Để góp phần đánh giá thành phần loài cá ở Đà Nẵng, đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài cá trong một số hệ sinh thái sông, hồ của TP.. Ý NGHĨA KHOA HỌC ĐỀ TÀI Cung cấp cơ sở dữ liệu về
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH MÔI TRƯỜNG
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH MÔI TRƯỜNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nguyễn Thành Trung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Văn Khánh đã hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian qua Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Sinh - Môi trường, Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận này
Trang 5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Chuẩn dòng chảy năm hai trạm đo Thành Mỹ và Nông Sơn
Bảng 3.1 Danh mục thành phần loài cá tại một số hệ sinh thái sông
Bảng 3.2 Cấu trúc thành phần loài cá khu hệ cá sông Hàn 24 Bảng 3.3 Cấu trúc thành phần loài cá khu hệ cá sông Cẩm Lệ 26 Bảng 3.4 Cấu trúc thành phần loài cá khu hệ cá sông Vĩnh Điện 27 Bảng 3.5 Cấu trúc thành phần loài cá khu hệ cá sông Cu Đê 29
Bảng 3.6 Cấu trúc thành phần loài cá khu hệ cá hồ Đồng Xanh –
Bảng 3.7 Cấu trúc thành phần loài cá khu hệ cá hồ Trước Đông 32 Bảng 3.8 Cấu trúc thành phần loài cá khu hệ cá hồ Bàu Tràm 33 Bảng 3.9 Đa dạng các bậc phân loại của 7 khu hệ cá TP Đà Nẵng 35
Bảng 3.10 Đặc điểm sinh khối của các loài cá ngoại lai trong một số
Bảng 3.11 Danh mục các loài cá ngoại lai trong một số hệ sinh thái
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Biểu đồ cấu trúc thành phần loài các Bộ, theo số lượng
Hình 3.2 Biểu đồ cấu trúc thành phần loài các Bộ, theo số lượng
Hình 3.3 Biểu đồ cấu trúc thành phần loài các Bộ, theo số lượng
loài của mỗi Bộ tại khu hệ cá sông Vĩnh Điện 28
Hình 3.4 Biểu đồ cấu trúc thành phần loài các Bộ, theo số lượng
Hình 3.5 Biểu đồ cấu trúc thành phần loài các Bộ, theo số lượng
loài của mỗi Bộ tại khu hệ cá hồ Đồng Xanh – Đồng Nghệ 31
Hình 3.6 Biểu đồ cấu trúc thành phần loài các Bộ, theo số lượng
loài của mỗi Bộ tại khu hệ cá hồ Trước Đông 32
Hình 3.7 Biểu đồ cấu trúc thành phần loài các Bộ, theo số lượng
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC ĐỀ TÀI 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3
1.1.1 Vị trí địa lý 3
1.1.2 Đặc điểm khí hậu 3
1.1.3 Đặc điểm thủy văn 4
1.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÁ 6
1.2.1 Lịch sử nghiên cứu thành phần loài cá trên thế giới 6
1.2.2 Lịch sử nghiên cứu thành phân loài cá ở Việt Nam 9
1.2.3 Lịch sử nghiên cứu ở khu vực miền Trung và Thành Phố Đà Nẵng 12
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 15
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 15
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 15
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 15
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 16
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 16
Trang 82.3.2 Phương pháp tham vấn cộng đồng 16
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 17
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 17
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 18
3.1 DANH MỤC VÀ CẤU TRÚC THÀNH PHẦN LOÀI CÁ TRONG MỘT SỐ HỆ SINH THÁI SÔNG HỒ TP ĐÀ NẴNG 18
3.1.1 Danh mục thành phần loài cá trong một số hệ sinh thái sông hồ TP Đà Nẵng 18
3.1.2 Cấu trúc thành phần loài cá trong một số hệ sinh thái sông hồ TP Đà Nẵng 24
3.1.3 Sự đa dạng các bậc phân loại của các khu hệ cá 34
3.2 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ XÂM NHẬP CỦA CÁC LOÀI CÁ NGOẠI LAI ĐỐI VỚI MỘT SỐ HỆ SINH THÁI SÔNG HỒ TP ĐÀ NẴNG 36
3.2.1 Một số loài cá ngoại lai tại một số khu hệ sinh thái sông hồ TP Đà Nẵng 36
3.2.2 Đánh gá mức độ xâm nhập của một số loài cá ngoại lai trong các khu hệ cá ở TP Đà Nẵng 40
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
4.1 KẾT LUẬN 45
4.2 ĐỀ NGHỊ 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, sinh vật ngoại lai xâm hại đang là mối đe dọa nghiệm trọng đối với các hệ sinh thái tự nhiên và đa dạng sinh học bản địa Theo Luật Đa dạng sinh học năm 2008 “Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nới chúng xuất hiện và phát triển” [17] Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy rằng sinh vật ngoại lai xâm hại đã làm tuyệt chủng 39% số loài xuất hiện trên bề mặt trái đất kể từ năm
1600, phá hủy mất 36% các hệ sinh thái và trong đó đóng góp tới 50% sự tuyệt chủng của cá nước ngọt [1]
Ở Việt Nam, các loài sinh vật ngoại lai xâm hại đã xuất hiện, phát triển và xâm lấn gây ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng tới đa dạng sinh học Nghiên cứu của Bộ Thủy sản, năm 2005 đã công bố rằng có 41 loài thủy sinh vật nhập nội ở Việt Nam
và trong đó có 6 loài cá được xếp vào loài ngoại lai gây xâm hại cho các loài bản
địa gồm: cá Ăn muỗi (Gambusia affinis), cá Hổ (Pygocentrus nattereri), cá Tỳ bà (Hypostomus punctatus), cá Tỳ bà lớn (Pterygoolichthys pardalis), cá Vược miệng
bé (Micropterus dolomieu) và cá Vược miệng rộng (Micropterus salmoides) [2]
Thực trạng đó đặt ra cho chúng ta một nhiệm vụ cấp thiết là phải xây dựng chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học trước sự xâm lấn của các loài ngoại lai xâm nhập, mà bước đầu là phải đánh giá thực trạng thành phần cá
Trong thực tế, việc nghiên cứu thành phần loài cá ở Việt Nam mới bắt đầu từ khoảng năm 1877 với những công trình nghiên cứu mang tính khoa học Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu trong cả nước Tuy nhiên, các công trình này thường nghiên cứu trên phạm vi rộng hoặc riêng cho các khu vực miền Bắc, miền Nam và Tây Nguyên Riêng ở khu vực miền Trung thì các nghiên cứu về thành phần loài còn rất hạn chế Công trình nghiên cứu đáng kể nhất là “Góp phần nghiên cứu khu hệ cá nước ngọt Nam Trung Bộ Việt Nam” của Nguyễn Hữu Dực, Mai Đình Yên (1995), các nghiên cứu về khu hệ cá đầm phá của Võ Văn Phú Ngay đối
Trang 11với thành phố Đà Nẵng nơi có nhiều khu hệ cá nước ngọt cũng chưa được nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống Theo như tìm hiểu, mới có các nghiên cứu sơ bộ ở khu
hệ Bà Nà – Núi Chúa và một vài nghiên cứu nhỏ lẻ về khu hệ cá sông Hàn, còn hầu như các khu hệ cá nước ngọt khác chưa có một công bố chính thức nào Để góp
phần đánh giá thành phần loài cá ở Đà Nẵng, đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài
cá trong một số hệ sinh thái sông, hồ của TP Đà Nẵng” được thực hiện nhằm
cung cấp nguồn dữ liệu về hiện trạng xâm nhập của các loài cá ngoại lai tại một số thủy vực trên TP Đà Nẵng
2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Xác định thành phần loài cá trong một số hệ sinh thái sông, hồ tại TP Đà Nẵng
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC ĐỀ TÀI
Cung cấp cơ sở dữ liệu về thành phần loài cá và hiện trạng xâm nhập của các loài
cá ngoại lai trong một số hệ sinh thái sông hồ tại TP Đà Nẵng và là thông tin ban đầu cho những công trình nghiên cứu tiếp theo về thành phần loài trong tương lai
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Đà Nẵng gồm vùng đất liền và vùng quần đảo trên biển Đông Vùng đất liền nằm ở tọa độ 15˚ 55’ đến 16˚ 14’ vĩ bắc, 107˚ 18’ đến 108˚ 20’ kinh đông, Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên – Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp Biển Đông Vùng biển gồm quần đảo Hoàng Sa nằm ở 15˚ 45’ đến 17˚ 15’ vĩ
độ Bắc, 111˚ đến 113˚ kinh Đông, cách đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quãng Ngãi) khoảng 120 hải lý về phía Nam Diện tích tự nhiên là 1.256,24 km2, trong đó diện tích đất liền là 951,2 km2
1.1.2 Đặc điểm khí hậu
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình nên nhiệt
độ cao và ít biến động, chế độ ánh sáng, mưa, và chế độ ẩm phong phú Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam với tính trội
là khí hậu điển hình ở phía Nam Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa đông từ tháng 9 đến tháng 4, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 8, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài Đà Nẵng có một nền nhiệt độ cao và phân bố khá đồng đều quanh năm Nhiệt độ chủ yếu biến đổi theo đọ cao và thay đổi theo mùa Nhiệt độ trung bình năm 25,90C, cao nhất là vào tháng 6 đến tháng 8 (trung bình từ 28 – 300C ), thấp nhất là vào tháng 12 đến tháng 2 (trung bình từ18 -
200C) Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1500m, nhiệt độ trung bình khoảng
200C Vào các tháng mùa mưa, độ ẩm không khí không khí trung bình là 83,4%, cao nhất vào tháng 10, 11 (trung bình từ 85,67 - 86,67%), thấp nhất vào các tháng 6,
7 (trung bình từ 76,67 - 77,33%) Lượng mưa trung bình hằng năm là 2201 mm/năm, mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm từ 65 – 80% lượng mưa
cả năm, lượng mưa cao nhất là vào tháng 10 và 11 (trung bình 550 – 1000 mm/tháng) , thấp nhất vào tháng 1 đến tháng 4 (trung bình 23 – 40 mm/tháng) Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 8 Số giờ nắng bình quân trong năm là
Trang 132156,2 h, nhiều nhất là vào tháng 5, 6 (trung bình từ 234 – 277 h/tháng), thấp nhất
là vào tháng 11, 12 (trung bình từ 69 – 165 h/tháng) Đà Nẵng có hai mùa gió chính: gió mùa mùa đông và gió mùa mùa hạ Từ tháng 5 đến tháng 9, hướng gió thịnh hành là hướg gió Đông Nam và Tây Nam, tố Từ tháng 10 đến tháng 4, chịu ảnh hưởng của gió Đông và Đông Bắc [31]
1.1.3 Đặc điểm thủy văn
a Mạng lưới sông
Sông ngòi Đà Nẵng đều bắt nguồn từ phía Tây, Tây bắc thành phố và tỉnh Quảng Nam Hầu hết các sông ở Đà Nẵng đều ngắn và dốc Mạng lưới sông trong thành phố Đà Nẵng bao gồm hệ thống sông Vu Gia, sông Cu Đê và sông Phú Lộc Hệ thống sông Vu Gia gồm các sông Yên, Lạc Thành, Tuý Loan, La Thọ, Vĩnh Điện và sông Hàn Sông Hàn thực chất là hạ lưu sôngVu Gia, là hợp lưu của sông Cẩm Lệ và sông Vĩnh Điện Tổng diện tích lưu vực sông khoảng 160 km2, là nơi tiếp nhận lượng dòng chảy của các sông Yên, sông Tuý Loan, sông Vĩnh Điện
Trang 14c Dòng chảy lũ
Mùa lũ bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 12, lượng dòng chảy 3 tháng mùa lũ chiếm tới 65 – 75% tổng lượng dòng chảy năm Tháng có lượng dòng chảy lớn nhất là tháng 11 với lượng dòng chảy trung binh tháng có thể đạt trên 30% lượng dòng chảy năm [31]
d Dòng chảy kiệt
Sông Vu Gia – Thu Bồn mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 9 hàng năm Dòng chảy nhỏ nhất phần lớn vào tháng 4, những năm ít hoặc không có mưa tiểu mãn vào tháng 5 và tháng 6 thì dòng chảy nhỏ nhất vào tháng 7 và tháng 8 Dòng chảy tháng nhỏ nhất chiếm 1 – 3% lượng nước cả năm Dòng chảy mùa cạn chiếm
20 – 25% lượng nước cả năm [31]
e Chế độ triều
Vùng cửa sông, chế độ triều là bán nhật triều không đều chiếm ưu thế Mỗi tháng có trung bình 3 ngày nhật triều, nhiều nhất là 8 ngày, ít nhất là 1 ngày, còn lại là bán nhật triều Biên độ triều lớn nhất là 1,5m trung bình khoảng 0,8 – 1,2m Ranh giới ảnh hưởng của thủy triều trên các sông chỉ khoảng 20 – 40 km tính
từ cửa sông Trên sông Hàn, tại các cửa sông biên độ triều trung bình khoảng 1m, lớn nhất là 1,4m Tại Cẩm Lệ trung bình là 0,47m, lớn nhất là 1,27m Ở vùng biển
Đà Nẵng, chế độ triều thuộc loại yếu: biên độ trung bình từ 0,8 – 1,2m, lớn nhất đạt 1,5m Tại cảng Đà Nẵng biên độ cáo nhất là 1,4 m, trung bình là 0,7 m [29, 30, 31]
Với các đặc điểm về tự nhiên như vậy, thành phố Đà Nẵng được xem
là khu vực có độ đa dạng sinh học cao, là khu vực giao lưu của 2 vùng địa lý sinh vật phía Bắc và phía Nam, Có ý nghĩa không chỉ đối với sự phát triển kinh tế của thành phố, mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với bảo tồn đa dạng nguồn gen
Trang 151.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÁ
1.2.1 Lịch sử nghiên cứu thành phần loài cá trên thế giới
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, các công trình nghiên cứu
về cá được hình thành sớm nhất lúc con người còn ở thời kỳ xã hội nguyên thủy Trong thời kỳ ấy con người cũng đã phân biệt và đặt tên cho các loài cá (384-322 TCN) thời Aristode, các công trình nghiên cứu về cá được hình thành thực sự và có nhà khoa học ghi chép lại để cùng hiểu biết và sử dụng chung Từ đó đén nay, nhiều công trình khoa học cũng được hình thành như: C Linnaeus (1707,1778); G Cuvier; A Valenciennes (1828-1848); Ds Jordan (1854-1931); L S Berg (1876-1950); Pravdin (1964),… [15]
a Thời kỳ thứ nhất (Thời kỳ từ thời Aristode – 384-322 (TCN) đến thế kỷ XVI)
Aistole (384-322 TCN) là người đầu tiên trên thế giới có công trình nghiên cứu cá được công bố, đánh dấu bước ngoặc lớn trong lích sử nghiên cứu cá với 115 loài cá với những dẫn liệu phân bố, sính sản, di cư, được giới thiệu và đề cập trong cuốn Lịch sử động vật (Historia animalum) của mình [15]
Tuy nhiên phải đến thế kỹ XVI cùng với sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên khác, các công trình nghiên cứu về cá mới phát triển một cách mạnh mẽ với nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng như: P Belon (1518-1564, Pháp) đã giới thiệu 110 loài cá; G Rondelt (1507-1557, Pháp) đã giới thiệu 197 loài
ở Địa Trung Hải; C Gasneri (1516-1565, Pháp) đã gợi ý cách đặt tên hai chữ cho cá
mà đã được sử dụng sau này
b Thời kỳ thứ hai (Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX)
Thời kỳ này có rất nhiều công trình nghiên cứu về cá có giá trị, đánh dấu bước ngoặc lớn trong sự phát triển và nghiên cứu về nguồn lợi cá trên thế giới, nhất là về phân loại, địa lý phân bố và khu hệ cá ở các vùng nước khác nhau
Trang 16Thời kỳ này có các nhà nghiên cứu nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về cá có giá trị như: P Artedi (1705-1734, Thụy Điển) với 5 cuốn sách nổi tiếng; C Linnaeus (1705-1778, Thụy Điển) với cuốn “Hệ thống tự nhiên” đã đề
ra cách gọi tên cá hai chứ và giới thiệu tới 2600 loài cá khác nhau; C Cuvier và A Valenciennes với cuốn “Lịch sử tự nhiên về cá” gồm 21 tập xuất bản liên tục trong
20 năm (1828-1848); P Bleeker (1819-1874, Hà Lan) với cuốn “Sưu tập nghiên cứu cá ở phía Đông Hà Lan” gồm 9 tập; A Gunther (1830-1914, Đức) với cuốn
“Thống kê về cá ở Viện bảo tàng Anh” gồm 8 tập rất có giá trị về phân loại cá Bên cạnh sự phát triển của các nghiên cứu về phân loại, thời kỳ này các nghiên cứu về sinh thái, sinh lý về cá cũng được bắt đầu chú trọng và phát triển [34]
c Thời kỳ thứ ba (Từ đầu thế kỷ XX đến nay)
Thời kỳ này là giai đoạn phát triển nhanh và toàn diện của ngư loại học, trong đó phân loại cá, sinh lý, sinh thái cá đong vai trò là bước tiên phong để phát triển bền vững nghề cá Thời kỳ này có các nhà khoa học nổi tiếng như: D S Josdan (1854 - 1931) giới thiệu khu hệ cá Bắc và Trung Mỹ ; G A Boulenger (1851) với 15 tập sách giới thiệu các loài cá ở viện bảo tàng Anh (gồm 6843 loài) ;
L S Berg (1876 - 1950, Liên Xô) với tập “Hệ thống ngư loại” nổi tiếng, bao gồm các nội dung về phân loại, phân bố địa lý cá,… ; M Weber và L F de Beaufort (1911-1953, Hà Lan) đã công bố 10 tập sách về các loài cá ở vùng quẩn đảo Châu
Úc ; K Matsubara (Nhật) với cuốn “Hình thái và bảng tra cứu cá loài cá” ; E Mayr (1953) đưa ra những lý thuyết phân loại học, phương pháp phân loại học, lịch sử phân loại học,…[9, 15, 34]
Phần nửa những năm sau của thập kỷ XX, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền khoa học công nghệ, phân loại cá cũng được chú ý phát triển hơn Theo thống kê của Nelson, 1984 trên thế giới có khoảng 29.000 loài cá sống ở các thủy vực ; R Frose và D Pauly, 1995 đã tổng hợp giới thiệu trên 12.000 loài chiếm khoảng 50% loài cá sống trong các thủy vực
Trang 17Ở khu vực Đông Nam Á lĩnh vực nghiên cứu thành phần loài cá ở vùng cửa sông, ven biển cũng được các nhà khoa học của các nước quan tâm và đã
có một số công trình nổi bật
Đặc biệt là nghiên cứu về cá của Vương Dĩ Khang (1958, Trung Quốc) với cuốn “Ngư loại phân loại học” đã đưa ra khóa phân loại và mô tả 1.800 loài cá phân bố ở khu vực ven bờ và biển Nam Trung Quốc, cuốn sách này hiện nay vẫn được nhiều nhà phân loại học tham khảo [14] Walter J Rainboth (1996) đã nghiên cứu khu hệ cá sông Meekong và đã mô tả được 500 loài [40] Năm 1971, hai giáo sư người Nga là T S Rass và G U Lindberg công bố công trình “Những khái niệm hiện đại về hệ thống tự nhiên của cá hiện sống”, hệ thống này được coi là hiện đại và có cơ sở khoa học vững chắc, được nhiều nhà ngư loại học Việt Nam và trên thế giới thừa nhận, sử dụng [9] Ngoài ra còn rất nhiều tác giả khác như Kottelat (1998, 2000, 2001, 2003) nghiên cứu khu hệ cá Đông Dương [38] Geoger H.P de Bruin, Bary.C.R và Andre.B đã nghiên cứu về nguồn lợi hải sản ở Sri Lanka trong
đó đã phân loại và mô tả 691 loài cá biển [36] Kimura.S và Keiichi M (2003) đã
mô tả bằng hinh ảnh 768 loài cá thương mại và cá rạn san hô ở vùng biển thanh phố Bitung, phía Bắc Sulawesi, Indonexia [37]
Ngày nay, việc nghiên cứu và phân loại cá đang được các nhà khóa học trên thế giới quan tâm nhiêu hơn và một số công trình nghiên cứu để bổ sung về thành phần loài và phân bố cá ở một số nơi trên thế giới vẫn đang được tiến hành thông qua các phương tiện thông tin do một số tổ chức có uy tín cung cấp, có thể kể đến như: Fishbase (2004) (http://fishbase.org/), trang web này do trung tâm ICLARM và FAO lập ra với danh mục 25.000 loài cá và phân bố của chúng trên thế giới Công trinh nghiên cứu về đa dạng sinh học đầy đủ nhất từ trước đến nay được
tổ chức Lương Nông thế giới (FAO) công bố về danh mục của các loài cá trên thế giới và những tra cứu thống nhất của chúng trong 2.500 trang sách [35]
Tóm lại lịch sử nghiên cứu cá có từ rất sớm và lâu đời, ở mỗi nước trên thế giới đều có nghiên cứu về cá Hiện nay, theo (Fishbase, 2017) thì đã tập
Trang 18hợp được 33.900 loài cá trên thế giới và được thống kê từ 54.700 tài liệu tham khảo với 323.100 tên động vật và 58.600 ảnh cá [41]
1.2.2 Lịch sử nghiên cứu thành phân loài cá ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ nữa cuối thế kỷ XVIII, ngư loại học mới bắt đầu phát triển và được nhìn nhận là tương đối muộn so với nhiều khu vực khác trên thế giới Điển hình có các nhà khoa học đầu ngành như: Về phân loại cá biển có: Nguyễn Nhật Thi, Bùi Đình Chung, Lê Trọng Phấn, Nguyễn Khắc Hường, Về phân loại cá nước ngọt có: Mai Đình Yên, Nguyễn Thái Tự, Nguyễn Hữu Dực, Võ Văn Phú, Nguyễn Văn Hảo,… [32]
a Thời kỳ thứ nhất (trước năm 1954)
Đây là thời kỳ mở đầu về nghiên cứu khu hệ và nguồn lợi cá biển ở nước ta Điển hình là: H.E.Sarvage (1877) với cuốn “Về một số loại cá nước ngọt từ Đông Dương gửi về”; A Tirant (1885) với cuốn “Các loài cá ở Nam Bộ và Campuchia”; H.E.Sarvage (1884) với cuốn “Đóng góp cho khu hệ cá Bắc Bộ” đã nghiên cứu về khu hệ cá Châu Á và mô tả một số loài mới ở Đông Dương đồng thời
đã thống kê được 139 loài và 2 loài mới ở miền Bắc Việt Nam; L.Vaillant (1891) thu nhập 6 loài mô tả 4 loài mới ở Lai Châu, 5 loài mới ở sông Kỳ Cùng; J.Pellegrin (1905, 1906) với cuốn “Cá nước ngọt ở Đông Dương” đã đóng góp cho Cá Vịnh Hạ Long; “Đông Dương, nguồn lợi biển và nước ngọt” của A Gruvel; “Thống kê các loài cá ở Đông Dương” của P Chabanaud, tập I, và P.Chevey, tập II, (1932) “Các loài cá nước ngọt ở Bắc Bộ” của P Chevey và LemassonJ (1937),…[20] Nổi bật là công trình nghiên cứu của Gilbert Tirant (1929) về cá ở phía Nam Việt Nam và Campuchia; trong nghiên cứu ông đã tìm ra được đặc điểm sinh học và nghề cá của
221 loài thuộc Bộ cá Nhám, cá Đuối, cá Chép, cá Trích và một số loài cá khác [40] Các nghiên cứu thời kỳ này chủ yếu là của các tác giả người nước ngoài, phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế Tuy nhiên, chúng cũng đóng góp đáng kể cho sự phát triển của ngư loại học ở Viêt Nam, đặt nền móng cho các nghiên cứu sau này của các tác giả người Việt [34]
Trang 19b Thời kỳ thứ hai (Từ 1954 đến 1975)
Từ 1954 đến 1975, các công trình nghiên cứu xuất hiện phong phú, đặc biệt có sự tham gia ngày càng nhiều của các tác giả người Việt Nam với những nghiên cứu chung và nghiên cứu cụ thể cho từng vùng Điển hình: “Nghiên cứu động vật ở miền Trung Việt Nam” của Đào Văn Tiến (1957) tập trung vào một số loài cá ven biển miền Trung; Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1958) với “Dẫn liệu
sơ bộ ngư giới sông Bôi” gồm 44 loài cá; Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên với “ Dẫn liệu sơ bộ ngư giới Ngòi Thìa (nhánh của sông Hồng) gồm 54 loài cá; Đặng Ngọc Thanh và Mai Đình Yên (1961) với “Điều tra nguồn lợi sinh vật hồ Tây”; Mai Đình Yên (1962) với “Sơ bộ điều tra thành phần nguồn gốc và phân bố của chủng quần cá sông Hồng”; “Sơ bộ tìm hiểu thành phần nguồn gốc và phân bố chủng quần
cá sông Hồng” của Mai Đình Yên (1963) với công bố 110 loài; “Các loài cá sông Thao” của Nguyễn Văn Hảo (1964); “Các loài cá sông Lô” của Hoàng Đức Đạt (1964); “Cá loài cá Chép” của Trần Đình Trọng (1966); Mai Đình Yên (1966) điều tra khu hệ cá sông Hồng với 92 loài và phân loài cá nước ngọt; “Thành phần hoá học các loài cá kinh tế vùng nước ngọt” của Nguyễn Thị Thịnh (1969); “Khu hệ cá vịnh Bắc bộ”của L I Besednow (1971) [14, 22]
c Giai đoạn thứ ba (Từ 1975 đến nay)
Từ năm 1975 đến nay, là giai đoạn được ghi nhận bởi hàng loạt các chương trình lớn của Nhà nước về điều tra, nghiên cứu tổng hợp về điều kiện tự nhiên và nguồn lợi cá biển Việt Nam Các nghiên cứu điển hình như: “Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía bắc Việt Nam” của Mai Đình Yên (1978) với 201 loài thuộc
103 giống; “Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ” của Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiên (1992) với công bố và mô tả 255 loài; Nghiên cứu phân loại cá Nục của Nguyễn Bá Hùng, Bùi Đình Chung (1964) xác định được 7 loài; Đặc biệt trong cuốn “Ngư loại học” của Mai Đình Yên, Vũ Trung Tạng (1979)
mô tả được 51 bộ cá, là một hệ thống tương đối đầy đủ về thành phần loài cá Việt Nam; Nguyễn Thái Tự (1986) về “Đặc điểm khu hệ cá Nghệ Tĩnh”; Nguyễn Thái
Trang 20Tự (1992) về “Khu hệ cá Vũ Quang”; Võ Văn Phú (1995) về “Thành phần loài cá ở các đầm phá Thừa Thiên Huế” với 163 loài [34] Trên cơ sở các nghiên cứu trước
đó, trong cuốn “Nguồn Lợi Thuỷ Sản Việt Nam” của Bộ Thuỷ sản (1996) đã liệt kê danh sách thành phần loài cá nước ngọt Việt Nam gồm 544 loài thuộc 57 họ và 18
bộ, danh sách loài cá kinh tế nước ngọt gồm 97 loài nằm trong 23 họ, danh mục cá biển Việt Nam gồm 29 bộ và 185 họ [3]
Năm 1998, tại Hội nghị khoa học toàn quốc về nuôi trồng thủy sản tổ chức tại Viện NCNTTSI đã có nhiều nghiên cứu có giá trị như: “Hiện trạng thành phần loài cá ở hồ chứa Thác Bà tỉnh Yên Bái” của Ngô Sỹ Vân gồm 68 loài; Nguyễn Thị Thu Hè với “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá tự nhiên ở các sông suối Đắc Lắc và một vài ý kiến bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong vùng” đã cho thấy cá ở đây khá phong phú với 101 loài [21]
Ý thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu ngư loại học đối với
sự phát triển của nghề cá nói riêng và công tác bảo vệ đa dạng sinh học nói chung, tiếp nối các hướng nghiên cứu của các tác giả trước Giai đoạn từ 2000 - 2005, hàng loạt các nghiên cứu về thành phần loài ở nhiều vùng trong cả nước được công bố như: “Thành phần loài cá lưu vực sông Mã thuộc địa phận tỉnh Thanh Hoá” của Nguyễn Hữu Dực, Nguyễn Văn Hảo, công bố 130 loài thuộc 94 giống, 35 họ, 9 bộ, trong đó chiếm ưu thế là bộ cá Vược (Perciformes) với 19 họ (chiếm 54,2%); “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở một số Hồ Tây Nguyên Việt Nam” của Nguyễn Thị Thu Hè, công bố danh sách 76 loài thuộc 57 giống, 21 họ và 8 bộ, trong
đó bộ có nhiều loài nhất là bộ cá Chép (Cypriniformes) với 48 loài; “Về đa dạng sinh học thành phần loài cá ở đầm Ô Loan, tỉnh Phú Yên” của Võ Văn Phú, Nguyễn Thị Phi Loan, Hồ Thị Hồng với 108 loài thuộc 67 giống, 46 họ và 13 bộ, trong đó
bộ đa dạng nhất về họ, giống và loài là bộ cá Vược (Perciformes) có tới 21 họ, 33 giống, 57 loài; “Đặc điểm phân bố cá ở vùng biển ven bờ tỉnh Bến Tre và Trà Vinh” của Nguyễn Văn Lục với tổng số 203 loài thuộc 49 họ, chiếm ưu thế vẫn là bộ cá Vược gồm 33 họ; ”Thành phần loài cá ở hồ Phú Ninh tỉnh Quảng Nam” của Vũ Thị Phương Anh với 71 loài nằm trong 49 giống thuộc 19 họ và 9 bộ, ưu thế nhất là bộ
Trang 21cá Chép (Cypriniformes) có 3 họ với 38 loài; “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài
cá sông Chu thuộc địa phận tỉnh Thanh Hoá” của Nguyễn Hữu Dực, Dương Ngọc Quang, Nguyễn Thị Nhung với 94 loài và phân loài thuộc 68 giống, 24 họ và 9 bộ;
“Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá vùng hồ Then, Cao Bằng” của Thạch Mai Hoàng, Nguyễn Xuân Huấn với công bố 32 loài thuộc 5 bộ và 10 họ, chiếm ưu thế tuyệt đối là bộ cá Chép (Cypriniformes) với 22 loài; “Thành phần loài cá vùng cửa sông Bạch Đằng - Quảng Ninh” của Nguyễn Xuân Huấn, Đoàn Hương Mai, Hoàng Thị Hồng Liên với 177 loài, 44 họ, 11 bộ [6, 10, 11, 19, 26, 27, 28]
Năm 2011, nghiên cứu của Dương Văn Long với đề tài: “Đa dạng sinh học về cá và mối quan hệ của chúng với chất lượng môi trường nước sông Hồng thuộc địa phận thành phố Hưng Yên, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên” đã xác định được 51 loài cá thuộc 47 giống, 24 họ và 10 bộ, trong số này có 6 loài có tên trong sách Đỏ Việt Nam 2007 [18]
Tất cả các công trình nghiên cứu trên đang góp phần tạo ra một cái nhìn tổng quát và cụ thể đối với đa dạng sinh học cá ở Việt Nam nói chung và ở từng địa phương nói riêng Trong tương lai gần, các nghiên cứu về phân loại cá nằm trong chương trình “Nghiên cứu cơ bản” sẽ được thực hiện với quy mô lớn và cụ thể hơn, nhằm mục đích đánh giá, bảo vệ và phát triển nguồn đa dạng sinh học cá ở Việt Nam
1.2.3 Lịch sử nghiên cứu ở khu vực miền Trung và Thành Phố Đà Nẵng
Trước 1975, do nhiều điều kiện khác nhau nên hầu như không có 1 công trình nào nghiên cứu khu hệ cá ở khu vực miền Trung, ngoại trừ công trình của G Tirant (1883) ở sông Hương - Huế, công bố danh sách và mô tả 70 loài, trong đó phần lớn là cá nước lợ và cá nước biển, chỉ có 21 loài cá nước ngọt [5]
Sau 1975, bắt đầu có một số công trình nghiên cứu được thực hiện như: Bùi văn Dương (1980) thống kê danh sách gồm 71 loài cá ở đầm Ô Loan; Nguyễn Hữu Dực (1982) thống kê 58 loài cá sông Hương; Nguyễn Hữu Dực và Mai Đình Yên thống kê 87 loài cá nước ngọt ven biển Nam Trung Bộ; Mai Đình Yên và
Trang 22Nguyễn Hữu Dực (1991) đã xác định được 85 loài cá ở sông Thu Bồn; Võ Văn Phú (1994) đã thống kê một danh sách gồm 126 loài cá ở đầm Cầu Hai (Huế) thuộc 95 giống, 60 họ và 17 bộ, trong đó bộ cá Vược (Perciformes) chiếm ưu thế với 30 họ (50%) và 86 loài (52,76%), tiếp theo là bộ cá Đối (Mugiliformes) với 14 loài (8,59%), ba bộ: cá Trích (Cupeiformes), cá Chép (Cypriniformes), cá Chình (Anguilliformes) đều chiếm 6,13% tổng số loài,… Nguyễn Văn Hảo và Nguyễn Hữu Dực cũng đã thống kê 82 loài cá ở Tây Nguyên; Vũ Thị Phương Anh, Võ Văn Phú (2002 - 2004) với công bố 71 loài cá ở Hồ Phú Ninh - Quảng Nam thuộc 49 giống, 19 họ và 9 bộ, ưu thế nhất là bộ cá Chép (Cypriniformes) có 3 họ (15,79%) với 38 loài (53,52%), tiếp theo là bộ cá Vược (Perciformes) có 6 họ (31,58%) với
17 loài (23,94%), bộ cá Nheo (Siluriformes) với 4 họ (21,05%), các bộ khác có số loài không nhiều chiếm chưa tới 3% tổng số loài; Nguyễn Hữu Dực và Nguyễn Văn Hoàng (2012) đã xác định được 177 loài cá ở Phá Tam Giang – Cầu Hai; Nguyễn Thị Tường Vi, Lê Thị Thu Thảo, Võ Văn Quang và Bùi Thị Ngọc Nở (2014) đã xác định được 139 loài cá tại Khu hệ cá cửa sông Thu Bồn Trong số đó đáng kể nhất là công trình “Góp phần nghiên cứu khu hệ cá nước ngọt Nam Trung Bộ Việt Nam” của Nguyễn Hữu Dực, Mai Đình Yên (1995) với công bố danh sách 134 loài thuộc
31 họ và các nghiên cứu khu hệ cá ở đầm phá Thừa Thiên Huế của Võ Văn Phú [5,
7, 8, 24, 25, 26, 33]
Ở Thành Phố Đà Nẵng, năm 1995 tác giả Nguyễn Kiêm Sơn có một công trình nghiên cứu sơ bộ đầu tiên tại khu bảo tồn Bà Nà – Núi Chúa Sau đó là nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Việt Cưòng, Thạch Mai Hoàng (Trường ĐHKHTN - ĐHQG Hà Nội), kết hợp với nghiên cứu của Ban quản lý khu bảo tồn đã lập dược danh sách 78 loài và phân loài thuộc 55 giống, 16 họ và 9 bộ Trong đó có 24 loài và phân loài chỉ phân bố ở miền Bắc, 31 loài chỉ phân bố ở miền Nam và 11 loài phân bố trên cả 2 miền Chiếm ưu thế là bộ cá Vược (Perciformes) với 4 họ (25%), 13 loài (16,7%) Bộ cá Chép (Cypriniformes) với 3
họ (18,75%), 47 loài (60,3%), bộ cá Nheo (Siluriformes) với 3 họ (18,75%) và 10 loài (12,8%) [10]
Trang 23Mặc dù một số công trình nghiên cứu về nguồn lợi thuỷ sản đã đƣợc tiến hành tại Đà Nẵng nhƣng nhìn chung còn mang tính chất riêng lẻ, thiếu đồng bộ
Trang 24CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thành phần loài cá trong một số hệ sinh thái sông hồ ở TP Đà Nẵng
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Bảng 2.1 Địa điểm nghiên cứu
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ ngày 11/2017 đến tháng 03/2018
Trang 252.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Điều tra thành phần loài cá bằng phương pháp tham vấn cộng đồng
- Thu mẫu các loài cá ngoại lai bằng phương pháp thu mẫu trực tiếp
Định loại các loài cá ngoại lai theo khóa phân loại của Nguyễn Văn Hảo (2001
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Mẫu cá ngoại lai được thu trực tiếp từ người dân hoạt động đánh bắt trong vùng nghiên cứu, ngoài ra những mẫu cá ít gặp sẽ nhờ người dân thu hộ Mẫu
cá có đính kèm etyket ghi rõ thời gian, địa điểm thu mẫu và chụp ảnh mẫu cá Mẫu thu được cố định trong formol 12%, sau đó đem về phòng thí nghiệm định loại bảo quản bằng formol 4%
Mẫu cá ngoại lai được tiến hành đếm số lượng và đo khối lượng tại chỗ trong một lần đánh bắt của ngư dân trong quá trình thu mẫu
2.3.2 Phương pháp tham vấn cộng đồng
Điều tra thành phần các loài cá ở từng khu hệ sinh thái sông hồ TP Đà Nẵng thông qua tham vấn những người dân hoạt động đánh bắt trong vùng nghiên cứu Mỗi khu vực nghiên cứu sẽ chọn ra 3 người thường xuyên hoạt động đánh bắt
và phỏng vấn trực tiếp với các cá nhân đó, trao đổi thông tin về thành loài các loài
cá ở từng khu vực nghiên cứu và ghi vào sổ tay cá nhân Ngoài ra, còn tiến hành khảo sát tại các chợ cá địa phương
Trang 262.3.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
Mẫu cá ngoại lai đưa về phòng thí nghiệm được định loại theo khoá
phân loại của Vương Dĩ Khang (1958), Ngư loại học và Nguyễn Văn Hảo (2001 - 2005), Cá nước ngọt Việt Nam tập 1-2 [12, 13, 15]
Mẫu cá được so sánh với các mẫu trên trang web: http://www.fishbase.org [42] Mẫu sau khi định loại được bảo quản trong formol 4% và lưu giữ ở phòng thí nghiệm, Khoa Sinh - Môi trường, Trường Đại Học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng
Các loài cá ngoại lai được xác định dựa trên danh mục các loài ngoại lai của thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT [2]
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsolf Excel
Trang 27CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN
3.1 DANH MỤC VÀ CẤU TRÚC THÀNH PHẦN LOÀI CÁ
3.1.1 Danh mục thành phần loài cá trong một số hệ sinh thái sông, hồ TP
Đà Nẵng
Trong thời gian đi thực tế, tiến hành tham vấn các ngư dân đánh bắt và khảo sát tại các chợ cá ở từng địa phương, ngoài ra còn tiến hành thu mẫu và phân tích đối với các loài cá ngoại lai, đã xác định được thành phần loài cá như sau: khu
hệ cá sông Cu Đê có thành phần loài phong phú hơn với 49 loài cá thuộc 44 giống,
29 họ và 10 bộ; các khu hệ cá hồ có thành phần loài ít hơn từ 13 – 17 loài cá
Danh mục thành phần cá được sắp xếp theo hệ thống phân loại của T S Rass và G U Lindberg (1971) [9] Kết quả được trình bày ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Danh mục thành phần loài cá tại một số hệ sinh thái sông hồ TP Đà
3 Clupanodon punctatus (Temmick &
Trang 289 Anguilla marmorata (Quoy et
13 Hemiculter leuciseulus (Basilewski) X X X X
14 Opsarichthys uncirostris (Sch.) X X X
Trang 2915 Tinca tinca (Bleeker) X X X X
VI SILURIFORMES
(8) Clariidae