triệu xe, Bộ Công Thương cho rằng nếu không phát triển ngành sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước: toàn bộ thị trường xe con là xe nhập khẩu; xe khách và xe tải nhập khẩu 50% Điều đó có nghĩa 50% sản xuất trong nước với tỷ lệ nội địa hoá 50%, kim ngạch nhập khẩu năm
2025 dự kiến khoảng 12 tỷ USD và năm 2030 là 21 tỷ USD
Ngoài những cơ hội phát triển thì Toyota cũng đối mặt với những thách thức hết sức đáng quan tâm Hiện nay thị trường ô tô đang tồn tại rất nhiều các nhà sản xuất ô tô danh tiếng cùng với những dòng xe chất lượng Các công ty đều bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinhtế toàn cầu tuy nhiên kích cầu của chính phủ các nước cùng thực hiện chính sách “đổi ô tô cũ lấy ô tô mới” của các nhà sản xuất làm cho thị trường ô tô vẫn không kém hấp dẫn Là một hãng xe đi theo xu hướng “bình dân” thì Toyota cần có những giải pháp, đổi mới nổi bật để bảo vệ thị phần của mình trước tình hình hiện tại Việt Nam phương tiện chủ yếu là xe gắn máy.Vì vậy, sự phát triển của các sản phẩm cạnh tranh thay thế là một thách thức đáng lưu tâm với Toyota Ngoài ra, thách thức mà Toyota và một số hãng sản xuất xe cũng đang phải đối mặt đó là sản phẩm xe gặp lỗi kĩ thuật, và điều này có thể ảnh hưởng rất lớn đến uy tín cũng như thị phần, tình hình kinh doanh Toyota có thể hiểu được hậu quả đó hơn ai hết khi đánh mất vị thế thống trị thế giới vào tay GM và Volkswagen vào năm 2011 vì cuộc khủng hoảng chất lượng, làm sói mòn niềm tin của người tiêu dùng (vốn là sức sống và là niềm tự hào của Toyota)
Thực trạng của Toyota tại thị trường Việt Nam: Thu hút các nhà cung cấp phụ tùng nước ngoài đầu tư vào Việt Nam khi mà quy mô thị trường còn nhỏ bé và chỉ rất ít nhà cung cấp nội địa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng là một trong những thách thức khó khăn nhất mà Toyota phải đối mặt để gia tăng nội địa hóa trong 20 năm hoạt động ở Việt Nam Ở thời điểm 1997, quy mô thị trường chỉ ở mức 6.000 xe mỗi năm, Toyota nắm 22% thị phần tức khoảng 1.200 xe, mỗi ngày chỉ từ 3-4 xe Trải qua những khó khăn bước đầu, TMV đã cố gắng và vươn lên để đạt những thành quả nhất định Trong số các nhà sản xuất ôtô tại Việt Nam, Toyota có tỷ lệ nội địa hóa cao nhất từ 19 – 37%, đặc biệt đạt 37% đối với dòng xe Innova, theo phương pháp xác định giá trị của ASEAN Đến năm 2015, tổng số sản phẩm nội địa hóa của TMV cho tất cả các dòng xe đã lên tới trên 270 sản phẩm các loại Bên cạnh đó, TMV còn là doanh nghiệp tiên phong trong xuất khẩu phụ tùng ô tô với sự ra đời của Trung tâm xuất khẩu phụ tùng Toyota vào năm 2004, cho đến nay, sau 11 năm, TMV xuất khẩu phụ tùng tới 14 vùng thuộc 13 quốc gia với kim ngạch trung bình khoảng 30 triệu USD mỗi năm Trong năm 2015, con số này đã vượt qua số 45 triệu đô
la Mỹ
Chương 2:Rủi ro và cách thức quản trị rủi ro của MNCs
.Thực trạng HSBC
Rủi ro tỷ giá, rủi ro giao dịch tài chính
Cuộc khảo sát do HSBC và FT Remark thực hiện cho thấy hơn một nửa các CFO tin rằng rủi ro biến động
tỉ giá là loại rủi ro mà doanh nghiệp của họ ít có sự chuẩn bị để đối phó nhất Những quan ngại này phản ánh mức độ biến động ngày càng tăng của các loại tiền tệ trong bối cảnh triển vọng về địa chính trị và kinh tế vĩ mô thiếu ổn định Môi trường lãi suất thay đổi tại nhiều quốc gia cũng tác động lên lợi nhuận của doanh nghiệp với 60% các CFO cho rằng công ty của họ bị ảnh hưởng, và 70% các CFO tại châu Mỹ
Trang 5cho rằng công ty của họ bị ảnh hưởng khi lãi suất tăng Tuy nhiên, gần một nửa các CFO cho biết rủi ro lãi suất là loại rủi ro họ có thể kiểm soát tốt
“Khảo sát này cho thấy việc các doanh nghiệp có sẵn một cơ cấu kiểm soát rủi ro hiệu quả là hết sức quan trọng khi mà việc thiếu chuẩn bị có thể mang lại các rủi ro về tài chính, đặc biệt trong bối cảnh sự bất ổn ngày càng tăng trên thế giới,” Frederic Boillereau, Giám đốc Toàn cầu Khối Kinh doanh Ngoại hối
và Hàng hóa kiêm Giám đốc Toàn cầu Khối các dịch vụ ngoại hối và quan hệ khách hàng tại HSBC cho biết
-Đối với câu chuyện tỷ giá - lãi suất trong nước, theo ông Ngô Đăng Khoa - Giám đốc khối nguồn vốn và kinh doanh tiền tệ, HSBC Việt Nam, áp lực vẫn còn tồn tại khi Fed cho thấy lộ trình tăng lãi suất vẫn chưa kết thúc Áp lực này sẽ cộng hưởng hay giảm nhẹ còn phụ thuộc nhiều vào biến động của đồng Nhân dân
tệ (NDT) trong bối cảnh Trung Quốc là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, chiếm hơn 20% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của quốc gia và Việt Nam có thâm hụt thương mại lớn nhất với Trung Quốc
Vị chuyên gia từ HSBC nói rõ thêm, đồng NDT ổn định có thể giúp neo giữ sự ổn định chung của tỷ giá trong khu vực trong đó có đồng Việt Nam (VND), còn nếu ngược lại thì rủi ro tỷ giá là không thể tránh khỏi Ngoài ra, với việc Fed tiếp tục tăng lãi suất, rủi ro về dòng vốn đầu tư dịch chuyển, áp lực lạm phát,
cơ chế điều hành chính sách nhằm ổn định kinh tế vĩ mô sẽ trở nên thách thức hơn
Chính sách tiền tệ dần thắt chặt của Fed và đồng NDT yếu hơn sẽ tiếp tục là thách thức chính đối với VND trong ngắn hạn Tuy nhiên, đồng VND mất giá quá nhanh sẽ mang lại nhiều bất lợi về tính ổn định cho nền kinh tế Việt Nam như hiệu ứng lan tỏa lên kỳ vọng lạm phát, vốn đã và đang tiến nhanh đến mức mục tiêu 4% của Chính phủ; giảm triển vọng tái đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; kìm hãm niềm tin nhà đầu tư và dòng vốn FDI; cản trở quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước khi biến động VND ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán
Ngoài ra, việc Fed tăng lãi suất sẽ tác động tới các doanh nghiệp tại Việt Nam Ông Khoa giải thích, Fed tăng lãi suất đồng nghĩa với mặt bằng lãi suất trong đó có lãi suất cho vay tăng, kéo theo gia tăng chi phí vốn khiến lợi nhuận doanh nghiệp có thể chịu tác động trực tiếp
Tuy nhiên, nhìn theo hướng tích cực, với việc nền kinh tế số 1 thế giới là Mỹ tăng trưởng tích cực, nhu cầu đầu tư, chi tiêu tăng lên, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu Các doanh nghiệp Việt Nam vì thế cần tận dụng cơ hội này đẩy mạnh lợi thế cạnh tranh, bên cạnh việc sử dụng linh hoạt các công cụ phòng vệ rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh ít chịu ảnh hưởng bởi các biến động khó lường trong tương lai
Rủi ro tài chính
Rủi ro về tài chính công là rủi ro mà các MNC phải gánh chịu khi một đấy nước chi tiêu thâm hụt ngân sách Nó không chỉ ảnh hưởng đến các MNC nước sở tại mà còn ảnh hưởng rộng ra các MNC khác trong
hệ thống trên toàn thế giới Để tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách chính phủ phải đề ra các chính sách bảo trợ cho các doanh nghiệp nhà nước nhằm tăng doanh thu cho ngân sách nhà nước
Tuy nhiên, HSBC đánh giá tích cực về tình hình tài chính và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Song, ngân hàng này cũng chỉ ra những rủi ro trong thời gian tới về lạm phát và hoạt động xuất khẩu của Việt Nam Gần đây, nền kinh tế Việt Nam có nhiều yếu tố để tỏ ra vui mừng: Tăng trưởng vẫn mạnh, thị trường
Trang 6chứng khoán vẫn ổn định trước sự bất ổn từ các thị trường mới nổi và gần đây còn được Fitch Ratings nâng bậc tín nhiệm quốc gia Tuy nhiên, quan trọng hơn cả, Việt Nam đã kiểm soát tốt hơn nợ công, cụ thể tỷ lệ nợ công trên GDP giảm lần đầu tiên kể từ năm 2012 Đây là tín hiệu tích cực khi Việt Nam hy vọng sẽ tránh vượt ngưỡng giới hạn đi vay tự đặt ra là 65% GDP HSBC điều chỉnh giảm dự báo về tỷ lệ
nợ công/GDP trong năm nay và năm tới để phản ánh sự cải thiện tình hình tài chính của Việt Nam HSBC kỳ vọng tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam sẽ ở mức 61,4% vào năm 2019 (thể hiện ở biểu đồ 1) HSBC đưa ra dự báo này dựa trên giả định thâm hụt tài khóa là 4% GDP trong cả năm 2018 và 2019 – cao hơn mức thâm hụt mục tiêu của Chính phủ Việt Nam là 3,7% trong năm nay
Đáng chú ý, tình hình tài chính của Việt Nam thậm chí còn tốt hơn cả dự báo của HSBC (ít nhất là trong ngắn hạn) Tăng trưởng GDP của Việt Nam vẫn mạnh, ghi nhận tăng trưởng 7,4% trong quý 1/2018 và dễ dàng vượt qua dự báo trước đó
Rủi ro hoạt động
Theo ông Phạm Hồng Hải – CEO của HSBC, trong dài hạn, cuộc chơi giữa ngân hàng nội và ngoại sẽ có sự phân biệt rõ ràng Ngân hàng ngoại sẽ tiếp tục những thế mạnh về mạng lưới trong khu vực hoặc toàn cầu, các giải pháp tài chính và đầu tư mang tính quốc tế trong khi các ngân hàng nội sẽ tăng trưởng mạnh về quy mô và chủ động chiếm lĩnh thị trường trong nước
Trong 2 năm 2016-2017, đã có thêm 4 ngân hàng ngoại được cấp phép hoạt động tại Việt Nam, nâng số lượng lên 9 ngân hàng có 100% vốn nước ngoài
9 ngân hàng này bao gồm HSBC (Hồng Kong – Thượng Hải), ANZ (Australia), Standard Chartered (Anh), Shinhan (Hàn Quốc), Hong Leong (Malaysia), Public Bank Berhad (Malaysia), Woori (Hàn Quốc), CIMB (Malaysia) và UOB (Singapore)
Tính đến hết năm 2017, tổng tài sản của các ngân hàng liên doanh, nước ngoài tại Việt Nam là 954.165
tỷ đồng; vốn tự có đạt 141.838 tỷ đồng; vốn điều lệ là 109.656 tỷ đồng Trong khi các ngân hàng nội đang phải đau đầu với chuyện nhanh chóng tăng vốn để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tổi thiểu theo Hiệp ước Basel II thì ngân hàng ngoại lại khá thảnh thơi Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) của nhóm ngân hàng này
ở mức 29,11%, cao gấp 3 lần nhóm NHTM Nhà nước và 2,5 lần so với nhóm NHTM CP tư nhân Việt Theo số liệu đến cuối quý 3 năm 2017 (là số liệu mới nhất do NHNN cung cấp), tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) của nhóm NH liên doanh, nước ngoài đạt 0,74%, cao hơn so với các NHTM Nhà nước (0,46%) và NHTM CP (0,5%) Trong khi đó, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) của các NH liên doanh, nước ngoài là 4,57%, thấp hơn so với NHTM Nhà nước (9,06%) và NHTM Cổ phần (7,07%)
Cụ thể hơn về kết quả kinh doanh của từng ngân hàng thì lại không có nhiều thông tin như ngân hàng nội Hiện có HSBC, ANZ và Shinhan Bank là những nhà băng công bố BCTC định kỳ theo năm, song chủ yếu là báo cáo tóm tắt không có phần thuyết minh
HSBC là ngân hàng có sự hiện diện lâu đời nhất tại Việt Nam khi năm 1870 đã mở văn phòng đầu tiên tại Sài Gòn và được cho phép thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài năm 2008 Cuối năm 2017, tổng tài sản của HSBC Việt nam đạt trên 87 nghìn tỷ, tăng 2,4 lần sau 10 năm thành lập; vốn điều lệ được nâng từ 3.000 tỷ lên 7.528 tỷ
Trang 7HSBC Việt Nam cho biết lợi nhuận trước thuế năm 2017 đạt được là 2.232 tỷ đồng, tăng 24% so với năm
2016 Trong đó, tương tự như các NHTM Việt nguồn thu chính xuất phát từ hoạt động tín dụng; thu nhập lãi đóng góp 65% tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng Thu nhập ngoài lãi thường chiếm 30-35%, tỷ lệ này nhỉnh hơn một chút so với mặt bằng chung tại Việt Nam song vẫn còn thấp hơn nhiều so với tại nước ngoài (thường trên 60%)
Một ngân hàng ngoại nữa có lợi nhuận nghìn tỷ tại Việt Nam là ANZ Năm 2017, nhà băng này đạt 1.335
tỷ đồng, tăng đột biến 2,3 lần so với năm 2016 Tuy nhiên, phần lợi nhuận đột biến không đến từ hoạt động kinh doanh cốt lõi mà đến từ mục lãi từ hoạt động khác đạt 825 tỷ, gấp 59 lần cùng kỳ Nhiều khả năng chủ yếu do ghi nhận khoản lãi từ việc hoàn tất chuyển mảng ngân hàng bán lẻ cho Shinhan Bank cuối năm 2017
Ngoại trừ thu nhập lãi tiếp tục tăng trưởng 10% thì các hoạt động kinh doanh khác sụt giảm đáng kể so với năm trước đó Như hoạt động dịch vụ chỉ còn lãi 299 tỷ đồng, giảm 8%; kinh doanh ngoại hối đạt 198
tỷ, giảm 21%; mua bán chứng khoán kinh doanh và chứng khoán đầu tư đạt 60 tỷ, giảm 61% Theo BCTC, đến cuối năm 2017, ANZ sạch nợ quá hạn và nợ khó đòi tại ngân hàng
Trong làn sóng đổ bộ và tăng cường đầu tư đến từ các "đại gia" Hàn Quốc, Shinhan Bank thể hiện tham vọng của mình khi mua đứt mảng bán lẻ của ANZ tại Việt Nam, mục tiêu vươn lên top 3 kinh doanh thẻ tín dụng tại thị trường trong 3 năm tới Năm 2017, Shinhan Bank Việt Nam đạt được 1.617 tỷ đồng lãi trước thuế, tăng 24,6% so với năm 2016 Trong đó, thu nhập lãi thuần tăng 23,5% đạt 2.112 tỷ đồng; lãi
từ hoạt động dịch vụ tăng 17,7% đạt 213 tỷ,…Sau khi mua lại mảng bán lẻ của ANZ, tổng tài sản của ngân hàng này đạt trên 75 nghìn tỷ, tăng 37,6% so với năm 2016
Có thể thấy, so với nhiều ngân hàng Việt, lợi nhuận của 3 ngân hàng 100% vốn nước ngoài kể trên còn khá khiêm tốn Song so sánh một cách công bằng với những ngân hàng Việt có cùng quy mô tổng tài sản trên dưới 100 nghìn tỷ (BacABank, OCB, ) thì HSBC, ANZ, Shinhan đang vượt trội hơn
Thực tế mỗi một ngân hàng ngoại tham gia vào thị trường Việt Nam có hướng đi không nhất thiết giống nhau Như Shinhan Bank thể hiện tham vọng với thị trường thẻ tín dụng thì CIMB cho biết sẽ tập trung triển khai ngân hàng số đầu tiên tại Việt Nam vào tháng 1/2018 Còn UOB - ngân hàng gần đây nhất được cấp phép hoạt động - lại muốn hướng đến ngành công nghệ tài chính (fintech) tại Việt Nam thông qua chương trình FinLab, một liên doanh giữa UOB và SGInnovate
Việt Nam đang có tới 34 ngân hàng thương mại, áp đảo hoàn toàn các ngân hàng ngoại ở nhiều mặt về mạng lưới, thị phần cho vay, Tuy nhiên, lợi thế cạnh tranh của các ngân hàng ngoại chính là danh tiếng, kinh nghiệm cũng như quy mô và sức khỏe tài chính của các ngân hàng này Biểu hiện thấy rõ nhất là hệ
số CAR cao, chất lượng dịch vụ, khả năng bảo mật được đánh giá tốt hơn Điều này cũng sẽ tạo áp lực không nhỏ cho các ngân hàng nội khi mà thị trường ngày càng khó tính hơn, đòi hỏi nhiều về tín nhiệm, chất lượng dịch vụ và an toàn bảo mật trong giao dịch
Ông Phạm Hồng Hải cho rằng ngân hàng nội, không chỉ ở Việt Nam mà trong khu vực và trên thế giới, có nhiều ưu thế hơn các ngân hàng nước ngoài Nói về quy mô và thị phần, rõ ràng các ngân hàng nội có ưu thế hơn hẳn và chắc chắn là bên có khả năng chủ động và cầm trịch trong cuộc chơi
Trước đây ngân hàng nội không bằng ngân hàng ngoại khi xét về vốn, nguồn lực, công nghệ, con người, song điều đó đã thay đổi rất nhanh trong vài năm gần đây Các ngân hàng nội đã có nhiều thay đổi và đầu tư mạnh vào hệ thống và công nghệ Ví dụ một ngân hàng nội mà tôi biết hiện nay đang đầu tư cho
Trang 8công nghệ với số tiền đầu tư nhiều bằng mức đầu tư tại Việt Nam của vài ngân hàng nước ngoài lớn cộng lại
Ngân hàng nội cũng có lợi thế khả năng chấp nhận rủi ro, sự uyển chuyển và tốc độ ra quyết định Tất nhiên cái gì cũng có hai mặt, chiến lược này thường có nhiều rủi ro hơn Tuy nhiên, một số ngân hàng nội thực hiện chiến lược này khá thành công khi lấy tốc độ để vượt qua quy mô
Các ngân hàng nước ngoài lại có các tiếp cận và con đường đi riêng của mình Với mạng lưới hoạt động rộng khắp trong khu vực và trên thế giới cùng với thế mạnh về các giải pháp tài chính ngân hàng chuẩn mực toàn cầu, các ngân hàng nước ngoài ở vị thế rất tốt trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam cũng như đồng hành với các doanh nghiệp Việt muốn vươn tầm hoạt động ra thế giới Rõ ràng, đối tượng khách hàng của các khối ngân hàng nội và ngoại là khác nhau
và các ngân hàng đều đang nỗ lực hết mình để phục vụ tốt hơn nữa đối tượng khách hàng của mình Rủi ro chính trị
Rủi ro về chính trị là rủi do mà MNCs phải đối diện do những biến động trong thành phần chính phủ, các
sự kiện chính trị, những thay đổi trong luật lệ, chính sách của chính phủ,…
Rủi ro về chính trị cũng xuất từ tình trạng tham nhũng Tham nhũng làm chậm sự phát triển của kinh
tế-xã hội, làm tăng chi phí của hoạt động kinh doanh và giảm doanh thu Trong khi đó, Việt Nam nằm trong diện các quốc gia có tệ nan tham nhũng nặng nề nhất
Thủ tục hành chính vẫn còn là trở ngại đối với hoạt động kinh doanh và năng lực canh tranh của MNCs nói chung Hiện nay, quy trình thủ tục hành chính đã được rút ngắn tuy nhiên vẫn chưa hoàn chỉnh, góp phần tăng chí phí và giảm khả năng cạnh tranh của MNC
2 Cách thức quản trị rủi ro và giải pháp của HSBC
HSBC liên tục đẩy mạnh ưu thế mạng lưới toàn cầu của mình cũng như sự am hiểu thị trường tại Việt Nam để hỗ trợ các cơ hội kinh doanh đến từ khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, khu vực doanh nghiệp tư nhân đang tăng trưởng mạnh mẽ cũng như khu vực các doanh nghiệp nhà nước đang được tái
cơ cấu lại hiệu quả hơn HSBC đang ở vị thế rất tốt trong trong việc tư vấn các giải pháp trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng đầu tư, dịch vụ tài chính doanh nghiệp cũng như các giải pháp về vốn cho các khách hàng tại Việt Nam Với hơn 140 năm kinh nghiệm hoạt động tại thị trường Việt Nam, HSBC cung cấp đầy
đủ các dịch vụ tài chính ngân hàng bao gồm: Dịch vụ Tài chính Cá nhân và Quản lý Tài sản, Dịch vụ Tài chính Doanh Nghiệp, Dịch vụ Tài chính toàn cầu, Dịch vụ Ngoại hối và thị trường vốn, Dịch vụ Thanh toán
và Quản lý tiền tệ, Dịch vụ Thanh tóan Quốc tế và Tài trợ thương mại, và Dịch vụ Chứng Khoán Với lịch
sử hoạt động lâu đời cũng như sự am hiểu về thị trường Việt Nam,
Về tăng trưởng, trong các năm trước, mức tăng trưởng của HSBC tại Việt Nam không bằng các ngân hàng nội Song đến năm 2018 có nhiều thay đổi về mặt chiến lược và tầm nhìn, HSBC không chỉ nhìn vào mục tiêu tăng trưởng được giao từ Tập đoàn mà còn hướng đến ước mơ của một ngân hàng ngoại muốn làm cầu nối giữa Việt nam và thế giới và đóng góp mạnh mẽ cho sự phát triển của kinh tế Việt Nam
Tỷ giá là một trong nguồn gốc rủi ro chính khiến nhiều doanh nghiệp trên thế giới rơi vào lao đao, và cũng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của rất nhiều công cụ phòng chống rủi ro ngoại hối Trong quá khứ, tác động của việc tỷ giá biến động nhiều hơn kể từ sau sự sụp đổ của chế độ tỷ giá Bretton Woods
Trang 9vào đầu thập niên 1970 đã kéo nhiều công ty lớn trên thế giới, đặc biệt là nhiều công ty tên tuổi của Mỹ
và Nhật vào những “rắc rối” về tỷ giá trong các thập niên 1980 và 1990
“Các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các doanh nghiệp thực hiện các nguyện vọng quản lý rủi ro hiệu quả thông qua việc cung cấp các giải pháp quản lý rủi ro tích hợp; phát triển các công
cụ kỹ thuật số mới; và cung cấp thông tin chiến lược chuyên sâu được hỗ trợ bởi các thông tin kiến thức sẵn có trên toàn cầu và tại thị trường trong nước” - Rahul Badhwar, Giám đốc Toàn cầu Khối Dịch vụ Ngoại hối và quan hệ khách hàng, phụ trách khối khách hàng doanh nghiệp tại HSBC cho biết
Ngân hàng Nhà nước đã phát đi thông điệp sẵn sàng bán ngoại tệ can thiệp thị trường Nếu cần thiết, sẽ bán ngoại tệ với tỉ giá thấp hơn tỉ giá bán niêm yết hiện nay để bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô Thông điệp này được
đưa ra trên cơ sở dự trữ ngoại hối của Việt Nam đang ở mức kỷ lục hơn 63 tỉ USD, 5 tháng đầu năm
2018, Việt Nam vẫn xuất siêu…
Theo nhận định của chuyên gia kinh tế – ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu, việc tăng tỉ giá có thể kéo dài trong
cả năm 2018 Vì vậy, doanh nghiệp cần có các giải pháp ứng phó phù hợp Đối với doanh nghiệp, theo các chuyên gia tài chính, một số biện pháp truyền thống được dùng để hạn chế hoặc loại trừ biến động tài chính như hợp đồng hoán đổi (Swap), giao dịch tương lai (Derivative Trading)…
Số hóa trong quản lý nguồn vốn được cho là xu hướng mới để kiểm soát rủi ro hiệu quả Kết quả khảo sát của HSBC cho thấy 59% các chuyên viên quản lý nguồn vốn cho rằng số hóa được kỳ vọng có tác động đáng kể lên chiến lược quản lý rủi ro trong 3 năm tới và 57% cho rằng số hóa là lĩnh vực họ mong muốn trang bị cho bộ phận của mình nhằm nâng cao năng lực
Nhận thức về việc phòng vệ rủi ro biến động tỉ giá đối với doanh nghiệp Việt Nam còn một số hạn chế, một phần do yếu tố khách quan từ việc đã quen với môi trường tỉ giá ổn định suốt một thời gian dài vừa qua Tuy nhiên, cùng với đà tăng của nền kinh tế trong nước và cơ chế hội nhập lan rộng, các doanh nghiệp cũng ngày càng chú trọng việc quản trị rủi ro, trong đó có bảo hiểm rủi ro tỉ giá Nhu cầu sử dụng các công cụ phái sinh tiền tệ để quản trị rủi ro của doanh nghiệp cũng tăng lên qua các năm
“Để chủ động trong hoạt động quản trị doanh nghiệp, quản trị dòng tiền và kiểm soát rủi ro hiệu quả, các doanh nghiệp cần chủ động trong công tác phòng vệ rủi ro tỉ giá, rủi ro lãi suất, thông qua việc nâng cao nhận thức về rủi ro thị trường và các công cụ phòng vệ rủi ro”, ông Ngô Đăng Khoa, Giám đốc Khối kinh doanh tiền tệ và Thị trường vốn, HSBC Việt Nam, nhận định
HSBC với quan điểm là các doanh nghiệp nên chủ động có các biện pháp quản trị rủi ro tỷ giá để tránh những biến động không lường trước được của thị trường trong tương lai, chủ động tự bảo vệ thay vì chỉ trông chờ vào việc bảo hộ tỷ giá của NHNN Quản trị rủi ro tỷ giá sẽ giúp ổn định dòng tiền của doanh nghiệp Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp tập trung vào mảng kinh doanh chính của mình theo vì đầu
cơ kinh doanh tỷ giá, một lĩnh vực doanh nghiệp không có nhiều thông tin và chuyên môn
Theo ông Loic cựu giám đốc quản trị rủi ro của HSBC cho biết, cơ cấu quản trị được xác định rõ ràng giữa hội đồng quản trị và ban điều hành, trong đó hội đồng quản trị xác định chiến lược và ban điều hành là người thực thi chiến lược Nếu không "rõ ràng", điều này sẽ dấn đến mâu thuẫn về quyền lợi Bên cạnh
đó, những ủy ban độc lập như ủy ban tín dụng độc lập, được Chủ tịch hội đồng quản trị trao quyền và có
Trang 10thành viên hội đồng quản trị tham gia Điều này không chỉ giúp hội đồng quản trị nắm vững được tình hình thực tế về tình hình tín dụng, mà còn đảm bảo tính minh bạch, chất lượng tín dụng tại HSBC
"Trên thực tế, quản lý rủi ro tại Việt Nam thường phải đối mặt với vấn đề có quá ít hoặc quá nhiều dữ liệu, nhưng không phù hợp cho quá trình phân tích đánh giá cơ hội hoặc dự phòng rủi ro Để khắc phục vấn đề này, phải có những phòng ban chuyên trách, mô hình đồng nhất, nhất quán từ các đơn vị kinh doanh đến bộ phận hỗ trợ Mô hình 3 tầng lớp bảo vệ (đơn vị kinh doanh - đơn vị quản lý - kiểm toán nội bộ), giúp tăng cường vai trò quản lý và kiểm tra hoạt động của các đơn vị kinh doanh nói riêng và của toàn hệ thống nói chung Đồng thời, ngân hàng sẽ phòng ngừa lỗ hổng do các hình thức rủi ro gây ra như chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố Hiện tại, các ngân hàng đang dần dần thay đổi văn hóa của quản trị rủi ro từ "kiểm soát" sang "hợp tác" mà không ảnh hưởng đến chất lượng rủi ro tín dụng", ông Loic chia sẻ
Ông Loic nhấn mạnh: "Quản trị rủi ro không phải là để kìm hãm phát triển kinh doanh, mà để thúc đẩy tăng trưởng kinh doanh"
Chương 3:
Cocacola Việt Nam chuyển giá
2.2.1 Dấu hiệu chuyển giá qua tình hình tài chính
Những năm gần đây, khi Cục thuế TP Hồ Chí Minh cho biết kết quả kinh doanh của Cocacola Việt Nam, cộng đồng đã không khỏi bất ngờ bởi những con số lỗ triền miên sau nhiều năm hoạt động của doanh nghiệp này
Trong hơn 10 năm đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, Cocacola liên tục báo lỗ, lỗ lũy kế tính đến
30/9/2011 của công ty này đã lên tới 3.768 tỷ đồng, vượt cả số vốn đầu tư ban đầu là 2.950 tỷ đồng Do
lỗ liên tục như vậy nên Cocacola Việt Nam không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp, trong khi doanh thu liên tục tăng từ 20-30%/năm Tuy lỗ lớn như vậy nhưng doanh nghiệp này đã có kế hoạch đầu
tư thêm 300 triệu USD tại Việt Nam
Theo thống kê của Cục thuế TP HCM, chỉ trong vòng 4 năm (từ 2007-2010), tổng doanh thu của hãng Cocacola tại Việt Nam đã tăng từ 1.029 tỷ lên đến 2.529 tỷ đồng, gấp 2,5 lần, còn doanh số bán hàng thì tăng gần gấp 3 lần Vậy nếu không phải do doanh số, thì yếu tố nào khiến doanh nghiệp này liên tục thua lỗ?
Theo báo cáo tài chính của Tập đoàn Coca Cola, sau khi tăng trưởng liên tục đến năm 2012, doanh thu của Cocacola tại khu vực châu Á- Thái Bình Dương đã bắt đầu đi xuống và lợi nhuận trước thuế đang chững lại ở mức trên 2.400 triệu USD/năm
Tốc độ tăng trưởng sản lượng tiêu thụ tại thị trường này cũng đang theo chiều đi xuống với nguyên nhân chủ yếu là do sự sụt giảm sản lượng tại Trung Quốc và Nhật Bản Tuy nhiên mức tăng trưởng này cũng là con số cao nhất trong các thị trường tiêu thụ sản phẩm của Coca Cola Đặc biệt, năm 2012 dù tăng trưởng sản lượng của khu vực châu Á- Thái Bình Dương chỉ có 5% nhưng riêng của khu vực Asian là 11% Báo cáo tài chính năm 2014 của Tập đoàn Cocacola ghi nhận kết quả tăng trưởng sản lượng tiêu thụ tại Việt Nam tới 25%, tại Thái Lan là 9% trong khi Philippines giảm 3% và thị trường Úc giảm 4%