1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Củng cố, luyện tập về truyện cổ tích và ca dao

9 178 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 31,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cứu người đẹp; quan hệ dì ghẻ và con riêng; đoạt báu vật thần thông; người con gái đội lốt thú kỳ dị bí mật giúp đỡ chồng; v.v - Kể lại những sự việc xảy ra trong đời sống gia đình và x

Trang 1

CỦNG CỐ, LUYỆN TẬP TRUYỆN CỔ TÍCH VÀ CAO DAO

I CỦNG CỐ KIẾN THỨC

1 Đặc điểm

Nhiều truyện cổ tích xuất xứ từ xa xưa phản ánh được các quan hệ xã hội nguyên thủy và các biểu tượng, tín ngưỡng vật tổ, tín ngưỡng vạn vật hữu linh Trong khi đó, các truyện cổ tích hình thành giai đoạn muộn hơn, như thời phong kiến, thường có những hình tượng vua, hoàng hậu, hoàng tử, công chúa Sang thời tư bản chủ nghĩa, truyện cổ tích thường chú ý hơn đến thương nhân, tiền bạc và các quan hệ xã hội liên quan đến mua bán, đổi chác, sự tương phản giàu nghèo v.v

2 Phân loại:

* Truyện cổ tích thần kỳ

- Giai đoạn đầu thường gắn với thần thoại và có ý nghĩa ma thuật Có thể bắt gặp các đề tài như dũng sĩ diệt trằn tinh v.v.) cứu người đẹp; quan hệ dì ghẻ và con riêng; đoạt báu vật thần thông; người con gái đội lốt thú kỳ dị bí mật giúp đỡ chồng; v.v

- Kể lại những sự việc xảy ra trong đời sống gia đình và xã hội của con người:

+ Những mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình phụ quyền, vấn đề tình yêu hôn nhân, những quan hệ xã hội (Tấm Cám, Cây khế, Sự tích con khỉ )

+ Nhóm truyện về các nhân vật tài giỏi, dũng sĩ lập chiến công, diệt cái ác, bảo vệ cái thiện, mưu cầu hạnh phúc cho con người (Thạch Sanh, Người thợ săn và mụ chằn)

+ Nhóm truyện về các nhân vật bất hạnh: về mặt xã hội, họ bị ngược đãi, bị thiệt thòi về quyền lợi, về mặt tính cách, họ trọn vẹn về đạo đức nhưng thường chịu đựng trừ nhân vật xấu xí mà có tài (Sọ Dừa, Lấy vợ Cóc, Cây tre trăm đốt )

* Truyện cổ tích sinh hoạt

- Trình bày các cuộc phiêu lưu kỳ lạ của nhân vật chính, và việc giải thích các cuộc phiêu lưu này thường mang tính giả tưởng

- Kể lại những sự kiện khác thường ly kỳ, nhưng những sự kiện này rút ra từ thế giới trần tục Yếu tố thần kỳ, nếu có, thì không có vai trò quan trọng đối với sự phát triển câu chuyện như trong cổ tích thần kỳ

+ Nhóm truyện có đề tài nói về nhân vật bất hạnh (Trương Chi, Sự tích chim hít cô, Sự tích chim quốc )

+ nhóm có nội dung phê phán những thói xấu: (Đứa con trời đánh, Gái ngoan dạy chồng ); + nhóm truyện về người thông minh: (Quan án xử kiện hay Xử kiện tài tình,

Em bé thông minh, Cái chết của bốn ông sư, Nói dối như Cuội )

+ Nhóm truyện về người ngốc nghếch: (Chàng ngốc được kiện, Làm theo vợ dặn, Nàng

bò tót )

* Truyện cổ tích loài vật

- Nhân vật chính là các loài vật, là một trong những thể loại truyện cổ tích phổ biến nhất,

có ở hầu hết các dân tộc trên thế giới

- Nhiều tác phẩm xuất xứ từ giai đoạn xã hội chưa phân chia giai cấp, còn gắn với tín ngưỡng vật tổ, theo thời gian, dần dần mất đi tính chất thần thoại và ma thuật, tiệm cận với thể loại truyện ngụ ngôn giáo huấn ở giai đoạn về sau

+ Nhóm những con vật nuôi trong nhà, khi miêu tả đặc điểm các con vật thường nói đến nguồn gốc các đặc điểm đó: Trâu và ngựa, Chó ba cẳng

+ Nhóm hoang dã là hệ thống truyện về con vật thông minh, dùng mẹo lừa để thắng các con vật mạnh hơn nó: Cóc kiện Trời, truyện Công và Quạ

+ Truyện dân gian Nam Bộ về loài vật có: Tại sao có địa danh Bến Nghé, Sự tích rạch

Mồ Thị Cư, Sự tích cù lao Ông Hổ ; chuỗi Truyện Bác Ba Phi: Cọp xay lúa

Trang 2

II LUYỆN TẬP

Đề ra: Có ý kiến cho rằng: “Truyện cổ tích thần kì là những hư cấu kì ảo về một hiện thực chỉ có trong mơ ước”

Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Chứng minh qua một số truyện cổ tích đã được học

BÀI LÀM

Con người luôn hướng đến những điều tốt đẹp về một cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc hơn, một cuộc sống bình đẳng, nơi đó cái thiện sẽ lên ngôi chiến thắng cái ác Những ước mơ ngàn đời ấy được thể hiện rõ nét qua những câu chuyện cổ tích bình dị, mang cả điệu hồn dân tộc, ru ta lớn khôn từ thời tấm bé Khi thực tại quá tối tăm thì những người dân lao động chỉ biết tìm thấy chút ánh sáng le lói cháy lên qua những ngọn nến ước mơ nơi cuối đường hầm Chính vì thế mà đã có nhận định cho rằng: “Cổ tích thần kì là những hư cấu kì ảo về một hiện thực chỉ có trong mơ ước”

Truyện cổ tích thần kì là loại tiêu biểu nhất của truyện cổ tích Những truyện thuộc tiểu loại này thường ra đời từ rất sớm và những đặc trưng cơ bản của truyện cổ tích đều

có thể tìm thấy ở kiểu truyện này Đặc trưng nổi bật của truyện cổ tích là sử dụng yếu tố

kì ảo một cách đậm đặc Đó là một yếu tố không thể thiếu được của cốt truyện, phản ánh mhữmg ước mơ, nguyện vọng về một xã hội lí tưởng của nhân dân và kết thúc truyện thường có hậu

Truyện cổ tích tập trung phản ánh số phận của những con người nhỏ bé, khốn khổ, tủi nhục trong xã hội đầy áp bức bất công… Mỗi nhân vật có một số phận khác nhau mhưng đều có chung những phẩm chất tốt đẹp: hiền lành, tốt bụng, tài năng Đó là anh Khoai nghèo khó, bần hàn nhưng cần cù, chất phác; là chàng Sọ Dừa đội lốt xấu xí nhưng chăm chỉ, hiền lành; là chàng Thạch Sanh có số phận bất hạnh nhưng tài năng, thương người… Họ đại diện cho tầng lớp nhân dân thấp cổ bé họng, sống trong lầm than, khổ cực nhưng vẫn giữ tâm hồn trong sáng, lương thiện, đức tính chăm chỉ, cần cù vốn có

Truyện cổ tích thần kì xây dựng thành công một thế giới trong mơ ước Thông qua những câu chuyện ấy một ánh sáng lí tưởng của nhân dân được nêu lên về một xã hội công bằng, dân chủ Trong đó, người lương thiện, tốt bụng, tài năng sẽ được hưởng hạnh phúc xứng đáng với những phẫm chất tốt đẹp của họ Một cô Tấm thảo hiền trở thành hoàng hậu; một chàng Thạch Sanh trở thành phò mã… Tất cả đều là những ước mơ, những giấc mơ giản dị mà đẹp đẽ thể hiện cho khát vọng của con người trong cuộc sống

Họ mong muốn những người ở hiền sẽ được gặp lành, còn những kẻ độc ác, xấu xa sẽ bị trừng trị thích đáng Mơ ước và con người sống trong mơ ước ấy không ngừng đấu tranh

để đạt được mơ ước, để biến mơ ước ấy thành hiện thực Họ mơ ước trong hiện thực và

mơ ước về hiện thực, không phải những điều tốt đẹp ở cõi tiên hay một nơi nào khác mà ngay chính giữa cuộc đời họ Nó vẫn là thế giới ở trần gian, tồn tại, biến động với tất cả

sự phong phú, đa dạng, phức tạp của nó Chỉ có điều, thế giới ấy được hoàn thiện hóa, lí tưởng hóa lên mà thôi

Trong xã hội loài người, xã hội mà con người đã, đang và sẽ sống luôn luôn tồn tại biết bao nhiêu sự phức tạp, đa dạng thẫm chí cả những mâu thuẫn hết sức gay gắt nóng bỏng Bên cạnh những điều tốt đẹp, tươi sáng vẫn còn không ít những cái xấu xa, đen tối nhởn nhơ giữa cuộc đời, đặc biệt trong xã hội phong kiến- hoàn cảnh ra đời chủ yếu của truyện cổ tích Mà con người ngay từ khi xuất hiện đã không ngừng vươn tới chân, thiện,

mĩ Do đó, người ta không thể chấp nhận những điều xấu xa, giả dối kia Người ta phải xây dựng nên trong khát vọng và trí tưởng tượng của mình một thế giới khác tươi đẹp

Trang 3

hơn Đó cũng là một hình thức phủ nhận hiện thực đen tối Khi ước mơ không thể thực hiện thì qua những câu chuyện cổ tích ánh sáng kì ảo, chói ngời hạnh phúc vào cuộc đời tối tăm, bất hạnh của con người, khiến họ yêu đời và sống mạnh mẽ hơn Trong thế giới truyện cổ tích, người hiền sẽ gặp lành, kẻ ác bị trừng trị; sự công bằng được thực hiện, lao động được nhẹ nhàng, tuổi già và cái chết bị đẩy xa; người dị dạng, xấu xí trở nên đẹp đẽ; người mất vợ hoặc người yêu được đoàn tụ; người nghèo sẽ giàu có, người bị áp bức, đau khổ sẽ có địa vị và quyền thế cao sang…

Có thể nói, truyện cổ tích thần kì là sự phản ánh mơ ước của nhân dân về một thế giới tốt đẹp hơn trong tương lai bằng những hư cấu kì ảo Họ không khoanh tay đứng nhìn để cho mơ ước của mình mãi mãi là điều không tưởng Chính vì mơ ước là cái không có thực trong hiện tại nên sự phản ánh mơ ước phải là những hư cấu kì ảo do trí tưởng tượng của con người tạo ra Do đó, nói: “Cổ tích thần kì là những hư cấu kì ảo về một hiện thực chỉ có trong mơ ước” có nghĩa là: truyện cổ tích thần kì là sự phản ánh mơ ước của nhân dân ta về một thế giới tốt đẹp hơn trong tương lai bằng những hư cấu kì ảo Đồng thời nó cũng phản ánh quyết tâm của người lao động, là đấu tranh cho mơ ước ấy thành hiện thực…

Trong truyện “Tấm Cám” có một bức tranh cuộc sống với những mâu thuẫn gay gắt trong xã hội Truyện kể “mẹ Tấm chết từ hồi Tấm mới biết đi”, lời kể ấy đã xác định thân phận mồ côi của Tấm Trong bao nỗi đau buồn của một đứa trẻ, có lẽ đau khổ, thiệt thòi nhất là thiếu mẹ Tục ngữ có câu: “Cha chết ăn cơm với cá, mẹ chết liếm lá đầu chợ”

để khái quát nỗi đau khổ, thiệt thòi vô cùng của đứa con mồ côi mẹ Mồ côi cha đã khổ,

mồ côi mẹ lại càng thiệt thòi, đau khổ hơn nhiều

Mọi đau khổ của Tấm đều bắt nguồn từ quan hệ với mẹ con dì ghẻ Tấm cô đơn chỉ biết khóc mỗi khi bị hành hạ Bị Cám lừa trút mất giỏ tép, mất hi vọng cái yếm đào, Tấm khóc Bị lừa đi chăn trâu đồng xa để ở nhà mẹ con Cám làm thịt chú bống bé nhỏ bầu bạn với Tấm, cô lại khóc Lần thứ ba Tấm khóc là khi cô không được đi hội làng Tấm lại khóc và dường như tiếng khóc lại một lần nữa đẩy nỗi đau của cô lên cao hơn Tiếng khóc hay tiếng lòng, hay nỗi uất hận đã đè nén thành hình, thành khối để rồi bật ra nơi từng tiếng khóc nghẹn ngào, ấm ức

Thân phận đầy đau khổ của cô Tấm trong truyện cổ là thân phận chung của những người nghèo, người mồ côi lương thiện trong xã hội Mâu thuẫn giữa Tâm với mẹ con dì ghẻ không chỉ là mâu thuẫn là mâu thuẫn dì ghẻ- con chồng mà còn là hình thức biểu hiện cụ thể của xung đột Thiện- Ác trong cuộc đời Tấm đại diện cho nhân vật thiện chămm chỉ, lương thiện, đôn hậu Cái ác hiện hình trong mẹ con mụ dì ghẻ qua hành động: lừa gạt lấy mất giỏ tép để tước đoạt ước mơ nhỏ bé của Tấm là cái yếm đào; lén lút giết chết con bôngd là giết chết người bạn nhỏ bé của Tấm; đang tâm trộn thóc với gạo nhằm dập tắt niềm vui được đi hội làng, được giao cảm với đời của cô… Tiếng khóc tội nghiệp của Tấm mỗi lần bị chèn ép, áp bức có sức lay động mọi trái tim nhân hậu, gọi dậy niềm cảm thông chia sẻ với mọi người

Sống giữa vũng lầy của cuộc đời, “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” Tấm- đại diện cho người nông dân vẫn vươn lên tỏa ngát như những bông sen mảnh mai mà bền bỉ sức sống Tước vùi dập của cái ác Tấm hay chính là nhân dân vẫn đấu tranh vì hạnh phúc đến cùng Tấm tuy đã trở thành hoàng hậu nhưng vẫn bị cái ác tiêu diệt, săn đuổi Cô Tám lương thiện, hiếu thảo trèo cau hái quả cúng hca đã bị mẹ con Cám chặt cây giết chết Cô Tấm hiền lành, ngây th vừa ngã xuống một cô gái mạnh mẽ và quyết liệt hơn sống dậy, hóa thân trở về với cuộc đời, công khai chống lại cái ác đòi hạnh phúc Cuộc chiến đấu đó thật gian nan, quyết liệt nhưng cũng thật hấp dẫn đối với độc giả Bởi trong

Trang 4

cuộc đời, những gì người mồ côi, nhỏ nhoi, yếu thế không làm được thì Tấm đã thay họ thự hiện “oán thì trả oán, ân thì trả ân” đến tận cùng

Tấm thảo hiền thì dì ghẻ chặt cây sát hại mà không cam chịu chết Cô hóa vàng an, bay vào cung vua báo hiệu sự có mặt của mình trong lời nhắc nhỏ: “Giặt áo chồng tao phơi lao, phơi sào/ Chớ phơi bờ rào rách áo chồng tao”, vàng anh bị giết chết Tấm hóa cây xoan đào tuyên chiến với kẻ thù trực tiếp và dữ dội hơn: “Lây tranh chồng chị, chị khoét mắt ra”, khug cửi bị đốt cháy Từ đống tro tàn chết chóc, Tấm hóa cây thị trở lại với đời Trong sự hóa thân ấy có sự kiên nhẫn và lòng dũng cảm Phải chăng trong nhân vật Tấm đã hội tụ sự dịu dàng và tính cách bất khuất của người pụ nữ Việt Nam xa xưa

Tấm đã hóa thân, cái thiện không chịu chết một cách oan ức trong im lặng đã vùng dậy còn cái ác cũng tìm mọi cách tiêu diệt cái thiện Những lần chết đi sống lại của tấm phản ánh cuộc đấu tranh quyết liệt, gay gắt của cuộc chiến đấu giữ cái thiện với cái ác; đồng thời cũng thể hiện sức sống mãnh liệt, không thể bị triệt tiêu của cái thiện

Chim vàng anh, cây xoan đào, quả thị là những nơi Tấm gửi gắm linh hồn, cũng là những vật bình dị, thân thương trong cuộc sống dân dã Nếu như lần đầu câu chuyện, mỗi lần Tấm khóc Bụt thường hiện lên ban tặng vật thần kì, thì phần sau cuộc đấu tranh với cái ác quyết liệt hơn nhưng Tấm không còn khóc, cũng không còn thấy sự xuất hiện của Bụt, chỉ thấy tấm hành động liên tiếp để chống lại kẻ thù Cũng chính nhân dân lao động, những người có thân phận như Tấm, những người thấu hiểu và cảm thương cô Tấm thiệt thòi, đã gửi vào cô Tấm ý thức mãnh liệt giành và giữ hạnh phúc của mình Đằng sau câu chuyện đã ẩn chứa một chân lí: Hạnh phúc chỉ có bền chặt khi ta biết dành

và giữ lấy Vì vậy, nếu lúc đầu mỗi lần Tấm uất ức chỉ biết ngồi khóc, còn bụt làm thay tất cả thì đến đây chim vàng anh, khug cửi, quả thị không thay tấm trong cuộc chiến đấu

mà chỉ là nơi hóa thân, tạm ẩn mình để trở về đấu tranh với cái ác quyết liệt hơn

Nhưng sau nhiều lần chết đi sống lại của Tấm, trong lốt chim, cây, quả… Tấm hiểu rằng không thể có hạnh phúc trọn vẹn chừng nào cái ác còn tồn tại, chừng nào mẹ con Cám còn hiển diện Cô lừa cám để sai người đào hố, dội nước sôi tự tìm đến cái chết Kết thúc đó nêu lên một triết lí dân gian “ác giả ác bào”, phù hợp với mong ước của nhân dân về sự trừng phạt tận gốc kẻ thù Cuối cùng hạnh phúc đã trở về với Tấm như món quà tặng quý giá cho lòng thủy chung và sự dũng cảm của cô

Sự hóa thân nhiều lần rồi trở về cuộc đời của tấm là biểu hiện sinh động của quan niệm về công bằng xã hội và hạnh phúc Người lương thiện phải được hạnh phúc, còn kẻ

ác nhất định bị trừng phạt, đó là quy luật của lòng nhân đạo, tình yêu thương con người Người lao động không chờ đợi hạnh phúc và mơ hồ ở cõi nào khác mà tìm và giữ hạnh phúc thực sự ngay trên mảnh đất mình từng gắn bó ở nơi trần thế

Truyện cổ tích thần kì thường giải quyết mâu thuẫn theo hướng: Thiện thắng Ác

và người lương thiện nhất định sẽ được hưởnh hạnh phúc Con đường dẫn đến hạnh phúc của nhân vật thiện chính là xu hướng giải quyết mâu thuẫn rất đặc trưng của truyện cổ tích Để giải quyết mâu thuẫn đó, truyện cổ tích thường dử dụng yếu tố kì ảo

Trong truyện “Tấm Cám” các yểu tố kì ảo được đưa vào sử dụng với “mật độ” dày đặc Đó là những thế lực siêu nhiên như ông Bụt Bụt thường xuất hiện đúng lúc mỗi khi tấm khóc, an ủi, nâng đỡ cô mỗi khi Tấm gặp khó khăn hay đau khổ Tấm mất yếm đào-Bụt cho cá bống, Tấm mất cá bống- đào-Bụt cho hi vọng đổi đời Tấm không được đi hội-Bụt cho đàn chim sẻ đến giúp hội-Bụt cho tấm có ngựa, có quần áo mới… đưa Tấm đến hội, gặp nhà vua, được làm hoàng hậu và đạt đến đỉnh cao hạnh phúc Cùng với Bụt, con gà cũng là yếu tố kì ảo, biết cảm thông với Tấm, chim sẻ cũng giúp Tấm nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo, trợ giúp Tấm trên đường tới hạnh phúc Hoàng hậu Tấm là hình ảnh cao nhất

Trang 5

về hạnh phúc mà nhân dân có thể mơ ước cho cô gái mồ côi nghèo, cô đơn trong xã hội xưa Những hình ảnh chim vàng anh, khung cửi, quả thị… cũng đều là những yếu tố kì

ảo, là vật hóa thân của tấm hỗ trợ cô trên con đường tìm đến hạnh phúc Mỗi lần hóa thân sức sống ấy lại càng trỗi dậy mãnh liệt hơn, tràn trề hơn khiến cho cuộc chiến giữ Thiện

và Ác càng cam go, quyết liệt

Những đau khổ của nfười mồ côi là có thật và phổ biến, còn hạnh phúc mà họ được hưởng rất hiếm hoi, phần lớn chỉ là mơ ước Để phản ánh mơ ước về hạnh phúc thông qua nhân vật mồ côi, truyện cổ tích đã “chữa lại” số phận không may mắn cho họ thông qua những yếu tố thần kì Điều đó thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời, hi vọng ở tương lai công bằng, dân chủ của nhân dân lao động

Cùng với truyện “Tấm Cám”, đến với truyện “Chử Đồng Tử” những ước mơ ấy của nhân dân cũng được thể hiện một cách sâu sắc Nhân vật Chử Đồng Tử là chàng trai nghèo đánh cá có cuộc sống bần hàn, nghèo khó Cả “gia tài” của hai cha con chỉ có mỗi một cái khố chung nhau mặc Trong khi đó, cuộc sống nơi cung đình thì xa hoa, giàu sang tột đỉnh Chỉ một chuyến đi chơ của công mà có biết bao kẻ hầu người hạ, thuyền, lọng nườm nượp

Như một sự tình cờ khi Tiên Dung vào bờ tắm thì gặp phải Chử Đồng Tử đang vùi mình dưới cát và duyên số kết thành hai người đã đến vớ nhau Cuộc hôn nhân của công chúa Tiên dung và chàng trai đánh cá nghèo Chử Đồng Tử vượt ra ngoài khuôn khổ phong kiến, điều đó thể hiện cho khát vọng bình đẳng giữa con người với con người của nhân dân ta

Hoàn cảnh hai người gặp nhau thật độc đáo Đó là khung cảnh giữa đất trời bao la, phóng khoáng và Tiên Dung là người ngỏ lời trước Sống trong xã hội phong kiến thì con người luôn phải chịu ảnh hưởng của tư tưởng nam nữ “Trâu đi tìm cọc”, hành động ấy của Tiên Dung đã nêu lên khát vọng tình yêu trong tự do, thuận theo tình cảm

Khi bị vua Hùng phản đối, hai vợ chồng Chử Đồng Tử đã tự mình gây dựng nên cuộc sống và họ đã sống trong nhân dân, làm ăn thịnh vượng Đó là lời ca ngợi tinh thần

tự lực cánh sinh, phấn đấu thực hiện ước mơ Đồng thời, khi cuộc sống đã yên bề gia thất hai vợ chồng vẫn không đối đầu với vua cha mà vẫn hào hảo Đó chính là tiếng nói của nhân dân không muốn xảy ẻa chiến tranh Biểu hiện cao đẹp cho giá trị nhân đạo, khát vọng dân chủ mãnh liệt của nhân dân ta

Và để thực hiện được ước mơ ấy, tác giả dân gian đã thổi vào những yếu tố kì ảo

để giúp nhân vật của mình trong bước đường đi tìm hạnh phúc Để có được tòa thành lớn, có kẻ hầu người hạ đó là nhờ nhà sự Phật Quang truyền cho phép mầu Tất cả các chi tiết như được “sắp xếp” một cách cẩn trọng, khi Chử Đồng Tử lên núi lấy nước đã vô tình gặp được nhà sư Phật Quang và được ông truyền đạo để rồi có khả năng siêu biệt có thể hóa phép thành nhà cao cửa rộng Chi tiết cả người lẫn lâu đài thành quách cùng bay

về trời để mãi được sống tự do là một chi tiết kì ảo được nhân dân sáng tạo ra để gửi gắm vào đó chân lí “ở hiền gặp lanh”, ước mơ được sống tự do…

Con người muốn hoàn thiện mình, xã hội muốn tiến lên thì phải luôn luôn mơ ước đến những điều tốt đẹp hơn và không ngừng đấu tranh để đạt đến điều mơ ước ấy “Là những hư cấu kì ảo về một hiện thực chỉ có trong mơ ước”, truyện cổ tích thàn kì và văn học dân gian nói rộng ra đúng là kho báu tinh thần của dân tộc, rất đáng chúng ta trân trọng và học hỏi

Trang 6

Vẻ đẹp của người lao động thể hiện qua các bài ca dao than thân và yêu thương tình nghĩa đã học trong chương trình

Bao đời nay, ca dao vẫn là tiếng hát thân thương, gần gũi nhất của mỗi tâm hồn người dân Việt Nam Từ thuở nằm nôi, ai cũng được bà, được mẹ hát ru bằng những lời ca đầy yêu thương, tình nghĩa Và cũng chính từ thuở đó, vẻ đẹp tâm hồn của người lao động xưa đã in dấu trong tâm khảm mỗi chúng ta

Ca dao là tiếng hát được cất lên từ thẳm sâu tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân trong các quan hệ lứa đôi, gia đình, quê hương, đất nước Trong đó những tiếng hát than thân, những lời ca yêu thương tình nghĩa luôn bắt nguồn từ cuộc đời còn nhiều xót xa, cay đắng nhưng đằm thắm ân tình của người bình dân Việt Nam Bao thiếu nữ thôn quê

đã giãi bày về chính con người, cuộc đời, số phận của mình bằng những câu ca như:

- Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

- Thân em như củ ấu gai

Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen.

Ai ơi, nếm thử mà xem!

Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi.

Thoạt đọc, chúng ta đều nghĩ đây là những lời ca thuần tuý than thân của các cô gái chưa chồng Nhưng ngẫm kĩ mà xem, trong nỗi niềm than thở của mỗi người con gái ây lại ẩn

chứa niềm kiêu hãnh về giá trị của chính bẳn thân mình Hình ảnh tấm lụa đào lộng lẫy

trong câu ca thứ nhất tượng trưng cho nhan sắc và tuổi xuân phơi phới của người con gái

Rõ ràng, cô gái này đang ý thức rất rõ về sắc đẹp của mình Cô gái trong câu ca thứ hai tưởng như có phần khiêm tốn hơn khi tự đánh giá về hình thức bề ngoài của mình

(vỏ ngoài thì đen) Nhưng hãy đọc cho kĩ, đó chỉ là cách nói đòn bảy để cố nhấn mạnh

giá trị thực của người con gái, đó là sự trong trắng, trong sáng của tâm hồn, vẻ đẹp của

tâm hồn (ruột trong thì trắng y lời mời mọc Ai ơi, nếm thử mà xem một mặt khẳng định

cái giá trị thực đó, mặt khác, thể hiện tâm thế tự tin của cô gái

Hai bài ca của hai cô gái, mỗi người cất một tiếng nói, một giọng nói khác nhau nhưng

cả hai đều đồng thanh một tiếng nói khẳng định giá trị, phẩm chất của bản thân, mình nói riêng và của những người con gái trong xã hội xưa

Trong ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa, số lượng những bài ca về chủ đề tình yêu

có lẽ cao nhất Phải chăng vì tình yêu là thứ tình cảm thi vị, nên thơ nhất của con người? Phải chăng vì tình yêu là thứ tình cảm muôn màu, đa sắc? Có lúc ta lắng nghe được tiếng lòng của một chàng trai lỡ duyên nhưng tình nghĩa chàng dành cho người con gái của lòng mình vẫn rất mực thuỷ chung:

- Trèo lên cây khế nửa ngày,

Ai làm chua xót lòng này, khế ơi!

Mặt trăng sánh với mặt trời,

Trang 7

Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng.

Mình ơi! Có nhớ ta chăng?

Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời.

Lời ca cho ta cảm nhận đây là một chàng trai hết sức chung tình Không phải anh ta không nhận thức được sự phũ phàng của thực tại để rồi vẫn nuôi hi vọng một cách vô

vọng Anh chàng này thấm thìa rất rõ nỗi chua xót đang trào dâng trong lòng mình, cũng như anh ta chắc chắn trả lời được cho câu hỏi Ai làm chua xót lòng này, khế ơi! Nhưng

vượt lên trên nỗi đau tình duyên lỡ dở, chàng trai vẫn khẳng định tình cảm sắt son, bền

vững như thiên nhiên, vũ trụ vĩnh hằng Hệ thống so sánh ẩn dụ trời - trăng - sao trong

bài ca đã nói lên điều đó Như mặt trăng sánh với mặt trời, như sao Hôm sánh với sao

Mai, tình nghĩa đôi ta là như vậy, không thể nào khác được Cụm từ sánh với được láy lại hai lần, lại thêm từ chằng chằng nhấn mạnh ở cuối câu ca đã khẳng định mạnh mẽ điều

đó Cho dù có xa cách nhau nhưng đôi ta vẫn xứng với nhau, vẫn là như một Chàng trai

đã lấy hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ là cái to lớn, vĩnh hằng, không thể đổi khác để khẳng định sự bền vững thuỷ chung của lòng mình

Mình ơi! Có nhớ ta chăng?

Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời.

Chàng trai hỏi cô gái để tự bộc lộ lòng mình và nỗi lòng đó đã được gửi vào một hình

ảnh thơ giàu ý nghĩa: Sao Vượt vẫn chờ trăng giữa trời - một sự chờ đợi mỏi mòn trong

cô đơn và vô vọng Duyên kiếp có thể đã dở dang không thành nhưng tình nghĩa thì mãi

mãi còn, không thể đổi thay Trong hình ảnh sao Vượt chờ trăng giữa trời có cái mòn

mỏi của sự chờ đợi, có cái cô đơn của sự ngóng trông, có nỗi đau của người lỡ duyên thất

tình, nhưng tất cả chỉ để ánh lên vẻ đẹp của tình nghĩa con người, mãi mãi như ngôi sao Vượt chờ trăng giữa trời Đó chính là ánh sáng thật đẹp, thật thơ của tình người trong ca

dao khi xưa nói về những mối tình lỡ làng duyên kiếp

Người lỡ làng trong tình yêu mà vẫn yêu người yêu da diết đến như vậy, huống gì người

đang yêu như cô gái trong bài ca Khăn thương nhớ ai này:

Khăn thương nhớ ai,

Khăn rơi xuống đất

Khăn thương nhớ ai,

Khăn vắt lên vai.

Khăn thương nhớ ai,

Khăn chùi nước mắt.

Thương nhớ vốn là tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ trong tình yêu Vậy mà ở

bài ca, nó lại được diễn tả cụ thể, tinh tế và gợi cảm bằng các biểu tượng khăn, đèn, mắt Hỏi khăn, đèn, mắt nhưng thực ra cô gái đang tự hỏi lòng mình Và chắc hẵn nhớ

thương phải bồn chồn lắm nên cô mới hỏi dồn dập đến vậy

Chiếc khăn là vật trao duyên, vật kỉ niệm gợi nhớ người đàng xa.

Trang 8

Gửi khăn, gửi áo, gửi lời

Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa

Nhớ khi khăn mở trầu trao

Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình

Chiếc khăn lại luôn quấn quýt bên mình người con gái như cùng chia sẻ vởi họ niềm

thương nhớ Điệp khúc Khăn thương nhớ ai làm cho nỗi nhớ càng thêm triền miên, da

diết Dường như mỗi lần hỏi là một lần nỗi nhớ lại trào dâng Và đằng sau mỗi trạng

thái xuống, lên, rơi, vắt của chiếc khăn kia là một con người hiện lên rất rõ trong tâm

trạng ngổn ngang trăm mối tơ vò Nỗi nhớ như trải mọi không gian, quanh quất ở mọi

hướng (rơi xuống đất, vắt lên vai, lau nước mắt).

Hỏi khăn, dường như chưa thoả, cô gái lại hỏi đèn.

Đèn thương nhớ ai,

Mà đèn không tắt.

Việc chuyển từ hỏi khăn sang hỏi đèn đồng nhất với sự chuyển đổi về thời gian của nỗi nhớ: nhớ từ ngày sang đêm Đèn không tắt hay chính người con gái trằn trọc thâu đêm

trong nỗi nhớ thương đằng đẵng? Mà chừng nào ngọn lửa tình vẫn cháy sáng trong trái tim của người con gái thì ngọn đèn kia làm sao tắt được?

Cuối cùng, khi không kìm lòng được nữa, cô đành hỏi đôi mắt - hỏi chính mình:

Mắt thương nhớ ai,

Mắt ngủ không yên.

Rõ ràng, nỗi ưu tư còn nặng trĩu trong lòng người con gái này

Bài ca gồm mười hai dòng, và gần như dòng nào cũng đong đầy nỗi nhớ Nỗi nhớ được nói đến liên tiếp, dồn dập trong mười câu thơ bốn chữ Cô gái chỉ hỏi mà không có lời

đáp Nhưng chính câu trả lời đã được khẳng định trong năm điệp khúc thương nhớ ai Cô

gái nhớ vì yêu, yêu da diết nên nhớ cũng da diết Và vì nhớ quá, ỵêu quá nên lúc nào cũng thấp thỏm lo sợ điều chẳng lành sẽ xảy đến trong tình yêu:

Đêm qua em những lo phiền,

Lo vì một nỗi không yên một bề

Một trái tim yêu chân thành, tha thiết như thế, lẽ nào không đáng trân trọng? Nếu

như ở bài ca dao trên đây nỗi nhớ của cô gái đang yêu gieo vào lòng người đọc ấn tượng

về một thiếu nữ đa cảm, uỷ mị thì ở bài ca sau đây, chúng ta lại bắt gặp một cô gái rất mực táo bạo - cô gái chủ động bắc cho người mình yêu trong sự ràng buộc, toả chiết của

lễ giáo phong kiến xưa:

Ước gì sông rộng một gang.

Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi.

Trang 9

Trong ca dao có biết bao chàng trai, cô gái đã bắc cầu để đón người yêu Nhưng cây cầu

của cô gái trong bài ca dao ìrên đây là một cây cầu đặc biệt: cầu dải yểm.Cầu dải yếm khác với cầu cành hồng (Hai ta cách một con sông, Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang), cầu cành trầm (Cách nhau có một con đầm, Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang), cầu dải yếm đã được tạo nên bằng chính máu thịt, cuộc đời, trái tim rạo rực yêu

đương của người con gái thôn quê Táo bạo đến thế và cũng thơ mộng, lãng mạn đến thế

là cùng

Chùm ca dao về tình yêu đã mang đến chúng ta bao sắc màu lung linh, tuyệt diệu Tình yêu dẫu ở thẳm sâu trong trái tim hay bộc trực thoát thành ý muốn táo bạo người con gái, dẫu là duyên tình lỡ làng của một chàng trai cũng đều khiến ta xúc động, trân trọng khôn nguôi Nhưng ca dao yêu thương tình nghĩa đâu chỉ độc ca về tình yêu đôi lứa Người bình dân còn cất lên lời hát về tình nghĩa thuỷ chung giữa người với người:

- Muối ba năm muối hãy còn mặn

Gừng chín tháng gừng hãy còn cay

Đôi ta nghĩa nặng tình dày

Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa.

Vị cay của gừng và vị mặn của muối trong bài ca trên thực chất là hương vị mặn nồng của tình người trong cuộc sống Nó biểu trưng cho sự gắn bó thuỷ chung của con người

Các số từ ước lệ ba năm, chín tháng kết hợp với sự lặp lại hai chữ hãy còn khẳng định sự vĩnh hằng của tình nghĩa con người Ba vạn sáu ngàn ngày mới xa tức là một trăm năm

-một đời người - nghĩa là không bao giờ cách xa cả Tình nghĩa thuỷ chung giữa người

với người (có thể hiểu đôi ta là vợ chồng) dường như là vô tận.

Sáu bài ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa mỗi bài lấp lánh một vẻ đẹp riêng nhưng tất cả đều thể hiện những nét đẹp nổi bật trong tâm hồn người bình dân Việt Nam Đó là

sự tự ý thức về giá trị bản thân, là tình nghĩa thuỷ chung, là tình yêu đôi lứa với những cung bậc, sắc màu phong phú Hoà mình vào mỗi bài ca đó, mỗi chúng ta sẽ tìm được tâm hồn của chính mình, sẽ thấy tâm hồn mình đồng điệu với tác giả mỗi lời ca ấy

Ngày đăng: 05/10/2019, 05:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w