KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG ĐỖ THỊ THANH THẢO SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY HỌC KIẾN THỨC PHẦN “CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT – NĂNG LƯỢNG” VÀ “CẢM ỨNG” Ở THỰC VẬT – SINH HỌC 11 – TRUN
Trang 1KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
ĐỖ THỊ THANH THẢO
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY HỌC KIẾN THỨC PHẦN “CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT – NĂNG LƯỢNG” VÀ “CẢM ỨNG” Ở THỰC VẬT – SINH HỌC 11 – TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đà Nẵng – Năm 2018
Trang 2KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
ĐỖ THỊ THANH THẢO
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY HỌC KIẾN THỨC PHẦN “CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT – NĂNG LƯỢNG” VÀ “CẢM ỨNG” Ở THỰC VẬT – SINH HỌC 11 – TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Người hướng dẫn : TS Trương Thị Thanh Mai
Đà Nẵng – Năm 2018
Trang 3học kiến thức “Chuyển hóa vật chất – năng lượng” và “Cảm ứng” ở Thực vật – Sinh học 11 – Trung học phổ thông” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
ĐỖ THỊ THANH THẢO
Trang 4thân tôi là chưa đủ mà còn nhờ vào sự giúp đỡ từ gia đình, thầy cô và bạn bè Vì vậy, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người đã đồng hành cùng tôi
trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài này
Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới cô Trương Thị Thanh Mai đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn Đà Nẵng đã giúp đỡ trong quá trình tôi khảo sát và khảo nghiệm Cuối cùng, cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2018
Tác giả
ĐỖ THỊ THANH THẢO
Trang 51 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.1 Xuất phát từ nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học và phương án đổi mới SGK hiện nay 1
1.2 Xuất phát từ hiệu quả của việc sử dụng bàn tay nặn bột trong quá trình tổ chức dạy học 1
1.3 Xuất phát từ đặc điểm nội dung kiến thức phần “Chuyển hóa vật chất và năng lượng”, “Cảm ứng” Sinh học 11 – THPT 2
2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 2
3 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 3
4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 3
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT 4
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 5
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.2.1 Khái quát về phương pháp Bàn tay nặn bột 7
1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của phương pháp Bàn tay nặn bột 8
1.2.3 Tiến trình dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột 11
1.2.4 So sánh phương pháp Bàn tay nặn bột với các phương pháp dạy học tích cực khác 16
1.2.5 Những ưu điểm và khó khăn khi sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột 17 1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 19
1.3.1 Khảo sát giáo viên 19
1.3.2 Khảo sát học sinh 20
CHƯƠNG 2 : ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 21
Trang 62.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 21
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 21
2.4.3 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu 23
2.5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 26
CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 24
3.1 PHÂN TÍCH NỘI DUNG KIẾN THỨC CHƯƠNG TRÌNH HIỆN HÀNH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC CHỦ ĐỀ DẠY HỌC PHẦN “CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT - NĂNG LƯỢNG” VÀ “CẢM ỨNG” Ở THỰC VẬT– SINH HỌC 11 – TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 24
3.2 QUY TRÌNH THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC KIẾN THỨC PHẦN CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT - NĂNG LƯỢNG VÀ CẢM ỨNG – SINH HỌC 11 – TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT 31
3.3 KẾT QUẢ THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NỘI DUNG KIẾN THỨC PHẦN “CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT - NĂNG LƯỢNG” VÀ “CẢM ỨNG” Ở THỰC VẬT – SINH HỌC 11 – TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT 40
3.4 KHẢO NGHIỆM SƯ PHẠM 41
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 41
3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 41
3.4.3 Kết quả khảo nghiệm 41
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
1 KẾT LUẬN 47
2 KIẾN NGHỊ 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC
Trang 8hiệu
bảng
3.1
Tóm tắt nội dung kiến thức chương trình hiện hành phần
“Chuyển hóa vật chất - năng lượng” và “Cảm ứng” ở Thực vật -
Sinh học 11 – THPT
25
3.2
Các chủ đề học tập nội dung kiến thức phần “Chuyển hóa vật
chất - năng lượng” và “Cảm ứng” ở thực vật - Sinh học 11 –
Trung học phổ thông
28
3.3
Quy trình thiết kế các hoạt động dạy học nội dung: Thoát hơi
nước – Sinh học 11 – Trung học phổ thông bằng phương pháp
Bàn tay nặn bột
36
3.4 Quy trình tổ chức dạy hoc bằng phương pháp Bàn tay nặn bột
trong dạy học nội dung : Thoát hơi nước – Sinh học 11 – THPT 37
Mức độ đánh giá từng chủ đề và hoạt động trong việc sử dụng
Bàn tay nặn bột trong dạy học kiến thức phần Chuyển hóa vật
chất – năng lượng và Cảm ứng ở thực vật – Sinh học 11 –
THPT
42
Trang 9hình Tên hình Trang
1.1 Sơ đồ tiến trình sư phạm của phương pháp Bàn tay nặn bột 13
3.1
Sơ đồ quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học kiến
thức phần “Chuyển hóa vật chất - năng lượng” và “Cảm ứng”
ở Thực vật – Sinh học 11 – THPT bằng phương pháp Bàn tay
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Xuất phát từ nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học và phương án đổi mới SGK hiện nay
Trong tình hình hiện nay, thời kỳ tiến tới các công cuộc cải cách giáo dục, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học luôn được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết đối với người giáo viên Theo Nghị quyết 29 – NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI:“Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc” [10]
Bên cạnh đó, theo nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh” [1] Vì
vậy, việc dạy học bằng phương pháp tích cực theo định hướng hình thành và rèn luyện năng lực cho học sinh trong quá trình dạy học là vô cùng cần thiết
1.2 Xuất phát từ hiệu quả của việc sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong quá trình tổ chức dạy học
"Bàn tay nặn bột" là một phương pháp dạy học tích cực, thích hợp cho việc giảng dạy các kiến thức khoa học tự nhiên, khi học sinh đang ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểu mạnh mẽ các kiến thức khoa học về sự sống, hình thành các khái niệm cơ bản về khoa học Bàn tay nặn bột chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng những thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra
Trang 11Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác, Bàn tay nặn bột luôn coi học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức, chính học sinh là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên Ngoài ra, phương pháp này còn có tiến trình dạy rõ ràng, dễ hiểu, có thể áp dụng phù hợp với điều kiện giáo dục của nước ta
1.3 Xuất phát từ đặc điểm nội dung kiến thức phần “Chuyển hóa vật chất - năng lượng” và “Cảm ứng” ở Thực vật Sinh học 11 – THPT
Sinh học là một bộ môn khoa học thú vị, trực quan sinh động, mang nhiều nội dung kiến thức gắn với thực nghiệm Tuy nhiên, thực trạng dạy và học bộ môn Sinh học trong trường phổ thông hiện nay vẫn lấy những phương pháp dạy học truyền thống làm ưu thế, học sinh thụ động trong việc tiếp nhận kiến thức Các thí nghiệm trong bài học chỉ mang tính chất minh họa Giáo viên thường tự mình trình bày, biểu diễn các thí nghiệm thực hành để minh họa cho kiến thức bài học mà ít tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động này để các em chiếm lĩnh tri thức khoa học một cách chủ động, thỏa mãn nhu cầu tìm tòi hiểu biết, óc tò mò, sáng tạo khoa học của học sinh
Mặt khác khi phân tích nội dung kiến thức phần “Chuyển hóa vật chất - năng lượng” và “Cảm ứng” ở Thực vật - Sinh học 11 – THPT, nhận thấy nội dung này chủ yếu tìm hiểu về Sinh học ở cấp độ cơ thể, phân tích các cơ chế chuyển hóa vật chất và năng lượng, quá trình cảm ứng của tổ chức sống là cơ thể thực vật Những kiến thức này tương đối gần gũi và thường gặp trong đời sống hằng ngày của học sinh Do đó, việc sử dụng các phương pháp Bàn tay nặn bột sẽ hình thành tư duy sáng tạo cho học sinh, kích thích sự tìm tòi, tự trao đổi kiến thức của bản thân mỗi học sinh
Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn và thực hiện đề tài Sử
dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học kiến thức “Chuyển hóa vật chất – năng lượng” và “Cảm ứng” ở Thực vật – Sinh học 11 – THPT
2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Trang 12Sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học kiến thức “Chuyển hóa vật chất – năng lượng” và “Cảm ứng” ở Thực vật – Sinh học 11 – THPT nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh
3 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu thiết kế và sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học kiến thức “Chuyển hóa vật chất - năng lượng” và “Cảm ứng” ở Thực vật – Sinh học 11 – THPT một cách hợp lý thì sẽ nâng cao tính tích cực học tập của học sinh
4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Thiết kế được các chủ đề học tập trong dạy học kiến thức “Chuyển hóa vật chất – năng lượng’’ và “Cảm ứng” ở Thực vật – Sinh học 11 – THPT
- Xây dựng được quy trình thiết kế và tổ chức dạy học bằng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học kiến thức “Chuyển hóa vật chất – năng lượng’’ và “Cảm ứng” ở Thực vật – Sinh học 11 – THPT
Trang 13CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Phương pháp bàn tay nặn bột được đưa vào giảng dạy ở trường tiểu học ở Chicago, Mỹ từ những năm 90, là ý tưởng sáng tạo của nhà vật lý người Mỹ từng nhận giải Nobel năm 1988 Leon Ledeman [13] Đến năm 1995, giáo sư Georger Charpak – người nhận giải Nobel Vật Lý năm 1992 đã dẫn một đoàn gồm các nhà khoa học và các đại diện của Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp đến một khu phố nghèo ở Chicago (Mỹ) – nơi mà Leon Lederman đang thử nghiệm về phương pháp dạy học khoa học dựa trên việc thực hành, thí nghiệm [8] Sau đó, Georges Charpak đã kế tục và triển khai phương pháp này tại một số trường học ở Paris và có những thành công nhất định Họ chủ trương cho học sinh tiểu học tiếp xúc với khoa học và cách nghiên cứu một vấn đề khoa học bằng việc để chính các em tiến hành thí nghiệm dưới sự định hướng, giúp đỡ của thầy cô giáo, tránh được tình trạng thầy cô giáo dạy học bằng cách thông báo cho học sinh theo kiểu một chiều “chân lý là thế đấy”
và bắt các em phải chấp nhận
Ngay từ khi mới ra đời, phương pháp Bàn tay nặn bột đã được tiếp nhận và truyền bá rộng rãi Nhiều quốc gia trên thế giới đã hợp tác với Viện Hàn lâm Khoa học Pháp trong việc phát triển phương pháp này như Brazil, Bỉ, Afghanistan, Campuchia, Chilê, Trung Quốc, Thái Lan, Colombia, Hy lạp, Malaysia, Marốc, Serbi, Thụy Sĩ, Đức…, trong đó có Việt Nam thông qua Hội Gặp gỡ Việt Nam Tính đến năm 2009, có khoảng hơn 30 nước tham gia trực tiếp vào chương trình Bàn tay nặn bột [8]
Tháng 7 năm 2004, trường hè Quốc tế về Bàn tay nặn bột với chủ đề "Bàn tay nặn bột trên thế giới: trao đổi, chia sẻ, đào tạo" đã được tổ chức ở Erice – Ý dành cho các chuyên gia Pháp và các nước [8]
Nhiều dự án theo vùng lãnh thổ, châu lục được hình thành để giúp đỡ, hỗ trợ cho việc phát triển phương pháp Bàn tay nặn bột tại các quốc gia Có thể kể đến dự
án Pollen (Hạt phấn) của Châu Âu, dự án phát triển phương pháp Bàn tay nặn bột
Trang 14trong hệ thống các lớp song ngữ tại Đông Nam Á của VALOFRASE (Valofrase du Francais en Asie du Sud-Est - Chương trình phát triển tiếng Pháp ở Đông Nam Á),
dự án giảng dạy khoa học cho các nước nói tiếng Ả-rập…[8]
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, dưới sự giúp đỡ giáo sư Trần Thanh Vân – Việt kiều tại Pháp – chủ tịch Hội Gặp gỡ Việt Nam, phương pháp Bàn tay nặn bột đã về Việt Nam vào tháng 10 năm 1995 trong buổi hội thảo quốc tế về Vật lý năng lượng cao tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh với sự có mặt của giáo sư Georger Charpak – cha đẻ của phương pháp Bàn tay nặn bột [8] Trong khuôn khổ hội thảo quốc tế này, giáo sư Georger Chapak đã thăm làng trẻ em SOS Gò Vấp cùng trường phổ thông Hermann Gmeiner tại thành phố Hồ Chí Minh và đã hứa giúp đỡ Việt Nam trong việc đưa phương pháp Bàn tay nặn bột vào các trường học [8]
Từ tháng 9 năm 1999 đến tháng 3 năm 2000, tổ chức Bàn tay nặn bột Pháp (LAMAP France) đã tiếp nhận và tập huấn cho một nữ thực tập sinh Việt Nam là giáo viên Vật lý tại một trường trung học dạy song ngữ tiếng Pháp ở thành phố Hồ Chí Minh Đây là người Việt Nam đầu tiên được tiếp cận và tập huấn với phương pháp Bàn tay nặn bột [8]
Từ năm 2000 đến 2002, phương pháp Bàn tay nặn bột đã được phổ biến cho sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội, được áp dụng thử nghiệm tại trường tiểu học Đoàn Thị Điểm, Herman Gmeiner Hà Nội và trường thực hành Nguyễn Tất Thành (thuộc Đại học Sư phạm Hà Nội) Sau đó, mở thêm các lớp tại Huế và thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên phạm vi phổ biến vẫn còn hẹp chủ yếu vẫn ở các trường Đại học và chỉ mới triển khai áp dụng vào các chủ đề: nước, không khí và âm thanh [8] Tại Đà Nẵng và các thành phố khác trên toàn quốc, đợt tập huấn dành cho giáo viên và chuyên viên các Phòng Giáo dục và Đào tạo năm 2009, Sở Giáo dục và Đào tạo đã làm việc với Hội Gặp gỡ Việt Nam để “đặt hàng” thiết kế tạo một chương trình tập huấn ngắn cho cán bộ quản lý bậc tiểu học toàn thành phố (hiệu trưởng, hiệu phó, chuyên viên phụ trách tiểu học các Phòng Giáo dục và Đào tạo trực thuộc) nhằm giúp các cán bộ quản lý hiểu rõ về phương pháp Bàn tay nặn bột,
Trang 15tầm quan trọng của nó và tạo điều kiện cho các giáo viên thí điểm áp dụng trong các tiết dạy khoa học ở trường [13]
Tháng 8 năm 2010, Giáo Sư Jean Trần Thanh Vân có cuộc gặp gỡ, trao đổi với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận và thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển, trong đó có nội dung về định hướng phát triển phương pháp Bàn tay nặn bột tại Việt Nam [13]
Sau những khóa tập huấn cho các giảng viên Đại học, các giáo viên tiểu học
và các cán bộ về phương pháp này thì hàng loạt các nghiên cứu liên quan cũng được tiến hành với mục tiêu chung là sớm tìm ra quy trình phù hợp để có thể áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào quá trình dạy học ở Việt Nam
Tiêu biểu như trong Tạp chí Giáo dục số 249, Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Hương của Phòng Giáo dục và Đào tạo quân Thanh Khê – thành phố Đà Nẵng đã
có nghiên cứu: “Ứng dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào dạy học một số bài khoa học lớp 4, 5” [6] Hay vào năm 2013, sinh viên trường Đại học Cần Thơ là Phan Huỳnh Bảo Phương [9] và Nguyễn Thị Mai Hương [5] thuộc trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2 cũng đã có cùng đề tài khóa luận nghiên cứu: “Vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào giảng dạy môn Khoa học lớp 4” Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu những đề tài trên khá giống nhau và chỉ dừng lại ở bộ môn khoa học lớp
4, 5 thuộc bậc tiểu học, vẫn chưa triển khai nghiên cứu các chủ đề thuộc chương trình bậc trung học sơ sở
Trong công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Cao Thị Thặng – Viện Khoa học giáo dục Việt Nam cùng Lê Ngọc Vịnh – Sở GD&ĐT Bình đã trình bày việc thiết
kế công cụ đánh giá kết quả dạy học theo Phương pháp Bàn tay nặn bột trong bộ môn Hóa học góp phần nâng cao hiệu quả dạy học theo phương pháp này Định [11] Bởi vì cho đến nay việc đánh giá kết quả dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột ở các nhà trường còn nhiều hạn chế do mới có một số định hướng chung mà chưa có hướng dẫn chi tiết cụ thể
Hay gần đây nhất, năm 2016, sinh viên Nguyễn Thị Ngọc Huyền thuộc trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng đã có kết quả nghiên cứu được tiến hành thực nghiệm mang lại hiệu quả cao trong việc vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột
Trang 16trong dạy học phần Thực vật học – Sinh học – Trung học cơ sở tại trường THCS Tây Sơn – Đà Nẵng [9]
Tất cả những nghiên cứu trên sẽ là công cụ và là cơ sở giúp tôi thuận tiên
hơn trong việc nghiên cứu đề tài của mình: Sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học kiến thức “Chuyển hóa vật chất - năng lượng” và Cảm ứng ở Thực vật – Sinh học 11 – THPT
Tóm lại, nhìn vào thực trạng dạy học hiện nay, có thể nói việc vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong quá trình dạy học đã được áp dụng nhưng vẫn chưa phổ biến và hiệu quả Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp Bàn tay nặn bột và việc vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào quá trình dạy – học Tuy nhiên, các nghiên cứu này phần lớn là tập trung nghiên cứu về cơ sở
lý luận, lợi ích của phương pháp Bàn tay nặn bột đem lại đối với quá trình dạy học
là chủ yếu chứ vẫn chưa đi sâu vào việc nghiên cứu quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học cụ thể cho bộ môn hay cấp học nào Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm hướng đến tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của phương pháp Bàn tay nặn bột, đồng thời xây dựng quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học cụ thể cho các nội dung có thể áp dụng được phương pháp Bàn tay nặn bột trong bộ môn Sinh học 11 – Trung học phổ thông
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Khái quát về phương pháp Bàn tay nặn bột
Bàn tay nặn bột là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên
Phương pháp dạy học Bàn tay nặn bột có tên tiếng Pháp là La main à la pâte
- viết tắt là LAMAP, tiếng Anh là Hands-on, đều có nghĩa là “bắt tay vào hành động” Đây là phương pháp dạy học khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi – nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên Phương pháp này được khởi xướng bởi Giáo sư Georges Charpak (Giải Nobel Vật lý năm 1992) Theo ông thì Bàn tay nặn bột thực chất là sự huy động của cả 5 giác quan : xúc giác, thị giác, thính giác, khứu giác và cả vị giác để phát triển trong học sinh sự tiếp xúc diệu kì
Trang 17với thế giới bao quanh, đồng thời để học sinh có thể học cách khám phá và tìm hiểu [8]
Theo phương pháp Bàn tay nặn bột, dưới sự giúp đỡ của giáo viên, chính học sinh tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình
Đứng trước một sự vật hiện tượng, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giả thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành thực nghiệm nghiên cứu để kiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích, tổng hợp kiến thức
Mục tiêu của phương pháp Bàn tay nặn bột là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê khoa học của học sinh Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp Bàn tay nặn bột còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh
1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của phương pháp Bàn tay nặn bột
Để dạy học bằng phương pháp Bàn tay nặn bột, cần đảm bảo những nguyên tắc sau [8]:
a Nguyên tắc về tiến trình sư phạm
a.1 Học sinh quan sát một sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên chúng
- Sự vật ở đây được hiểu rộng bao gồm cả những sự vật có thể sờ được bằng tay (cái lá, hạt đậu, con thỏ) và tiến hành các thí nghiệm với nó và cả những sự vật không thể tiếp xúc được ví dụ như tế bào quang hợp, ADN, mặt trời…
- Đối với học sinh trung học, vốn sống của các em còn ít, vì vậy các sự vật hiện tượng càng gần gũi với học sinh càng kích thích sự tìm hiểu, khuyến khích sự tìm tòi của các em
a.2 Trong quá trình tìm hiểu, học sinh lập luận, bảo vệ ý kiến của mình, đưa ra tập thể thảo luận những ý nghĩ và những kết luận cá nhân, từ đó có những hiểu biết
mà nếu chỉ có những hoạt động, thao tác riêng lẻ không đủ tạo nên
Trang 18- Nguyên tắc này nhấn mạnh đến sự khuyến khích học sinh suy nghĩ và đưa ra những lập luận để bảo vệ cho ý kiến cá nhân của mình, nhấn mạnh đến vai trò của hoạt động nhóm trong học tập Chỉ khi trao đổi những suy nghĩ cá nhân của học sinh với những học sinh khác, học sinh mới nhận thấy những mâu thuẫn trong nhận thức
- Việc trình bày của học sinh là một yếu tố quan trọng để rèn luyện ngôn ngữ Vai trò của giáo viên là trung gian giữa kiến thức khoa học và học sinh Giáo viên
sẽ tác động vào những thời điểm nhất định để định hướng sự thảo luận và giúp học sinh thảo luận xung quanh vấn đề mà các em đang quan tâm
a.3 Những hoạt động do giáo viên đề xuất cho học sinh được tổ chức theo tiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập
- Các hoạt động này làm cho các chương trình học tập được nâng cao lên và dành cho học sinh một phần tự chủ khá lớn
- Mức độ nhận thức được hình thành theo quy luật từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Để học sinh hiểu sâu sắc kiến thức, yêu cầu của sự hình thành kiến thức cũng theo quy tắc này Từ hiểu biết cơ bản, rồi nâng dần lên theo cấp độ tương ứng với khả năng nhận thức của học sinh sẽ giúp học sinh tiếp thu kiến thức hiệu quả và chắc chắn
- Giáo viên dành sự tự chủ cho học sinh có nghĩa là tôn trọng và lắng nghe ý kiến của học sinh, chấp nhận các lỗi sai và sự hiểu lầm ban đầu, học sinh được chủ động làm thí nghiệm, chủ động trao đổi, thảo luận…Ngoài ra, giáo viên dành sự tự chủ cho học sinh cũng chính là thay đổi vai trò của giáo viên trong quá trình dạy học từ giáo viên đóng vai trò trung tâm chuyển sang học sinh đóng vai trò trung tâm, chủ động chiếm lĩnh kiến thức
a.4 Cần một lượng tối thiểu là 2 giờ/tuần trong nhiều tuần liền cho một đề tài
Sự liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảm bảo trong suốt thời gian học tập
- Một chủ đề khoa học được giảng dạy trong nhiều tuần sẽ giúp cho học sinh có thời gian để tìm hiểu, nghiên cứu, xây dựng và hình thành kiến thức Điều này cũng
Trang 19có lợi cho học sinh trong việc khắc sâu, ghi nhớ kiến thức thay vì giảng dạy ồ ạt, nhồi nhét kiến thức, "cưỡi ngựa xem hoa"
- Các kiến thức trong chương trình các bậc học, lớp học đều có sự kế thừa, liên quan với nhau Khi thiết kế hoạt động dạy học, giáo viên cần chú ý đến tính kế thừa của các vấn đề đã được đưa ra ở cấp học dưới Càng có sự trao đổi thông tin, thống nhất giữa các giáo viê của các bậc học, các lớp thì hoạt động dạy học càng có hiệu quả
a.5 Bắt buộc mỗi học sinh phải có một quyển vở thực hành do chính các em ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ của các em
- Vở thực hành là một đặc trưng quan trọng của phương pháp Bàn tay nặn bột Ghi chép trong vở thực hành được thực hiện bởi từng cá nhân học sinh Thông qua
vở thực hành, giáo viên cũng có thể tìm hiểu sự tiến bộ trong nhận thức hay biết mức độ nhận thức của học sinh để điều chỉnh hoạt động dạy học và hàm lượng kiến thức cho phù hợp Ghi chép trong vở thực hành không những giúp học sinh làm quen với công tác nghiên cứu khoa học mà còn giúp học sinh rèn luyện ngôn ngữ
a.6 Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần các khái niệm khoa học và kĩ thuật được thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói của học sinh
- Nguyên tắc này nhấn mạnh mối liên hệ giữa dạy học kiến thức và rèn luyện ngôn ngữ (nói và viết) cho học sinh Sự hiểu kiến thức nội tại bên trong học sinh sẽ được biểu hiện ra bằng ngôn ngữ khi học sinh phát biểu, trình bày, viết Giáo viên cần quan tâm, tôn trọng và lắng nghe học sinh cũng như yêu cầu các học sinh khác lắng nghe ý kiến của bạn mình Các thuật ngữ khoa học, khái niệm khoa học cũng được hình thành dần dần, giúp học sinh nắm vững và hiểu sâu sắc
b Những đối tượng tham gia
b.1 Gia đình, xã hội được khuyến khích thực hiện các công việc của lớp học
- Nguyên tắc này nhấn mạnh vai trò của gia đình và xã hội trong việc phối kết hợp với nhà trường để thực hiện tốt quá trình giáo dục học sinh
b.2 Ở địa phương, các cơ sở khoa học (Trường Đại học, Cao đẳng, Viện nghiên cứu…) giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình
Trang 20- Các trường học có thể mời các chuyên gia, các nhà khoa học, các giáo sư tới nói chuyện với học sinh trong lớp học hay giúp đỡ GV trong việc thiết kế hoạt động dạy học (kiến thức, thí nghiệm)
- Cần chú ý đến một số vấn đề mấu chốt rằng giáo viên là người không thể thay thế trong hoạt động dạy học ở lớp, sự giúp đỡ tham gia vào lớp học (nếu có) của các nhà khoa học, chuyên gia chỉ dừng lại ở mức độ hỗ trợ giáo viên
b.3 Ở địa phương, các viện đào tạo GV (Trường Cao đẳng Sư phạm, Đại học
Sư phạm) giúp các giáo viên về kinh nghiệm và phương pháp dạy học
- Cũng tương tự nguyên tắc trên, nguyên tắc này nhấn mạnh sự hợp tác giúp đỡ
về mặt sư phạm, phương pháp, kinh nghiệm của các giảng viên, chuyên gia nghiên cứu về phương pháp Bàn tay nặn bột giúp đỡ giáo viên thiết kế giảng dạy, tư vấn giải đáp những vướng mắc của giáo viên
b.4 Giáo viên có thể tìm thấy trên internet các website có nội dung về những kiến thức đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, những giải pháp thắc mắc Giáo viên cũng có thể tham gia hoạt động tập thể bằng trao đổi với các đồng nghiệp, với các nhà sư phạm và với các nhà khoa học Giáo viên là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách
- Từ sự cần thiết phải có nguồn thông tin, các tư liệu giúp đỡ cho giáo viên được đặt ra cấp thiết Giáo viên cần được quan tâm giúp đỡ và hỗ trợ trong quá trình chuẩn bị các tiết học
- Internet và các trang web là một kênh hỗ trợ quan trọng cho giáo viên, nơi mà giáo viên có thể trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm với nhau, đề xuất những vấn
đề vướng mắc, các câu hỏi cho các chuyên gia, các nhà nghiên cứu để được giải đáp
và giúp giáo viên thực hiện tốt kế hoạch dạy học của mình
1.2.3 Tiến trình dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột
Theo Đỗ Hương Trà, phương pháp Bàn tay nặn bột đề xuất một tiến trình ưu tiên xây dựng tri thức bằng cách khai thác, thực nghiệm và thảo luận, tiến trình đó
đi theo 5 bước sau [13] :
Trang 21Đề xuất câu hỏi và phương án thí nghiệm,
tìm tòi – nghiên cứu
Bước 4 :
Tiến hành thí nghiệm, tìm tòi – nghiên cứu
Bước 5 :
Kết luận và hệ thống hóa kiến thức
Hình 1.1 : Sơ đồ tiến trình sư phạm của phương pháp Bàn tay nặn bột
Cụ thể :
Bước 1 : Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
- Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống do giáo viên chủ động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi dễ hiểu đối với học sinh Tình huống xuất phát nhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn đề càng dễ Tuy nhiên có những trường hợp không nhất thiết phải
có tình huống xuất phát mới đề xuất được câu hỏi nêu vấn đề (tùy vào từng kiến thức và từng trường hợp cụ thể)
- Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học (hay môdun kiến thức mà học sinh sẽ được học) Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của học sinh nhằm chuẩn bị tâm thế cho học sinh trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức
Trang 22Giáo viên phải dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêu vấn đề Câu hỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêu cầu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy học của giáo viên càng dễ thực hiện thành công
Bước 2 : Bộc lộ biểu tượng ban đầu
Làm bộc lộ quan niệm ban đầu để từ đó hình thành các câu hỏi của học sinh
là bước quan trọng, đặc trưng của phương pháp Bàn tay nặn bột Giáo viên nên khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình trước khi được học kiến thức mới Để làm bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh, giáo viên
có thể yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức cũ đã học có liên quan đến kiến thức mới của bài học Khi yêu cầu học sinh trình bày quan niệm ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu bằng nhiều hình thức biểu hiện của học sinh như có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ Từ những quan niệm ban đầu của học sinh, giáo viên giúp học sinh đề xuất các câu hỏi Chú ý xoáy sâu vào những quan niệm liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học
Bước 3 : Đề xuất câu hỏi và phương án thí nghiệm, tìm tòi – nghiên cứu
Đề xuất câu hỏi :
- Từ những khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu của học sinh, giáo viên giúp học sinh đề xuất các câu hỏi từ những sự khác biệt đó Chú ý xoáy sâu vào những sự khác biệt liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học
Đề xuất phương án thí nghiêm, tìm tòi - nghiên cứu
- Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh, đề nghị các em đề xuất các giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu để để kiểm chứng các giả thuyết nhằm tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó Các câu hỏi có thể là : “Theo các em, làm thế nào để chúng ta tìm câu trả lời cho các câu hỏi nói trên?”; “Bây giờ các em hãy suy nghĩ để tìm phương pháp giải quyết cho các câu hỏi mà lớp mình đặt ra!”,
- Các phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu ở đây là các phương án để tìm ra câu trả lời như quan sát, thực hành thí nghiệm, nghiên cứu tài liệu…
- Tùy theo kiến thức hay vấn đề đặt ra mà học sinh có thể đề xuất các phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu khác nhau Trong quá trình đề xuất
Trang 23phương án thực nghiệm, nếu ý kiến của học sinh nêu lên có ý đúng nhưng ngôn từ chưa chuẩn xác hoặc diễn đạt chưa rõ thì giáo viên nên gợi ý và từng bước giúp học sinh hoàn thiện diễn đạt Giáo viên cũng có thể yêu cầu các học sinh khác chỉnh sửa cho rõ ý Đây là một vấn đề quan trọng trong việc rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh Trường hợp học sinh đưa ra ngay phương án đúng nhưng vẫn còn nhiều phương án khác khả thi thì giáo viên nên tiếp tục hỏi các học sinh khác để làm phong phú các phương án tìm câu trả lời Giáo viên có thể nhận xét trực tiếp nhưng yêu cầu các học sinh khác cho ý kiến về phương pháp mà học sinh đó nêu ra thì tốt hơn Phương pháp Bàn tay nặn bột khuyến khích học sinh tự đánh giá ý kiến của nhau hơn là của giáo viên nhận xét
- Sau khi học sinh đề xuất được phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, giáo viên nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành phương án với các dụng cụ đã chuẩn bị sẵn
Bước 4 : Tiến hành thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu
- Từ các phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu mà học sinh nêu ra, giáo viên khéo léo nhận xét và lựa chọn dụng cụ thí nghiệm hay các thiết bị dạy học thích hợp để học sinh tiến hành nghiên cứu Nếu phải làm thí nghiệm thì ưu tiên thực hiện thí nghiệm trực tiếp trên vật thật Một số trường hợp không thể tiến hành thí nghiệm trên vật thật có thể làm trên mô hình, hoặc cho học sinh quan sát tranh
vẽ Đối với phương pháp quan sát, giáo viên cho học sinh quan sát vật thật trước, sau đó mới cho học sinh quan sát tranh vẽ khoa học hay mô hình để phóng to những đặc điểm không thể quan sát rõ trên vật thật
- Khi tiến hành thí nghiệm, giáo viên nêu rõ yêu cầu và mục đích thí nghiệm hoặc yêu cầu học sinh cho biết mục đích của thí nghiệm chuẩn bị tiến hành Sau đó giáo viên mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm tương ứng với hoạt động Nếu để sẵn các vật dụng thí nghiệm trên bàn học sinh sẽ nghịch các đồ vật mà không chú ý đến các đồ vật khác trong lớp; hoặc học sinh tự ý thực hiện thí nghiệm trước khi lệnh thực hiện của giáo viên được đưa ra; hoặc học sinh sẽ dựa vào đó để đoán các thí nghiệm cần phải làm (trường hợp này mặc dù học sinh có thể đề xuất thí nghiệm đúng nhưng ý đồ dạy học của giáo viên không đạt)
Trang 24- Các thí nghiệm được tiến hành lần lượt tương ứng với từng kiến thức Mỗi thí nghiệm được thực hiện xong, giáo viên nên dừng lại để học sinh rút ra kết luận (tìm thấy câu trả lời cho các vấn đề đặt ra tương ứng) Giáo viên lưu ý học sinh ghi chép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thí nghiệm (mô tả bằng lời hay vẽ
sơ đồ), ghi chú lại kết quả thực hiện thí nghiệm, kết luận sau thí nghiệm vào vở thực hành Phần ghi chép này giáo viên để học sinh ghi chép tự do, không nên gò bó và
có khuôn mẫu quy định, nhất là đối với những lớp mới làm quen với phương pháp Bàn tay nặn bột Đối với các thí nghiệm phức tạp và nếu có điều kiện, giáo viên nên thiết kế một mẫu sẵn để học sinh điền kết quả thí nghiệm, vật liệu thí nghiệm Ví dụ như các thí nghiệm phải ghi số liệu theo thời gian, lặp lại thí nghiệm ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau…
- Khi học sinh làm thí nghiệm, giáo viên bao quát lớp, quan sát từng nhóm Nếu thấy nhóm hoặc học sinh nào làm sai theo yêu cầu thì giáo viên chỉ nhắc nhỏ trong nhóm đó hoặc với riêng học sinh đó, không nên thông báo lớn tiếng chung cho cả lớp vì làm như vậy sẽ phân tán tư tưởng và ảnh hưởng đến công việc của các nhóm học sinh khác
- Giáo viên chú ý yêu cầu học sinh thực hiện độc lập các thí nghiệm trong trường hợp các thí nghiệm được thực hiện theo từng cá nhân Nếu thực hiện theo nhóm thì cũng yêu cầu tương tự như vậy Thực hiện độc lập theo cá nhân hay nhóm
để tránh việc học sinh nhìn và làm theo cách của nhau, thụ động trong suy nghĩ
và cũng tiện lợi cho giáo viên phát hiện các nhóm hay các cá nhân xuất sắc trong thực hiện thí nghiệm nghiên cứu, đặc biệt là các thí nghiệm được thực hiện với các dụng cụ, vật liệu thí nghiệm giống nhau nhưng nếu bố trí thí nghiệm không hợp lý
sẽ không thu được kết quả thí nghiệm như ý
Bước 5 : Kết luận và hệ thống hóa kiến thức
- Sau khi thực hiện thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, các câu trả lời dần dần được giải quyết, các giả thuyết được kiểm chứng, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học
- Giáo viên có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi vào
vở coi như là kiến thức của bài học Trước khi kết luận chung, giáo viên nên yêu
Trang 25cầu một vài ý kiến của học sinh cho kết luận sau khi thực nghiệm (rút ra kiến thức của bài học) Giáo viên khắc sâu kiến thức cho học sinh bằng cách cho học sinh nhìn lại, đối chiếu lại với các ý kiến ban đầu (quan niệm ban đầu) trước khi học kiến thức Như vậy từ những quan niệm ban đầu sai lệch, sau quá trình thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, chính học sinh tự phát hiện ra mình sai hay đúng mà không phải do giáo viên nhận xét một cách áp đặt Chính học sinh tự phát hiện những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổi một cách chủ động Những thay đổi này sẽ giúp học sinh ghi nhớ lâu hơn, khắc sâu kiến thức
- Nếu có điều kiện, giáo viên có thể in sẵn tờ rời tóm tắt kiến thức của bài học để phát cho học sinh dán vào vở thực hành hoặc tập hợp thành một tập riêng để tránh mất thời gian ghi chép
1.2.4 So sánh phương pháp Bàn tay nặn bột với các phương pháp dạy học tích cực khác
a Giống nhau
Đều nhằm tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực, tự lực giải quyết vấn đề
Về cơ bản thì tiến trình dạy học cũng được diễn ra theo 3 pha chính là : chuyển giao nhiệm vụ cho học sinh; học sinh hoạt động tự chủ giải quyết vấn đề; báo cáo, hợp thức hóa và vận dụng kiến thức mới
b Khác nhau
Ở Bàn tay nặn bột các tình huống xuất phát và câu hỏi nếu vấn đề là những
sự vật hay hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các học sinh sẽ thực hành trên những cái đó
Phương pháp Bàn tay nặn bột chú trọng việc giúp cho học sinh bộc lộ quan niệm ban đầu để tạo ra các mâu thuẫn nhận thức làm cơ sở đè xuất các câu hỏi và giả thuyết
Hoạt động tìm tòi – nghiên cứu trong phương pháp Bàn tay nặn bột rất đa dạng, trong đó các phương án thí nghiệm nếu được tiến hành thì chủ yếu là các phương án được đề xuất bởi chính học sinh, với những dụng cụ đơn giản, dễ kiếm
Trang 26Trong phương pháp Bàn tay nặn bột, mỗi học sinh bắt buộc phải có một quyển vở thực hành do chính học sinh ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ của chính mình
Thông qua các hoạt động như vậy, phương pháp Bàn tay nặn bột nhằm đạt được mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần của học sinh đối với các khái niệm khoa học và kĩ thuật được thực hành, kèm theo sự củng cố về ngôn ngữ nói và viết
1.2.5 Những ưu điểm và khó khăn khi sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột
Theo nghiêu cứu về phương pháp Bàn tay nặn bột của Nguyễn Vinh Hiển và Ngô Văn Hưng, khi sử dụng phương pháp này có những ưu điểm và khó khăn sau [8] :
a Ưu điểm của phương pháp
- Phương pháp Bàn tay nặn bột là một phương pháp có tiến trình dạy học rõ ràng, dễ hiểu, có thể áp dụng được ở điều kiện của Việt Nam Giáo viên không phải mất nhiều thời gian cho việc thuyết trình, giảng giải
- Việc áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào trong các lớp học, tạo nên
sự ham thích cho học sinh Giúp học sinh hứng thú với những hoạt động tìm hiểu kiến thức mới
- Kiến thức được học sinh tiếp nhận một cách tự nhiên, thoải mái, không gò
- Giúp học sinh rèn kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói, viết Giúp học sinh tự tin, mạnh dạn hơn trong giao tiếp
b Những khó khăn khi thực hiện phương pháp Bàn tay nặn bột
b.1 Về điều kiện, cơ sở vật chất
Trong các lớp học hiện nay, bàn ghế được bố trí theo dãy, nối tiếp nhau, không thuận lợi cho việc tổ chức học theo nhóm Trong khi đó, phần lớn các trường
Trang 27học chưa có phòng học học bộ môn và phòng thí nghiệm để thuận lợi cho việc giảng dạy các bộ môn khoa học
Trang thiết bị nói chung trong các lớp học chưa đầy đủ phục vụ cho việc tổ chức các hoạt động dạy học, nhất là còn thiếu các phương tiện hỗ trợ hoạt động báo cáo, thảo luận của học sinh như máy tính, projector, máy chiếu vật thể, máy chiếu bản trong, flip chart Dụng cụ thí nghiệm còn chưa đồng bộ và thiếu chính xác Nguồn tài liệu bổ trợ cho hoạt động tìm tòi - khám phá của học sinh còn hạn chế
Mặt khác, số học sinh trên một lớp quá đông nên việc tổ chức học tập theo nhóm rất khó khăn Điều này cũng gây khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động tham quan, dã ngoại, điều tra thực tế cho học sinh
b.2 Về đội ngũ giáo viên
Trình độ giáo viên hiện nay chưa đồng đều cả về chuyên môn và năng lực sư phạm Kiến thức chuyên sâu về khoa học của một bộ phận không nhỏ giáo viên còn hạn chế Vì vậy, giáo viên thường gặp nhiều khó khăn trong việc trả lời, giải đáp các câu hỏi cũng như khó khăn trong việc lí giải thấu đáo các thắc mắc của học sinh nêu ra trong quá trình học Đây là một trở ngại rất lớn trong việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực nói chung và phương pháp Bàn tay nặn bột nói riêng
Năng lực sư phạm của giáo viên trong việc áp dụng các phương pháp dạy học mới nói chung còn hạn chế Điều đó thể hiện ở việc giáo viên thường gặp nhiều khó khăn trong việc nêu ra tình huống mở đầu cho mỗi bài dạy trong phương pháp Bàn tay nặn bột Thường thì tình huống đưa ra phải gắn với nội dung bài dạy, làm sao đảm bảo được vấn đề khơi gợi sự tò mò, ham thích trước vấn đề sắp học nhưng vẫn "giấu kín được kết quả của bài học" Đây là việc làm gây nhiều lúng túng cho người dạy Trong tiến trình dạy học, ở một số bài học, giáo viên không có đủ kiến thức, khả năng để tìm ra một số thí nghiệm chứng minh cho kiến thức bài học trong trường hợp học sinh không tự nêu ra được thí nghiệm kiểm chứng cho biểu tượng ban đầu của mình
b.3 Về công tác quản lí
Hiện nay, một vấn đề còn nổi cộm, gây nhiều cản trở cho công tác đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là vấn đề đánh giá hoạt động dạy học của
Trang 28giáo viên Trong khi Bộ Giáo dục và Đào tạo đang triển khai áp dụng các phương pháp dạy học mới, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc tổ chức hoạt động học tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh nhưng một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lí chuyên môn ở các Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo chưa theo kịp với tiến trình đổi mới đó Vì thế, quan điểm đánh giá giờ dạy của họ vẫn mang nặng tính hình thức với các tiêu chí đánh giá như: giáo viên có dạy hết kiến thức trong bài hay không; giáo viên có sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học hay không; giáo viên tiến hành thí nghiệm có thành công không; giáo viên sử dụng các phương tiện dạy học có thành thạo hay không mà chưa chú ý nhiều đến hiệu quả hoạt động nhận thức cho học sinh Vì vậy, giáo viên thường rất dè dặt khi áp dụng phương pháp dạy học mới, khi mà ở đó giáo viên phải tổ chức cho học sinh hoạt động nên nhiều khi không thể chủ động hoàn toàn về mặt thời gian Trong quá trình học sinh hoạt động, thường có nhiều diễn biến bất ngờ mà giáo viên có thể không lường trước được dẫn đến có thể không hoàn thành tất cả các khâu trong một tiết học và vì thế mà giờ dạy lại không được đánh giá cao
Công tác kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh hiện nay cũng là một vấn
đề gây cản trở đến việc đổi mới phương pháp dạy học Các bài thi và kiểm tra hiện nay chủ yếu vẫn là kiểm tra sự ghi nhớ và vận dụng lí thuyết của học sinh "Thi gì, học nấy" luôn là tiêu chí lựa chọn của đại đa số mọi người trên thế giới Chính vì vậy mà các phương pháp dạy học tích cực nói chung và phương pháp Bàn tay nặn bột nói riêng chưa có được "chỗ đứng" vững chắc trong mỗi giáo viên, học sinh và trong cả nền giáo dục Việt nam khi mà công tác kiểm tra, đánh giá, thi cử chưa đổi mới theo hướng đánh giá kỹ năng và sự sáng tạo của học sinh
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Khảo sát giáo viên
Chúng tôi tiến hành khảo sát giáo viên hiện đang giảng dạy bộ môn Sinh học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thuộc các trường THTP : Nguyễn Trãi, Trần Phú, Thái Phiên, Thanh Khê, Phạm Phú Thứ về thực trạng của việc sử dụng Bàn tay nặn bột trong dạy học Sinh học Qua quá trình điều tra, chúng tôi nhận thấy đa phần các thầy cô đã chuyển sang dạy học theo phương pháp dạy học tích cực (75%) Phần
Trang 29lớn các thầy cô đều biết về phương pháp Bàn tay nặn bột (50%) Trong đó, có 37,5% các thầy cô đã từng áp dụng tuy nhiên mức độ chưa cao (33% thỉnh thoảng, 67% hiếm khi) và có 67% các thầy cô nhận xét rằng trong quá trình dạy học bằng phương pháp Bàn tay nặn bột thì học sinh tỏ ra hứng thú và rất hứng thú
Bên cạnh đó, một số khó khăn mà các thầy cô thường gặp phải khi sử dụng phương pháp này đó là : Mất nhiều thời gian để soạn giáo án và chuẩn bị các thí nghiệm (50%), khó đảm bảo được thời lượng tiết dạy (33%), học sinh vẫn còn thụ động và số lượng học sinh trong một nhóm thường quá đông (17%)
Ngoài ra, 100% các thầy cô biết về phương pháp Bàn tay nặn bột (tức là 50% của tổng số) đều cho rằng phương pháp Bàn tay nặn bột hoàn toàn có thể áp dụng được trong chương trình Sinh học phổ thông, cụ thể là trong dạy học kiến thức
“Chuyển hóa vật chất – năng lượng” và “Cảm ứng” ở thực vật – Sinh học 11
1.3.2 Khảo sát học sinh
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát học sinh tại các trường THPT trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng thuộc các trường: THPT Phạm Phú Thứ, Trần Phú, Thái Phiên, Thanh Khê Qua điều tra cơ bản, chúng tôi nhận thấy đa phần các học sinh có niềm yêu thích với môn Sinh học (72%) vì những kiến thức gần gũi, sinh động trong cuộc sống Khi được hỏi về việc được học bằng phương pháp tích cực, có khoảng 58% học sinh đã được học Trong đó, có khoảng 30% biết đến phương pháp Bàn tay nặn bột và hứng thú với cách dạy này vì các em có thể tự mình thiết kế thí nghiệm một cách sáng tạo, tư duy
Đồng thời, 86% học sinh cho rằng kiến thức phần “Chuyển hóa vật chất – năng lượng” và “Cảm ứng” ở thực vật – Sinh học 11 tương đối dễ hiểu, gần gũi và
có liên quan chặt chẽ đến thực tiễn cuộc sống
Trang 30CHƯƠNG 2 : ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Quá trình vận dụng Phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học kiến thức
“Chuyển hóa vật chất - năng lượng” và “Cảm ứng” ở Thực vật chương trình Sinh học 11 – THPT
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu tổng quan các tài liệu về chủ trương, nghị quyết của Đảng và Nhà nước trong công tác giáo dục về đổi mới giáo dục phổ thông nói chung và đổi mới hình thức, phương pháp dạy học nói riêng
- Nghiên cứu các tài liệu về các bài báo, các công trình nghiên cứu, các ấn phẩm
và tài liệu về phương pháp Bàn tay nặn bột và lý thuyết về tính tích cực của học sinh
- Nghiên cứu SGK về nội dung kiến thức trong phần “Chuyển hóa vật chất – năng lượng” và “Cảm ứng” ở Thực vật – Sinh học 11 – THPT cùng các tài liệu khác
có liên quan
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a Phương pháp điều tra
Sử dụng bảng hỏi, phiếu điều tra để :
Trang 31- Khảo sát tình hình dạy học bằng phương pháp Bàn tay nặn bột tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Tìm hiểu thái độ và tâm lý của học sinh khi được học bằng phương pháp Bàn tay nặn bột
- Ngoài ra còn tìm hiểu được quan điểm và thái độ của giáo viên về phương pháp Bàn tay nặn bột
b Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
Tham khảo ý kiến đóng góp của giáo viên hướng dẫn và các giáo viên có kinh nghiệm
- Trao đổi và xin ý kiến của giảng viên hướng dẫn về cơ sở khoa học, phương pháp nghiên cứu, cách thiết kế giáo án
- Phỏng vấn giáo viên và các nhà quản lí giáo dục nhằm thu thập thông tin về thực trạng dạy học bằng phương pháp Bàn tay nặn bột ở trường phổ thông hiện nay
- Trao đổi trực tiếp với giáo viên tại trường khảo nghiệm để xin ý kiến trong việc điều chỉnh và hoàn thiện phương pháp Bàn tay nặn bột cho học sinh tại trường
c Phương pháp khảo nghiệm sư phạm
- Mục đích khảo nghiệm sư phạm :
+ Kết quả nghiên cứu được tiến hành khảo nghiệm tại một số trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm bước đầu đánh giá tính hiệu quả và tính khả
thi của đề tài
- Chuẩn bị khảo nghiệm sư phạm :
+ Gửi chủ đề khảo nghiệm nhờ giáo viên hướng dẫn và giáo viên phổ thông xem xét, đánh giá tính khả thi, nghiên cứu, góp ý và chỉnh sửa cho phù hợp với nội dung, mục đích dạy học và năng lực của học sinh
- Khảo nghiệm sư phạm :
+ Kết quả nghiên cứu được khảo nghiệm tại một số trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ở một số bài học trong kiến thức Chuyển hóa vật chất – năng lượng và Cảm ứng ở thực vật – Sinh học 11 – THPT
Trang 322.4.3 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu
- Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học dùng trong khoa học giáo dục
- Phân tích kết quả khảo sát và khảo nghiệm để có cơ sở đánh giá tính khả thi của đề tài
+ Định lượng: Sử dụng một số công cụ toán học để sử lý số liệu tính theo tỉ
lệ % các kết quả điều tra và kết quả khảo nghiệm
+ Định tính: Đánh giá, phân tích mức độ khả thi của việc sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học THPT
2.5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về bản chất, nguyên tắc và tiến trình trong việc dạy bộ môn Sinh học bằng phương pháp Bàn tay nặn bột
- Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học Sinh học tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Phân tích nội dung kiến thức chương trình hiện hành và đề xuất các chủ đề dạy học phần “Chuyển hóa vật chất – năng lượng” và “Cảm ứng” ở Thực vật – Sinh học 11 – THPT
- Xây dựng được quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học khi sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học kiến thức phần “Chuyển hóa vật chất – năng lượng” và “Cảm ứng” ở Thực vật – Sinh học 11 – THPT
- Thiết kế một số chủ đề dạy học trong đó có các giáo án tổ chức hoạt động sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột
- Khảo nghiệm sư phạm về tính khả thi của đề tài
Trang 33CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 3.1 PHÂN TÍCH NỘI DUNG KIẾN THỨC CHƯƠNG TRÌNH HIỆN HÀNH
VÀ ĐỀ XUẤT CÁC CHỦ ĐỀ DẠY HỌC PHẦN “CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT - NĂNG LƯỢNG” VÀ “CẢM ỨNG” Ở THỰC VẬT– SINH HỌC 11 – TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Để có cơ sở thiết kế các giáo án theo phương pháp Bàn tay nặn bột, chúng tôi
đã tiến hành phân tích nội dung phần “Chuyển hóa vật chất - năng lượng” và “Cảm ứng” ở Thực vật – Sinh học 11 – Trung học phổ thông, kết quả thể hiện ở bảng 3.1 :
Bảng 3.1 : Tóm tắt nội dung kiến thức chương trình hiện hành phần “Chuyển hóa
vật chất - năng lượng” và “Cảm ứng” ở Thực vật - Sinh học 11 – THPT
Chương
Thời lượng (tiết)
Bài học Nội dung giảm tải Nội dung cốt lõi
và ion khoáng ở rễ cây
- Vai trò của nước, chất khoáng và nitơ đối với thực vật
- Các con đường, cơ chế của quá trình trao đổi nước và trao đổi chất khoáng ở thực vật
Mục II : Không mô
tả sâu cấu tạo của
Trang 34mạch rây, chỉ dạy sự dẫn truyền của dịch mạch rây
mà chỉ giới thiệu cơ quan thoát hơi nước chủ yếu của cây là
1
Bài 5 + 6 :
Dinh dưỡng nitơ thực vật
Mục II : Quá trình
đồng hóa nitơ ở thực vật
1
Bài 7 : Thực
hành : Thí nghiệm thoát hơi nước và thí nghiệm về vai trò phân bón
Trang 351 Bài 8 : Quang hợp ở thực vật
- Vai trò, đặc điểm khái quát của quá
trình quang hợp
- Đặc điểm của thực vật C3, C4, và CAM
- Ảnh hưởng của các nhân tố ngoại cảnh đến quang hợp
và năng suất cây trồng
1
Bài 9 :
Quang hợp ở các nhóm thực vật C3,
C4 và CAM
Chỉ giới thiệu C3, C4
và CAM theo kênh chữ (bỏ hình 9.3 và 9.4)
1
Bài 10 : Ảnh
hưởng của các nhân tố ngoại cảnh đến quang
hợp
1
Bài 11 :
Quang hợp và năng suất cây
carotenoit
- Các kiến thức về quá trình hô hấp, quang hợp bằng thí nghiệm trực quan
- Các thí nghiệm nhằm phát hiện hệ sắc tố quang hợp và hoạt động hô hấp
1
Bài 14 : Thực hành :
Phát hiện hô
Trang 36hấp thực vật của thực vật
1
Bài 14*:
Thực hành : Chứng minh
Tổng số tiết : 3 tiết
Chú thích : Những bài đánh dấu * là những bài trong chương trình Sinh học 11 –
Nâng cao
Chương trình nội dung kiến thức phần “Chuyển hóa vật chất – năng lượng”
và “Cảm ứng” ở thực vật – Sinh học 11 – THPT được thiết kế với tổng thời lượng gồm 13 tiết lý thuyết và 3 tiết thực hành Trong đó nội dung của các bài thực hành chỉ mang tính chất tái hiện kiến thức là chủ yếu Tuy nhiên, theo định hướng đổi mới chương trình Giáo dục phổ thông hiện nay thì cần hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi sau:
+ Những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;
+ Năng lực chuyên biệt của bộ môn Sinh học: Môn Sinh học hình thành và phát triển cho học sinh năng lực tìm hiểu tự nhiên, với biểu hiện là các năng lực
Trang 37Sinh học, gồm : năng lực tìm tòi và khám phá tự nhiên, năng lực nhận thức kiến thức Sinh học, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Do đó, nội dung chương trình theo Sách giáo khoa Sinh học 11 chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra theo định hướng đổi mới
Vì vậy, từ những lý do trên, chúng tôi xin mạnh dạn đề xuất logic của nội dung kiến thức phần “Chuyển hóa vật chất – năng lượng” và “Cảm ứng” ở thực vật – Sinh học 11 – THPT thành các chủ đề học tập như sau:
Bảng 3.2 : Các chủ đề học tập nội dung kiến thức phần “Chuyển hóa vật chất -
năng lượng” và “Cảm ứng” ở thực vật - Sinh học 11 – THPT
Chương Chương trình
hiện hành Chủ đề
Logic của chủ đề Số tiết
Nội dung cốt lõi
và nitơ
ở thực vật
- Sự hấp thụ
nước và muối khoáng ở rễ
- Vận chuyển
các chất trong cây
- Thực hành : Thí nghiệm thoát hơi nước
- Thoát hơi nước
- Thực hành : Thí nghiệm vai trò của phân bón
- Vai trò của các nguyên tố khoáng và dinh
6
- Vai trò của nước, chất khoáng và nitơ đối với thực vật
- Các con đường, cơ chế của quá trình trao đổi nước và trao đổi chất khoáng ở thực vật
Trang 38hơi nước và thí
nghiệm về vai
trò phân bón
dưỡng Nitơ ở thực vật
- Thực hành :
Phát hiện diệp lục và carôtenôit
- Quang hợp ở
thực vật
- Quang hợp ở
các nhóm thực vật C3, C4 và CAM
- Ảnh hưởng
của các nhân tố ngoại cảnh đến quang hợp và năng suất cây trồng
5
- Vai trò, đặc điểm khái quát của quá trình
quang hợp
- Đặc điểm của thực vật
C3, C4, và CAM
- Ảnh hưởng của các nhân
tố ngoại cảnh đến quang hợp và năng suất cây trồng
- Thực hành :
Phát hiện hô hấp ở thực vật
- Thực hành :
Chứng minh quá trình hô hấp tỏa nhiệt
Trang 39- Thực hành : Hướng động
- Hướng động
- Khái niệm, vai trò và các kiểu hướng động và ứng động ở thực
vật
Tổng số tiết : 3 tiết
- Ưu điểm của việc logic của nội dung kiến thức phần “Chuyển hóa vật chất – năng lượng” và “Cảm ứng” ở thực vật – Sinh học 11 – Trung học phổ thông thành các chủ đề học tập :
+ Những thí nghiệm sẽ trở thành nguồn cung cấp thông tin để học sinh tìm
tòi, nghiên cứu bài học
+ Học sinh tiếp cận kiến thức một cách chủ động, sáng tạo, logic nên các em
sẽ hiểu và vận dụng kiến thức tốt hơn
+ Rèn luyện cho học sinh nhiều kỹ năng (kỹ năng thiết kế thí nghiệm, kỹ năng tư duy trừu tượng, kỹ năng làm việc nhóm ) và năng lực theo định hướng Giáo dục phổ thông mới (năng lực tự chủ và tự học, năng lực tìm tòi và khám phá tự nhiên, )
+ Vẫn đảm bảo được thời lượng, số tiết theo đúng chương trình Sách giáo khoa
Tất cả những phân tích trên sẽ là tiền đề để sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học nội dung kiến thức “Chuyển hóa vật chất – năng lượng” và
“Cảm ứng” ở Thực vật – Sinh học 11 – Trung học phổ thông
Trang 40Bước 5.1 : Xác định nhiệm vụ học tập
Bước 5.2 : Hướng dẫn thí
nghiệm, quan sát, tìm tòi
3.2 QUY TRÌNH THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC KIẾN THỨC PHẦN CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT - NĂNG LƯỢNG VÀ CẢM ỨNG – SINH HỌC 11 – THPT BẰNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT
Để định hướng cho giờ dạy trong phần “Chuyển hóa vật chất - năng lượng”
và “Cảm ứng” – Sinh học 11 – Trung học phổ thông bằng phương pháp Bàn tay nặn bột, giáo viên cần phải tiến hành thiết kế và tổ chức các hoạt động dạy học theo 6 bước cơ bản sau :
Hình 3.1 : Sơ đồ quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học kiến thức phần
“Chuyển hóa vật chất - năng lượng” và “Cảm ứng” ở Thực vật – Sinh học 11 –
Trung học phổ thông bằng phương pháp Bàn tay nặn bột
Bước 5.3 : Tự thí
nghiệm, quan sát, tìm tòi theo mẫu
Bước 5.4 : HS báo cáo
kết quả thí nghiệm, quan sát, tìm tòi
Bước 5.5 : Kết luận, chính xác hóa kiến thức
Bước 5.6 : Củng cố, vận dụng kiến thức