Hợp đồng chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Nguyễn Danh Sơn Khoa Luật Luận văn ThS ngành: Luật Dân sự; Mã số: 60 38 30 Người hướng dẫn: TS. Trần Lê Hồng
Trang 1Hợp đồng chuyển giao công nghệ theo quy định
của pháp luật Việt Nam hiện hành
Nguyễn Danh Sơn
Khoa Luật Luận văn ThS ngành: Luật Dân sự; Mã số: 60 38 30
Người hướng dẫn: TS Trần Lê Hồng
Năm bảo vệ: 2008
Abstract: Nghiên cứu các khái niệm, quan điểm khoa học về công nghệ, chuyển giao
công nghệ và hợp đồng chuyển giao công nghệ để xác định các đặc trưng của hợp đồng chuyển giao công nghệ; nghiên cứu, tìm hiểu về các quy định pháp luật điều chỉnh hợp đồng chuyển giao công nghệ ở Việt Nam bao gồm: nghiên cứu thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam về hợp đồng chuyển giao công nghệ cũng như thực tiễn áp dụng, từ
đó chỉ ra những tồn tại trong các quy định pháp luật Việt Nam về hợp đồng chuyển giao công nghệ; đề xuất kiến nghị, phương hướng và giải pháp cụ thể để hoàn thành các quy định pháp luật đáp ứng nhu cầu thực tiễn
Keywords: Chuyển giao công nghệ; Hợp đồng chuyển giao công nghệ; Pháp luật Việt
Nam; Quy định pháp luật
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, việc Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mở ra nhiều cơ hội kinh doanh thuận lợi và tăng khả năng thâm nhập thị trường các nước thành viên cho các doanh nghiệp của Việt Nam, là chìa khóa để đưa nền kinh tế Việt Nam tiếp tục hội nhập với kinh tế quốc tế Trong hơn một năm kể từ ngày Quốc hội Việt Nam phê chuẩn Nghị định thư gia nhập WTO vào ngày 28/11/2006 và sự kiện Hạ viện Hoa Kỳ phê chuẩn quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam vào ngày 09/12/2006, Việt Nam đã đón nhận rất nhiều dòng đầu tư nước ngoài mới vào Việt Nam, đồng thời chứng kiến sự tăng trưởng và phát triển vượt bậc của các doanh nghiệp, tập đoàn kinh
tế trong nước Cùng với sự phát triển nhanh chóng cả về đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài,
Trang 2các hoạt động chuyển giao công nghệ ở Việt Nam cũng diễn ra mạnh mẽ cả về quy mô và số lượng
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, công nghệ sẽ là yếu tố quyết định sự phát triển của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia Ý thức và hiểu rõ được tầm quan trọng của công nghệ và chuyển giao công nghệ đối với sự phát triển kinh tế đất nước, Đảng và Nhà nước ta
đã và đang luôn dành sự quan tâm đặc biệt trong lĩnh vực này, ngay từ những ngày đầu thực hiện chính sách mở cửa Việc xây dựng một hệ thống các quy định pháp luật hoàn chỉnh điều chỉnh tổng thể hoạt động chuyển giao công nghệ, trong đó đặc biệt là các vấn đề liên quan đến hợp đồng chuyển giao công nghệ là một nhu cầu tất yếu Thông qua cơ chế pháp luật, việc kiểm soát
và điều tiết các hoạt động chuyển giao công nghệ có thể được thực hiện có hiệu quả, góp phần vào việc chọn lọc được các công nghệ tiến bộ có giá trị từ nước ngoài, hạn chế tình trạng chảy máu ngoại tệ do những công nghệ lạc hậu và đồng thời khuyến khích các hoạt động chuyển giao công nghệ trong nước và từ Việt Nam ra nước ngoài
Ở Việt Nam, nếu tính từ Quyết định số 175-CP ngày 29/04/1981 về ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật, đã có rất nhiều các văn bản pháp quy được ban hành điều chỉnh các vấn đề về chuyển giao công nghệ, đặc biệt là về hợp đồng chuyển giao công nghệ, ví dụ, Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam ngày 05/12/1981, Bộ luật Dân sự 1995, Nghị định 45/1998/NĐ-CP ngày 01/07/1998, Nghị định 11/2005/NĐ-CP ngày 2/02/2005 v.v , bước đầu đã tạo ra được môi trường pháp lý thuận lợi cho
sự phát triển của hoạt động chuyển giao công nghệ nói chung và quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ nói riêng Các văn bản pháp luật này, bên cạnh việc quy định điều chỉnh các vấn đề có tính nguyên tắc về chuyển giao công nghệ, đều luôn dành những điều khoản điều chỉnh các vấn đề liên quan hợp đồng chuyển giao công nghệ như nội dung hợp đồng chuyển giao công nghệ, các vấn đề liên quan đến đăng ký đến đăng ký, phê chuẩn hợp đồng chuyển giao công nghệ v.v , tạo cơ sở pháp lý bảo đảm các quyền và lợi ích của các bên có liên quan trong giao dịch Tuy nhiên, do thực tiễn và yêu cầu vào thời điểm ban hành các văn bản pháp quy nói trên đã có nhiều thay đổi và không còn phù hợp với hiện tại Kế thừa và khắc phục các thiếu sót của các quy định pháp luật trước đó, Luật Chuyển giao công nghệ đã được ban hành vào ngày 22/11/2006 và có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2007, đã đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu đặt ra từ thực tiễn
Trang 3Nghiên cứu và làm sáng tỏ bản chất các vấn đề liên quan đến hợp đồng chuyển giao công nghệ - loại hợp đồng có đối tượng rất đặc thù là công nghệ dưới cả góc độ pháp lý và thực tiễn sẽ góp phần làm sáng tỏ nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chuyển giao công nghệ, đồng thời có những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường chuyển giao công nghệ nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung Trong khuôn khổ của chương trình đào tạo cao học luật và tính cấp thiết của các vấn đề như đã trình bày trên đây, người viết đã chọn đề
tài "Hợp đồng chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành" làm
đề tài nghiên cứu của mình
2 Tình hình nghiên cứu và điểm mới của đề tài
Nghiên cứu về hợp đồng chuyển giao công nghệ, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập hiện nay là một vấn đề khá mới Cho đến nay, chuyển giao công nghệ và hợp đồng chuyển giao công nghệ mới chỉ được nghiên cứu thông qua một số công trình khoa học được trình bày trên các tạp chí khoa học và một số luận văn thạc sĩ luật học như: luận văn thạc sĩ luật học tại Đại học Luật Hà Nội - Đại học Panthéon Assas Paris II năm 2004 của tác giả Lê Ngọc Bích với đề tài
“Pháp luật về chuyển giao công nghệ - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện; luận văn thạc sĩ
luật học tại Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 1998 của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương
với đề tài "Pháp luật về chuyển giao công nghệ ở Việt Nam" Các công trình nghiên cứu này đã
đưa ra được những phân tích, luận giải các vấn đề về công nghệ, chuyển giao công nghệ cũng như đã chỉ ra được các bản chất pháp lý về hình thức và nội dung của hợp đồng chuyển giao công nghệ theo các quy định pháp luật về chuyển giao công nghệ được ban hành trước thời điểm năm 2005 Tuy nhiên, kể từ khi Luật Chuyển giao công nghệ được ban hành cho đến nay, chưa
có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện về hợp đồng chuyển giao công nghệ theo các quy định mới và tình hình thực tiễn ở Việt Nam, để qua đó có thể chỉ ra và phân tích được những ưu điểm và thiếu sót trong các quy định pháp luật hiện hành Trên cơ sở định hướng nghiên cứu và tiếp tục kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả trước đó, người viết trình bày một số quan điểm khoa học của mình nhằm góp phần làm sáng tỏ các nội dung:
- Hệ thống hóa các quan điểm khoa học về công nghệ - đối tượng của hợp đồng chuyển giao công nghệ, đồng thời phân tích các vấn đề cơ bản nhất về chuyển giao công nghệ
Trang 4- Phân tích và làm rõ khái niệm và những đặc trưng cơ bản của hợp đồng chuyển giao công nghệ về chủ thể ký kết, nội dung, nguyên tắc để xác định đầy đủ về dạng hợp đồng này
- Phân tích sâu về các vấn đề của hợp đồng chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn áp dụng, qua đó đưa ra các đánh giá khách quan về các nội dung tiến bộ cũng như các bất cập còn tồn tại nhằm đưa ra các đề xuất đối với việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng chuyển giao công nghệ
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài luận văn nhằm các mục đích: Xác định khái niệm về công nghệ, chuyển giao công nghệ và hợp đồng chuyển giao công nghệ trên cơ sở hệ thống hóa và phân tích các cách tiếp cận khác nhau về các khái niệm này; trên cơ sở đó làm rõ bản chất pháp lý, các nội dung chủ yếu, ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật hiện hành
Để đạt được mục đích nghiên cứu này, đề tài có các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu các khái niệm, quan điểm khoa học về công nghệ, chuyển giao công nghệ
và hợp đồng chuyển giao công nghệ, để xác định các đặc trưng của hợp đồng chuyển giao công nghệ
- Đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về các quy định pháp luật điều chỉnh hợp đồng chuyển giao công nghệ ở Việt Nam bao gồm: nghiên cứu thực trạng các quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng, từ đó chỉ ra những tồn tại trong các quy định pháp luật Việt Nam về hợp đồng chuyển giao công nghệ; đề xuất kiến nghị, phương hướng và giải pháp cụ thể để hoàn thiện các quy định pháp luật này đáp ứng các đòi hỏi của thực tiễn
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hợp đồng chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật hiện hành
Để đảm bảo dung lượng của luận văn, người viết chỉ tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản, chung nhất về hợp đồng chuyển giao công nghệ mà không đi sâu vào từng dạng hợp đồng chuyên biệt
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trang 5Phương pháp nghiên cứu của đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó, các phương pháp thống
kê, so sánh, phân tích, tổng hợp cũng được sử dụng khi nghiên cứu đề tài
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng chuyển giao công nghệ
Chương 2: Pháp luận hiện hành về hợp đồng chuyển giao công nghệ
Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng chuyển giao công nghệ và một số
kiến nghị
Trang 6Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHỆ VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
1.1.1 Khái niệm công nghệ và vai trò của công nghệ
1.1.1.1 Khái niệm công nghệ
Thuật ngữ công nghệ (tiếng Anh là technology) có nguồn gốc từ hai thuật ngữ Hy Lạp
cổ là techne có nghĩa là kỹ năng hoặc cách thức cần thiết để làm một cái gì đó và logos có nghĩa
là khoa học, kiến thức hay sự nghiên cứu về một cái gì đó [28, tr 13] Như vậy, thực chất của
thuật ngữ công nghệ là việc ứng dụng những kỹ năng có được từ sự nghiên cứu, khám phá
Hiện nay có nhiều cách tiếp cận đối với khái niệm công nghệ, như khái niệm công nghệ được đưa ra bởi Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc (United Nation’s Industrial Development Organization, viết tắt là UNIDO), Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (Economic and Social Commision for Asia anh the Pacific - viết tắt là ESCAP), Tổ chức
Sở hữu Trí tuệ thế giới (WIPO) và của các nhà khoa học Việt Nam, trong đó đáng chú ý là quan điểm của GS Đặng Hữu Các khái niệm công nghệ theo các cách tiếp cận khác nhau có ý nghĩa
về mặt khoa học giúp nhận thức được bản chất của công nghệ
Dưới giác độ pháp lý, công nghệ được đề cập đến trong Bộ luật Dân sự 2005 thông qua việc đưa ra những đối tượng của hoạt động chuyển giao công nghệ tại Điều 755 Bộ luật Dân sự Theo đó, đối tượng chuyển giao công nghệ bao gồm: bí quyết kỹ thuật, kiến thức kỹ thuật về công nghệ dưới dạng phương án công nghệ, các giải pháp kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, chương trình máy tính, thông tin dữ liệu được chuyển giao, giải pháp hợp
lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ, cấp phép đặc quyền kinh doanh và các đối tượng khác do pháp luật về chuyển giao công nghệ quy định Chính vì vậy, khái niệm công nghệ chỉ được đề cập cụ thể trong những văn bản pháp luật chuyên ngành điều chỉnh hoạt động chuyển giao công nghệ Theo Luật Chuyển giao công nghệ, khái niệm công nghệ được xác định một cách cụ thể, rõ ràng tại mục 2, Điều 3 của Luật này như sau: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật
Trang 7có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm Đây là một khái niệm tuy ngắn gọn, súc tích nhưng rất đầy đủ
Từ khái niệm công nghệ nêu trên, có thể rút ra một số nhận định mang tính lý luận về các đặc trưng cơ bản của công nghệ, cụ thể:
- Tính hệ thống của công nghệ
Hệ thống được hiểu là sự liên kết chặt chẽ của nhiều thành tố để đạt được kết quả nhất định Không thể nhìn nhận công nghệ như những thành tố riêng rẽ, bởi công nghệ chỉ phát huy tác dụng của nó nếu có sự phối hợp và liên hệ chặt chẽ giữa các thành tố khác nhau của công nghệ Trên thực tế, việc chuyển giao từng thành tố của công nghệ không phủ nhận bản chất của công nghệ phải là tập hợp cần và đủ các thành tố tương ứng tạo nên Kinh nghiệm cho thấy không ít trường hợp, sự tách rời của từng thành tố công nghệ vẫn có thể được chấp nhận nếu như bên ứng dụng công nghệ có khả năng tự mình đáp ứng được những thành tố còn lại Từ việc phân tích trên đây, có thể nhận thấy công nghệ bao hàm các thành tố sau:
Một là, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu (technoware - phần cứng) Phần này
được gọi là phần kỹ thuật của công nghệ, là những phương tiện vật chất để thể hiện công nghệ
Hai là, kỹ năng, kinh nghiệm, bí quyết kinh doanh của con người (humanware) Thành
tố này rất quan trọng, giúp cho việc ứng dụng công nghệ đạt hiệu quả cao, nhanh chóng và với chi phí hợp lý, đồng thời đảm bảo công nghệ có thể được tiếp nhận, thay đổi và cải tiến cho phù hợp với hoàn cảnh Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa các cơ quan trong việc áp dụng công nghệ hay (còn được gọi là thể chế, bao gồm việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và giải quyết những đòi hỏi của quy trình quản lý) cũng đóng một vai trò quan trọng Mặc dù thể chế không bao hàm những tri thức căn bản làm nên công nghệ nhưng nó lại đảm bảo cho sự áp dụng có hiệu quả của công nghệ
Ba là, tài liệu kỹ thuật bao gồm các thiết kế, bản vẽ, hướng dẫn nghiệp vụ, bí quyết kỹ
thuật… Thành tố này được coi là phần thông tin của công nghệ, thể hiện những tri thức công nghệ được tư liệu hóa
- Tính ứng dụng của công nghệ
Công nghệ phải có tính ứng dụng trên thực tế nhằm giải quyết những vấn đề nhất định nhằm phục vụ lợi ích của con người, thể hiện ở chỗ: việc tuân theo công nghệ sẽ làm cho hoạt
Trang 8động sản xuất đạt hiệu quả cao hơn như tăng năng suất, giảm chi phí, gia tăng tính năng của sản phẩm hoặc để phát triển những công nghệ mới, sản phẩm mới Khả năng ứng dụng của công nghệ là động lực để phát triển công nghệ, chuyển giao công nghệ và hình thành thị trường công nghệ
- Tính trao đổi của công nghệ
Đặc trưng này cho thấy bản thân công nghệ có thể được tiếp nhận, dịch chuyển từ nơi này sang nơi khác và giữa các cá nhân, tổ chức khác nhau Sự trao đổi công nghệ là vô cùng quan trọng nhằm đạt hiệu quả cao trong việc biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Tính trao đổi của công nghệ là thuộc tính gắn liền với tính ứng dụng của công nghệ Công nghệ có khả năng ứng dụng thì mới nảy sinh nhu cầu tiếp nhận cũng như chuyển giao Việc trao đổi công nghệ sẽ cho phép bên chuyển giao có thể tiếp tục phát triển công nghệ mới, còn bên nhận chuyển giao sẽ được ứng dụng công nghệ tiên tiến với chi phí thấp hơn
- Tính giới hạn của công nghệ
Tính giới hạn của công nghệ được hiểu là bản thân công nghệ đang áp dụng hoặc chưa
áp dụng cũng có thể sẽ nhanh chóng bị lạc hậu và được thay thế bởi những công nghệ mới tiên tiến hơn Tính giới hạn của công nghệ đòi hỏi công nghệ phải luôn được đổi mới, bắt kịp sự đòi hỏi của nền kinh tế xã hội Chính vì công nghệ có tính giới hạn, mà việc triển khai áp dụng nhanh công nghệ và phổ biến rộng rãi công nghệ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng cường khả năng ứng dụng của công nghệ trong cuộc sống, đồng thời đảm bảo lợi ích cho chủ sở hữu công nghệ Điều này đòi hỏi cần có những chính sách và pháp luật phù hợp để có thể khuyến khích nghiên cứu, phát triển hoặc tiếp nhận những công nghệ mới và nhanh chóng ứng dụng công nghệ để tạo ra những sản phẩm hàng hóa có giá trị cao
Từ việc xem xét, phân tích những đặc trưng của công nghệ, có thể nhận thấy rằng, việc đưa ra khái niệm mẫu mực về công nghệ là một thách thức không đơn giản Mỗi một cách tiếp cận khái niệm công nghệ đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, phù hợp với mục tiêu của việc sử dụng khái niệm ấy mà thôi
Để làm rõ hơn nội hàm của khái niệm công nghệ, thiết nghĩa cần phải phân biệt khái niệm công nghệ với một vài khái niệm dễ gây nhầm lẫn như là khoa học và kỹ thuật
Khoa học là "hệ thống tri thức về thế giới khách quan" [32, tr 269] Khoa học để chỉ
Trang 9những hiểu biết của con người về thế giới được định hình bằng các khái niệm, các phạm trù và quy luật Giữa khoa học và công nghệ có mối liên hệ mật thiết với nhau Khoa học đóng vai trò
là nhân tố quyết định sự hình thành và phát triển của công nghệ Ngược lại, công nghệ có ảnh hưởng đáng kể đến xu hướng nghiên cứu và là động lực của khoa học Tuy cùng là sản phẩm trí
tuệ của con người, nhưng giữa khoa học và công nghệ có những sự khác biệt nhất định Thứ
nhất, nếu như khoa học chỉ hướng tới việc tìm hiểu bản chất của thế giới thì công nghệ lại chú
trọng đến việc áp dụng những hiểu biết ấy để tạo ra những sản phẩm phục vụ lợi ích của con
người Thứ hai, nghiên cứu khoa học là hoạt động ít hoặc thậm chí không bị hạn chế về thời gian
và không gian, thì ngược lại, những yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến công nghệ Một công nghệ dễ dàng bị thay thế bởi một công nghệ khác tiên tiến hơn, và nó có thể được bảo hộ ở
những chừng mực khác nhau nhằm hạn chế khả năng ứng dụng rộng rãi Thứ ba, kết quả của
khoa học là việc phong phú thêm những hiểu biết về thế giới, còn kết quả của công nghệ là việc sản xuất ra một sản phẩm mới, cải tiến sản phẩm đang có hoặc chí ít là tăng cường hiệu suất trong việc sản xuất sản phẩm sẵn có
Công nghệ cũng khác với kỹ thuật Kỹ thuật được hiểu là một kỹ năng để thực hiện một
số nhiệm vụ đặc thù [28, tr 14] Như vậy khái niệm kỹ thuật khá gần với khái niệm công nghệ Tuy nhiên, giữa công nghệ và kỹ thuật có những điểm khác nhau cơ bản Ở giác độ thứ nhất, công nghệ là sự phát triển cao của kỹ thuật, hay nói khác đi, công nghệ hàm chứa kỹ thuật tiên tiến, có thể đem lại hiệu quả cao trong sản xuất Một kỹ thuật là một kỹ năng, thông thường là một kỹ năng cụ thể Còn một công nghệ được coi là một hệ thống thông tin trọn gói và các bí quyết cần thiết để sản xuất một sản phẩm hoặc thực hiện một số nhiệm vụ Ở giác độ thứ hai, công nghệ bao hàm cả kỹ thuật Trong bốn thành tố của công nghệ, kỹ thuật chỉ hàm chứa trong hai thành tố đầu tiên (máy móc và những kỹ năng, kinh nghiệm của con người)
1.1.1.2 Vai trò của công nghệ
Công nghệ có một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia và của cả thế giới Một cách khái quát, công nghệ có những vai trò sau đây:
- Công nghệ góp phần làm giảm nguồn lực tiêu hao
Áp dụng công nghệ vào sản xuất, nguồn lực sẽ được sử dụng một cách hợp lý, tránh lãng phí không cần thiết
- Công nghệ giúp doanh nghiệp hợp lý hóa các khâu sản xuất, tăng cường hiệu quả kinh
Trang 10doanh
Công nghệ không chỉ giải quyết những vấn đề kỹ thuật, mà nó còn giúp cho các khâu sản xuất, khâu quản lý được gắn kết với nhau hợp lý hơn, do đó hiệu quả sản xuất sẽ tốt hơn, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường
Ở Việt Nam, công nghệ còn có những vai trò sau đây:
- Công nghệ góp phần làm giảm khoảng cách phát triển giữa nước ta với các nước tiên tiến trên thế giới
- Bản thân công nghệ là một ngành sản xuất tiềm năng, rất phù hợp với tố chất của người Việt Nam
1.1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về chuyển giao công nghệ
1.1.2.1 Khái niệm chuyển giao công nghệ
"Chuyển giao công nghệ" hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là việc đưa công nghệ từ nơi có công nghệ đến nơi có nhu cầu nhận công nghệ, từ nơi có trình độ công nghệ cao đến nơi có trình
độ công nghệ thấp hơn một cách hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của các bên tham gia hoặc là sự dịch chuyển toàn bộ hoặc một phần công nghệ từ nhóm người này sang nhóm người khác [21, tr 11] Đến nay, việc chuyển giao công nghệ hết sức phát triển và phổ biến, được thực hiện trong tất cả các ngành sản xuất vật chất Chuyển giao công nghệ không còn diễn ra một chiều, từ những nước phát triển đến những nước đang phát triển mà ngược lại, các nước đang phát triển cũng hoàn toàn
có khả năng chuyển giao công nghệ cho các nước phát triển ở một số lĩnh vực có thế mạnh
Hiểu theo nghĩa rộng, chuyển giao công nghệ xảy ra khi một hoặc nhiều thành tố của công nghệ được mở rộng phạm vi áp dụng (chuyển dịch về địa lý hoặc chủ thể sở hữu, sử dụng…) Theo nghĩa hẹp, chuyển giao công nghệ được hiểu là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng (một phần hoặc toàn bộ) công nghệ từ bên có quyền giao công nghệ sang bên nhận công nghệ [10, Điều 3]
Xét dưới khía cạnh pháp lý, chuyển giao công nghệ là một giao dịch dân sự, và do tính đặc thù của nó, nên Bộ luật Dân sự 2005 đã có hẳn một phần riêng để điều chỉnh giao dịch này Chuyển giao công nghệ được thực hiện trên nguyên tắc bình đẳng, thỏa thuận và được xác lập thông qua cơ chế hợp đồng, gọi là hợp đồng chuyển giao công nghệ
Trang 11Như vậy, một cách khái quát, khái niệm chuyển giao công nghệ được hiểu như sau:
Chuyển giao công nghệ là một giao dịch dân sự, được thực hiện qua cơ chế hợp đồng
mà theo đó, bên có quyền chuyển giao công nghệ sẽ chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ cho bên tiếp nhận theo phương thức và các điều kiện do các bên thỏa thuận
1.1.2.2 Phân loại chuyển giao công nghệ
Việc phân loại chuyển giao công nghệ có thể được tiến hành dựa trên nhiều tiêu chí
khác nhau Dưới đây là một số cách phân loại phổ biến hiện nay
Phân loại theo giới hạn địa lý
- Chuyển giao công nghệ tại Việt Nam
- Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam
- Chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài
Chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài được hiểu là việc tổ chức
Phân loại theo bản chất quyền đối với công nghệ được chuyển giao
- Chuyển giao giản đơn
Chuyển giao giản đơn là hình thức bên chuyển giao công nghệ cho phép bên nhận chuyển giao quyền được sử dụng công nghệ trong một thời gian và không gian nhất định
- Chuyển giao công nghệ không độc quyền
Chuyển giao công nghệ không độc quyền là hình thức bên chuyển giao công nghệ đồng
ý chuyển giao toàn bộ quyền sử dụng công nghệ cho bên nhận chuyển giao vô thời hạn, trong phạm vi một không gian nhất định, nhưng không cho phép bên nhận chuyển giao quyền chuyển nhượng lại cho bên thứ ba
- Chuyển giao công nghệ độc quyền
Chuyển giao công nghệ độc quyền là hình thức bên chuyển giao trao toàn bộ quyền sử dụng công nghệ cho bên nhận chuyển giao vô thời hạn, ở bất cứ nơi đâu và không kèm theo bất
kỳ hạn chế nào về chuyển chuyển giao lại cho các bên khác
Phân loại theo nội dung công nghệ được chuyển giao
- Chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng các đối tượng của sở hữu công nghiệp
Trang 12như các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa
- Chuyển giao thông qua việc mua bán, cung cấp các đối tượng của công nghệ
- Thực hiện các dịch vụ hỗ trợ và tư vấn
Phân loại theo nguồn gốc công nghệ được chuyển giao
- Chuyển giao công nghệ theo chiều dọc
Là việc chuyển giao công nghệ từ khu vực nghiên cứu đến nơi sản xuất
- Chuyển giao công nghệ theo chiều ngang
Là việc chuyển giao công nghệ từ nơi áp dụng này đến nơi áp dụng khác
Phân loại theo tính trực tiếp hoặc gián tiếp của việc chuyển giao công nghệ
- Chuyển giao trực tiếp: thông qua việc chuyển giao máy móc, thiết bị, tài liệu kỹ thuật cho bên nhận chuyển giao Bên tiếp nhận công nghệ là một chủ thể hiện hữu, là một bên của hợp đồng chuyển giao công nghệ, đồng thời cũng là chủ sở hữu hoặc sử dụng công nghệ sau khi tiếp nhận
- Chuyển giao gián tiếp: là việc chuyển giao thông qua việc thành lập các liên doanh, trong đó bên chuyển giao góp vốn bằng công nghệ Trong trường hợp này, bên tiếp nhận công nghệ về mặt pháp lý là bên Việt Nam, nhưng thực chất là liên doanh được thành lập mới là chủ
sở hữu hoặc sử dụng công nghệ
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 1.2.1 Khái niệm và những đặc trưng của hợp đồng chuyển giao công nghệ
Như trên đã phân tích, bản chất pháp lý của hoạt động chuyển giao công nghệ là giao dịch dân sự giữa bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao, do đó, cơ chế để thực hiện giao dịch này là cơ chế hợp đồng, gọi là hợp đồng chuyển giao công nghệ Theo cách tiếp cận truyền thống, hợp đồng chuyển giao công nghệ được nhận diện dưới hai giác độ, khách quan và chủ quan
Theo phương diện khách quan, hợp đồng chuyển giao công nghệ là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chuyển giao công nghệ
Trang 13Theo phương diện chủ quan, hợp đồng chuyển giao công nghệ là sự thỏa thuận của các bên tham gia hợp đồng mà theo đó, công nghệ sẽ được chuyển giao từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên tiếp nhận công nghệ Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có khái niệm chính thức về hợp đồng chuyển giao công nghệ, đã phần nào cho thấy tính phức tạp của hợp đồng chuyển giao công nghệ đã dẫn đến việc nhà làm luật lựa chọn một "giải pháp an toàn" là không đưa ra định nghĩa mà chỉ quy định những yêu cầu cụ thể đối với hợp đồng chuyển giao công nghệ như đối tượng, nội dung, phương thức thực hiện… Quy định như vậy sẽ dễ thực hiện, nhưng có thể không khái quát được bản chất của hợp đồng chuyển giao công nghệ
Để làm rõ khái niệm hợp đồng chuyển giao công nghệ, theo người viết, cần phải xuất phát từ những đặc trưng cơ bản của hợp đồng chuyển giao công nghệ và thông qua những đặc trưng này, có thể nhận diện một cách tương đối chính xác hợp đồng chuyển giao công nghệ và phân biệt nó với những hợp đồng khác
Hợp đồng chuyển giao công nghệ có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, hợp đồng chuyển giao công nghệ là có đối tượng là công nghệ, với tư cách là
một loại "tài sản" đặc thù Pháp luật Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác thường xác định cụ thể đối tượng của hợp đồng chuyển giao công nghệ theo các hình thái vật chất của công nghệ (tức là sự thể hiện ra bên ngoài của công nghệ) như bí quyết kỹ thuật, quy trình sản xuất, … Tuy nhiên, ngay cả khi thể hiện như vậy, thì bản thân công nghệ cũng vẫn cứ là một tài sản vô hình, bởi lẽ giá trị của nó không nằm ở trong chính những hình thái vật chất nêu trên mà là khả năng đem lại những giá trị cao hơn trong sản phẩm được áp dụng những công nghệ ấy
Do đặc trưng của công nghệ là tính hệ thống, nên việc hợp đồng chuyển giao công nghệ cũng phải có những nội dung để đảm bảo tính hệ thống của công nghệ được chuyển giao, theo
đó, mục tiêu cao nhất là đảm bảo bên tiếp nhận công nghệ phải có được những lợi ích từ việc chuyển giao công nghệ (có khả năng tiếp nhận, làm chủ công nghệ), nhưng đồng thời phải đảm bảo những quyền lợi hợp pháp cho bên chuyển giao công nghệ theo thỏa thuận
Thứ hai, hợp đồng chuyển giao công nghệ phải được lập dưới hình thức văn bản Trong
điều kiện hiện nay, khái niệm "văn bản" được hiểu khá rộng, nghĩa là ngoài văn bản truyền thống (bản giấy, bản khắc…), những dạng thức khác của quá trình ghi chép ký tự cũng được coi là văn bản như điện báo, telex, fax, hoặc các thông điệp dữ liệu khác Hợp đồng chuyển giao công nghệ bằng văn bản là công cụ pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên nếu xảy ra
Trang 14tranh chấp
Thứ ba, hợp đồng chuyển giao công nghệ gắn với một số hạn chế liên quan đến các thủ
tục đăng ký hoặc cấp phép Với vai trò to lớn của công nghệ, hầu hết các quốc gia đều phải đối mặt với một vấn đề: làm thế nào để khuyến khích phát triển công nghệ thông qua hoạt động chuyển giao công nghệ, nhưng không thể trở thành một "bãi rác công nghệ" Chính vì vậy, các quốc gia thường có những chính sách nhằm khuyến khích chuyển giao hoặc nhận chuyển giao một số dạng công nghệ, đồng thời hạn chế và ngăn cấm một số công nghệ khác thông qua những quy định về đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ, cấp phép chuyển giao công nghệ
Từ những phân tích trên đây, có thể xây dựng khái niệm hợp đồng chuyển giao công nghệ như sau:
Hợp đồng chuyển giao công nghệ là sự thỏa thuận bằng văn bản phù hợp với những thủ tục do pháp luật quy định giữa bên có quyền chuyển giao công nghệ và bên tiếp nhận công nghệ
mà theo đó, bên chuyển giao có nghĩa vụ chuyển giao một phần hoặc toàn bộ công nghệ, gắn hoặc không gắn với đối tượng sở hữu công nghiệp cho bên tiếp nhận, bên tiếp nhận phải thực hiện các cam kết tương ứng với quyền nhận công nghệ
Như vậy, trong hợp đồng chuyển giao công nghệ có hai bên là bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao
Bên chuyển giao công nghệ là tổ chức hoặc cá nhân có quyền chuyển giao công nghệ
Những điều kiện đối với bên chuyển giao công nghệ là những ràng buộc pháp lý mà bên chuyển giao công nghệ phải tuân thủ nhằm đảm bảo tính có hiệu lực của hợp đồng chuyển giao công
nghệ Xét một cách chung nhất, bên chuyển giao công nghệ (sau đây gọi là bên chuyển giao)
phải thỏa mãn những điều kiện sau đây:
Thứ nhất, bên chuyển giao phải có đủ năng lực hành vi dân sự
Thứ hai, bên chuyển giao phải có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ và có
khả năng chuyển giao công nghệ là đối tượng chuyển giao hoặc được chủ sở hữu công nghệ cho phép chuyển giao
Thứ ba, bên chuyển giao được pháp luật cho phép chuyển giao công nghệ
Bên nhận chuyển giao công nghệ là những tổ chức, cá nhân tiếp nhận công nghệ được
chuyển giao Xét về mặt lý luận, bên nhận chuyển giao không bị đặt ra nhiều điều kiện như bên
Trang 15chuyển giao, nhưng phải đầy đủ năng lực hành vi dân sự và thỏa mãn một số điều kiện nhất định nếu pháp luật có yêu cầu Bên cạnh đó, bên nhận chuyển giao cũng phải chịu trách nhiệm pháp
lý nếu tiếp nhận những công nghệ bị cấm chuyển giao theo quy định của pháp luật
1.2.2 Phân loại hợp đồng chuyển giao công nghệ
Hợp đồng chuyển giao công nghệ có thể được phân loại tương ứng với từng cách phân loại chuyển giao công nghệ đã được phân tích ở phần 1.1 của chương này Bên cạnh những cách thức phân loại như vậy, còn có một số tiêu chí quan trọng khác có thể giúp nghiên cứu hợp đồng chuyển giao công nghệ sâu sắc và cụ thể hơn, cụ thể như sau:
1.2.2.1 Phân loại theo tính độc lập của hợp đồng chuyển giao công nghệ
Hợp đồng chuyển giao công nghệ độc lập
Hợp đồng chuyển giao công nghệ độc lập là hợp đồng chuyển giao công nghệ giữa bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao mà không phải là một phần của một giao dịch khác
Hợp đồng chuyển giao công nghệ phụ thuộc
Đây là loại hợp đồng chuyển giao công nghệ mà bản thân nó là một bộ phận không thể tách rời của một giao dịch khác như hợp đồng nhượng quyền thương mại hoặc hợp đồng mua bán máy móc kèm theo chuyển giao công nghệ
1.2.2.2 Phân loại theo thủ tục hành chính liên quan
Hợp đồng chuyển giao công nghệ không cần cấp phép
Là loại hợp đồng chuyển giao công nghệ mà các bên hoàn toàn tự do thỏa thuận, không cần sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Hợp đồng chuyển giao công nghệ phải được cấp phép
Là loại hợp đồng chuyển giao công nghệ mà hiệu lực của nó hoàn toàn phụ thuộc vào sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
1.2.3 Những nguyên tắc của hợp đồng chuyển giao công nghệ
1.2.3.1 Các nguyên tắc chung
Nguyên tắc chung là những nguyên tắc áp dụng chung cho hợp đồng dân sự Những nguyên tắc này là nền tảng của giao dịch dân sự Nếu các bên không tuân thủ những nguyên tắc
Trang 16này, hợp đồng đương nhiên bị vô hiệu Cụ thể, có các nguyên tắc chung sau:
- Nguyên tắc bình đẳng
- Nguyên tắc tự nguyện
- Nguyên tắc thiện chí, hợp tác
1.2.3.2 Các nguyên tắc chuyên biệt
Các nguyên tắc chuyên biệt được khảo cứu ở đây là những nguyên tắc riêng của hợp đồng chuyển giao công nghệ gắn với bản chất của loại hợp đồng này, cụ thể bao gồm:
- Nguyên tắc đảm bảo tính bí mật của công nghệ (Non-disclosure and confidentiality)
- Nguyên tắc thông tin đầy đủ
1.2.4 Một số vấn đề cơ bản về nội dung hợp đồng chuyển giao công nghệ
Về bản chất, nội dung của hợp đồng là những thỏa thuận được ghi nhận trong các điều khoản của hợp đồng, nên khi nói đến nội dung của hợp đồng, người ta thường cho rằng đó chính
là những điều khoản của hợp đồng ấy Nội dung của hợp đồng bao gồm ba nhóm điều khoản là điều khoản chủ yếu, điều khoản thông thường và điều khoản tùy nghi Điều khoản chủ yếu là những thỏa thuận không thể thiếu của hợp đồng, mà thiếu nó thì hợp đồng được coi là chưa giao kết Hợp đồng chuyển giao công nghệ có các điều khoản chủ yếu như: thỏa thuận về công nghệ được chuyển giao hay nói cách khác là những thỏa thuận về đối tượng hợp đồng, phương thức chuyển giao công nghệ, giá cả và phương thức thanh toán, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng…
Điều khoản thông thường là những thỏa thuận mà các bên có thể ghi nhận hoặc không ghi nhận vào hợp đồng, nhưng vẫn được thực hiện theo quy định của pháp luật Hợp đồng chuyển giao công nghệ có các điều khoản thông thường như: Thời điểm, thời hạn có hiệu lực của hợp đồng, Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
Bên cạnh đó, trong hợp đồng chuyển giao công nghệ, các bên cũng nên thỏa thuận những điều khoản tùy nghi, chủ yếu là nội dung về việc giải quyết tranh chấp và áp dụng pháp luật
1.2.5 Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ (hay ảnh hưởng đến hoạt động chuyển giao công nghệ)
Trang 17Xem xét những yếu tố ảnh hưởng đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ là rất cần thiết về mặt lý luận Xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến hợp đồng chuyển giao công nghệ sẽ góp phần: (i) Đảm bảo cho việc đánh giá toàn diện về hợp đồng chuyển giao công nghệ như tính hiệu quả, những rủi ro… (ii) Đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chuyển giao công nghệ;
Theo quan điểm của người viết, những yếu tố cơ bản sau đây đã và đang ảnh hưởng đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ:
Thứ nhất, chính sách của Nhà nước đối với hoạt động chuyển giao công nghệ
Thứ hai, xu hướng phát triển của công nghệ và thị trường công nghệ Việt Nam
Thứ ba, khả năng tiếp nhận công nghệ, cải tiến công nghệ của bên nhận chuyển giao Thứ tư, thị trường tiêu thụ của các sản phẩm áp dụng công nghệ
Thứ năm, các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ
Trang 18Chương 2
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
2.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM
2.1.1 Các giai đoạn phát triển của pháp luật về hợp đồng chuyển giao công nghệ
Kể từ khi Đảng và nhà nước chủ trương chuyển đổi nền kinh tế từ chế độ kinh tế tập trung, bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề xây dựng hành lang pháp lý cho mọi mặt của đời sống kinh tế luôn được quan tâm, trong đó có lĩnh vực chuyển giao công nghệ, với mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh Nhằm thể chế hóa những chủ trương của Đảng,
kể từ năm 1990 đến nay, hệ thống văn bản pháp luật về chuyển giao công nghệ nói chung và hợp đồng chuyển giao công nghệ nói riêng lần lượt được ra đời, được bổ sung, thay thế nhằm đảm bảo điều chỉnh sát và phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn
cụ thể Các văn bản pháp lý này có nhiều mức độ hiệu lực khác nhau, từ văn bản luật đến các văn bản dưới luật Giai đoạn đầu tiên, từ những năm đầu đổi mới, Nhà nước ta đã chủ trương sẽ nhập công nghệ là chủ yếu, bên cạnh đó khuyến khích phát triển công nghệ trong nước Trong giai đoạn này, một số văn bản luật và dưới luật đã ra đời để cụ thể hóa chủ trương đó Chẳng hạn, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành ngày 29/12/1987, Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam ngày 10/12/1988, Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày 28/1/1989… Các văn bản pháp luật này, mà chủ yếu là Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam đã tạo khuôn khổ pháp lý bước đầu, nhưng mới chỉ điều chỉnh một dòng chuyển giao công nghệ duy nhất là từ nước ngoài vào Việt Nam, với hình thức chuyển giao chủ yếu là thông qua hoạt động đầu tư nước ngoài Với sự điều chỉnh này, nước ta đã thu hút được ngày càng nhiều hơn nguồn vốn đầu tư nước ngoài, góp phần nâng cao năng lực công nghệ
và tăng cường khả năng cạnh tranh cho các hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam Mặc dù vậy, các văn bản pháp luật trong giai đoạn này vẫn thiếu những quy phạm điều chỉnh hợp đồng chuyển giao công nghệ trong nước và hợp đồng chuyển giao công nghệ ra nước ngoài Đồng thời, chúng
Trang 19cũng bộc lộ nhiều bất cập như: Khái niệm về công nghệ và chuyển giao công nghệ chưa rõ ràng
và chưa đầy đủ; các điều khoản của hợp đồng quy định quá chi tiết làm giảm khả năng linh hoạt trong thương lượng giao kết hợp đồng; thủ tục phê duyệt hoặc đăng ký hợp đồng còn rườm rà, phức tạp, tốn nhiều thời gian
* Một dấu mốc quan trọng của hệ thống văn bản pháp luật về hợp đồng chuyển giao công nghệ là Bộ luật Dân sự năm 1995 Tại phần thứ 6, chương III về chuyển giao công nghệ đã quy định các vấn đề rất cơ bản như: đối tượng chuyển giao công nghệ, nội dung chuyển giao công nghệ, quyền chuyển giao công nghệ, công nghệ không được chuyển giao và các vấn đề về hợp đồng chuyển giao công nghệ Đến ngày 01/7/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định 45/1998/NĐ-CP quy định rất chi tiết tất cả những cụm vấn đề về chuyển giao công nghệ và hợp đồng chuyển giao công nghệ như: điều kiện chuyển giao công nghệ, nội dung chuyển giao công nghệ, các công nghệ không được chuyển giao, hợp đồng chuyển giao công nghệ và quản lý nhà nước về lĩnh vực chuyển giao công nghệ Bên cạnh đó, một số văn bản điều chỉnh về sở hữu công nghiệp đã góp phần bổ sung cho các quy định về chuyển giao công nghệ liên quan đến các đối tượng sở hữu công nghiệp như Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996, Nghị định 06/2001/NĐ-
CP ngày 01/2/2001 sửa đổi, bổ sung Nghị định 63/CP… Mặc dù còn một số bất cập nhưng những quy định trong những văn bản này đã tạo hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh cho hoạt động chuyển giao công nghệ trong giai đoạn này và có nhiều bước phát triển đáng kể so với giai đoạn trước đó [21, tr 223-236]
Sau một thời gian áp dụng các văn bản nêu trên, nhiều quy định không còn phù hợp nên ngày 2/2/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 11/2005/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 11/2005/NĐ-CP, tạo một hành lang pháp lý thông thoáng và hiệu quả hơn trong hoạt động chuyển giao công nghệ, tạo "bước đệm" cho việc ra đời của Luật Chuyển giao công nghệ Song song với những quy định trên, ngày 10/5/2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 16/2000/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ
Trong hệ thống các quy định về chuyển giao công nghệ thời gian này, các vấn đề sau của hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được tập trung giải quyết:
Thứ nhất, Hợp đồng chuyển giao công nghệ được yêu cầu ký kết dưới dạng văn bản
Thời hạn hợp đồng chuyển giao công nghệ trong nước bị hạn chế là là 7 năm, nếu gia hạn thì không quá 3 năm Đối với hợp đồng chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, thời hạn được xác
Trang 20định theo thời hạn đầu tư Việc thanh toán trong hợp đồng chuyển giao công nghệ do các bên thỏa thuận theo các phương thức sau đây: góp vốn liên doanh, trả theo kỳ vụ, trả gọn một lần hoặc nhiều lần Thời điểm tính giá thanh toán và kết thúc tính giá thanh toán do các bên thỏa thuận, có thể trùng hoặc không trùng với thời hạn của hợp đồng Tuy nhiên, việc thanh toán chỉ được thực hiện sau khi hợp đồng chuyển giao công nghệ có hiệu lực Giá chuyển giao công nghệ
do các bên thỏa thuận Bên được chuyển giao có quyền chuyển giao lại công nghệ nếu được bên chuyển giao đồng ý
Thứ hai, các dạng chuyển giao công nghệ: chuyển giao kết quả nghiên cứu triển khai
công nghệ mới theo các loại hình chuyển giao sau đây:
+ Chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp là sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa và các đối tượng sở hữu công nghiệp khác đang trong thời hạn được pháp luật Việt Nam bảo hộ và được phép chuyển giao
+ Chuyển giao các bí quyết về công nghệ, kiến thức dưới dạng phương án công nghệ, các giải pháp kỹ thuật, quy trình công nghệ, tài liệu thiết kế sơ bộ và thiết kế kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, phần mềm máy tính, thông tin dữ liệu về công nghệ có kèm hoặc không kèm theo máy móc, thiết bị
+ Chuyển giao các giải pháp hợp lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ
+ Thực hiện các hình thức hỗ trợ chuyển giao công nghệ để bên nhận chuyển giao công nghệ có được năng lực công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ với chất lượng được xác định trong hợp đồng
Thứ ba, vấn đề phát triển công nghệ: bên nhận chuyển giao có quyền cải tiến, phát triển
công nghệ được chuyển giao mà không cần phải thông báo cho bên chuyển giao biết, trừ trường hợp trong hợp đồng chuyển giao công nghệ có thỏa thuận khác.Việc chuyển giao những cải tiến, phát triển đối với công nghệ được chuyển giao có thể theo thỏa thuận trong hợp đồng, thông qua một hợp đồng bổ sung hoặc một hợp đồng mới trên cơ sở các bên bình đẳng và cùng có lợi
Thứ tư, thiết bị kỹ thuật được chuyển giao: Nếu việc chuyển giao công nghệ thông qua
việc chuyển giao dây chuyền thiết bị sản xuất một phần, toàn bộ hoặc của một dự án đầu tư thì phần chuyển giao công nghệ được lập thành một phần riêng của một hợp đồng nhận thiết bị Chi
Trang 21phí chuyển giao công nghệ phải được tính riêng Nếu việc chuyển giao công nghệ có kèm theo máy móc, thiết bị, phương tiện kỹ thuật thì trong hợp đồng phải có danh mục các máy móc, thiết
bị, phương tiện kỹ thuật ấy
Thứ năm, quyền sở hữu công nghiệp trong chuyển giao công nghệ: Nếu việc chuyển
giao công nghệ kèm theo quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp và các nội dung khác, thì phần chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp được lập thành một phần riêng trong hợp đồng chuyển giao công nghệ
Thứ sáu, đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ: các trường hợp hợp đồng chuyển
giao công nghệ phải đăng ký được quy định cụ thể:
+ Hợp đồng chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam;
+ Hợp đồng chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài;
+ Hợp đồng chuyển giao công nghệ trong nước có giá trị từ 500 triệu đồng Việt Nam trở lên Những hợp đồng chuyển giao công nghệ có giá trị thấp hơn cũng có thể được đăng ký để hưởng những chính sách ưu đãi của nhà nước về chuyển giao công nghệ
Từ những quy định trên đây về hợp đồng chuyển giao công nghệ, trong giai đoạn này,
có thể thấy pháp luật Việt Nam đã dần hoàn chỉnh những quy định về hợp đồng chuyển giao công nghệ Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế nhất định, cụ thể là:
Thứ nhất, việc giới hạn thời hạn có hiệu lực của hợp đồng chuyển giao công nghệ đã trở
nên bất cập Điều đó không những làm hạn chế sự tự do thỏa thuận của các bên trong hoạt động chuyển giao công nghệ, mà còn làm cho việc chuyển giao không phủ hợp với những nội dung chuyển giao cụ thể, ví dụ có những công nghệ có thời gian chuyển giao lâu hơn 10 năm, hoặc đang trong giai đoạn phát triển, hoàn thiện Bên cạnh đó, quy định này đã hạn chế quyền của bên nhận chuyển giao nếu muốn có được những kết quả hoàn thiện đối với công nghệ đã chuyển giao
từ phía bên chuyển giao sau thời hạn nói trên
Thứ hai, vấn đề bồi thường thiệt hại trong chuyển giao công nghệ chưa được bảo đảm
Quy định tại Điều 819 về chuyển giao công nghệ trong Bộ luật Dân sự 1995 đã không có quy định về bồi thường thiệt hại hoặc trả thêm tiền bồi thường thiệt hại cho bên chuyển giao công nghệ đã làm cho các nhà cung cấp công nghệ tiềm năng không sẵn sàng chuyển giao công nghệ vào Việt Nam Mặc dù các bên trong hợp đồng chuyển giao công nghệ hoàn toàn có thể thỏa
Trang 22thuận về những nội dung này, nhưng việc có những quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên là cần thiết
Thứ ba, bất cập trong quy định về phương thức chuyển giao công nghệ Bộ luật Dân sự
1995 tại Điều 806 về đối tượng chuyển giao công nghệ đã có sự nhầm lẫn giữa phương thức chuyển giao và đối tượng chuyển giao Không những thế, phạm vi các đối tượng chuyển giao cũng tương đối hẹp, không phù hợp với thực tiễn và những chuẩn mực quốc tế về chuyển giao công nghệ
Thứ tư, yêu cầu không hợp lý của việc đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ Các
trường hợp phải đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ không dựa trên sự tác động của công nghệ được chuyển giao đối với nền kinh tế và xã hội mà dựa trên sự phân biệt về địa lý và giá trị, tạo cảm giác "phân biệt đối xử" đối với các chủ thể trong và ngoài nước và "quyền chọn lựa" không thỏa đáng về giá trị hợp đồng Đồng thời, do sự yếu kém trong khâu thẩm định công nghệ, các yêu cầu về đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ không phát huy thực sự được ý nghĩa
và vai trò của nhà nước trong quản lý hợp đồng chuyển giao công nghệ mà thực chất đã tạo thêm
"rào cản", làm chậm quá trình chuyển giao và tiếp nhận công nghệ của các bên tham gia
* Bộ luật Dân sự 2005 ra đời đã đánh dấu một mốc mới trong sự phát triển của pháp luật về chuyển giao công nghệ và hợp đồng chuyển giao công nghệ Thay vì những quy định chi tiết (trong 20 điều luật) của Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật Dân sự 2005 chỉ quy định có tính chất khái quát từ Điều 754 đến Điều 757 đã tạo khung pháp lý chỉ dẫn đến các văn bản pháp luật chuyên ngành như pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp Luật Chuyển giao công nghệ Trong những quy định này, Bộ luật Dân sự đã xác định rõ quyền chuyển giao công nghệ, đối tượng chuyển giao công nghệ, các công nghệ cấm chuyển giao và hợp đồng chuyển giao công nghệ Đáng ghi nhận nhất là quy định về đối tượng chuyển giao công nghệ đã được ghi nhận chính xác và phù hợp hơn
Ngày 29/11/2005, Quốc hội đã thông qua Luật sở hữu trí tuệ, có hiệu lực ngày 01/7/2006, trong đó có những quy định về quyền sở hữu công nghiệp, việc chuyển giao đối tượng sở hữu công nghiệp Nếu việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp có trong chuyển giao công nghệ thì những quy định của Luật sở hữu trí tuệ sẽ có hiệu lực điều chỉnh
Luật Chuyển giao công nghệ được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệu lực vào ngày 1/7/2007 là một bước tiến rất quan trọng trong sự phát triển của pháp luật về chuyển
Trang 23giao công nghệ Với 7 chương, 61 điều, Luật Chuyển giao công nghệ đã quy định rất cụ thể tất
cả những vấn đề liên quan đến hoạt động chuyển giao công nghệ, trong đó hợp đồng chuyển giao công nghệ là một nội dung rất quan trọng
Bên cạnh những văn bản Luật chủ đạo trên, nhiều văn bản Luật khác cũng có những nội dung đề cập đến những khía cạnh khác của hoạt động chuyển giao công nghệ và hợp đồng chuyển giao công nghệ như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Khoa học và công nghệ, Luật Cạnh tranh…
Như vậy cho đến nay, có thể nhận xét rằng những quy định dưới hình thức văn bản Luật
về chuyển giao công nghệ và hợp đồng chuyển giao công nghệ ở nước ta đã tương đối hoàn chỉnh Tuy nhiên, một số nội dung của Hợp đồng chuyển giao công nghệ được điều chỉnh chưa thống nhất và cần tiếp cận vấn đề tương quan giữa các văn bản này trong điều chỉnh
2.1.2 Mối quan hệ giữa các văn bản pháp luật điều chỉnh về hợp đồng chuyển giao công nghệ
Trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ cũng như các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác, hầu như đều có tình trạng một vấn đề có nhiều văn bản pháp luật cùng điều chỉnh Do vậy, việc xem xét mối quan hệ về mặt hiệu lực nhằm áp dụng một cách chính xác các quy định pháp luật là rất cần thiết Thực tế cho thấy, giữa các văn bản này có hai loại quan hệ sau đây:
* Quan hệ theo chiều dọc: Trong mối quan hệ này, các văn bản khác nhau về cơ quan
ban hành và do đó, có thể khác nhau về phạm vi điều chỉnh và hiệu lực pháp lý Ví dụ: mối quan
hệ giữa Luật Chuyển giao công nghệ với Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ; mối quan hệ giữa Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ và thông tư hướng dẫn thi hành của Bộ Khoa học và Công nghệ…
Trong mối quan hệ theo chiều dọc, văn bản pháp luật thấp hơn phải có các quy định không được trái với văn bản pháp luật cao hơn Trong trường hợp có quy định không phù hợp với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, thì quy định ấy không có hiệu lực và phải được bãi bỏ hoặc sửa đổi
Để đảm bảo tính khái quát của văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao như Luật, một
số vấn đề được ghi nhận sẽ do các cơ quan như Chính phủ, Bộ quy định chi tiết trong các văn
Trang 24bản dưới luật Trong trường hợp này, các cơ quan được phân công có quyền quy định những vấn
đề một cách chi tiết và cụ thể hơn, nhằm đảm bảo việc áp dụng trên thực tế các quy định của Luật được chính xác và dễ dàng hơn Một điểm cần lưu ý trong việc cơ quan hành pháp quy định
chi tiết này là: không được mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi điều chỉnh của văn bản pháp lý cao
hơn, thực tế không ít trường hợp không đảm bảo nguyên tắc này khi hướng dẫn thi hành luật
hiện nay
* Quan hệ theo chiều ngang: Là quan hệ giữa các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp
lý tương đương Trong nội dung điều chỉnh về hoạt động chuyển giao công nghệ, đó là mối quan
hệ giữa Bộ luật Dân sự, Luật khoa học và công nghệ, Luật sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ và các văn bản luật khác có điều chỉnh những nội dung liên quan đến hoạt động chuyển giao công nghệ và hợp đồng chuyển giao công nghệ như Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp…
Xem xét và làm rõ mối quan hệ giữa các văn bản luật trên trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội của hoạt động chuyển giao công nghệ là một việc làm hết sức phức tạp Để làm rõ được mối quan hệ này, cần phải lý giải một vấn đề, tại sao lại có nhiều văn bản cùng điều chỉnh hoạt động chuyển giao công nghệ? Theo người viết, nguyên nhân cơ bản là do chuyển giao công nghệ là một vấn đề tổng hợp, liên quan đến hầu hết các khía cạnh của đời sống xã hội nên đòi hỏi phải được chú ý một cách tương ứng Trong đó, Luật Chuyển giao công nghệ chỉ điều chỉnh các quan hệ cơ bản nhất trong hoạt động chuyển giao công nghệ
Từ lý giải cơ bản trên đây, cần thiết xác định chính xác pháp luật áp dụng đối với các nội dung trong hoạt động chuyển giao công nghệ, cụ thể:
Một là, Bộ luật Dân sự với tư cách là một văn bản luật có tính khái quát cao, điều chỉnh
những vấn đề cơ bản của giao dịch dân sự, do vậy, Bộ luật Dân sự thường được coi là văn bản
"luật khung" trong nhiều lĩnh vực dân sự, trong đó có lĩnh vực chuyển giao công nghệ Còn những vấn đề pháp lý cụ thể sẽ do các văn bản luật chuyên ngành điều chỉnh Tiếp cận dưới góc
độ ấy, hiện nay Bộ luật Dân sự 2005 chỉ dành 4 điều để quy định những vấn đề cơ bản nhất của hoạt động chuyển giao công nghệ, thay vì 25 điều một cách chi tiết trong Bộ luật Dân sự 1995 như trước đây
Do vậy, những quy định của các văn bản luật chuyên ngành như Luật Chuyển giao công nghệ, Luật sở hữu trí tuệ… có thể đầy đủ hơn, quy định chi tiết hơn những quy định trong Bộ
Trang 25luật Dân sự, nhưng không được trái với những nguyên tắc trong Bộ luật Dân sự như định nghĩa
về đối tượng chuyển giao công nghệ, các công nghệ không được chuyển giao…
Hai là, giữa các văn bản luật chuyên ngành điều chỉnh những vấn đề khác nhau nhưng
có liên quan đến nhau, cần tuân thủ nguyên tắc ưu tiên luật chuyên ngành điều chỉnh trực tiếp, sau đó mới đến luật chuyên ngành điều chỉnh những vấn đề liên quan Ví dụ: trong hoạt động đầu tư có kèm theo chuyển giao công nghệ, trước tiên cần được điều chỉnh bởi Luật Đầu tư, riêng những vấn đề về chuyển giao công nghệ sẽ được sự điều chỉnh bởi Luật Chuyển giao công nghệ
Ba là, giữa các văn bản điều chỉnh cùng một vấn đề, thì cần xác định rõ chỉ dẫn áp dụng
pháp luật được ghi nhận trong những văn bản ấy Tại Điều 4 Luật Chuyển giao công nghệ có quy định về việc áp dụng pháp luật như sau: "Hoạt động chuyển giao công nghệ phải tuân theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật; trường hợp hoạt động chuyển giao công nghệ đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó" Trong khi đó tại Điều 5 Luật Sở hữu trí tuệ có quy định: "Trong trường hợp có sự khác nhau giữa quy định về sở hữu trí tuệ của Luật này với quy định của luật khác thì áp dụng quy định của Luật này" Do vậy, đối với trường hợp chuyển giao đối tượng quyền sở hữu công nghiệp có kèm theo chuyển giao công nghệ thì những vấn đề liên quan đến đối tượng sở hữu công nghiệp sẽ do Luật sở hữu trí tuệ điều chỉnh Nếu Luật sở hữu trí tuệ không quy định, thì những vấn đề về chuyển giao công nghệ
sẽ do Luật Chuyển giao công nghệ điều chỉnh
Thứ tư, nếu giữa văn bản pháp luật trong nước và điều ước quốc tế có quy định khác
nhau, về nguyên tắc sẽ ưu tiên áp dụng những quy định trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Điều này đảm bảo cho các quan hệ pháp luật được điều chỉnh phù hợp với chuẩn mực quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập
2.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
2.2.1 Các điều khoản chủ yếu của hợp đồng chuyển giao công nghệ
2.2.1.1 Đối tượng chuyển giao công nghệ
Hợp đồng chuyển giao công nghệ có đối tượng là công nghệ được chuyển giao, thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Theo quy định tại Điều 7 Luật Chuyển giao công nghệ, đối
Trang 26tượng công nghệ được chuyển giao là một phần hoặc toàn bộ công nghệ sau đây:
- Bí quyết kỹ thuật Khái niệm bí quyết kỹ thuật được giải thích là những thông tin được
tích lũy, khám phá trong quá trình nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh của chủ sở hữu công nghệ có
ý nghĩa quyết định chất lượng, khả năng cạnh tranh của công nghệ, sản phẩm công nghệ Ví dụ, trong dự án thực nghiệm nuôi chim yến trong nhà ở Khánh Hòa đã và đang được Công ty Yến sào Khánh Hòa phổ biến và chuyển giao, các hộ nuôi cần phải nắm rất vững các bí quyết kỹ thuật chăm sóc chim yến, xây dựng nhà yến Đó là các kiến thức, kinh nghiệm đã được tích lũy
về các thói quen của chim yến, các sở thích về nơi làm tổ, độ ẩm, cách thức gác cột để làm tổ
để tạo ra sức hấp dẫn và thu hút chim yến làm tổ và đẻ trứng
- Kiến thức kỹ thuật về công nghệ được chuyển giao dưới dạng phương án công nghệ, quy trình công nghệ, giải pháp kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, chương trình máy tính, thông tin dữ liệu Ví dụ, trong một giao dịch chuyển giao công nghệ giữa một công ty sản xuất máy và các thiết bị may mặc Nhật Bản và một công ty sản xuất máy và các thiết bị may mặc ở Việt Nam, các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng bên chuyển giao đã chuyển giao cho bên nhận chuyển giao các kiến thức kỹ thuật về sản xuất máy may và phụ tùng, linh kiện máy may dưới dạng các tài liệu thiết kế (tài liệu thiết kế gá gia công gồm các bản vẽ về gá dùng cho các máy mài, máy phay ngang, máy phay đứng, máy tiện, máy khoan với mục đích gia công và sản xuất các phụ tùng của máy may công nghiệp ), tài liệu chỉ dẫn kỹ thuật (tài liệu chỉ dẫn kỹ thuật đối với bộ phận trục máy gồm: trục máy, trục đỡ, khối đỡ, bạc đạn, vòng đỡ bạc đạn, trục đệm, vòng đệm, bệ đỡ buton, cam, bộ phận di chuyển liên kết, trục dẫn liên kết, thanh trục, khớp nối, trục lăn, puli, bộ phận dừng chuyển động, trục đổi đai gồm các bản vẽ chi tiết
có ghi chú tiêu chuẩn sản xuất, gia công và loại nguyên liệu sử dụng của từng bộ phận có liên quan đến trục máy ), Tài liệu hướng dẫn sản xuất trong các công đoạn, Tài liệu hướng dẫn gia công, Tài liệu hướng dẫn kiểm tra chất lượng, tài liệu hướng dẫn quản lý Các tài liệu này được thể hiện dưới dạng các phương án, quy trình công nghệ, giải pháp kỹ thuật, công thức, thông số
kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, thông tin dữ liệu
- Giải pháp hợp lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ Tuy không được định nghĩa trong
luật nhưng theo người viết, khái niệm giải pháp hợp lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ được hiểu là những phương án hoặc kỹ năng được xây dựng từ nền tảng công nghệ đang được áp dụng, nhằm giảm bớt chi phí hoặc gia tăng năng suất, chất lượng sản phẩm
Trang 27Tương tự như các quy định của pháp luật một số quốc gia khác, Luật Chuyển giao công nghệ cũng ghi nhận: Đối tượng công nghệ được chuyển giao có thể gắn hoặc không gắn với đối tượng sở hữu công nghiệp Sự tách bạch này là cần thiết nhằm đảm bảo phải xác định riêng giá trị của công nghệ hàm chứa trong các đối tượng sở hữu công nghiệp Bên cạnh đó, nhượng quyền thương mại (franchising) được các tổ chức quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia (trong đó
có Việt Nam) coi là một hình thức chuyển giao công nghệ, nhưng thường không được quy định trong các luật về chuyển giao công nghệ mà thường quy định trong luật thương mại Đối tượng của nhượng quyền thương mại là quyền thương mại, tức là quyền tiền hành kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo cách thức của bên nhượng quyền quy định, cùng với đó là việc sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền Như vậy, phạm vi đối tượng chủ yếu chung của cả nhượng quyền thương mại và chuyển giao công nghệ là các đối tượng sở hữu công nghiệp Tuy nhiên, nhượng quyền thương
mại và chuyển giao công nghệ lại có những điểm khác biệt Thứ nhất, nhượng quyền thương mại
là phương thức mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thông qua việc cho phép một doanh nghiệp khác được sản xuất kinh doanh trên cơ sở uy tín, tên thương mại, công nghệ của bên nhượng quyền (ở Việt Nam, chúng ta có thể thấy nhượng quyền thương mại đã được thực hiện rất thành công tại việc kinh doanh cafe Trung Nguyên và Phở 24) Trong khi đó, chuyển giao công nghệ
đơn thuần là việc chuyển giao các công nghệ để ứng dụng vào quá trình sản xuất Thứ hai, trong
nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền chỉ được sử dụng các công nghệ mà mình nhận được
để sản xuất, cung ứng các loại dịch vụ có cùng chất lượng, hình thức và dưới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại của bên nhượng quyền Bên cạnh đó, bên nhận quyền còn phải tuân theo sự bày trí cửa hàng, cung cách phục vụ khách hàng, phương pháp xúc tiến Trong khi đó, một đơn
vị nhận chuyển giao công nghệ có quyền ứng dụng công nghệ đó để sản xuất ra sản phẩm dưới bất kỳ thương hiệu, kiểu dáng, tên thương mại mà họ mong muốn, trừ khi các bên có thỏa thuận
khác Thứ ba, nhượng quyền thương mại có phạm vi đối tượng không chỉ tập trung tại quy trình
sản xuất (như trong chuyển giao công nghệ) mà còn cả các quy trình sau sản xuất nhằm đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng, quy trình quản lý - không chỉ giới hạn ở cơ cấu tổ chức kinh
doanh, kiểm toán, nhân sự, thậm chí cả tiêu chuẩn thiết kế, trang trí cửa hàng, nhà xưởng Thứ
tư, trong nhượng quyền thương mại, sự hỗ trợ kiểm soát của bên nhượng quyền đối với bên nhạn
quyền là một nội dung không thể thiếu nhằm đảm bảo tính thống nhất của toàn bộ hệ thống nhượng quyền Trong khi đó, sau khi chuyển giao công nghệ xong, bên chuyển giao thông
Trang 28thường không hỗ trợ cũng như không thực hiện quyền kiểm soát đối với bên nhận chuyển giao
Theo Luật Thúc đẩy chuyển giao công nghệ của Hàn Quốc, đối tượng của hợp đồng chuyển giao công nghệ là sáng chế, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn đã được đăng ký theo Luật bảo hộ độc quyền sáng chế, các công nghệ mang tính sở hữu trí tuệ, tài sản được thể hiện bằng các bí quyết kỹ thuật, phần mềm, thông tin công nghệ, thiết kế Trong khi đó, theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ, Luật đổi mới công nghệ (luật Stevenson - Wydler) cùng với các quy định sửa đổi tại Luật Chuyển giao công nghệ liên bang năm 1986, Luật Thương mại hóa chuyển giao công nghệ năm 2000 xác định: đối tượng chuyển giao công nghệ bao gồm sáng chế, giải pháp kỹ thuật, dịch vụ kỹ thuật, đào tạo nhân lực, thông tin công nghệ và tài liệu kỹ thuật [20]
Để đảm bảo định hướng các chủ thể trong hoạt động chuyển giao công nghệ, pháp luật Việt Nam xác định rõ các nhóm đối tượng công nghệ là công nghệ khuyến khích chuyển giao, công nghệ hạn chế chuyển giao, công nghệ cấm chuyển giao Ngoài những nhóm công nghệ trên
là những công nghệ được tự do chuyển giao
Công nghệ được khuyến khích chuyển giao là các công nghệ đem lại nhiều hiệu quả về mặt kinh tế xã hội, đảm bảo phát triển bền vững Công nghệ được khuyến khích chuyển giao phải là công nghệ cao hoặc công nghệ tiên tiến Trên thực tế, để phát huy lợi thế của nước đi sau, cùng với việc tăng cường năng lực công nghệ nội sinh, không chỉ Việt Nam, mà một số nước đang phát triển đều ý thức được vai trò và đều khuyến khích chuyển giao công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, phù hợp từ nước ngoài Công nghệ là chìa khóa để tạo lợi thế cạnh tranh và chỉ có những nước nắm bắt được xu thế phát triển công nghệ, có khả năng quản lý công nghệ mới có thể đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa đất nước
Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ; tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng và giá trị gia tăng cao; có khả năng hình thành các ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có Trong lĩnh vực công nghệ thông tin truyền thông, Việt Nam đã và đang làm chủ được công nghệ, thiết
kế chế tạo thành công và đưa vào ứng dụng hệ thống SPM, là một thiết bị thuộc loại công nghệ cao hiện nay trên thế giới Hình ảnh bề mặt được quan sát với độ phóng đại từ hàng nghìn cho đến hàng triệu lần đối với mọi chất liệu, đã bước đầu đưa thiết bị này vào ứng dụng có kết quả cho hai lĩnh vực khoa học công nghệ rất hiện đại là công nghệ nano (chụp topography cho các
Trang 29vật liệu đến cỡ nanomet) và sinh học phân tử (chụp ảnh virus để nghiên cứu) [19, tr 120] Công nghệ tiên tiến là công nghệ hàng đầu, có trình độ công nghệ cao hơn trình độ công nghệ cùng loại hiện có Ví dụ, trong sản xuất tủ lạnh, một số nhà sản xuất như Deawoo hiện đã và đang áp dụng công nghệ Nano Silver - công nghệ được coi là tiên tiến nhất hiện nay trong sản xuất tủ lạnh, giúp khử mùi và vi khuẩn toàn diện, tỏa khí lạnh đa chiều Công nghệ nano cho phép tráng một lớp bạc có kích cỡ nano bên trong nội thất tủ, tạo hiệu quả kháng khuẩn và khử mùi toàn diện Lớp bạc cũng ngăn chặn quá trình phát triển của mần bệnh, khử mùi tủ Các ion bạc Ag+ cực nhỏ chặn quá trình hô hấp của vi khuẩn
Những công nghệ khuyến khích chuyển giao cần đáp ứng một hoặc nhiều các yêu cầu sau đây:
- Tạo ra sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao;
- Tạo ra ngành công nghiệp, dịch vụ mới;
- Tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu;
- Sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo;
- Bảo vệ sức khỏe con người;
- Bảo vệ lợi ích quốc gia;
- Bảo vệ sức khỏe con người;
- Bảo vệ giá trị văn hóa dân tộc;
Trang 30- Bảo vệ động vật, thực vật, tài nguyên, môi trường;
- Thực hiện quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên
Đối với những công nghệ bị hạn chế chuyển giao nói trên, cơ chế để có thể hạn chế chuyển giao là: cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành thẩm định, cho phép hoặc không cho phép chuyển giao Tổ chức, cá nhân chuyển giao hoặc nhận chuyển giao đều phải đăng ký cấp phép tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Bên cạnh những công nghệ bị hạn chế chuyển giao, Bộ luật Dân sự 2005, sau đó được ghi nhận lại trong Luật Chuyển giao công nghệ những công nghệ cấm chuyển giao, bao gồm:
- Công nghệ không đáp ứng các quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo đảm sức khỏe con người, bảo vệ tài nguyên và môi trường
- Công nghệ tạo ra sản phẩm gây hậu quả xấu đến phát triển kinh tế - xã hội và ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội
- Công nghệ không được chuyển giao theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
- Công nghệ thuộc Danh mục bí mật nhà nước, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Đối với các công nghệ cấm chuyển giao, nếu các cá nhân, tổ chức vẫn tiến hành ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ, thì hợp đồng đó đương nhiên bị vô hiệu Không những thế, các
tổ chức, cá nhân còn có thể bị xử phạt hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật
Đối tượng của hợp đồng chuyển giao công nghệ là công nghệ được chuyển giao Cơ chế chuyển giao có thể là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ Chi tiết về cơ chế chuyển giao sẽ được người viết trình bày và phân tích tại Mục d - quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng chuyển giao công nghệ dưới đây
2.2.1.2 Phương thức chuyển giao công nghệ
Đây là điều khoản rất quan trọng của hợp đồng chuyển giao công nghệ, nhằm xác định các vấn đề về nội dung, tiến độ và kết quả cụ thể của quá trình chuyển giao công nghệ Luật
Trang 31Chuyển giao công nghệ đã có những quy định rất cụ thể về phương thức chuyển giao Theo quy định tại điều 18 Luật Chuyển giao công nghệ, các bên có thể lựa chọn một hoặc các phương thức chuyển giao công nghệ sau đây:
- Chuyển giao tài liệu về công nghệ: Theo phương thức này, bên chuyển giao sẽ chuyển giao cho bên nhận các tài liệu dưới các hình thức khác nhau như tài liệu hướng dẫn, bản vẽ, phần mềm có chứa đựng các nội dung về đối tượng của hợp đồng chuyển giao công nghệ để bên nhận có thể tiếp thu được các nội dung của công nghệ được chuyển giao Phạm vi chuyển giao tài liệu có thể được các bên thỏa thuận cụ thể về số lượng, thời gian để tạo điều kiện tốt nhất cho quá trình chuyển giao và tiếp nhận công nghệ
- Đào tạo cho bên nhận công nghệ nắm vững và làm chủ công nghệ theo thời hạn quy định trong hợp đồng chuyển giao công nghệ Theo đó, bên giao sẽ trực tiếp đào tạo cho bên nhận một số lượng nhất định các nhân viên kỹ thuật có đủ kiến thức và kỹ năng để vận hành, làm chủ công nghệ được chuyển giao Việc đào tạo có thể thông qua việc cử chuyên gia của bên giao tập huấn cho bên nhận hoặc cũng có thể là tiếp nhận các nhận viên của bên nhận đến đào tạo tại các
cơ sở sản xuất, kinh doanh của bên giao Theo phương thức này, các bên thường có thỏa thuận
cụ thể về trách nhiệm thanh toán kinh phí đào tạo, chi phí cho chuyên gia
- Cử chuyên gia tư vấn kỹ thuật cho bên nhận công nghệ đưa công nghệ vào sản xuất với chất lượng công nghệ và chất lượng sản phẩm đạt các chỉ tiêu và tiến độ quy định trong hợp đồng chuyển giao công nghệ Đây là sự hỗ trợ, giúp đỡ rất quan trọng của bên giao đối với bên nhận, nhằm đảm bảo rằng việc chuyển giao công nghệ sẽ được thực hiện thành công Theo đó, bên giao sẽ cung cấp cho bên nhận sự hỗ trợ kỹ thuật, các kỹ năng và chuyên môn cần thiết khác
để sản xuất, tạo ra sản phẩm đạt chất lượng tiêu chuẩn và có giá cả cạnh tranh, hoặc cung cấp các
ý kiến tư vấn và cung cấp các hỗ trợ cần thiết khác có liên quan tới các quá trình tạo ra sản phẩm Phương thức này có thể được thực hiện trong tất cả các khâu của quá trình chuyển giao như chuẩn bị, chảy thử và sản xuất chính
- Phương thức chuyển giao khác do các bên thỏa thuận Đây là quy định mở của luật, nhằm khuyến khích sự thỏa thuận của các bên về phương thức chuyển giao, qua đó có tác dụng trợ giúp và định hướng cho các bên đàm phán, thỏa thuận và thức hiện thành công hợp đồng chuyển giao công nghệ
2.2.1.3 Những quy định về giá cả và phương thức thanh toán
Trang 32Giá của công nghệ được chuyển giao là phần giá trị được quy đổi thành tiền mà bên nhận chuyển giao công nghệ phải trả cho bên chuyển giao Về nguyên tắc, giá của công nghệ sẽ
do các bên thỏa thuận trên cơ sở bình đẳng và tuân thủ quy luật thị trường Dưới giác độ lý thuyết, khả năng thương lượng về giá cả phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản sau đây:
Một là, tính tiên tiến của công nghệ Công nghệ càng tiên tiến thì chi phí nghiên cứu
càng cao, rủi ro đối với tổ chức tiến hành nghiên cứu càng lớn, do vậy giá công nghệ có xu hướng tăng cao Mặt khác, tính tiên tiến của công nghệ sẽ tạo ra "cầu" về công nghệ lớn, tạo lợi thế thương lượng về giá cho bên chuyển giao Một trong những công nghệ có giá chuyển giao rất cao hiện nay là công nghệ nano Kể từ khi được chính thức đưa ra tại Hoa Kỳ năm 2000, công nghệ nano đã được hưởng ứng bằng những sáng kiến quốc gia của nhiều quốc gia trên thế giới, đồng thời đã được dành những khoản kinh khí rất lớn cho nghiên cứu và phát triển Chỉ riêng trong năm 2002, khoản chi phí nghiên cứu và phát triển công nghệ nano đã là khoảng 2,5 tỷ USD, trong đó Mỹ chiếm 604 triệu USD, Nhật Bản 753 triệu USD và Tây Âu là 585 triệu USD Công nghệ nano đã được áp dụng và đã tạo ra rất nhiều các sản phẩm nổi bật của thế giới như ống nano, động cơ nano, AND Đối với ống nano, phân tử dạng ống hoàn toàn được cấu thành bằng nguyên tử các bon, có tất cả các sản phẩm để đảo lộn các lĩnh vực điện tử, quang học, cơ khí, thậm chí cả năng lượng Giá trị nhiều mặt của nó là do có các phẩm chất như bền hơn thép
100 lần nhưng nhẹ hơn thép 6 lần, đắt hơn vàng 50 lần và chịu nhiệt độ trên 2.8000 C trong chân không [21, tr 92-93]
Hai là, "phạm vi" chuyển giao công nghệ Việc chuyển giao quyền sở hữu công nghệ
thường có giá cả cao hơn việc chỉ chuyển giao quyền sử dụng công nghệ ấy Việc độc quyền sử dụng công nghệ cũng sẽ làm giá thanh toán tăng lên so với việc không có được sự độc quyền
Ba là, "khả năng làm chủ công nghệ được chuyển giao" của bên nhận chuyển giao
Trong trường hợp bên nhận chuyển giao đã có những kinh nghiệm, khả năng tiếp nhận và sử dụng nhất định đối với công nghệ được chuyển giao sẽ góp phần làm cho giá chuyển giao thấp hơn so với các trường hợp chuyển giao khác do việc giảm khối lượng các công việc, phạm vi trách nhiệm của bên chuyển giao trong hỗ trợ, đào tạo bên nhận chuyển giao để tiếp nhận công nghệ Ví dụ, trong lĩnh vực bưu chính viễn thông, Việt Nam vừa qua đã phóng thành công vệ tinh viễn thông Vinasat đầu tiên nhằm hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc của quốc gia, nâng cao năng lực mạng lưới, chất lượng dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin, phát thanh,
Trang 33truyền hình của Việt Nam Theo tính toán của các chuyên gia, giá chuyển giao công nghệ trong lần phóng vệ tinh lần đầu của Việt Nam là rất cao so với giá chung trên thế giới do Việt Nam hoàn toàn chưa có đội ngũ cán bộ, chuyên gia kỹ thuật có kinh nghiệm và khả năng trong lĩnh vực này
Bốn là, ""vai trò, tầm quan trọng của công nghệ" đối với bên nhận công nghệ Công
nghệ càng có vai trò, vị trí quan trọng đối với bên nhận công nghệ thì sẽ có giá chuyển giao càng cao
Tuy nhiên, đối với các hợp đồng chuyển giao công nghệ mà bên nhận chuyển giao sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước thì giá công nghệ phải được
sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Theo quy định của Luật Chuyển giao công nghệ, các bên có thể thỏa thuận thanh toán bằng một hoặc nhiều phương thức sau đây:
- Trả một lần hoặc nhiều lần bằng tiền hoặc hàng hóa
Theo phương thức này, hai bên xác định giá thanh toán bằng một khoản tiền hoặc một lượng hàng hóa nhất, được chia ra để trả gọn một lần hay một số lần vào các thời điểm nhất định theo thỏa thuận, thông thường là các thời điểm kết thúc từng giai đoạn của quá trình chuyển giao công nghệ Ví dụ: ngày nhận được các tài liệu kỹ thuật, ngày hoàn thành chạy thử, ngày nghiệm thu, ngày bắt đầu sản xuất thương mại, ngày bán lô hàng hóa đầu tiên được sản xuất từ công nghệ được chuyển giao…
- Chuyển giá trị công nghệ thành vốn góp vào dự án đầu tư hoặc vào vốn góp của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật
Nếu bên giao và bên nhận công nghệ thỏa thuận góp vốn bằng giá trị của công nghệ vào
dự án đầu tư hoặc vào vốn góp của doanh nghiệp thì các bên phải lập hợp đồng chuyển giao công nghệ trong đó toàn bộ giá trị công nghệ của bên giao được quy đổi thành một số tiền nhất định trong tổng vốn đầu tư của bên nhận hoặc vốn điều lệ của doanh nghiệp Sau khi bên giao đã thực hiện đầy đủ nội dung chuyển giao công nghệ theo quy định trong hợp đồng thì hai bên phải lập biên bản nghiệm thu để xác nhận bên giao đã hoàn thành nghĩa vụ chuyển giao Khi đó, giá trị công nghệ mới được tính vào vốn góp của dự án đầu tư hoặc vốn góp vào doanh nghiệp Hình thức thanh toán này hiện nay được thực hiện khá phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là trong đầu tư
Trang 34trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Ngoài các phương thức thanh toán nêu trên, pháp luật hiện hành cũng cho phép các bên thỏa thuận thanh toán bằng các phương thức khác Dưới đây là một số phương thức thanh toán thường được các bên thỏa thuận trong các hợp đồng chuyển giao công nghệ được ký kết trong khoảng thời gian vừa qua:
- Trả kỳ vụ theo phần trăm (%) giá bán tịnh
Trả kỳ vụ là việc thanh toán theo định kỳ sau từng khoảng thời gian nhất định, ví dụ sáu (6) tháng hoặc hàng năm Giá bán tịnh là giá bán sản phẩm, dịch vụ tạo ra bằng công nghệ được chuyển giao, tính theo hóa đơn bán hàng, sau khi trừ đi các khoản sau đây:
+ Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu (nếu có);
+ Chi phí mua các bán thành phẩm, bộ phận, chi tiết, linh kiện;
+ Chi phí mua bao bì, đóng gói, vận tải, quảng cáo
Các chi phí này được xác định theo chi phí thực tế, trừ một số chi phí có mức giới hạn theo quy định của pháp luật
Phương thức thanh toán này có ưu điểm là phù hợp với khả năng quản lý chi phí của bên nhận, nhưng lại có nhược điểm là bên giao có thể không kiểm soát được chi phí của bên nhận, do đó bên nhận có thể khai tăng chi phí để giảm giá bán tịnh Chính vì vậy, phương thức thanh toán này thông thường được áp dụng trong trường hợp bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao có những mỗi liên hệ nhất định, như chuyển giao công nghệ giữa công ty mẹ với công ty con
- Trả theo phần trăm (%) doanh thu thuần
Doanh thu thuần là doanh thu bán sản phẩm, dịch vụ được tạo ra bằng công nghệ được chuyển giao, tính theo hóa đơn bán hàng trừ đi thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu (nếu có) Doanh thu có thể được xác định trong một khoảng thời gian nhất định, ví dụ: theo tháng hoặc theo năm Cách tính theo doanh thu thuần có ưu điểm là bên giao không phải quan tâm đến chi phí của bên nhận, nhưng có nhược điểm là sẽ bị thiệt nếu chi phí sản xuất được tiết kiệm hoặc sẽ không được trả tiền nếu bên nhận không bán được hàng
- Trả theo phần trăm (%) lợi nhuận trước thuế của bên nhận