1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đa dạng thành phần loài bò sát tại khu vực Buôn Lưới, huyện KBang, tỉnh Gia Lai

70 99 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 3,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH MÔI TRƯỜNG --- TRƯƠNG TẤN TIỆP NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI BÒ SÁT TẠI KHU VỰC BUÔN LƯỚI, HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI Đà Nẵng – Năm 2018... Số lượn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH MÔI TRƯỜNG -

TRƯƠNG TẤN TIỆP

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI BÒ SÁT TẠI KHU VỰC BUÔN LƯỚI, HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI

Đà Nẵng – Năm 2018

Trang 2

Ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường

Người hướng dẫn: TS PHAN THỊ HOA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của mình Các số liệu, kết quả

của luận văn hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trước đây

Học viên

Trương Tấn Tiệp

Trang 4

- Xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và những người thân đã hết lòng giúp

đỡ, động viên tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành đề tài

- Xin cảm ơn quý thầy cô Khoa Sinh – Môi trường (Đại học Sư phạm Đà Nẵng), cùng toàn thể bạn bè đã giúp đỡ trong suốt qua trình thực hiện đề tại

Đà Nẵng, tháng 4 năm 2018

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nội dung nghiên cứu 2

4.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4

1.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BÒ SÁT 4

1.1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu bò sát ở Việt Nam 4

1.1.2 Tình hình nghiên cứu Bò sát ở vùng Cao nguyên Gia Lai 8

1.3 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 9

1.3.1 Điều kiện tự nhiên: 9

1.3.2 Tình hình dân sinh, kinh tế xã hội 11

CHƯƠNG 2 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 12

2.1.1 Phạm vi nghiên cứu: 12

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu: 12

2.1.3 Thời gian nghiên cứu: 12

2.2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.2.1 Vật liệu nghiên cứu 13

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 13

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 18

3.1 THÀNH PHẦN LOÀI BÒ SÁT Ở KHU VỰC NGHIÊN CỨU 18

3.1.1 Danh sách thành phần loài bò sát 18

3.1.2 Những phát hiện mới về khu hệ bò sát ở Buôn Lưới 20

3.1.3 Cấu trúc thành phần loài bò sát ở Buôn Lưới 20

3.1.4 Sự tương đồng của bò sát Buôn Lưới với các khu hệ lân cận 21

3.2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CÁC LOÀI BÒ SÁT Ở VÙNG NGHIÊN CỨU 23

3.3 ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA BÒ SÁT Ở VÙNG NGHIÊN CỨU 40

3.4 HIỆN TRẠNG BẢO TỒN, CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN BÒ SÁT TẠI BUÔN LƯỚI 42

3.4.1 Những loài bò sát có giá trị bảo tồn ở Buôn Lưới 42

Trang 6

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44

KẾT LUẬN 44

KIẾN NGHỊ 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

PHỤ LỤC 1 52

PHỤ LỤC 2 54

PHỤ LỤC 3 58

Trang 7

Số liệu bảng Nội dung Trang

3.1 Danh lục thành phần loài bò sát ở khu vực nghiên cứu 18 3.2 Chỉ số tương đồng (Dice index) về thành phần loài giữa

Buôm Lưới và các khu vực lân cận

22

3.3 Các loài bò sát có giá trị bảo tồn được ghi nhận tại Buôn

Lưới

42

Trang 8

Tên hình Nội dung Trang

1.1 Vị trí Xã Sơ Pai trong khu vực 9 2.1 Vị trí các tuyến nghiên cứu chính tại khu vực 12

Buôn Lưới với các khu hệ lân cận

22

3.3 Hình ảnh Acanthosaura lepidogaster ngoài sinh cảnh tự nhiên 23

3.4 Hình ảnh Acanthosaura nataliae ghi nhận được từ thực địa 24 3.5 Hình ảnh Draco maculatus ghi nhận được từ thực địa 25 3.6 Hình ảnh Physignathus cocincinus ghi nhận tại sinh cảnh tự

nhiên

26

3.7 Hình ảnh Calotes versicolor ngoài sinh cảnh tự nhiên 26 3.8 Hình ảnh Calotes bachae tại sinh cảnh ngoài tự nhiên 27 3.9 Hình ảnh Hemidactylus frenatus trong sinh cảnh nhân tạo 28 3.10 Hình ảnh Gehyra mutilata trong sinh cảnh nhân tạo 29 3.11 Hình ảnh mẫu Gekko gecko thu được 30 3.12 Hình ảnh Takydromus sexlineatus và một số đặc điểm phần

đầu

31

3.13 Hình ảnh đặc trưng phần đầu của Eutropis multifaciata 32 3.14 Hình ảnh mẫu Eutropis multifaciata ngoài sinh cảnh tự nhiên 32 3.15 Hình ảnh Scincella rufocaudata đặc trưng 33

Trang 9

3.18 Hình ảnh Pareas margaritophorus ngoài sinh cảnh tự nhiên 36 3.19 Hình ảnh Pareas carinatus ngoài sinh cảnh tự nhiên 36 3.20 Hình ảnh phần đầu và cơ quan sinh dục của Pareas hamptoni 37 3.21 Hình ảnh Pareas hamptoni ngoài sinh cảnh tự nhiên 37 3.22 Hình mẫu Dendrelaphis ngansonensis sơn thu được 38 3.23 Hình ảnh Trimeresurus vogeli thu được 39 3.24 Hình ảnh mẫu vật Indotyphlops braminus 39 3.25 Hình ảnh mẫu vật Hypsiscopus plumbea 40 3.26 Biểu đồ đa dạng thành phần loài bò sát theo sinh cảnh ở Buôn

Lưới

41

Trang 10

cs.,

et al

Cộng sự

BS Bò sát

IUCN Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế

KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên

KDTSQ Khu dự trữ sinh quyển

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bò sát (Reptilia) là loại động vật có xương sống với hơn 502 loài bò sát được ghi nhận ở Việt Nam [53] Số lượng các loài bò sát được ghi nhận ở Việt Nam không ngừng tăng trong những năm gần đây với hàng trăm loài mới và ghi nhận mới được phát hiện, đặc biệt là các nhóm còn ít được nghiên cứu từ sau 2009, số loài bò sát được mô tả đến giữa năm 2017 là hơn 80 loài [42,53] Tuy nhiên, quần thể của các loài bò sát trong tự nhiên bị suy giảm nghiêm trọng, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng do mất và suy thoái sinh cảnh sống Ngoài ra, nhiều loài bò sát có giá trị kinh tế cao (rùa, rắn, tắc kè) bị săn bắt phục vụ nhu cầu của con người như làm thực phẩm, dược liệu, nuôi làm cảnh nên quần thể của nhiều loài đã bị suy giảm nhanh chóng [49]

Tây Nguyên là tên gọi chung của khu vực bao trùm toàn bộ hệ thống cao nguyên rộng lớn nằm ở phía tây của khu vực nam Trung bộ, với diện tích là 57.373

Km2, với nhiều cao nguyên nối tiếp nhau Tây Nguyên phải bao gồm khu vực cao nguyên Đà Lạt và cao nguyên Gia Lai-Kon Tum, cao nguyên Gia Lai Tại đây có sự

đa dạng cao các loài bò sát với nhiều loài mới được mô tả từ những mẫu vật thu

thập tại khu vực này như Acanthosaura nataliae, Bronchocela vietnamensis, Dibamus greeri, Sphenomorphus buenloicus, Dopasia sokolovi và Calamaria gialaiensis… [53] Ngoài ra có hơn 37 loài bò sát được ghi nhận tại Vườn Quốc gia

Kon Ka Kinh (Kon Ka Kinh) và 30 loài bò sát tại hành lang vùng đệm giữa Kon Ka Kinh và Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng (Kon Chư Răng) [23] Trong các khu vực kể trên, có 3 khu vực chính được các nhà nghiên cứu người Nga khảo sát trong nhiều năm gồm VQG Kon Ka Kinh, Buôn Lưới và Kon Chư Răng

Buôn Lưới là khu vực thuộc trung tâm của cao nguyên Kon Nà Hừng, là một khu vực quan trọng có ý nghĩa đối với khu hệ bò sát Việt Nam với nhiều loài mới được mô tả tại đây cùng với hai khu vực khác là VQG Kon Ka Kinh và Kon Chư Răng Trong đó hai khu vực VQG Kon Ka Kinh và KBTTN Kon Chư Răng đều được bảo vệ, nhưng khu vực Buôn Lưới nay vẫn thuộc sự quản lý của xã Mặc dù là

Trang 12

một trong những địa điểm thu mẫu chuẩn quan trọng ở Việt Nam nhưng hiện nay Buôn Lưới là khu vực bị phá rừng mạnh do việc chuyển đổi sang rừng cà phê; ngoài

ra Buôn Lưới là nơi có 2 loài thằn lằn bóng thuộc 2 giống duy nhất tại Việt Nam

được mô tả bởi 1 mẫu duy nhất được thu thập tại khu vực này là Vietnascincus rugosus và Scincella rara nhưng cho đến nay chưa được ghi nhận lại [53] Với việc

diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp và khu vực này không được đưa vào vùng bảo

vệ (KBTTN hay VQG) nên việc đánh giá và ghi nhận lại danh mục các loài bò sát tại đây là cực kì câng thiết và mang tính chất bổ sung dữ liệu quan trọng cho đa dạng sinh học của khu vực nghiên cứu cũng như Việt Nam hiện nay

Chính vì vậy tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài bò sát tại khu vực Buôn Lưới, huyện KBang, tỉnh Gia Lai” nhằm đánh giá lại thành

phần loài bò sát tại đây, bổ sung cơ sở dữ liệu về những bò sát còn ít hoặc chưa được biết đến và đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ chúng có hiệu quả tại Buôn Lưới

2 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu thành phần loài và sự phân bố của các loài bò sát tại khu vực Buôn Lưới, huyện KBang, tỉnh Gia Lai

* Mục tiêu cụ thể

- Xác định các loài bò sát tại khu vực Buôn Lưới dựa vào đặc điểm hình thái

- Phân tích cấu trúc khu hệ bò sát tại khu vực Buôn Lưới

- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của các loài bò sát ghi nhận được

3 Nội dung nghiên cứu

- Thống kê các loài bò sát tại khu vực Buôn Lưới, huyện KBang, tỉnh Gia Lai

- Đưa ra đánh giá về cấu trúc khu hệ bò sát tại khu vực

- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của các loài bò sát tại Buôn Lưới như sự phân bố, sinh cảnh sống…

- Đánh giá giá trị bảo tồn và các tác động tới khu hệ bò sát tại vùng nghiên cứu

Trang 13

4.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Từ những mục tiêu trên, đề tài thực hiện sẽ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn:

- Cung cấp dẫn liệu khoa học về danh lục các loài bò sát tại khu vực Buôn Lưới

- Cung cấp dẫn liệu về một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của các loài ở khu vực nghiên cứu như đặc điểm phân bố, sinh cảnh sống

- Dẫn liệu của đề tài cung cấp cơ sở khoa học cho nhà quản lý địa phương vận dụng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh vật và khai thác bền vững tài nguyên tại địa phương

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BÒ SÁT

1.1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu bò sát ở Việt Nam

Theo Nguyen et al (2009) [49], có thể chia lịch sử nghiên cứu BS thành 4 thời kỳ chính: thời kỳ trước năm 1954, thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975, thời kỳ

1976 đến năm 1986 và thời kỳ từ năm 1987 đến nay Tương ứng với mỗi thời kỳ, có các hướng nghiên cứu khác nhau: nghiên cứu thành phần loài và phân loại học diễn

ra trong suốt lịch sử nghiên cứu BS ở Việt Nam, nghiên cứu về sinh thái học và chăn nuôi một số loài có giá trị kinh tế được thực hiện bắt đầu từ thập niên 80-90 của thế kỷ trước và nghiên cứu sinh học phân tử và âm sinh học chỉ mới được các nhà khoa học sử dụng vào những năm đầu của thế kỷ này

Nghiên cứu khởi đầu về khu hệ BS ở Việt Nam: “Sur la Faune de la Cochinchine Francaise”của Morice, (1875) gồm 114 loài [57]; “Notes surles Reptiles et Batraciens de la Cochinchine et du Cambodge” của Tirant, (1885) mô tả

149 loài BS [58] Trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX có 84 loài mới được các tác giả Bourret (1920, 1937, 1939, 1942), Cuvier (1829), Smith (1921, 1922, 1924), Boulenger (1903, 1927), Angel (1927, 1928, 1933), Schlegel (1839), Mocquard (1897), Morice (1875), Pellegril (1910) Siebenrock (1903) … mô tả với mẫu vật thu được ở Việt Nam [22]

Ba cuốn sách chuyên khảo của Bourret gồm: Les Serpents de l’Indochine mô

tả 189 loài và phân loài rắn xuất bản năm 1936 [54], Les Tortues l’Indochine mô tả

44 loài và phân loài rùa, 1941 [22] và Les Batraciens de l’Indochine, 1942 được coi

là tài liệu đầy đủ nhất về BS của vùng Đông Dương (trong đó chủ yếu là Việt Nam, Lào và Campuchia) [55]

Trang 15

Qua đó cho thấy thời kỳ này tập trung thống kê phân loại và mô tả loài, địa điểm khảo sát chủ yếu ở các khu nghỉ mát (Mẫu Sơn, Tam Đảo, Sa Pa, Ba Vì, Đà Lạt) hay khu đồn trú của người Pháp (Ngân Sơn, Phước Sơn…)

Từ 1954 -1975, ở miền Bắc, Đào Văn Tiến và cs (1956) nghiên cứu ở Vĩnh Linh, Quảng Trị, thống kê được 13 loài BS, trong đó có 1 loài rùa mới, năm 1962

ông ghi nhận 2 loài Python molurus và Palea steindachneri (= Trionyx

steindachneri) ở Đình Cả, tỉnh Thái Nguyên [30]

Từ 1956 - 1975, Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc đã thống kê ở miền Bắc có 159 loài BS (Trần Kiên và cs., 1981) [11]

Ở miền Nam, 1955, Marx và Inger công bố loài mới Calamaria buchi cho khoa học [38]

Năm 1970, Campden - Main đã thống kê có 77 loài rắn trong cuốn sách A field guide to the snakes of South Vietnam [33]

Sau 1975 các nghiên cứu đã được mở rộng hơn về quy mô và hình thức Để giúp cho nghiên cứu định loại, Đào Văn Tiến đã tổng hợp và xây dựng khoá định loại cho: 32 loài Rùa và 2 loài Cá sấu (1978) [26], 77 loài Thằn lằn (1979) [27], 165 loài Rắn (1981,1982) [28, 29]

Năm 1985, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật trong tuyển tập “Báo cáo kết quả thống kê động vật Việt Nam” ghi nhận có 260 loài BS [22]

Từ 1990 đến nay cùng với việc thành lập các Vườn Quốc gia và các KBTTN, việc nghiên cứu càng được phát triển mạnh Năm 1993, Hoàng Xuân Quang nghiên cứu BS ở Bắc Trung bộ [16] Từ 1994, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Lê Nguyên Ngật và nhiều tác giả khác đã nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Tam Đảo và thị trấn Tam Đảo, đến nay đã phát hiện có 124 loài BS [22] Năm 1996, Lê Nguyên Ngật, Nguyễn Văn Sáng ghi nhận 42 loài BS ở rừng Cúc Phương [22] Năm 1998, Ngô Đắc Chứng nghiên cứu ở Nam Bình Trị Thiên có 147 loài BS (Ngô Đắc Chứng, 1998) [5]; Năm 1997, Hoàng Xuân Quang và cs nghiên cứu ở Tây Nam Nghệ An thống kê được 38 loài BS [22]; điều tra sự đa dạng và hiện trạng BS ở vùng núi Yên

Tử từ 2004 - 2009 (Trần Thanh Tùng, 2009) lập được danh sách 139 loài trong đó

Trang 16

có 1 loài mới cho khoa học Odorrana yentuensis [31], Hoàng Văn Ngọc (2011) đã

thống kê được 101 loài BS ở Thái Nguyên, Hà Giang và Tuyên Quang [14]…

Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc xuất bản cuốn Danh lục ếch nhái, bò sát Việt Nam với 258 loài BS [20]

Năm 2005, Nguyễn Văn Sáng và cs ghi nhận 296 loài BS thuộc 23 họ, 3 bộ [21] Năm 2007, Nguyễn Văn Sáng xuất bản Động vật Chí (phần Rắn) mô tả 149 loài rắn thuộc 8 họ ở Việt Nam [19]

Năm 2009, Nguyen et al đã thống kê 375 loài BS thuộc 24 họ ở Việt Nam

và được công bố trong cuốn “Herpetofauna of Vietnam” [49]

Từ 1980-2009, các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài đã phát hiện nhiều loài mới và bổ sung vùng phân bố của nhiều loài trên toàn quốc như: Darevsky,

1984, 1992; Orlov, (2003, 2007); Bain, (2003, 2004, 2007, 2009), Ziegler, (2005, 2006); Lathrop, (1998) [22]

Trong Hội thảo Quốc gia về Lưỡng cư và Bò sát ở Việt Nam lần thứ nhất và Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật 2009 có một số kết quả nghiên cứu về đa dạng khu hệ BS của một số vùng trên cả nước: Hồ Thu Cúc và cs., (2009) ghi nhận tại KBTTN Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai có 61 loài BS [6]; Lê Nguyên Ngật và cs., (2009) điều tra ở KBTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa có 53 loài BS [12]; Hoàng Thị Nghiệp và cs., (2009) thống kê ở huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp có 32 loài BS [13] Điều tra đa dạng BS tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ (Nguyễn Văn Sáng và cs., 2009) ghi nhận 48 loài BS [23]

Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật năm 2011, có một số nghiên cứu về đa dạng khu hệ BS: Điều tra tại KBTTN Pù Huống, tỉnh Nghệ An (Lê Vũ Khôi và cs., 2011) ghi nhận 72 loài BS [10]

Hoàng Xuân Quang và cs., 2012 điều tra khu hệ BS ở VQG Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế đã thống kê được 64 loài BS [17]

Trong báo cáo Hội thảo Quốc gia về Lưỡng cư, bò sát ở Việt Nam lần thứ II năm 2012, Phạm Thế Cường và cs [8] ghi nhận 70 loài, trong đó có 38 loài BS ở

Trang 17

Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa; Hoàng Ngọc Thảo và cs ghi nhận BS thuộc 24 họ, 5 bộ ở khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An [25]

Bên cạnh đó số loài mới cho khoa học được công bố hàng năm cũng tăng lên

rõ rệt qua các thời kỳ Nếu trong thời kỳ 1975 - 1986 phát hiện được 6 loài mới cho khoa học, thì từ năm 1987 - 2009, số loài phát hiện mới cho khoa học đã tăng lên

108 loài [12] Từ 2010 - 2014 có 69 loài mới cho khoa học được tiếp tục phát hiện ở Việt Nam Điều đó chứng tỏ cán bộ Việt Nam đã có những bước trưởng thành đáng

kể và tiềm năng nghiên cứu về khu hệ BS ở nước ta còn rất lớn

Một số loài mới được mô tả và ghi nhận mới cho Việt Nam từ năm 2010 trở

lại đây như loài Hemiphyllodactylus banaensis (Ngo et al., 2014) [41]; Oligodon culaochamensis (Nguyễn Ngọc Sang và cs, 2017) [50]

Bên cạnh các nghiên cứu về phân loại học, nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ di truyền tiến hóa cũng hỗ trợ cho việc sắp xếp và hệ thống lại các loài BS ở Việt Nam

Về các loài quý hiếm: Năm 1992, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường xuất bản Sách Đỏ Việt Nam (Phần Động vật) liệt kê 43 loài BS bị đe dọa Năm

2000, Sách Đỏ Việt Nam được tái bản có chỉnh sửa và bổ sung thống kê 43 loài BS Sách Đỏ Việt Nam, 2007 đã ghi nhận 40 loài BS bị đe dọa [1]

Cho đến nay đã có 9 chuyên khảo về BS Việt Nam được xuất bản: Danh lục

bò sát và ếch nhái Việt Nam của Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc (1996) [20], Ếch nhái và bò sát ở một khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam [Die Amphibien und Reptilien eines Tieflandfeuchtwald-Schutzgebietes in Vietnam] của Ziegler (2002) [22], Bò sát và ếch nhái Vườn Quốc gia Cúc Phương của Nguyễn Văn Sáng và cs (2003) [22], Danh lục ếch nhái và bò sát Việt Nam của Nguyễn Văn Sáng và cs (2005) [21], Động vật chí Việt Nam - Phân bộ Rắn của Nguyễn Văn Sáng (2007) [19], Thằn lằn Việt Nam của Bobrov và Semenov (2008) [22], Ếch nhái, bò sát ở

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống của Hoàng Xuân Quang và cs (2008) [21], Khu

hệ bò sát và ếch nhái Việt Nam [Herpetofauna of Vietnam] của Nguyen et al (2009) [49], Ếch nhái, bò sát ở Vườn Quốc Gia Bạch Mã của Hoàng Xuân Quang

Trang 18

và cs (2012) [18] Bên cạnh đó, từ 2000 trở lại đây, ít nhất 6 cuốn sách nhận dạng một số Vườn Quốc gia hoặc KBTTN như Ba Bể, Na Hang, Phú Quốc hoặc các loài thường bị buôn bán cũng được xuất bản bởi các cơ quan quản lý hoặc các tổ chức bảo tồn quốc tế [22]

Bên cạnh những thành tựu đạt được về nghiên cứu khu hệ BS ở Việt Nam, chủ yếu ở đất liền, các công trình nghiên cứu về đảo và bán đảo còn rất hạn chế Nghiên cứu của Darevsky (1999) công bố 31 loài thằn lằn và 15 loài rắn trên 9 đảo lục địa của Việt Nam bao gồm Cát Bà, Cù Lao Ba Mun, Cù Lao Phon Vong, Hòn Nor Way, Cù Lao Chàm, Côn Đảo, Hòn Bãi Cạn, Cù Lao Panjang và Hòn Thơm [35] Sau đó Paul et al (2008) ghi nhận 56 loài LC, BS ở đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang [47] Võ Văn Phú (2008) điều tra đánh giá đa dạng sinh học đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị ghi nhận 18 loài LC, BS [15] Nghiên cứu khu hệ VQG Côn Đảo, Bà Rịa

- Vũng Tàu (Poyarkov, 2011) [48] thống kê 31 loài BS Nghiên cứu khu hệ bò sát ở KDTSQ quần đảo Cát Bà (Nguyen et al., 2011) ghi nhận 40 loài [44] Nghiên cứu lưỡng cư, bò sát ở quần đảo Cù Lao Chàm và Bán đảo Sơn Trà (Phan et al., 2015) ghi nhận 41 loài bò sát [9]

Trong 4 giai đoạn của lịch sử nghiên cứu BS ở Việt Nam có thể nhận thấy hai thời kỳ có nhiều loài mới được mô tả nhất là 1900-1954 (75 loài) và 1987-2009 (108 loài)

Các lĩnh vực nghiên cứu ban đầu tập trung vào phân loại học sau đó mở rộng

ra hệ thống học, sinh học, sinh thái, quan hệ di truyền và tiến hoá…

Kết quả nghiên cứu đã khám phá ra hàng trăm loài mới cho khoa học và rất nhiều ghi nhận mới nâng tổng số loài bò sát của Việt Nam lên đến 502 loài Kết quả nghiên cứu được thể hiện bằng các tài liệu đã xuất bản gồm 9 sách chuyên khảo, ít nhất 6 sách nhận dạng và hàng trăm bài báo công bố trên các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước

1.1.2 Tình hình nghiên cứu Bò sát ở vùng Cao nguyên Gia Lai

Các cuộc khảo sát thường tập trung thống kê thành phần loài của một vùng hay khu vực, phục vụ cho việc quy hoạch phát triển kinh tế, ít có một nghiên cụ thể

Trang 19

nào về bò sát Có nghiên cứu như: Đa dạng về thành phần loài bò sát (Reptilia) và ếch nhái (Amphibia) của vườn quốc gia Konkakinh, Tỉnh Gia Lai của Hoàng Văn Chung và cộng sự năm 2013 [4] Báo cáo về thành phần loài và đặc điểm phân bố của loài bò sát ở vườn quốc gia Konkakinh, tỉnh Gia Lai của tác giả Cáp Kim

Cương và Trần Thu Thảo, tại hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài

nguyên sinh vật lần thứ 5 [7] Dẫn liệu đa dạng thành phần loài động vật có xương sống (thú, lưỡng cư, bò sát) tại hành lang kết nối vườn quốc gia Konkakinh và khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng, tỉnh Gia Lai của tác giả Nguyễn Ái Tâm và

- Phía Đông giáp huyện Vĩnh Thạnh - Tỉnh Bình Định

- Phía Tây giáp xã Kroong – Huyện Kbang

- Phía Nam giáp xã Đăk Smar – Huyện Kbang

- Phía Bắc giáp xã Sơn Lang – Huyện Kbang [32]

Hình 1.1 Vị trí Xã Sơ Pai trong khu vực (vị trí đường ranh giới màu đỏ)

Trang 20

A: xem dưới dạng bản đồ; và B xem dưới dạng vệ tinh thể hiện độ che phủ rừng

(Nguồn: Chỉnh sửa từ Google map)

b Điều kiện khí hậu thời tiết

Xã Sơ Pai nằm trong khu vực Đông Trường Sơn và Duyên hải trung bộ, khí hậu mang đặc điểm khí hậu gió mùa cao nguyên và duyên hải trung bộ, có 02 mùa

rõ rệt; Mùa mưa bắt đầu từ tháng 6 - 11 và mùa khô bắt đầu từ tháng 12 - 4 năm sau; Tổng lượng bức xạ 8.5000C; Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 22 - 240C; Lượng mưa bình quân năm 2.500mm; Độ ẩm không khí 87% [32]

c Địa hình

Xã Sơ Pai thuộc khu vực Đông Trường Sơn, địa hình tương đối dốc, bị chia cắt mạnh và thoai thoải dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây; đất có độ dốc chênh lệch từ 00 – 300, nhưng chủ yếu 150

- 250 chiếm 53,5 % so với diện tích tự nhiên toàn xã, còn lại một số diện tích đất có độ dốc 00 – 30 , rất phù hợp để sản xuất nông nghiệp [32]

d Tài nguyên đất

Diện tích tự nhiên toàn xã là 11.484,98 ha

Trong đó :

* Đất sản xuất nông nghiệp: 4.518,3 ha chiếm 39,34 %

* Đất lâm nghiệp: 6.667,95 ha chiếm 58,06 %

* Đất nuôi trồng thuỷ sản: 18,16 ha chiếm 0,16 %

* Đất phi nông nghiệp: 209,89 ha chiếm 1,83 %

* Đất chưa sử dụng: 70,67 ha chiếm 0,21%

Toàn bộ quỹ đất của xã được hình thành từ đá Ba zan, đá Granit, Gơnai và

đá biến chất, nhưng chủ yếu là từ đá Ba Zan Đây là loại đất có hàm lượng dinh dưỡng khá cao, tầng đất dày, tơi xốp, ít chua khả năng thấm nước mạnh, giữ nước tốt và hầu hết tập trung ở độ cao 80 – 150, chỉ phù hợp với mô hình phát tiểnt nông lâm kết hợp, thích hợp với các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như: cà phê, hồ tiêu, chanh dây [32]

Trang 21

e Thảm thực vật rừng

Xã Sơ Pai có diện tích rừng và đất Lâm nghiệp khá lớn 6.667,95 ha chiếm 58,06 % so với diện tích tự nhiên của xã, trong đó diện tích rừng sản xuất 6.042,74ha chiếm 52,61%, rừng phòng hộ 625,21 (ha) chiếm 5,44%

Trạng thái rừng chủ yếu rừng giàu, trữ lượng gỗ còn lớn với nhiều loài gỗ quý hiếm và thảm thực vật còn đa dạng Đây là nguồn tài nguyên không những đem lại kinh tế lớn mà còn có tác dụng rất quan trọng trong việc bảo vệ đất đai, nguồn nước và môi trường sống bền vững [32]

1.3.2 Tình hình dân sinh, kinh tế xã hội

Xã Sơ Pai là một xã vùng II, có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn Toàn xã

có 08 thôn, làng Trong đó có 03 làng đặc biệt khó khăn Dân số toàn xã tính đến cuối năm 2016 có 1.387 hộ với 5.426 nhân khẩu (Trong đó: dân tộc Kinh: 3.562 người chiếm tỷ lệ 65,65 %; dân tộc Bahnar 1.040 người chiếm tỷ lệ 19.18%;còn lại

là các dân tộc khác từ các tỉnh thành phía bắc di cư vào xã sinh sống) Số người trong độ tuổi lao động chiếm 57,52 % dân số toàn xã, chủ yếu là lao động ở nông thôn, lao động thủ công chưa qua đào tạo, chất lượng lao động thấp

Cơ cấu kinh tế của xã chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm tới

95 %, còn lại là dịch vụ và ngành nghề khác 5%.Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 là 19,651 tr.đ/người/năm Năm 2016 toàn xã gieo trồng được 2.500,6 ha cây trồng các loại Tổng đàn gia súc trên địa bàn xã có 3.928 con Trong đó: Đàn trâu 135 con, đàn bò 935 con (tỷ lệ bò lai chiếm 80 %),đàn heo 2.720 con (heo hướng nạc đạt trên 45%) còn lại là gia súc khác [32]

Trang 22

CHƯƠNG 2 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, VẬT

LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1.1 Phạm vi nghiên cứu:

Khu vực Buôn Lưới, huyện KBang, tỉnh Gia Lai

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu:

Các loài bò sát (Reptilia)

Tháng 10/2017 đến tháng 04/2018 (7 tháng)

Hình 2.1 Vị trí các tuyến nghiên cứu chính tại khu vực

(Nguồn: Chỉnh sửa từ Google map) Trong đó tiến hành 3 đợt khảo sát cụ thể là:

- Đợt 1: 17/03 đến ngày 24/03: Khảo sát khu vực dân cư, 2 khu vực đồng ruộng tại Buôn Lưới

Trang 23

- Đợt 2: 01/04 đến ngày 08/04: Khảo sát các rẫy cà phê, các tuyến suối gần rẫy cà phê và các khu đồng cỏ

- Đợt 3: 12/04 đến ngày 17/04: Khảo sát đầm lầy, rừng thường xanh và suối trong rừng thường xanh

2.2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Vật liệu nghiên cứu

Đã phân tích 49 mẫu vật của 22 loài (bảng 3.1.)

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa

- Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu vật

Khảo sát kết hợp thu mẫu theo tuyến: khu vực nghiên cứu gồm 4 khu vực chính (Rừng thường xanh, rẫy cà phê, cánh đồng và khu vực dân cư)

Lập tuyến khảo sát: Căn cứ vào địa hình VNC, trong rừng: chọn lối mòn, các con suối có nước chảy, hang hốc và vách đá; quanh khu dân cư: chọn bờ ruộng, bờ

ao, nương rẫy, cồn cát ven biển làm thành tuyến khảo sát; rẫy cà phê: chọn các gốc

có tán rộng và cây có chiều cao tương đối; cánh đồng: đi dọc theo các con mương dẫn nước, bờ cỏ các ruộng lúa Chiều dài mỗi tuyến 0,5-1,5km Trên mỗi tuyến chính chọn những đoạn thưa của rừng hoặc những khe nhỏ chia nhánh từ suối để làm tuyến phụ Di chuyển trên tuyến chậm, quan sát và nghe mọi tiếng động để phát hiện mẫu vật Mỗi địa điểm bố trí 1-2 tuyến đi qua các sinh cảnh Tọa độ các tuyến khảo sát được xác định bằng máy định vị vệ tinh GPS Garmin

Thời gian và phương pháp thu mẫu: Sưu tầm mẫu và quan sát chủ yếu các loài hoạt động ban ngày: từ 9 giờ đến 17 giờ, các loài hoạt động ban đêm từ 19 giờ đến 24 giờ Những mẫu quan sát hoặc thu được đều được ghi chép, chụp ảnh trạng thái và màu sắc tự nhiên của chúng cùng với sinh cảnh

Xử lý mẫu vật: Mẫu vật được gây mê bằng miếng bông thấm etyl a-xe-tat Mẫu

cơ hoặc mẫu gan dùng để phân tích sinh học phân tử (cho các nghiên cứu sau) được lưu

Trang 24

giữ trong cồn 95% và được cách ly foóc môn Sau khi gây mê, tiến hành đeo nhãn ký hiệu vào mẫu vật

Định hình mẫu: Sắp xếp mẫu vật theo hình dạng mong muốn, sau đó phủ vải màn hoặc giấy thấm lên trên, ngâm trong cồn 80-90% trong vòng 10-20 giờ Đối với mẫu lớn tiêm cồn 90% vào bụng và cơ của con vật để tránh thối hỏng mẫu

Bảo quản mẫu vật: Sau khi cố định mẫu, chuyển sang ngâm trong cồn 70% Mẫu được ngâm trong bình chất lượng cao, đậy nắp kín để tránh bay hơi cồn và làm khô mẫu vật Mẫu được bảo quản trong phòng có đủ điều kiện (nhiệt độ và độ ẩm thấp, tránh ánh sáng trực tiếp của mặt trời, có khay và giá đựng)

Dụng cụ và thiết bị thu mẫu: vợt, gậy bắt rắn, kẹp và panh lớn, nhỏ, túi ni lông, túi vải, bơm và kim tiêm, bộ đồ mỗ, lọ nhựa đựng mẫu vật, đèn pin, giấy ghi nhãn…Máy ảnh kỹ thuật số, GPS (Garmin)…

b Các phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

Phân tích đặc điểm hình thái:

- Phân tích mẫu thằn lằn: Đo kích thước các phần cơ thể (đơn vị tính mm)

Hình 2.2 Các chỉ số đo ở thằn lằn (theo Manthey and Grossmann, 1997: có bổ sung) [17]

SVL Dài thân; TailL Dài đuôi; Crusl Dài đùi; TrunkL Dài nách-bẹn Đếm các chỉ tiêu hình thái SMB Số hàng vảy vòng quanh thân; SAB Số vảy ngang lưng

ở giữa thân SB Số vảy ngang bụng ở giữa thân; SLD Số hàng vảy dọc lưng từ sau vảy gáy đến ngang với lỗ huyệt; SLB Số hàng vảy dọc bụng từ sau vảy cằm đến

Trang 25

vảy trước hậu môn; SC Số vảy dưới đuôi; SL Vảy môi trên; IL Vảy môi; PP Lỗ trước huyệt (nếu có); FB Lỗ đùi (nếu có); Số bản mỏng dưới ngón: đếm số bản mỏng dưới ngón I chi trước (FIS), ngón IV chi trước (FIVS) và ngón I chi sau (TIS), ngón IV chi sau (TIVS)

Hình 2.3 Các vảy khiên ở đầu thằn lằn (theo Manthey and Grossman, 1997) [40]

1 Trán; 2 Trước trán; 3.Trán – mũi; 4 Mũi; 5 Trên mũi; 6 Mõm; 7 Má; 8 Sau mũi; 9 Trên ổ mắt; 10 Trán đỉnh; 11 Gian đỉnh; 12 Ðỉnh; 13 Gáy; 14 Trước

ổ mắt; 15 Trên mi; 16 Môi trên; 17 Cằm; 18 Sau cằm; 19 Môi dưới; 20 Thái dương; 21 Họng; 22 Màng nhĩ

Hình 2.4 Mặt dưới bàn chân thằn lằn (theo Bourret, 1943) [17]

a Gekko gecko (bản mỏng không chia); b Hemidactylus frenatus (bản mỏng chia); c Eutropis longicaudata; d Takydromus sexlineatus - Phân tích mẫu rắn: Đo kích thước các phần cơ thể (đơn vị tính mm):

SVL Dài thân; TailL Dài đuôi

Trang 26

Đếm các chỉ tiêu hình thái:

C Vảy thân; V Vảy bụng; SC Vảy dưới đuôi; SL Vảy môi trên; IL Vảy môi dưới; L Vảy má; OI Vảy trung; Pro Vảy trước mắt; Pto Vảy sau mắt; Subo: Vảy dưới mắt; T Vảy thái dương; MA Cặp vảy sau cằm trước; MP Cặp vảy sau cằm sau; A Vảy hậu môn; Lỗ mắt: Có thể tròn, elip

Hình 2.5 Vảy và vảy đầu của rắn (theo Manthey and Grossmann, 1997) [40]

a Mặt trên; b Mặt dưới; c Mặt bên

F Vảytrán; P Vảy đỉnh; Pf Vảy trước trán; In Vảy gian mũi; M Vảy cằm;

R Vảy mõm; SL; Vảy mép trên; IL Vảy mép dưới; MA Vảy sau cằm trước; MP Vảy sau cằm sau; G Vảy họng; V Vảy bụng; N Vảy mũi; L Vảy má; Pro.Vảy trước mắt; Pto.Vảy sau mắt; Subo Vảy dưới mắt; T Vảy thái dương

Hình 2.6 Cách đếm số hàng vảy thân (theo Manthey and Grossmann, 1997) [40]

a Ðến xiên; b Ðếm theo hình chữ V; c Ðếm so le

Trang 27

Hình 2.7 Vảy bụng, vảy dưới đuôi và vảy hậu môn (theo Manthey and Grossmann, 1997) [40]

Vảy bụng (V) có hoặc không có khuyết ở bên, vảy dưới đuôi (SC) nguyên (xếp 1 hàng) hoặc kép (2 hàng), vảy hậu môn (A) có thể nguyên hay chia

Dụng cụ và thiết bị phân tích hình thái BS gồm có: kính lúp soi nổi, thước đo điện tử (độ chính xác 0,1mm)

Định loại mẫu vật: theo Bourret (1942, 1943) [55,56]; Campden-Main (1970) [33]; Smith (1935, 1943) [51, 52]; Orlov et al (2011) [45] và Nguyễn Văn Sáng (2007) [19] và các tài liệu cập nhật [36, 41, 42, 43] Tên khoa học Uetz (2017) [53], tên phổ thông của loài theo Nguyen et al (2009) [49]

Đánh giá các loài bị đe doạ theo Sách Đỏ Việt Nam (2007) [1], Danh lục Đỏ của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 2014) [39], Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ [2], Nghị Định 160/2013/NĐ-CP về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm [3] và Công ước Quốc tế về Buôn bán các loài bị đe dọa (CITES,2013) [34]

c Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thống kê được phân tích trên phần mềm PAST (Hammer et al., 2001) [37] Chỉ số Sorensen (Dice) được sử dụng để so sánh sự tương đồng về thành phần loài giữa các điểm trong VNC và giữa VNC với các khu bảo tồn lân cận Chỉ

số này được tính dựa theo công thức: djk = 2M/(2M+N), trong đó M là số loài xuất hiện ở cả hai vùng và N là tổng số loài chỉ xuất hiện ở một vùng Chỉ số này được tính trong phần mềm Past Statictis, trong đó số liệu được mã hóa theo dạng loài có mặt (1) và loài vắng mặt (0) cho từng khu hệ [37]

Trang 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 THÀNH PHẦN LOÀI BÒ SÁT Ở KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1.1 Danh sách thành phần loài bò sát

Qua 3 đợt khảo sát tại khu vực nghiên cứu chúng tôi đã xây dựng được danh mục thành phần loài BS ở vùng nghiên cứu gồm 22 loài thuộc 14 giống, 08 họ, 01

bộ Trong đó 20 loài thu được mẫu, 02 loài có ảnh

Thứ tự sắp xếp các bậc phân loại BS ở VNC theo Nguyen et al (2009) [49]

Bảng 3.1 Danh lục thành phần loài bò sát ở khu vực nghiên cứu

1 HỌ NHÔNG AGAMIDAE GRAY, 1827

1 Giống

Acanthosaura Acanthosaura Gray,1831

1 Ô rô Vành Acanthosaura coronata Gunther, 1861 KL.0028, KL.0029

2 Ô rô Natalia

Acanthosaura nataliae Orlov, Nguyen &

2.Giống Draco Draco Linnaeus, 1785

3 Nhông bay đốm Draco maculatus (Gray, 1845) KL.0011

4 Kỳ tôm Physignathus cocincinus Cuvier, 1829 Không thu mẫu

3 Giống nhông Calotes Rafinesque, 1815

5 Nhông xanh Calotes versicolor Daudin, 1802 KL.0024

6

Nhông xám

Calotes bachae Hartmann, Geissler,

Poyarkov, Ihlow, Galoyan, Rӧdder &

Bӧhme, 2013

KL.0010, KL.0025, KL.0026, KL.0027, KL.0047

2 HỌ TẮC KÈ GEKKONIDAE GRAY, 1825

4 Giống

Hemidactylus

Hemidactylus

7 Thạch sùng đuôi sần Hemidactylus frenatus Schlegel in

Duméril & Bibron, 1836 KL.0017, KL.0018

8 Thạch sùng đuôi dẹp Gehyra mutilata (Wiegmann, 1834) KL.0016

Trang 29

5.Giống thằn lằn

châu Á

Cyrtodactylus

6 Giống tắc kè Gekko Laurenti, 1768

10 Tắc kè Gekko gecko Linnaeus 1758 KL.0003

8 Giống Eutropis Eutropis Fitzinger, 1843

12 Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifaciata (Kuhl, 1820) KL.0007

13

Thằn lằn đuôi đỏ Scincella rufocaudata (Darevsky &

Nguyen, 1983)

KL.0004, KL.0005, KL.0006, KL.0022, KL.0023, KL.0031, KL.0032, KL.0033, KL.0034

9 Giống rắn nọc

độc

Boiga

14 Rắn rào quảng tây Boiga guangxiensis Wen, 1998 KL 0002, KL.0049

10 Giống rắn roi Ahaetulla Link, 1807

15 Rắn roi thường Ahaetulla prasina (Boie, 1827) KL.0037

11 Giống rắn hổ

16 Rắn hổ mây ngọc Pareas margaritophorus (Jan, 1866) KL.0012, KL.0036

17 Rắn hổ mây gờ Pareas carinatus (Boie, 1828) KL.0036

18 Rắn hổ mây ham-tơn Pareas hamptoni (Boulenger, 1905) KL.0019

19 Rắn leo cây ngân sơn Dendrelaphis ngansonensis (Bourret,

6 HỌ RẮN LỤC VIPERIDAE OPPEL, 1811

Trang 30

thường Ramphotyphlops Fitzinger, 1843

21 Rắn giun thường Indotyphlops braminus (Daudin, 1803) KL.0014

14 Giống rắn bồng Enhydris, 1802

22 Rắn bồng chì Hypsiscopus plumbea (Boie, 1827) KL.0013

3.1.2 Những phát hiện mới về khu hệ bò sát ở Buôn Lưới

Với việc không tìm hiểu được tài liệu nào công bố trước đây tại khu vực nghiên cứu, bên cạnh đó chỉ có các công bố về loài mới tại khu vực nên nghiên cứu này bổ sung 20 loài (bảng 3.1.) cho khu vực (trừ các loài đã được ghi nhận tại đây)

Loài ưu tiên Scincella rara và Sphenomorphus buenloicus (Darevsky &

Nguyen, 1983) không được ghi nhận lại tại nghiên cứu này

3.1.3 Cấu trúc thành phần loài bò sát ở Buôn Lưới

Đã ghi nhận tại Buôn Lưới có 1 bộ (Squamata), 08 họ, 14 giống, 22 loài bò sát (Bảng 3.1)

Đa dạng về giống: Tổng số 14 giống được ghi nhận Chỉ số đa dạng về

giống, trung bình của các họ trên là 1,75 (14 giống/8 họ) Trong đó, họ nhông (Agamidae), họ rắn nước (Colubridae) và họ tắc kè (Gekkonidae) có số giống đa dạng nhất với 3 giống (2,43% tổng số giống) Các họ thằn lằn đích thực (Lacertidae), họ thằn lằn bóng (Scincidae), họ rắn mù (Typhlopoidea), họ rắn lục (Viperidae) và họ rắn ri (Homalopsidea) đều có một giống (7,14% tổng số giống)

Đa dạng về loài: Họ rắn nước (Colubridae ) và họ nhông (Agamidae) có số

loài nhiều nhất với 6 loài (chiếm 27,27% trên tổng số), họ tắc kè (Gekkonidae ) có 4 loài (chiếm 18,18% trên tổng số) Những họ có ít loài hơn là họ thằn lằn bóng

Trang 31

(Scincidae) có 2 loài (chiếm 09,09% trên tổng số); họ thằn lằn đích thực

(Lacertidae), họ rắn lục (Viperidae), họ rắn mù (Typhlopoidea) , họ rắn ri

(Homalopsidea) đều có 1 loài (chiếm 04,55% trên tổng số)

Như vậy, theo nghiên cứu này thì họ rắn nước và họ nhông là 2 họ chiếm ưu

thế tại khu vực nghiên cứu Trong đó, giống rắn hổ mây (Pareas) chiếm ưu thế với

4 loài, các giống khác chỉ góp mặt với 1 hoặc 2 loài Đặc biệt ghi nhận trong nghiên

cứu lần này có 2 loài được thu mẫu chuẩn tại đây là: Thằn lằn đuôi đỏ (Scincella

rufocaudata) và rắn rào quảng tây (Boiga guangxiensis)

Hình 3.1 Số lượng các loài bò sát trong từng họ tại Buôn Lưới

3.1.4 Sự tương đồng của bò sát Buôn Lưới với các khu hệ lân cận

Tham khảo kết quả nghiên cứu của Cáp Kim Cương và Trần Thu Thảo

(2013) [7], Hoàng Văn Chung và cộng sự (2013) [4], Nguyễn Ái Tâm và cộng sự

năm 2017 [24] để so sánh về mức độ tương đồng của khu hệ bò sát Buôn lưới với

các khu hệ lân cận

Kết quả phân tích cũng cho thấy mức độ tương đồng về thành phần loài của

Buôn Lưới giống nhất với Trạm Lập (djk = 0.46809), nhưng khác biệt nhất với

Dak Rông (djk = 0.37838) (bảng 3.2.)

Agamidae Gekkonida

e Lacertidae Scincidae Colubridae Viperidae

Typhlopoi dea Ehydris

Trang 32

Bảng 3.2 Chỉ số tương đồng (Dice index) về thành phần loài giữa Buôm Lưới và

và đặc biệt là có cùng nằm trên một khối liên tục nên mức độ tương đồng là cao nhất Bên cạnh đó, Konkakinh có mức độ tương đồng khá cao (chỉ số gốc nhánh 54%) so với Buôn Lưới và Trạm Lập Điều này dễ hiểu vì 3 khu vực này nằm gần nhau và có sự tách biệt với Dak Rông

Trang 33

3.2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CÁC LOÀI BÒ SÁT Ở VÙNG NGHIÊN CỨU

REPTILIA LAURENTI, 1768 - LỚP BÒ SÁT

SQUAMATA OPPEL, 1811 - BỘ CÓ VẨY

AGAMIDAE GRAY, 1827 – HỌ NHÔNG

1 Acanthosaura lepidogaster (Cuvier, 1829)

Tên Việt Nam: Ôrô Vành, Nhông (Việt)

Mẫu vật: 02

Mô tả: Phần da của đầu, thân và các chi dạng hat; một số rặng da tạo thành

hình chữ x ở chính giữa lưng; cổ họng, ngực, bụng và phần dưới của chi trước mịn

Đặc điểm sinh thái: Mẫu thu trên các cành cây nhỏ cách mặt đất khoảng 1,2

m – 1,5 m vào lúc 23h, 12/04 và 22h, 13/04 Bắt gặp khi đang ngủ trên cây tại các khu vực cây bụi nhiều trong rừng thường xanh

Hình 3.3 Hình ảnh Acanthosaura lepidogaster ngoài sinh cảnh tự nhiên

2 Acanthosaura nataliae Orlov, Truong & Sang, 2006

Tên Việt Nam: Ô rô Natalia

Mẫu vật: Ghi nhận bằng hình ảnh

Trang 34

Mô tả: Là loài nhông cỡ lớn, đầu dài và cao, phủ vảy nhỏ không đều Gờ má

và gờ mắt sắc, vùng giữa hai mắt lõm Màu sắc đa dạng: dạng thứ nhất thân màu nâu đến nâu xám; phần trên đầu, cổ và gáy màu nâu, vàng nhạt; mép trên và túi họng màu nâu vàng nhạt hoặc màu trắng đục, đôi khi xen kẽ các vệt đen mảnh; ổ mắt đen tiếp tục với vệt đen sau mắt qua màng nhĩ đến gốc vai; đuôi với các khoanh trắng - nâu hoặc đen xen kẽ Dạng thứ hai thân có màu xanh rêu, mặt trên đầu, cổ và gáy màu vàng đen nhạt; ổ mắt và vệt sẫm phía sau màu đen nhạt; họng và túi họng màu xanh đen; đuôi có các khoanh xanh - đen hoặc nâu xen kẽ [46]

Đặc điểm sinh thái: Bắt gặp khi đang bò trên mặt đất tại rừng thường xanh

lúc 12h, 19/03 Cá thể đang bò đi kiếm ăn

Hình 3.4 Hình ảnh Acanthosaura nataliae ghi nhận được từ thực địa

(Nguồn: Thầy Đinh Quang Diệp)

3 Draco maculatus (Gray, 1845)

Tên Việt Nam: Nhông bay đốm

Mẫu vật: 01

Mô tả: Loài thằn lằn bay nhỏ, họng có một túi da nhỏ, bình thường xếp xuôi

xuống ngực và dài đến ngang nách Trên màng da và phân trên lưng có các đốm đen nhò, không đồng đều Mặt dưới màu vàng nhạt đến xám nhạt Thân màu nhạt mốc với các đốm xám xẫm màu

Trang 35

Đặc điểm sinh thái: Thời gian bắt gặp: 11h, 20/03 Mẫu vật thu tại một gốc

cây cổ thụ trong rừng thường xanh, bu bám trên các cây cao Thức ăn chủ yếu là kiến và các loại ấu trùng, thỉnh thoảng ăn các côn trùng khác, Sinh sản vào đầu mùa mưa, đẻ từ 4 đến 5 trứng trong các lớp vỏ mục ở thân cây hay

kẽ nứt Cá thể bắt gặp có trứng

Hình 3.5 Hình ảnh Draco maculatus ghi nhận được từ thực địa

(Nguồn: Thầy Đinh Quang Diệp)

4 Physignathus cocincinus Cuvier, 1829

Physignathus cocincinus, G Cuvier, 1829 Règne Anim., ed 2, Paris, 2: 41

Tên Việt Nam: Rồng đất, Tò te, Kỳ tôm (Việt)

Mẫu vật: Ghi nhận bằng hình ảnh, không thu mẫu

Mô tả: Cơ thể có kích thước lớn, đầu dài hơn rộng Thân hơi dẹp bên Đầu

và thân phủ vảy nhỏ, đều nhau Vảy bụng và dưới các chi lớn hơn vảy thân Vảy đuôi có gờ Thân và đuôi dẹp bên thành hình tam giác đỉnh ở trên Có một hàng gai nhỏ, cứng liên tục từ cổ tới đuôi

Đặc điểm sinh thái: Thời gian bắt gặp: 22h, 12/04; 22h40, 12/04 Hai cá thể

non trên nhành cây nhỏ gần mặt suối, một cá thể trưởng thành nằm ở cành cây cao, các cá thể đều nằm ở các nhành cây thuộc khu vực lòng suối giữa rừng thường xanh

Ngày đăng: 05/10/2019, 16:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[4] Hoàng Văn Chung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Nguyễn Thiên Tạo (2013), “Báo cáo về thành phần loài và đặc điểm phân bố của loài bò sát ở vườn quốc gia Konkakinh, tỉnh Gia Lai”, tại hội nghị khoa học toàn quốc về tài nguyên sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 5, tr. 401-409 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về thành phần loài và đặc điểm phân bố của loài bò sát ở vườn quốc gia Konkakinh, tỉnh Gia Lai
Tác giả: Hoàng Văn Chung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Nguyễn Thiên Tạo
Năm: 2013
[5] Ngô Đắc Chứng, 1998, “Thành phần loài lưỡng thê và bò sát khu vực phía Nam Bình Trị Thiên”, Tạp chí Sinh học, 20(4), tr.12-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài lưỡng thê và bò sát khu vực phía Nam Bình Trị Thiên
[6] Hồ Thu Cúc, Nguyễn Thiên Tạo (2009), Đa dạng các loài bò sát và ếch nhái ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, Báo cáo khoa học hội thảo quốc gia về lưỡng cư và bò sát ở Việt Nam, NXB Đại học Huế, tr. 31-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng các loài bò sát và ếch nhái ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
Tác giả: Hồ Thu Cúc, Nguyễn Thiên Tạo
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2009
[7] Cáp Kim Cương,Trần Thu Thảo, 2013, “Thành phần loài và đặc điểm phân bố của loài Bò sát ở vườn quốc gia KonKaKinh, tỉnh Gia Lai”, tại hội nghị khoa học toàn quốc về tài nguyên sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 5, tr. 417-423 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài và đặc điểm phân bố của loài Bò sát ở vườn quốc gia KonKaKinh, tỉnh Gia Lai
[9] Phan Thị Hoa (2015), Nghiên cứu lưỡng cư, bò sát ở quần đảo Cù Lao Chàm và Bán đảo Sơn Trà, Luận án Tiến sĩ, Trường đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lưỡng cư, bò sát ở quần đảo Cù Lao Chàm và Bán đảo Sơn Trà
Tác giả: Phan Thị Hoa
Năm: 2015
[10] Lê Vũ Khôi, Hoàng Ngọc Thảo, Hoàng Xuân Quang (2011), Kết quả nghiên cứu Khu hệ động vật có xương sống trên cạn (thú, chim, bò sát, ếch nhái) ở Khu bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống, Báo cáo khoa học về sinh thái và tài nguyên sinh vật, Nxb Nông Nghiệp, tr. 151-164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu Khu hệ động vật có xương sống trên cạn (thú, chim, bò sát, ếch nhái) ở Khu bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống
Tác giả: Lê Vũ Khôi, Hoàng Ngọc Thảo, Hoàng Xuân Quang
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2011
[12] Lê Nguyên Ngật, Phạm Văn Anh (2009), Sự đa dạng và hiện trạng phân bố lưỡng cư, bò sát ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa, Báo cáo khoa học hội thảo quốc gia về lưỡng cư và bò sát ở Việt Nam, Nxb Đại học Huế, tr. 109-114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự đa dạng và hiện trạng phân bố lưỡng cư, bò sát ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Lê Nguyên Ngật, Phạm Văn Anh
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
Năm: 2009
[13] Hoàng Thị Nghiệp, Phạm Văn Hiệp (2009), Thành phần loài lưỡng cư và bò sát ở huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, Báo cáo khoa học hội thảo quốc gia về lưỡng cư và bò sát ở Việt Nam, Nxb Đại học Huế, tr. 115-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài lưỡng cư và bò sát ở huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp
Tác giả: Hoàng Thị Nghiệp, Phạm Văn Hiệp
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
Năm: 2009
[14] Hoàng Văn Ngọc (2011), Nghiên cứu Lưỡng cư, Bò sát ở ba tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Luận án Tiến sĩ sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Lưỡng cư, Bò sát ở ba tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang
Tác giả: Hoàng Văn Ngọc
Năm: 2011
[16] Hoàng Xuân Quang (1993), Góp phần điều tra khu hệ ếch nhái, bò sát các tỉnh Bắc Trung Bộ (trừ bò sát biển), Luận án Phó tiến sĩ sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần điều tra khu hệ ếch nhái, bò sát các tỉnh Bắc Trung Bộ
Tác giả: Hoàng Xuân Quang
Năm: 1993
[17] Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo, Ngô Đắc Chứng (2012), Ếch nhái, bò sát ở vườn quốc gia Bạch Mã, Nxb Nông Nghiệp: 220 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ếch nhái, bò sát ở vườn quốc gia Bạch Mã
Tác giả: Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo, Ngô Đắc Chứng
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp: 220 tr
Năm: 2012
[18] Nguyễn Văn Sáng (1991), Kết quả khảo sát khu hệ bò sát, ếch nhái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Lai Châu, Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, 13 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát khu hệ bò sát, ếch nhái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Lai Châu
Tác giả: Nguyễn Văn Sáng
Năm: 1991
[19] Nguyễn Văn Sáng (2007), Động vật chí Việt Nam (Phân bộ Rắn), NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 247 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật chí Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Sáng
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2007
[20] Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996), Danh lục bò sát và ếch nhái Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục bò sát và ếch nhái Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1996
[21] Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường (2005), Danh lục ếch nhái và bò sát Việt Nam, NXB Nông nghiệp Hà Nội, 178 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục ếch nhái và bò sát Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2005
[22] Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường, Lê Nguyên Ngật, Hoàng Xuân Quang, Ngô Đắc Chứng (2009), Nhìn lại quá trình nghiên cứu Ếch nhái, Bò sát ở Việt Nam qua từng thời kỳ, Báo cáo khoa học hội thảo quốc gia về lưỡng cư và bò sát ở Việt Nam, Nxb Đại học Huế, tr.9-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại quá trình nghiên cứu Ếch nhái, Bò sát ở Việt Nam qua từng thời kỳ
Tác giả: Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường, Lê Nguyên Ngật, Hoàng Xuân Quang, Ngô Đắc Chứng
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
Năm: 2009
[23] Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quảng Trường, Nguyễn Văn Sinh (2009), Thành phần loài bò sát và ếch nhái ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Báo cáo khoa học về sinh thái và tài nguyên sinh vật, NXB Nông Nghiệp, tr. 739-745 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài bò sát và ếch nhái ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quảng Trường, Nguyễn Văn Sinh
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2009
[26] Đào Văn Tiến (1978), Về khóa định loại rùa và cá sấu Việt Nam, Tạp chí Sinh vật - Địa học, Hà Nội, XVI (1), tr.1-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khóa định loại rùa và cá sấu Việt Nam
Tác giả: Đào Văn Tiến
Năm: 1978
[27] Đào Văn Tiến (1979), Về khóa định loại thằn lằn Việt Nam, Tạp chí Sinh vật - Địa học, I (1), tr.2-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khóa định loại thằn lằn Việt Nam
Tác giả: Đào Văn Tiến
Năm: 1979
[39] IUCN (2014), Red List of Threatened Species, (http://www.iucnredlist.org) Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w