1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài gia đình trong tiểu thuyết của ma văn kháng sau 1975 từ góc nhìn văn hóa

127 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 807 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những tác phẩm đầu tiên viết về đề tài gia đình của Tự lực văn đoàn đến những tác phẩm đương đại, các giá trị của văn hóa gia đình đã được nhiều cây bút khai thác rất thành công.. V

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THỊ HỒNG LIÊN

ĐỀ TÀI GIA ĐÌNH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG

SAU 1975 TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THỊ HỒNG LIÊN

ĐỀ TÀI GIA ĐÌNH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG

SAU 1975 TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Diệu Linh

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều

có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Liên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn Thạc sĩ này, trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí - Truyền thông và Văn học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn TS Nguyễn Diệu Linh đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các quí Thầy Cô trong Hội đồng chấm luận văn đã dành thời gian đọc và đóng góp ý kiến giúp cho bài luận văn được hoàn chỉnh hơn Trong quá trình viết luận văn, khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quí Thầy Cô và bạn đọc

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Liên

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Đóng góp của luận văn 13

7 Cấu trúc luận văn 13

NỘI DUNG 14

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 14

1.1 Gia đình và văn hóa gia đình người Việt 14

1.1.1 Khái lược về gia đình 14

1.1.2 Văn hóa gia đình người Việt 18

1.1.3 Gia đình trong tâm thức người Việt 24

1.2 Đề tài gia đình trong văn học Việt Nam hiện đại 29

1.2.1 Đề tài gia đình trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 29

1.2.2 Đề tài gia đình trong văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1975 33

1.2.3 Đề tài gia đình trong văn học Việt Nam sau 1975 36

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2: ĐỜI SỐNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG SAU 1975 41

2.1 Những giá trị văn hóa truyền thống của gia đình 41

2.1.1 Sự gìn giữ nề nếp gia pháp, gia phong 41

Trang 6

2.1.2 Lối sống yêu thương, nhân ái, bao dung 45

2.1.3 Luôn khát khao và có niềm tin vào cuộc sống 50

2.2 Nét đẹp trong văn hóa ứng xử 54

2.2.1 Ứng xử trong quan hệ bố mẹ - con cái 55

2.2.2 Ứng xử trong quan hệ vợ - chồng 58

2.2.3 Ứng xử trong quan hệ anh chị em 62

2.3 Những đổi thay trong văn hóa gia đình người Việt hiện đại 65

2.3.1 Bi kịch gia đình từ nỗi đau hậu chiến 65

2.3.2 Sự rạn nứt gia đình bởi mặt trái của cơ chế thị trường và lối sống thị dân 69

2.3.3 Nỗi cô đơn của con người trong gia đình hiện đại 75

Tiểu kết chương 2 79

Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN VĂN HÓA GIA ĐÌNH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG SAU 1975 80

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật đa tính cách với đời sống nội tâm phong phú 80

3.1.1 Nhân vật đa tính cách 80

3.1.2 Nhân vật với đời sống nội tâm phong phú 88

3.2 Cách xây dựng cốt truyện mang tính xung đột văn hóa 90

3.2.1 Những xung đột về chuẩn mực, giá trị đạo đức trong gia đình hiện đại 90

3.2.2 Hệ thống tình huống truyện làm nổi bật tính cách nhân vật 95

3.3 Sự phong phú, đa dạng trong việc sử dụng ngôn ngữ và giọng điệu 99

3.3.1 Sử dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ văn hóa dân gian và mang đậm nhãn quan phong tục tập quán 99

3.3.2 Giọng điệu giàu cảm xúc và mang tính triết lý 106

Tiểu kết chương 3 112

KẾT LUẬN 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Gia đình được coi là nơi lưu giữ và phát triển các giá trị truyền thống từ

thế hệ này sang thế hệ khác Gia đình Việt Nam luôn chú trọng việc xây dựng gia đạo, gia phong và gia lễ Chính vì vậy văn hóa gia đình giàu tính nhân văn, đề cao những giá trị đạo đức của mỗi con người Sau năm 1975, sự giao lưu hội nhập đem đến cho gia đình Việt Nam nhiều cơ hội phát triển về kinh tế, từ đó nâng cao đời sống tinh thần Gia đình Việt Nam thời kỳ hiện đại đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước tiến đến mục tiêu dân giàu - nước mạnh - xã hội công bằng, văn minh Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó, gia đình Việt Nam

cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, sóng gió

1.2 Văn hóa gia đình là một bộ phận hợp thành của nền văn hóa Việt Nam Gia đình với những sợi dây liên kết phức tạp, cùng những giá trị văn hóa - đạo đức đã trở thành một đề tài lớn của văn học Việt Nam qua từng chặng đường

phát triển Từ những tác phẩm đầu tiên viết về đề tài gia đình của Tự lực văn

đoàn đến những tác phẩm đương đại, các giá trị của văn hóa gia đình đã được

nhiều cây bút khai thác rất thành công Với những tác phẩm viết về đề tài gia đình trong văn học sau 1975, các nhà văn đã đi sâu vào những mối quan hệ gia đình nhiều chiều của mỗi gia đình trong thời kỳ hội nhập Trong đó, đời sống cá nhân của con người được đề cao Lúc này, văn học thể hiện rõ vai trò đối với cá nhân - gia đình một cách trọn vẹn

1.3 Ma Văn Kháng là tác giả có vị thế quan trọng trong văn xuôi và trong văn học Việt Nam hiện đại Ông đã để lại dấu ấn riêng đầy cá tính sáng tạo trong tiến trình đổi mới nền văn học dân tộc Vào những năm 80 của thế kỷ XX, khi

đất nước đang trong thời kỳ “đêm hôm trước” và trong những ngày đầu đổi mới,

Ma Văn Kháng đã dám “nhìn thẳng vào sự thật” và “nói rõ sự thật” về những

đổi thay vừa hừng hực khí thế, vừa day dứt, trăn trở và vật vã, đau xót Trong sáng tác của ông, nhất là một số tiểu thuyết tiêu biểu thuộc giai đọạn sau 1975,

Trang 8

những giá trị gia đình vừa mang tính truyền thống, vừa có những biến động và mất mát bởi những tác động của mặt trái thời kinh tế thị trường với các giá trị văn hóa ngoại lai của chủ nghĩa hậu hiện đại.

1.4 Trong nhà trường THPT hiện nay, đoạn trích tái hiện lại khung cảnh

đón Tết của gia đình ông Bằng trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của

Ma Văn Kháng được đưa vào chương trình với thời lượng từ một đến hai tiết Trong dự thảo đổi mới chương trình, tác phẩm này cũng vẫn được nhắc tới để giáo viên lựa chọn dạy và học Dù còn khiêm tốn nhưng trong số những tác giả, tác phẩm văn chương sau năm 1975 thì Ma Văn Kháng và tác phẩm của ông vẫn

là một lựa chọn không thể bỏ qua

Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Đề tài gia đình trong tiểu

thuyết của Ma Văn Kháng sau 1975 từ góc nhìn văn hóa làm đối tượng nghiên

cứu cho luận văn của mình với mong muốn tìm hiểu gia đình trong xã hội hiện đại từ góc độ văn hóa Đồng thời thấy được những giá trị nghệ thuật trong các tác phẩm viết về gia đình và những đóng góp của nhà văn ở chặng đường sáng tác sau 1975 về một mảng đề tài không phải là mới mẻ

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của Ma Văn Kháng sau 1975

Ma Văn Kháng là một nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại Ông sinh ngày 1 tháng 12 năm 1936, tên khai sinh là Đinh Trọng Đoàn, quê ở Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội Bước vào tuổi thiếu niên (15 tuổi), Ma Văn Kháng

đã trở thành một chiến sĩ vệ quốc quân, được cử đi học ở Khu học xá Nam Ninh, Trung Quốc Năm 1963, ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm, đi dạy học ở vùng đất

Tây Bắc rồi chuyển sang làm báo, từng giữ chức Phó Tổng biên tập báo Lai

Châu Từ năm 1976, ông chuyển về công tác tại Hà Nội, đảm nhiệm chức vụ

Phó Giám đốc - Tổng biên tập NXB Lao động Từ năm 1995, Ma Văn Kháng là

Ủy viên Ban chấp hành, Ủy viên đảng đoàn Hội Nhà văn khóa V, Tổng biên tập

tạp chí Văn học nước ngoài Vào những năm 60, bút danh Ma Văn Kháng đã tạo

Trang 9

cho người đọc sự chú ý đặc biệt Trong số các nhà văn hiện đại Việt Nam, ông là người gắn với vùng đất biên ải trong một thời gian khá dài (1964 - 1976) Vì vậy, lấy bút danh Ma Văn Kháng có lẽ chính là cách để nhà văn ghi nhớ những

kỷ niệm không thể nào quên về một thời tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, không ngại gian khó, lăn lộn với công việc dạy học nơi bản làng và bày tỏ niềm tri ân sâu nặng của mình đối với đồng bào các dân tộc vùng cao Với những đóng góp tích cực cho sự vận động và phát triển nhiều mặt của văn học nghệ thuật, Ma Văn Kháng được tặng giải thưởng Văn học ASEAN năm 1998 và giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001

Ma Văn Kháng cầm bút từ sớm, nhưng phải đến thập kỉ 80 của thế kỉ XX, ông mới thực sự trở thành một hiện tượng trong đời sống văn học nước nhà

Ngay từ những tiểu thuyết đầu tiên đến giai đoạn sau 1975 như Đồng bạc trắng

hoa xoè (1979), Mưa mùa hạ (1982), Vùng biên ải (1983), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Côi cút giữa cảnh đời (1989), Đám cưới không có giấy giá thú

(1989), Chó Bi, đời lưu lạc (1992), Một mình một ngựa (2007)…, Ma Văn

Kháng đã được đông đảo dư luận, độc giả và các nhà phê bình quan tâm Có thể thống kê tới hàng trăm bài báo - tạp chí, các giáo trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp về Ma Văn Kháng và tác phẩm của ông, tiêu biểu như: Bích Thu

(2002), Nhà văn tóc bạc và những vấn đề của cuộc sống đương đại, Báo Văn nghệ, số 10 (tr.17-23); Trần Minh Hiếu (2006), Ma Văn Kháng với đời sống

đương đại, Văn hóa nghệ thuật, số 5 (tr 88-93); Tư duy mới về nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng trong những năm 80, Tạp chí Văn học số 2

(tr 51-57); Mai Thị Nhung (2008), Giọng điệu nghệ thuật trong tiểu thuyết thời

kỳ đổi mới của Ma Văn Kháng, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 10 (tr

89-97); Ngoài ra, phải kể đến nhiều công trình nghiên cứu, phê bình về Ma Văn Kháng trong các tuyển tập của các nhà nghiên cứu đầu ngành như: Phong Lê, Lã Nguyên, Tô Hoài, Trần Đăng Suyền, Nguyễn Ngọc Thiện đã được đăng tải trên nhiều báo, tạp chí và tập hợp trong các cuốn sách, cuốn giáo trình…

Trang 10

Những năm gần đây, Ma Văn Kháng và các tác phẩm của ông trở thành đối tượng nghiên cứu trong nhiều luận văn, luận án như: Lê Thanh Hùng (2006),

Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới (1980 - 1989), Luận văn Thạc sĩ,

Đại học sư phạm Thái Nguyên; Nguyễn Minh Chung (2007), Tiểu thuyết Ma

Văn Kháng thời kỳ đổi mới, Luận văn thạc sĩ, Đại học khoa học xã hội và nhân

văn, Hà Nội; Trần Thị Phi Nga (2008), Đặc trưng tiểu thuyết thế sự của Ma

Văn Kháng, Luận văn thạc sĩ - Đại học Sư phạm T.P Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị

Phương Thảo (2011), Tiểu thuyết về đề tài miền núi của Ma Văn Kháng, Luận văn thạc sĩ - Đại học Đà Nẵng; Đỗ Phương Thảo (2007), Nghệ thuật tự sự trong

sáng tác Ma Văn Kháng (Qua một số tác phẩm tiêu biểu), Luận án tiến sĩ, Đại

học Sư phạm Hà Nội; Nguyễn Thị Quất (2013), Nhân vật người trí thức trong

tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học xã

hội nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội…Tất cả các công trình này đều hướng tới việc khẳng định sự tiếp nối, phát huy và đổi mới của Ma Văn Kháng trên các phương diện: đặc trưng thể loại, đề tài và chất liệu văn học, vấn đề nhân vật và nghệ thuật viết tự sự Với những tác phẩm viết về cuộc sống con người miền núi (đề tài nổi bật trong các sáng tác trước năm 1975 của Ma Văn Kháng), nhà văn được đánh giá là đã thành công trong việc phản ánh hiện thực, ca ngợi hình ảnh cao đẹp của các cán bộ miền xuôi với sự cống hiến hết mình trong công cuộc giải phóng vùng biên ải; khắc họa chân thực hình ảnh những con người miền núi thuần hậu mang trong mình nỗi cay đắng tủi nhục, chịu áp bức, bóc lột

và phong tục lạc hậu, mê muội Tuy nhiên nhà văn cũng phát hiện và khẳng định

vẻ đẹp tình yêu và khát vọng sống tiềm tàng mãnh liệt trong tâm hồn họ

Nghiên cứu tiểu thuyết viết về đề tài miền núi của Ma Văn Kháng sau

1975, đặc biệt khi nhận xét về tác phẩm Đồng bạc trắng hoa xòe, tác giả Trần

Đăng Suyền cho rằng: “Ma Văn Kháng, bằng hình tượng nghệ thuật, đã chứng

minh rằng đồng bào các dân tộc ít người, mặc dù bị chìm đắm trong đau khổ, tăm tối nhưng đều có mầm sống, khả năng cách mạng” [63, 13] Tìm hiểu về đề

Trang 11

tài này trong sáng tác của Ma Văn Kháng, Nguyễn Ngọc Thiện cũng khẳng

định: “Cuốn tiểu thuyết Gió rừng (1977), Đồng bạc trắng hoa xòe (1979),

Vùng biên ải (1983)…là một sự hội tụ, kết tinh cao độ vốn sống về con người và

cuộc sống miền núi, mà ông tích lũy suốt hơn 20 năm gắn bó với nó” [81, 57]

Có thể nói, 11 năm ròng dạy học nơi vùng cao “đã tích tụ trong Ma Văn Kháng

một vốn liếng quý giá vô ngần, chín dần qua năm tháng mãi về sau, trở thành trầm tích, thành mỏ vàng trữ lượng luôn dồi dào” [99]

Không chỉ thành công ở mảng tiểu thuyết viết về đề tài miền núi, sau những năm 80, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, Ma Văn Kháng lại cho ra

đời hàng loạt tiểu thuyết đời tư - thế sự như Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng

trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1989), Côi cút giữa cảnh đời (1989), Chó Bi đời lưu lạc (1992)…Với các tác phẩm này, Ma Văn Kháng

được coi là một trong những cây bút tiên phong đã khơi lại mạch viết về gia đình vốn bị ngưng đọng gần nửa thế kỷ trong văn học Việt Nam hiện đại Đây cũng chính là một trong những mảng sáng tác thành công nhất của ông

Tiểu thuyết đầu tiên như một dấu mốc đánh dấu bước chuyển trong đời văn

Ma Văn Kháng trong giai đoạn này là Mưa mùa hạ: “Tiểu thuyết (Mưa mùa

hạ) khi xuất hiện trên văn đàn đã gây sự ngỡ ngàng, xôn xao dư luận về cả đề

tài lẫn vấn đề được đề cập trong tác phẩm Thứ nhất: một nhà văn chuyên đi vào đề tài đấu tranh, cuộc sống con người ở miền núi nay bỗng nhiên lại chuyển sang mảng thị thành rất tự nhiên Thứ hai là những con người tốt, lương thiện lại có kết cục buồn, bi thảm” [53, 12] Tác phẩm được nhà phê bình Vân Thanh

đánh giá cao vì “Đã thể hiện cách nhìn, thái độ của các nhân vật trước những

hiện tượng tiêu cực trong xã hội” [72, 3] Bên cạnh đó, Vân Thanh cũng cho

thấy từ trong những trang sách vang lên một tiếng giục giã, đánh thức lương

tâm, trách nhiệm của mỗi người: “bằng bất cứ giá nào cũng phải ngăn chặn kịp

thời những tổ mối tiêu cực đang sinh sôi nảy nở trong đời sống nếu không chúng

sẽ đục ruỗng xã hội và hủy hoại những giá trị tinh thần vốn đã thành truyền

Trang 12

thống của dân tộc” [72, 3] Điều đó thể hiện ý thức trách nhiệm của Ma Văn

Kháng đối với cuộc sống hiện đại Chính nhà văn đã từng bộc bạch: “Tôi không

có được cái dự cảm rằng mình đã là một nhà văn dũng cảm, không sợ các nhà phê bình, không ngại dư luận, rằng mình là kẻ dám nhìn thẳng vào sự thật,

trong khi hình thành ý định và sáng tác tiểu thuyết Mưa mùa hạ” [87, 112]

Những tiểu thuyết như Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy

giá thú, vẫn tiếp nối đề tài về thành thị Ngòi bút tinh tế, sáng tạo của nhà văn

đã phản ánh chân thực những thân phận giữa đời thường, thẳng thắn phơi bày sự

tha hóa đạo đức của con người trong xã hội ở mức độ cao hơn: “Bằng cách nhìn

tinh tế vào hiện thực đời sống, tác giả đã mô tả những người giáo viên sống và làm việc gặp quá nhiều khó khăn Những vui buồn của thời thế đã phản ánh vào những trang tiểu thuyết trở nên sống động, hấp dẫn” [101] Theo tác giả Lê

Ngọc Y, Ma Văn Kháng “đã có cái nhìn hiện thực, tỉnh táo nên không bị thói

xấu, cái bất bình thường vốn nảy sinh trong xã hội đang vận động lấn át, hoặc chỉ, thấy một chiều này u ám mà không thấy chiều khác đầy nắng rực rỡ” [101]

Còn Nguyễn Thu Thủy trong công trình luận văn của mình đã bày tỏ quan điểm:

“Đa số các tiểu thuyết của Ma Văn Kháng luôn có giọng suy tư bùi ngùi xen lẫn

với đắng cay chua xót Ngòi bút của ông luôn soi tìm, đào sâu vào tâm hồn con người, từ đó phát hiện ra những tâm tư, tình cảm, phẩm chất của từng cá nhân”

[83, 179]

Những công trình chuyên luận nghiên cứu trên đây cùng với nhiều bài báo, tạp chí có chung định hướng và nội dung nghiên cứu, dù nhiều, dù ít đều đề cập đến các mối quan hệ, những nhân vật, những vẻ đẹp văn hóa đạo đức và cả những tổn thương, sa đọa, đổ vỡ, mất mát có khi rất đau đớn, nghiêm trọng và phũ phàng trong các trang văn của Ma Văn Kháng Đồng thời ta cũng thấy rõ cái nhìn tiến bộ, mới mẻ của nhà văn Tất cả những nhận xét, đánh giá sâu sắc và khách quan về các tác phẩm sau 1975 của Ma Văn Kháng dưới góc nhìn khác nhau, đều nhằm khẳng định những đóng góp và thành công của ông trong tiến

Trang 13

trình phát triển của Văn học Việt Nam giai đoạn đương đại Trên tinh thần kế thừa những thành tựu của những người đi trước để lại, các công trình khoa học của các học giả, các nhà nghiên cứu trên đây sẽ là những gợi ý vô cùng quan trọng trong quá trình chúng tôi kiến giải đề tài

2.2 Những công trình nghiên cứu về đề tài gia đình

Khi nghiên cứu về đề tài gia đình trong sáng tác của Ma Văn Kháng, các nhà nghiên cứu phê bình đều khẳng định nhà văn đã có những cách tân lớn, góp phần thể hiện rõ thái độ và trách nhiệm, lương tâm của một người cầm bút trước

những biến đổi mạnh mẽ trong cuộc sống gia đình Sau tiểu thuyết đầu tiên Mưa

mùa hạ (1982), tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn (1985) ra đời được coi là

đỉnh cao, là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển biến của nhà văn cả về nội dung và hình thức nghệ thuật, đã chứng tỏ sự thâm nhập vững vàng của nhà văn

vào chủ đề gia đình - “một phạm trù quan trọng (…), có nhiều cái đáng nói lắm (…), đáng nghiên cứu lắm” [32, 83] Trong các sáng tác viết về đề tài gia đình,

tác phẩm này nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà phê bình, nghiên cứu

hơn cả Trước hết phải kể tới lời nhận xét của tác giả Vân Thanh: “Có thể xem

Mùa lá rụng trong vuờn là một tiếng nói của tác giả trước hiện thực hôm nay -

một tiếng nói về quan hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội, về trách nhiệm của mỗi người đối với cuộc sống và cuộc sống dành cho mỗi người ( )” [73, 15] Ở

đó, mỗi con người cần có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau của các thành viên,

của gia đình và của cả xã hội Tác giả Hoàng Sơn cho rằng: “Thật ra vấn đề gia

đình chỉ là cái cớ, vỏ bọc bên ngoài Điều nhà văn tìm hiểu cũng là điều muốn nói với bạn đọc là vấn đề sống của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” [62, 4]

Về tác phẩm này, cũng cần phải kể tới lời đánh giá của Trần Đăng Suyền:

“Viết Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn Kháng đã rọi một luồng ánh sáng nhân

đạo khi đánh giá con người trong thời kỳ khó khăn, phức tạp hiện nay” [64, 17]

Tác giả cũng nhấn mạnh: “Mùa lá rụng trong vườn là một khuynh hướng tiếp

Trang 14

cận đời sống bằng con đường riêng của nghệ thuật: Hãy từ cửa sổ gia đình mình nhìn ra cuộc đời; và từ cuộc đời hãy chiếu rọi ánh sáng vào mỗi căn nhà,

như thế mọi điều sẽ sáng tỏ hơn” [64, 20] Mùa lá rụng trong vuờn thực sự là

một cuốn tiểu thuyết bổ ích trong việc giáo dục và khẳng định những giá trị văn hóa gia đình Đó là một trong những yếu tố quan trọng nhất làm nên thành công của tác phẩm…

Năm 1989, tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú ra đời và nhận

được nhiều sự khen chê, đánh giá khác nhau Sáng ngày 11 tháng 1 năm 1990,

báo Văn nghệ đã tổ chức một hội thảo riêng về tác phẩm này Tới dự cuộc tọa

đàm có các nhà văn, nhà phê bình: Xuân Cang, Nguyên Ngọc, Nguyễn Kiên, Xuân Thiều, Huy Phương, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Từ Sơn, Phan Hồng Giang, ông Lê Thanh Tùng và ông Xuân Du - đại diện nhà xuất bản Lao động

Về phía báo Văn nghệ, ngoài nhà thơ Hữu Thỉnh - Tổng biên tập, còn có các nhà

văn, nhà thơ, nhà phê bình: Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Vĩnh, Hoàng Minh Tường, Phạm Tiến Duật, Thiếu Mai, Phạm Đình Ân Toàn văn buổi tọa đàm đã được in trên báo Văn nghệ, số 6, ngày 10 tháng 2 năm 1990 và in lại trong phần mở đầu

cuốn Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng, Nxb Văn học, 2017

Trong buổi tọa đàm, Phan Cự Đệ khẳng định: “Ma Văn Kháng đã viết cái “bi

kịch vỡ mộng” của “một bữa tiệc dang dở, một đám cưới không thành, một cuốn sách hay để lầm chỗ” đó một cách rất tâm huyết, với tất cả suy nghĩ và trăn trở, niềm khát vọng và nỗi đau của một nhà văn trước thời cuộc, trước tình trạng xuống cấp về trình độ tư duy và phẩm chất đạo đức ngay trong một số người tự cho mình là cán bộ lãnh đạo, là trí thức hay kĩ sư tâm hồn” [60, 13] Còn nhà

nghiên cứu Hà Minh Đức cho rằng “Tác phẩm có giá trị, có chiều sâu nhưng

đọc còn nặng chất chính luận, triết luận tuy sắc sảo song còn bị lạm dụng” [60,

21] Tuy vậy, ông khẳng định: “Ma Văn Kháng là một trong những tác giả đổi

mới đầu tiên trong văn xuôi…viết về nhà trường nhưng thực ra ông muốn đề cập đến một vấn đề xã hội rộng lớn hơn…” [60, 21] Cũng trong buổi tọa đàm, nhà

văn Nguyên Ngọc cho rằng: “Đám cưới không có giấy giá thú là một cuốn sách

Trang 15

hay và rất tích cực Nó nằm trong dòng vận động chung của sáng tác hiện nay theo một xu thế tốt: tính thế sự mạnh mẽ (…) Ma Văn Kháng đang trên đường phơi bày sự thật không nhân nhượng và đang hướng đến sự cô kết nghệ thuật”

[60, 26] Rõ ràng, thực chất cuốn sách không chỉ bó hẹp ở phạm vi một ngôi trường, mà nó còn mang ý nghĩa sâu rộng hơn, đặc biệt là nó chuyển sang địa hạt gia đình Tác phẩm phản ánh những bi kịch trong không ít gia đình thời đương đại trước sự ảnh hưởng ồ ạt của nền kinh tế thị trường Nhân vật của ông không chỉ chịu những nỗi đau trong xã hội mà còn chịu nỗi cô đơn, bất hạnh trong chính ngôi nhà của mình, nhưng vẫn sống đẹp, vẫn truyền cảm hứng cho các thế hệ học trò Đó chính là nhân vật tư tưởng mà nhà văn Ma Văn Khánh hướng tới, khiến người đọc càng thêm cảm phục

Tác phẩm của Ma Văn Kháng là lời cảnh báo về sự xói mòn nhân tính ẩn trong những vỏ bọc đẹp đẽ của đạo đức và phẩm giá, về gia đình…Nhưng khi một tờ báo đề nghị nhà văn gửi một tác phẩm tự chọn, ông đã trình làng tiểu

thuyết Côi cút giữa cảnh đời (1998) Đây là tác phẩm viết cho thiếu nhi nhưng

chúng ta cũng tìm thấy ở đó một cái nhìn riêng về văn hóa gia đình, dưới con mắt của một đứa trẻ Ngay từ khi ra đời, cuốn tiểu thuyết đã để lại ấn tượng

mạnh trong lòng độc giả Sau này, nhà văn viết thêm cuốn Chó Bi, đời lưu lạc cũng là tác phẩm viết về lứa tuổi thiếu nhi nhưng có thể nói Côi cút giữa cảnh

đời là tiểu thuyết cảm động và sâu sắc nhất khi ông viết về cuộc đời, số phận của

những đứa trẻ không may sớm rơi vào cảnh đời bất hạnh Theo giáo sư Phong

Lê, cuốn tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời chất chứa bao đau khổ, oan khiên

của những thân phận con người còm cõi, bơ vơ sau chiến tranh Tác giả bài viết

còn khẳng định: “Cuốn sách (…) đã vục vào cái sự thật tối tăm oan khổ đó như

nhiều cuốn sách khác Nó thật lạ, anh lại đưa con người vào quỹ đạo những tình cảm nhân hậu tốt lành Có thể nói, đó là hiệu quả thanh lọc, tẩy rửa” [45, 125]

Liên quan đến đề tài gia đình trong tiểu thuyết sau 1975 của Ma Văn Kháng, chúng tôi thống kê được một vài công trình có giá trị như: Bùi Lan

Trang 16

Hương (2004), Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết của Ma Văn

Kháng, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm, Hà Nội; Nguyễn Thị Hoa

(2008), Tiểu thuyết thế sự đời tư của Ma Văn Kháng, Luận văn thạc sĩ Ngữ

văn, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Nghiên cứu riêng về đề tài gia đình trong tiểu thuyết của nhà văn, chúng tôi nhận thấy có Nguyễn Công Thanh

(2006); Bi kịch gia đình trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma

Văn Kháng, Tạp chí Đại học Vinh, số 4b; Lưu Thị Thanh Nga (2015), Văn hóa gia đình trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Khóa

luận tốt nghiệp Đại học …Trong đó, phải kể đến Nguyễn Công Thanh với luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh: Vấn đề gia đình trong sáng tác của Ma

Văn Kháng từ 1985 đến nay Theo tác giả, Mùa lá rụng trong vườn trước hết

là hồi chuông cảnh tỉnh những người có tư tưởng thủ cựu cố duy trì níu kéo kiểu gia đình truyền thống Tác phẩm còn đề cập đến một thực trạng đáng báo động của xã hội buổi giao thời: không ít người có lối sống ích kỉ chạy theo dục vọng

cá nhân, ham muốn vật chất, thoát ly truyền thống, phá vỡ mọi chuẩn mực đạo

đức xã hội Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Hoa với đề tài Tiểu thuyết thế sự đời tư

của Ma Văn Kháng đã quan tâm tới bi kịch nhân văn, bi kịch thế sự, bi kịch đời

tư phản ánh trong tác phẩm của Ma Văn Kháng Đặc biệt, tìm hiểu tác phẩm

Mùa lá rụng trong vườn và Đám cưới không có giấy giá thú, Nguyễn Thị Hoa

đã khai thác bi kịch đời tư - bi kịch tình yêu, hạnh phúc gia đình của con người

Tác giả nhận thấy: “Phần lớn tiểu thuyết thế sự đời tư của Ma Văn Kháng đề

cập đến nỗi khổ đau bất hạnh nhiều hơn niềm vui hạnh phúc trong tình yêu, hôn nhân, gia đình của con người” [16, 20]

Thực tế nguồn tư liệu trên cho thấy đề tài gia đình trong thể loại tiểu thuyết của Ma văn Kháng ít nhiều đã được tách riêng ra thành công trình nghiên cứu biệt lập chuyên sâu Mặc dù có một vài công trình nghiên cứu về đề tài gia đình trong tiểu thuyết của ông nhưng tất cả mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu những giá trị và những biến cố của gia đình hiện đại, mà chưa tìm hiểu từ góc nhìn văn hóa Chúng tôi nhận thấy: ngòi bút của nhà văn hướng vào đề tài gia đình và trên

Trang 17

cái sân khấu gia đình ấy, ông đã lột tả được những ảnh hưởng sâu sắc của nền kinh tế thị trường tới đời sống văn hóa gia đình Ở đó, mặt trái của nền kinh tế thị trường với lối sống thị dân tuy vừa mới xuất hiện đã kéo theo bao suy thoái, rạn nứt, đổ vỡ trong mái nhà cổ kính Những biến động về tư tưởng, tâm lí của con người dẫn đến xung đột về quan niệm sống, làm lu mờ hoặc đảo lộn những giá trị nề nếp gia phong ở ngay trên đất kinh kỳ hoặc ở vùng nông thôn, thậm chí là vùng đồi núi xa xôi đang dần đô thị hóa Tuy nhiên, trên những trang viết của mình, Ma Văn Kháng cũng khẳng định những nỗ lực gìn giữ giá trị văn hóa gia đình truyền thống bền vững của con người hiện đại

Với cảm nhận và định hướng tư tưởng ấy, chúng tôi chọn đề tài Đề tài gia

đình trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng sau 1975 từ góc nhìn văn hóa để

mong bổ sung một mảng thiếu hụt, chưa nhận được sự quan tâm thích đáng Tuy nhiên, một số bài báo, tạp chí và chuyên luận của các tác giả đi trước có liên quan ít nhiều đến nội dung của luận văn này đã là nguồn tư liệu, là những định hướng và gợi ý cần thiết, quý báu để chúng tôi học hỏi, vận dụng trong quá trình nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng của luận văn là những vấn đề của gia đình hiện đại trong các tiểu thuyết sau 1975 của Ma Văn Kháng từ cách tiếp cận văn hóa Trong đó thấy rõ nhà văn Ma Văn Kháng đã nhìn nhận văn hóa gia đình theo cái nhìn truyền thống, là những giá trị văn hóa đã được mặc định

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn sẽ khảo sát những tiểu thuyết sau 1975 viết về đề tài gia đình của

Ma Văn Kháng, nhưng tập trung vào một số tiểu thuyết tiêu biểu:

- Mùa lá rụng trong vườn (2017), Nxb Văn học

- Đám cưới không có giấy giá thú (2017), Nxb Văn học

Trang 18

- Côi cút giữa cảnh đời (2012), Nxb Hội nhà văn

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

- Thấy được những giá trị của văn hóa gia đình trong thời kỳ hiện đại Góp phần lí giải những nhân tố tác động làm tha hóa những giá trị cao cả, đẹp đẽ của gia đình truyền thống

- Chỉ ra được cái hay, cái đẹp của tiểu thuyết Ma Văn Kháng trong việc thể hiện các vấn đề về gia đình hiện đại

- Phần nào đó chỉ ra mối quan hệ giữa nội dung - tư tưởng và hình thức - nghệ thuật trong một số tiểu thuyết viết về đề tài gia đình sau 1975 của Ma Văn Kháng Qua đó, hiểu thêm được những đóng góp to lớn của nhà văn về nội dung

và nghệ thuật của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái quát những vấn đề chung về gia đình và văn hóa gia đình người Việt, đề tài gia đình trong văn học Việt Nam hiện đại

- Tìm hiểu về đời sống văn hóa gia đình trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng sau 1975 thông qua một số tiểu thuyết tiêu biểu

- Chỉ ra một số phương diện nổi bật trong nghệ thuật thể hiện văn hóa gia đình trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng sau 1975

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp nghiên cứu lịch sử

Xem xét sự vận động phát triển của văn học Việt Nam nói chung, sáng tác của Ma Văn Kháng nói riêng trong dòng chảy ấy Qua đó thấy được những đóng góp của nhà văn trong việc đổi mới văn xuôi hiện đại

Trang 19

5.2 Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Tìm hiểu vấn đề từ phương pháp nghiên cứu liên ngành: văn hóa học - văn học - lịch sử, thấy được sự ảnh hưởng của hoàn cảnh văn hóa - lịch sử đến nhà văn và các tác phẩm của ông

6 Đóng góp của luận văn

Đề tài góp phần tạo nên một cái nhìn toàn diện về gia đình trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng sau 1975 từ những biểu hiện của văn hóa, thông qua một số tiểu thuyết tiêu biểu Đồng thời có những đánh giá về quá trình đổi mới và cá tính sáng tạo nghệ thuật của nhà văn (xét ở hai phương diện tư tưởng và nghệ thuật) Hi vọng đề tài sẽ là một tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm của Ma Văn Kháng trong nhà trường THPT nói riêng và những ai yêu thích văn chương nói chung

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được

triển khai thành 3 chương như sau:

Trang 20

NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Gia đình và văn hóa gia đình người Việt

1.1.1 Khái lược về gia đình

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Quan tâm đến gia đình là đúng

vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình (…) Gia đình là một tế bào của xã hội” [102] Quan

điểm đó được hình thành từ lâu và được thể hiện rõ nhất trong các tác phẩm nghiên cứu về lịch sử xã hội của nhà nhân chủng học Mỹ L.H - Mooc- gan (1818- 1881) Sau này chính Ph Ăng- ghen đã đồng tình và phát triển quan

điểm đó trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của

nhà nước (1884) Trong chương II - Gia đình, Ph Ăng-ghen đã đánh giá rất xác

đáng về công sức của L.H - Mooc-gan khi nghiên cứu về gia đình: “Việc nghiên

cứu về mặt lịch sử đối với những thiết chế xã hội phát minh trong thời đại văn minh, là vượt quá khuôn khổ cuốn sách của ông” [89] Nhưng Ph Ăng-ghen

cũng khẳng định: “Mooc-gan cũng coi sự phát triển hơn nữa của gia đình cá thể

là một bước tiến, để đi tới sự hoàn toàn bình đẳng giữa hai giới; dù ông không coi là mục đích đó đã đạt được” [89]

Đồng thời Ph Ăng-ghen đã trích lại một đoạn văn trong tác phẩm Xã hội

cổ đại như là một thao thức băn khoăn đầy cảnh báo: “Một khi thừa nhận sự thật

là gia đình đã trải qua bốn hình thức nối tiếp nhau, và hiện đang ở hình thức thứ năm, thì một vấn đề sẽ xuất hiện: hình thức hiện nay đó có tồn tại lâu dài trong tương lai không? Câu trả lời duy nhất có thể được đưa ra là: nó phải phát triển và thay đổi, cùng với sự phát triển và thay đổi của xã hội, hệt như trong quá khứ Là sản vật của một chế độ xã hội, nó sẽ phản ánh sự văn minh của chế

Trang 21

độ xã hội đó” [89] Điều đó chứng tỏ gia đình là một khái niệm lịch sử Nó phản

ánh sự tiến bộ và quan niệm văn hóa của loài người, của quốc gia - dân tộc trong tiến trình phát triển Khái niệm gia đình vừa bền vững, vừa biến đổi; chặt chẽ, kiên cố nhưng cũng không thể không bị tác động và công phá Quá trình duy trì

và xây dựng gia đình không thể đóng cửa khép kín mà phải chủ động mở rộng ra với bên ngoài, để nhằm vừa gìn giữ những giá trị căn cốt, vừa tiếp nhận sáng tạo những giá trị mới mẻ Đó là phương pháp tốt nhất để phát huy truyền thống gia đình trong truyền thống văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại thời hội nhập Hiện đang tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình (từ các góc độ

của Luật học, Kinh tế học, Văn hóa học, Xã hội học…) Theo Từ điển tâm lí

học: “Gia đình là cộng đồng người cùng chung sống sinh hoạt chung dưới một

mái nhà, làm thành đơn vị nhỏ nhất của xã hội (còn được gọi là tế bào xã hội), gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu)” [10, 205]; hay: “Gia đình là một xã hội thu nhỏ bao gồm một hay nhiều thế hệ khác nhau sống và hoạt động bên nhau một cách có tổ chức, nguyên tắc thành văn hay bất thành văn Sự hòa thuận được đảm bảo, bởi sự ấm cúng, cảm giác an toàn và tình yêu thương” [10, 205] Với tư cách là một môn khoa học nghiên cứu về xã hội

và các mối quan hệ của con người, xã hội học nhìn nhận gia đình với diện mạo

một thiết chế xã hội và nhận thấy: “Gia đình là thành tố cơ bản của cấu trúc xã

hội và thực hiện chức năng của nó để duy trì sự thích nghi và ổn định của xã hội” [70, 1]

Đặc biệt, từ góc nhìn văn hóa học, trong Văn hóa gia đình Việt Nam: Các

giá trị truyền thống và hiện đại, Đào Thị Mai Ngọc cho rằng: “Gia đình là một

nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha mẹ, con cái, ông bà, học hàng nội ngoại…) cùng chung sống, là cái nôi nuôi dưỡng cho cả một đời người; là môi trường văn hóa đầu tiên giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách; là nơi hội

tụ, chọn lọc và sáng tạo văn hóa của con người và xã hội loài người” [55, 113]

Trang 22

Từ góc nhìn này, gia đình được coi là nhân tố tiên quyết, là tế bào của xã hội Gia đình đảm nhận các chức năng như: thỏa mãn tình cảm giữa các thành viên; chức năng sinh sản, xã hội hóa và kinh tế Trong đó, chức năng giáo dục cho thấy rõ khía cạnh văn hóa của gia đình Tế bào gia đình có khỏe mạnh thì xã hội mới khỏe mạnh Nó bao gồm cả sự khỏe mạnh về văn hóa

Trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà

nước, Ăng - ghen đã cho ta thấy: từ trạng thái quan hệ tính giao bừa bãi thời

nguyên thủy, các hình thức gia đình như gia đình huyết tộc, gia đình punalua,

gia đình đối ngẫu, gia đình cá thể đã phát triển Trong đó, gia đình huyết tộc

được coi là giai đoạn đầu tiên của gia đình: “Lúc này, các tập đoàn hôn nhân đã

tách ra theo các thế hệ: tất cả ông bà, trong phạm vi gia đình, đều là vợ chồng của nhau; con của họ, tức là tất cả bố mẹ, cũng thế; con của đời thứ hai, tức là các cháu, lập thành nhóm vợ chồng chung thứ ba; rồi con của họ, tức là đời thứ

tư, lập thành nhóm thứ tư Vì thế, trong kiểu hôn nhân này, chỉ có tổ tiên và con cháu, cha mẹ và con cái, là không có “quyền hay nghĩa vụ vợ chồng” (như ta vẫn nói) đối với nhau Còn anh chị em ruột, anh chị em họ ở bậc nào đi nữa thì đều là anh chị em, chính vì thế nên đều là vợ chồng của nhau” [89]

Bước phát triển thứ hai trong tổ chức gia đình là gia đình punalua Theo Ăng-ghen, “bước tiến thứ hai là hủy bỏ quan hệ tính giao giữa anh chị em với

nhau (…) Nó được thực hiện dần dần, bắt đầu với việc hủy bỏ quan hệ tính giao giữa anh chị em cùng mẹ; trước hết là trong những trường hợp cá biệt, rồi từng bước trở thành thông lệ; và cuối cùng là cấm kết hôn giữa các anh chị em họ đời thứ nhất, thứ hai và thứ ba” [89]

Cũng theo Ăng-ghen, gia đình đối ngẫu là “hình thức kết hôn theo từng cặp

nhất định, trong thời gian ngắn hoặc dài, đã tồn tại trong chế độ quần hôn, hoặc còn sớm hơn nữa; khi đó, người đàn ông có một vợ chính (nhưng chưa thể nói

đó là vợ yêu nhất) trong số rất nhiều vợ của mình; và đối với người vợ chính đó, thì anh ta là người chồng chính trong số nhiều người chồng (…) Nhưng việc kết

Trang 23

hôn từng cặp đó hẳn là đã ngày càng lớn mạnh và vững chắc; khi mà thị tộc ngày càng phát triển, các nhóm “anh em trai” và “chị em gái” không thể lấy nhau ngày càng nhiều (…) Ở giai đoạn này, một người đàn ông sống với một người đàn bà, nhưng việc có nhiều vợ và đôi khi ngoại tình vẫn là quyền của đàn ông (…); nhưng người đàn bà lại phải triệt để chung thủy trong thời gian sống với chồng, và sẽ bị trừng trị tàn khốc nếu ngoại tình Tuy thế, mối liên hệ hôn nhân có thể dễ dàng bị một trong hai bên cắt đứt; sau khi “li dị”, con cái chỉ thuộc về mẹ, cũng như xưa kia” [89]

Ăng-ghen tiếp tục cho rằng: từ gia đình đối ngẫu nảy sinh gia đình cá thể:

“Gia đình ấy dựa trên sự thống trị của đàn ông, với chủ đích rõ ràng là con cái

phải có cha đẻ xác thực Người ta đòi hỏi điều đó, vì những đứa con ấy sau này

sẽ nhận được tài sản của cha, với tư cách người thừa kế đương nhiên Nó khác gia đình đối ngẫu ở chỗ quan hệ vợ chồng đã chặt chẽ hơn rất nhiều, hai bên không thể tùy ý bỏ nhau nữa Theo lệ thường, chỉ người chồng mới có thể chấm dứt hôn nhân và bỏ vợ Vả lại, anh ta vẫn có quyền ngoại tình ( ) Còn nếu người vợ lại nhớ tới hình thức sinh hoạt tính giao cổ xưa, và muốn khôi phục nó thì cô ta sẽ bị trừng phạt tàn khốc hơn bất kì thời nào trước kia” [89]

Từ đó, Ăng- ghen đã chỉ rõ: trong lịch sử có ba hình thức hôn nhân chính,

nhìn chung là tương ứng với ba giai đoạn phát triển chính của loài người: thời mông muội thịnh hành nhất là chế độ quần hôn dưới những hình thức gia đình cùng huyết thống và gia đình Puynaluya, thời dã man là chế độ hôn nhân đối ngẫu, thời văn minh là chế độ hôn nhân cá thể Xen giữa hôn nhân đối ngẫu và hôn nhân cá thể là một thời kì có chế độ nhiều vợ và việc đàn ông sở hữu nữ nô

lệ, nằm ở giai đoạn cao của thời dã man Cho đến xã hội chủ nghĩa, hôn nhân tự

do một vợ một chồng mới có điều kiện phát triển Các thành viên trong gia đình bình đẳng về mọi mặt cùng nhau xây dựng hạnh phúc qua nhiều thế hệ

Xuất phát từ việc gia đình hiện đại có nhiều mối quan hệ (quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, giữa ông bà với cháu chắt,

Trang 24

quan hệ huyết thống giữa anh, em họ hàng, quan hệ quần tụ trong một không gian chung ) nên nó tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau như: gia đình hạt nhân, gia đình mở rộng Trong hình thái nhỏ nhất - gia đình hạt nhân có ít nhất

ba quan hệ cơ bản: quan hệ vợ chồng; quan hệ cha mẹ và con cái; quan hệ giữa anh, chị, em ruột với nhau Gia đình hạt nhân tồn tại như một đơn vị độc lập, gọn nhẹ, linh hoạt và có khả năng tạo cho mỗi thành viên trong gia đình khoảng không gian tự do tương đối lớn để phát triển tự do cá nhân Tuy nhiên, trong gia đình hạt nhân, do không gian giữa các gia đình ngăn cách nên khả năng hỗ trợ lẫn nhau về vật chất và tinh thần bị hạn chế, khả năng bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống trong gia đình cũng giảm

Những đơn vị lớn hơn gia đình hạt nhân thường được gọi là gia đình mở rộng Loại hình này thường có ưu thế trong việc tập trung nhân lực cho sản xuất Các thế hệ có thể hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau vượt qua những khó khăn trong cuộc sống, khắc phục sức ép về kinh tế, vật chất Tuy thế gia đình mở rộng dễ dẫn đến khác biệt và mâu thuẫn thế hệ Để duy trì nó cần sự nỗ lực lớn của mỗi thành viên

để vượt qua những khó khăn, rạn nứt trong mỗi gia đình

1.1.2 Văn hóa gia đình người Việt

Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác

nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Tại Hội

nghị của UNESCO tại Mêhicô từ 26/7 đến ngày 06/8/1982 từ “văn hoá” đã được định nghĩa: “Văn hoá là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh

thần, vật chất, tri thức và tình cảm…khắc họa nên bản sắc của một gia đình, cộng đồng, làng xóm, vùng miền, quốc gia, dân tộc…Văn hoá không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả những lối sống những quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng, những di sản văn hoá hữu thể

và những di sản văn hoá vô hình”

Ngày nay, trong mối quan hệ giao lưu quốc tế giữa các quốc gia trên thế giới, khi kinh tế ngày càng phát triển thì văn hóa dân tộc ngày càng trở thành

Trang 25

vấn đề được quan tâm Đảng và Nhà nước ta đã nhiều lần khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa trong việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người,

đồng thời đặt mục tiêu “xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân

tộc” Và “nói đến văn hóa của một dân tộc cần phải nói tới văn hóa gia đình của dân tộc đó” [55, 11]

1.1.2.1 Đặc điểm gia đình người Việt truyền thống

Văn hóa gia đình “là một bộ phận hợp thành của văn hóa Việt Nam” [55,

115] Trong xã hội Việt Nam, theo quan niệm truyền thống, văn hóa gia đình

chính là gia phong (nếp nhà): “Văn hóa gia đình được thể hiện ở thuần phong

mĩ tục, nếp sống, tác phong của từng thành viên trong gia đình; được thể hiện ở

sự ứng dụng những tri thức khoa học, y học, giáo dục học, tâm lí học, thẩm mĩ…để tổ chức gia đình, giáo dục con người, nhất là về mặt tinh thần Văn hóa gia đình còn được biểu hiện ở sự hiếu thuận của con cháu đối với cha mẹ, ông

bà, tổ tiên; biểu hiện ở sự nêu gương về nhân cách văn hóa trong gia đình và ở truyền thống gia phong của gia đình, dòng họ” [55, 115]

Theo các nhà nghiên cứu, gia đình Việt Nam truyền thống luôn mang những nét riêng biệt của văn hóa phương Đông, mang nhiều nét đặc thù Á Đông Đặc điểm nổi bật của gia đình Việt Nam truyền thống là tính chất gia tộc, dòng họ (quan hệ huyết thống) Những người cùng quan hệ huyết thống gắn bó mật thiết với nhau thành đơn vị cơ sở là gia đình Trong gia đình truyền thống, các thành viên liên kết với nhau bằng chuỗi quan hệ huyết thống, che chở, thương yêu, nương tựa vào nhau Ở đó, nhiều thế hệ (ông bà, cha mẹ, con cái…)

có thể cùng chung sống đầm ấm dưới một mái nhà mà người ta quen gọi là “tam

đại đồng đường”, “tứ đại đồng đường”, “ngũ đại đồng đường” Sức mạnh gia

tộc thể hiện ở tinh thần đùm bọc, thương yêu nhau Người trong họ có trách

nhiệm cưu mang nhau về mặt vật chất: Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì; hỗ trợ nhau về trí tuệ, tinh thần: Nó lú nhưng chú nó khôn; và dìu dắt nhau, làm chỗ dựa cho nhau về chính trị: Một người làm quan, cả họ được nhờ…

Trang 26

Cũng theo các nhà nghiên cứu, gia đình Việt Nam truyền thống là kiểu gia đình phụ quyền với các đặc điểm: trọng nam, con cái truyền theo dòng họ bố và mang tộc danh phía bố Trong gia đình, người đàn ông có vai trò, vị trí đối ngoại, duy trì những nguyên tắc gia phả, thờ tự tiên tổ, đảm nhận những việc hệ trọng, được xem như rường cột của gia đình Còn người phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong đối nội, trong điều hành mọi sinh hoạt - nhất là những sinh

hoạt vật chất, đúng như quan niệm dân gian: “đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ

ấm” Tất nhiên, dù sao người vợ cũng vẫn có địa vị thấp kém hơn người chồng

của mình Bên cạnh đó, mối quan hệ mẹ chồng - nàng dâu trong gia đình truyền

thống cũng rất được chú ý

Điều đáng trân quý là kiểu gia đình này luôn bảo lưu được các truyền thống văn hóa, tập tục, nghi lễ, phát huy tốt các gia phong, gia lễ, gia đạo Người ta coi

trọng gia đình vì đó là môi trường đầu tiên để “tu thân, tề gia, trị quốc, bình

thiên hạ” Ở đó, các thành viên có sự gắn bó cao về tình cảm gia đình theo huyết

thống, theo tinh thần “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, “khôn ngoan đá đáp

người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”, “chị ngã em nâng”…Tình cha

con, mẹ con, vợ chồng trong gia đình, tình nghĩa giữa gia đình với họ tộc, hàng xóm láng giềng…được đề cao Gia đình Việt Nam truyền thống luôn hướng tới việc xây dựng một mái ấm có trật tự, nền nếp, êm thấm; mọi thành viên đều có trách nhiệm với nhau, tự giác tổ chức cuộc sống ổn định, hoà thuận, giữ đúng lễ nghĩa, trên kính dưới nhường Các thành viên trong gia đình có điều kiện giúp

đỡ nhau về vật chất và tinh thần, chăm sóc người già và giáo dưỡng thế hệ trẻ

Đó là những giá trị, những nét đẹp rất căn bản của văn hóa gia đình mà chúng ta

cần kế thừa và phát huy

Tuy nhiên, bên cạnh các giá trị tốt đẹp, ở kiểu gia đình truyền thống này cũng tồn tại những tập tục, tập quán lạc hậu, lỗi thời Ngoài ra, sự khác biệt về tuổi tác, lối sống, thói quen cũng đưa đến một hệ quả khó tránh khỏi là mâu thuẫn giữa các thế hệ Cùng với việc duy trì được tinh thần cộng đồng, gia đình

Trang 27

truyền thống của người Việt phần nào cũng hạn chế sự phát triển tự do của mỗi

cá nhân Vì vậy, kiểu gia đình này có vẻ không còn phù hợp trong xã hội hiện đại, không còn là khuôn mẫu duy nhất của gia đình ngày nay

1.1.2.2 Văn hóa gia đình người Việt hiện đại

Theo các nhà nghiên cứu, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, gia đình truyền thống đã biến đổi, thích nghi với điều kiện xã hội để trở thành những gia đình hiện đại Trong đó, sự thay đổi lớn nhất chính là những giá trị văn hóa Nói đến văn hóa trong gia đình hiện đại của người Việt, điều quan trọng không thể không đề cập đến là văn hóa ứng xử giữa các thành viên trong gia đình Trước hết là cách ứng xử trong quan hệ vợ chồng Thực tế cho thấy, gia đình hiện đại Việt Nam đang có sự thay đổi trong quan hệ vợ chồng, từ cách ứng xử, sự phân công lao động đến giải quyết công việc Người ta có thể nhận thấy rõ sự bình đẳng giới trong mối quan hệ vợ chồng: bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, tôn trọng ý kiến của nhau, sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm gia đình Trong nhiều gia đình, người chồng không còn còn khư khư quan niệm cổ hủ, gia trưởng mà đã biết cảm thông, chia sẻ với người phụ nữ của mình trong mọi việc Người đàn ông không chỉ thiên về trụ cột kinh tế mà còn cùng vợ nuôi dạy con cái thành đạt và tạo dựng những mối quan hệ gia đình tốt đẹp, mang giá trị tinh thần cho mái ấm của mình…Ngày nay, người phụ nữ đã chủ động hơn trong cuộc sống, được học tập, phấn đấu, có những vị trí nhất định ngoài xã hội và tham gia cả vào việc phát triển kinh tế gia đình Họ đã vượt ra khỏi những ràng

buộc, những quan niệm “tam tòng tứ đức”, “tề gia nội trợ”, “nâng khăn sửa túi”,

“nương bóng tùng quân” để tự chủ về mọi mặt Rõ ràng nhận thức của xã hội về

người phụ nữ nói chung đã thay đổi Nhưng dù thế nào chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò trụ cột của người đàn ông và chăm sóc gia đình của người phụ

nữ Cũng có những người vợ, người mẹ từ bỏ mọi chức vị ngoài xã hội để trở về với gia đình, tự nguyện coi gia đình là trên hết

Trang 28

Văn hóa gia đình người Việt hiện đại cũng cho thấy những biến đổi tích cực trong mối quan hệ mẹ chồng - nàng dâu, chị dâu - em chồng…- những mối quan hệ vốn được coi là vấn đề nhạy cảm, phức tạp trong gia đình truyền thống, đặc biệt là mối quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu Họ tỏ ra hiểu nhau hơn, gần gũi và sẵn sàng sẻ chia với nhau những vấn đề của đời sống gia đình để cùng dựng xây một tổ ấm, bởi hơn ai hết, người phụ nữ thời nào cũng tâm niệm một

điều: “đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” Thậm chí, trong nhiều gia đình, mẹ

chồng nàng dâu yêu thương, trân quý nhau như tình ruột thịt

Trong kiểu gia đình truyền thống, bậc làm cha mẹ luôn thể hiện rất rõ quyền uy đối với con cái, con cái luôn nghe theo sự chỉ bảo và sắp đặt của cha

mẹ Nhưng ngày nay, cha mẹ đã cho phép con cái được trao đổi, nói lên những chính kiến, nguyện vọng, tâm tư của mình về nhiều vấn đề trong cuộc sống Đặc biệt trong nhiều gia đình trí thức, ở thành thị, cha mẹ còn là những người bạn sẵn sàng chia sẻ tâm tư, có sự thấu cảm với các con Đó là kết quả của xu hướng

cá nhân hóa và tôn trọng tự do cá nhân

Quan niệm về hôn nhân trong gia đình hiện đại cũng khác với gia đình truyền thống Trước đây, trong nhiều gia đình, cha mẹ thường quyết định đến việc chọn bạn đời cho con Khi dựng vợ gả chồng cho con cái, cha mẹ bao giờ

cũng chú ý đến vấn đề môn đăng hộ đối, tuổi tác (xem có hợp hay xung khắc)…

Giờ đây, các chàng trai, cô gái có sự chủ động trong việc tìm hiểu, lựa chọn bạn đời cho mình theo những tiêu chí riêng như sự hợp nhau về lối sống, quan niệm, nhận thức, tâm sinh lý… Bậc làm cha mẹ cũng không quá nặng nề đưa ra những tiêu chí kén dâu, kén rể như trước nữa Điều cốt lõi của một mối nhân duyên bền vững chính là tình yêu và sự chung sức, đồng lòng

Quan niệm về con cái cũng khác trước Trước đây, người ta thường nghĩ

đông con nhiều cháu là có phúc, “một con một của ai từ” nên hầu như nhà nào

cũng sinh nhiều con và quan niệm phải nhất thiết có con trai để có người nối dõi tông đường, thờ cúng Tổ tiên, cha mẹ Nhưng ngày nay, xu thế chung là mỗi gia

Trang 29

đình chỉ sinh từ một đến hai con Họ thấy trách nhiệm của mình không phải chỉ

là việc sinh con mà phải làm sao nuôi dạy con cho tốt, sống có lòng tự trọng, định hướng cho con có một nghề nghiệp, cuộc sống ổn định trong tương lai Song bên cạnh những đổi thay tích cực, văn hóa gia đình người Việt hiện đại cũng có những biến động theo chiều hướng tiêu cực Mặt trái của nền kinh tế thị trường kéo theo lối sống buông thả, vị kỷ, chủ nghĩa cá nhân, quá đề cao vấn

đề vật chất, từ đó dẫn đến việc làm mai một giá trị đạo đức gia đình truyền thống Sự gắn kết của các thành viên trong gia đình không còn chặt chẽ mà trở nên lỏng lẻo hơn: vợ chồng, cha mẹ và con cái ít quan tâm đến nhau, anh em ít gần nhau, quan hệ họ tộc, láng giềng cũng dần xa cách Thật đáng buồn là nhiều khi cha mẹ - con cái, anh em họ mạc mâu thuẫn với nhau, thậm chí thù hằn, từ mặt nhau chỉ vì thước đất, đồng tiền Nhiều người con mải lo cuộc sống riêng tư

mà để quên trách nhiệm, tình thương, sự hiếu thuận với cha mẹ mình Có những bậc sinh thành dù có con, có cháu nhưng khi về già sống trong lầm lũi, cô đơn, không có người chăm sóc lúc yếu đau, bệnh tật

Điều đáng ngại nữa là sự tác động của các yếu tố văn hóa ngoại lai đang dần ảnh hưởng đến lối sống, nhận thức của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là giới trẻ…Một bộ phận không nhỏ giới trẻ ngày nay nhận thức về tình yêu, hạnh phúc gia đình chưa thực sự đúng đắn Hiện tượng ngại kết hôn, sống độc thân, sống thử trước hôn nhân, đến với nhau không phải xuất phát từ tình yêu mà

từ sự tính toán về lợi ích kinh tế, danh vọng cũng xuất hiện Nhiều đôi bạn trẻ, yêu và kết hôn rất nhanh, để rồi không thích, không hợp thì chia tay, không cần quan tâm đến hệ lụy của nó như: nỗi đau họ để lại cho những đấng sinh thành, cho con cái Bên cạnh đó, quan niệm về lòng chung thủy trong tình yêu hôn nhân cũng đã có sự thay đổi, tình trạng ngoại tình cũng ngày càng phổ biến, tỉ lệ

ly hôn ngày một gia tăng Và đằng sau mỗi một cuộc hôn nhân tan vỡ, đối tượng phải chịu nhiều thiệt thòi đáng thương nhất vẫn là những đứa trẻ thơ ngây đang cần nuôi dưỡng, giáo dục nên người

Trang 30

Trong gia đình hiện đại Việt Nam, nạn bạo hành cũng là một tình trạng đáng báo động Nạn nhân của bạo hành gia đình thường là phụ nữ và trẻ em Thực tế cho thấy khi cuộc sống không có sự nâng đỡ và niềm an ủi từ phía gia đình sẽ dễ dẫn người ta quay lưng lại với với tất cả Rõ ràng, trong xã hội hiện đại, đời sống văn hóa gia đình người Việt có những đổi thay theo chiều hướng tích cực nhưng cũng có nhiều điều cần phải suy ngẫm Thiết nghĩ, việc gìn giữ những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống và phát huy những mặt tích cực của gia đình hiện

đại để xây dựng gia đình Việt Nam có “kỷ cương, tình thương, trách nhiệm” là

trách nhiệm chung của mỗi người Không phải ngẫu nhiên mà Liên hiệp quốc đã

chọn năm 1994 làm năm Quốc tế gia đình và năm 2013 được chọn là năm Gia

đình Việt Nam với chủ đề “Gia đình - nơi kết nối yêu thương” Điều đó nói lên

rằng gia đình không phải chỉ là vấn đề của riêng ai Đó là mối quan tâm của toàn nhân loại từ ngàn xưa, cho đến hôm nay và mai sau

1.1.3 Gia đình trong tâm thức người Việt

Mỗi con người, từ hoàn cảnh và điều kiê ̣n chủ quan và khách quan của

mình có thể có những quan niê ̣m, cảm nhận khác nhau về vẻ đẹp cuộc sống

Trong cuộc sống, có nhiều giá trị tinh thần tốt đẹp làm nên những “bức tranh”

đe ̣p phong phú đa da ̣ng của đời sống trong xã hô ̣i loài người, trong đó gia đình

là một trong những “bức tranh tuyệt vời” nhất Trong tâm hồn mỗi người dân

Việt Nam, gia đình tố t đe ̣p chính là nơi gieo mầm, nuôi dưỡng, hội tụ những giá trị tinh thần cao quý của mọi tình yêu thương (tình mẫu tử, tình cha con, tình vợ chồng, tình anh em, lòng vi ̣ tha, đức hi sinh…) Gia đình cũng là chỗ dựa tinh thần vững chắc của mỗi người: là niềm an ủi, động viên, nơi sum họp, chở che,

là thế giới ấm áp, bình yên, hạnh phúc - nơi con người quay về sau những khó khăn, mệt mỏi thậm chí lầm lạc trên đường đời Mỗi cá nhân tốt đe ̣p, mỗi gia

đình tràn ngâ ̣p tình yêu và ha ̣nh phúc là cơ sở quan tro ̣ng để xã hô ̣i tốt đe ̣p

Có thể thấy chức năng nuôi dưỡng và giáo dục con cái là chức năng hết sức quan trọng của gia đình mà không một tổ chức xã hội nào thay thế được Con

Trang 31

người là tổng hòa các mối quan hệ, trong đó con người bắt đầu từ quan hệ gia đình ruột thịt thiêng liêng mà mở rộng ra họ hàng, làng xóm và các mối quan hệ ngoài xã hội Vì vậy có thể khẳng định trong tư tưởng người Việt, gia đình là tổ

ấm mang lại giá trị hạnh phúc và sự cân bằng, sự hài hòa cho đời sống cá nhân

Ở Việt Nam, từ thời kỳ phong kiến đến nay, văn hóa gia đình có nhiều biến thiên Có những thứ gốc rễ, nền tảng bất biến, nhưng cũng có những thay đổi, nhiều khi cảm thấy choáng váng, hụt hẫng, chới với Nhìn một cách tổng quát ở Việt Nam trong thời kỳ phong kiến, các triều đại - các vương quyền mạnh yếu

có lúc khác nhau nhưng đều rất quan tâm đến giáo dục gia đình, văn hóa gia đình Nước có quốc pháp, nhà có gia phong Răn dạy và hình phạt đều được áp dụng, thực hành để rèn luyện, giáo dục nhằm có được con cái, cháu chắt ngoan hiền (với nhiều phẩm chất của những người dân lương thiện, tóm lại, đó là

những người tận hiếu - tận trung)

Ba yếu tố “gia” - “quốc” - “thiên hạ” có mối quan hệ gắn bó với nhau Cho

nên con người muốn hữu hình hóa để làm chủ, để cống hiến và đóng góp cho gia đình, cho quốc gia - xã hội cũng phải có những phẩm chất mà trước hết là những phẩm chất đạo đức, nhân cách từ cội nguồn gốc rễ gia đình Đấy là một trong những triết lý giáo dục trong xã hội phong kiến được xác lập và ứng dụng rất rõ ràng, bất di bất dịch Người ta phải bước chân từ nhà bước chân ra, phải có giá trị văn hóa từ trong gia đình và lan tỏa ra ngoài xã hội Không ai trong xã hội

thừa nhận, tôn kính, nể trọng một “phụ mẫu chi dân” mà trong nhà ông lớn ấy lại có cảnh “Nhà kia lỗi phép con khinh bố, mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng”

(Tú Xương) Cho nên không phải ngẫu nhiên mà văn hóa gia đình thời phong kiến Việt Nam được tôn trọng, đề cao, được tuyên truyền khá sâu rộng và rất bài bản Trong nhà người ta dạy con trẻ, thế hệ trước răn dạy thế hệ sau giữ lấy nếp nhà, trong dòng tộc thì trưởng tộc phải nắm bắt, cảm hóa, xử lý mọi điều xảy ra, không để dơ dáy, mang tiếng với bàn dân thiên hạ về dòng tộc nhà mình Nếu được nghiên bút đến trường thì thầy đồ chiểu theo phép tắc của sách vở Thánh

Trang 32

hiền mà giáo hóa đạo làm người theo khuôn khổ mực thước Nho gia…Cứ thế, từ nhà ra xã hội, đạo đức gia đình - văn hóa gia đình luôn được coi trọng để con

người “tu tề - trị bình”

Tuy có mặt hạn chế theo cách đánh giá của thời đại dân chủ nhưng cũng phải thừa nhận: ở nước ta, hàng nghìn năm dưới thời kì phong kiến, văn hóa gia đình là một thế mạnh Nó được xây dựng một cách rất có ý thức của cộng đồng, trở thành một trong những nội dung của triết lý giáo dục con người Văn hóa gia đình thời kỳ này thấm sâu trong tâm thức cộng đồng người Việt Nhiều tác phẩm văn học dân gian, truyện thơ khuyết danh đã đi sâu diễn tả đề tài này với tinh thần tích cực, tạo dựng những nguyên tắc đạo đức và đạo lý về văn hóa gia đình

Nói như thế để thấy rằng hồi đó chưa có khái niệm “gia đình là tế bào xã

hội” nhưng như một mặc định, ông cha ta đã nhận thấy gia đình là gốc rễ, là

ngọn nguồn hình thành nên đạo đức, nhân cách làm người, cần phải có những nguyên tắc quy định làm nên gia phong để giữ gìn quốc pháp Đó là thứ văn hóa gia đình làm nên những kỉ cương phép tắc hàng nghìn năm trong lịch sử dân tộc,

có không ít những khiếm khuyết, phiến diện, nghiệt ngã nhưng phần nhiều là những giá trị rất nhân văn mang tính chất sâu rễ bền gốc

Trong giai đoạn thực dân Pháp đô hộ, về cơ bản giai cấp phong kiến không còn là giai cấp thống trị xã hội Cơ chế xã hội đã chuyển dần thành nhà nước

thực dân nửa phong kiến Công thức mang tính nguyên tắc “tề gia, trị quốc, bình

thiên hạ” và “tam tòng tứ đức” đối với phụ nữ không còn chặt chẽ và giàng buộc

như trước Bởi thế, văn hóa gia đình trong giai đoạn này cũng có những màu sắc mới Quan hệ một vợ một chồng, sự tương tác giúp đỡ lẫn nhau, trách nhiệm chung đối với con cái, mối quan hệ hai chiều giữa con cái với cha mẹ, ông bà và ngược lại, quan niệm trọng nam khinh nữ, nói rộng ra là vị thế giới tính gái trai cũng như nghĩa vụ và quyền lợi trong gia đình của xã hội…đã có nhiều thay đổi

Sự thay đổi này tập trung chủ yếu ở các nới thành thị thuộc giai cấp tư sản - tiểu

tư sản, ở những gia đình quyền quý hoặc địa chủ giàu có cho con cái ăn học

Trang 33

“Tân thư” Còn ở làng quê, những nơi xa xôi hẻo lánh hoặc đa số thường dân thì

cũng không có nhiều thay đổi lắm Ở đây vẫn duy trì một thứ văn hóa gia đình

cổ xưa mà khi ấy bị xem là lỗi thời cổ hủ Chính vì thế văn học nghệ thuật giai đoạn này cũng đã có những nội dung rất mới Đó là tập trung chống lại quan niệm đại gia đình phong kiến Nhiều cây bút thành công trong việc cổ xúy chống lại lễ giáo phong kiến bảo thủ, lạc hậu và phản động - hiểu theo nghĩa đi ngược lại xu thế phát triển và tính tích cực nhân văn

Cách mạng tháng Tám thành công mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc Lúc này gia đình vừa tồn tại như một thực thể tất yếu, một mặc định vốn dĩ vẫn thế và cần phải thế trong tâm thức của người dân đất Việt Thêm nữa, những quan điểm tư tưởng, những đánh giá và nội hàm trong định nghĩa về gia đình đã được xác lập, cơi nới bằng những ngôn từ rất đẹp, có phần chuẩn xác hơn: gia đình là tế bào, là hạt nhân của xã hội; cần phải xây dựng văn hóa gia đình làm nòng cốt và làm đẹp văn hóa xã hội…Nhưng có một sự thật sẽ lưu lại mãi như

một “điểm đen” trong lịch sử Vì nhiều lí do, cuộc cải cách ruộng đất đã vô hình

chung nã phát đại bác dữ dội, công phá thành trì gia đình Trong các cuộc đấu

tố, truy vấn, truy bức kẻ thù giai cấp, chúng ta đã khiến cho mối quan hệ gia đình - dòng họ bị đảo lộn, tráo trở Vợ đấu chồng, con tố cha, anh em họ hàng

vạch mặt chỉ trán nhau, đạp lên nhau để giành “quả thực” Một sự đổ vỡ, tang thương, bi hài không hề nhỏ, như cơn “cuồng phong” cuốn trôi và lật đổ, phá vỡ

nhiều giá trị văn hóa gia đình, hủy hoại cương thường đạo lý ở cái thời mà sau

này người ta gọi là “Thời của thánh thần” (Hoàng Minh Trường), di chứng và

hậu họa của nó còn khủng khiếp, ám ảnh và thật khôn lường Nó từng khiến cho

nhà văn Nguyễn Khải sau này khi viết Một người Hà Nội còn nhắc đến những

kỉ niệm buồn về mối quan hệ gia đình, về lối sống sinh hoạt xô bồ, thô lỗ của những người mang danh chiến thắng và đại diện cho những người chủ tương lai của đất nước

Trang 34

Thế rồi, thời cuộc đã cuốn hút sự quan tâm của toàn xã hội bởi những biến

cố lịch sử, bởi giá trị độc lập tự do của dân tộc, bởi sự sống còn, trải suốt mấy thập niên Chúng ta cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tiến hành liên tiếp những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Toàn là những công cuộc vĩ

đại “thay sông đổi núi”, dữ dội và khủng khiếp Trong suốt chặng đường ấy, văn

hóa gia đình không phải không được phát huy, đề cao Thực ra nó không bị lu

mờ, nhưng nó chỉ được tận dụng, khuyến cáo, tuyên truyền và đề cao những nội dung, những đặc điểm và thành tố nào đó cần thiết nhất, lợi ích nhất và phục vụ trực tiếp cho những cuộc kháng chiến và kiến quốc vĩ đại như đã nói ở trên Ví

dụ, có một thời không ai hạn chế sinh đẻ, rồi đến lúc lại cổ vũ cho phong trào

“Ba khoan” (khoan yêu - khoan cưới - khoan có con) để thực hiện cho khẩu hiệu

“Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mĩ xâm lược” Và cũng thời

ấy, câu khẩu hiệu: “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ” luôn được dán trong

phòng tân hôn của các đôi trai gái Chúng ta vẫn luôn đề cao truyền thống yêu nước và cách mạng của gia đình và dòng tộc Tất cả những gì của gia đình bé nhỏ được đặt trong mối quan hệ về yêu cầu cấp bách của cộng đồng xã hội, của nhân dân, đất nước rộng lớn Cái riêng phải hòa trong hoặc tôn thờ cái ta chung Tất cả không được ra ngoài quỹ đạo ấy Những đặc điểm khác của văn hóa gia đình bỗng trở nên nhỏ bé so với nhiệm vụ chính trị của quốc gia dân tộc Nhiều khát vọng nhân bản, nhân văn bị coi nhẹ hoặc lờ đi, thậm chí bị quy kết thành quan điểm tư tưởng tiêu cực…

Sau chiến tranh, đất nước bước vào thời kì đổi mới Biết bao những khó khăn chất chồng về kinh tế, sự khủng hoảng về đường lối xây dựng đất nước kéo dài nhiều thập kỉ, cộng với những rối bời trong mối quan hệ quốc tế đã tác động sâu sắc đến văn hóa gia đình Các mối quan hệ, các tiêu chí đạo đức không còn như xưa nữa Khi đường lối kinh tế được xác lập, nhiều người trong chúng ta vừa như bừng cơn tỉnh giấc, thấy ánh sáng cuối đường hầm Tất cả ào ào xông lên như muốn chiếm lĩnh thị trường, làm ra sản phẩm hàng hóa, buôn bán hàng hóa và biến hàng hóa thành tiền Kẻ không có gì và không thể có gì để có hàng

Trang 35

hóa thì bán thân, bán sức lao động trong và ngoài nước miễn sao có được ánh sáng và sức nặng kim tiền Văn hóa xã hội - trong đó có văn hóa gia đình có một giai đoạn bị mất định hướng Có thể thấy: làm kinh tế mà không quan tâm đến văn hóa gia đình và văn hóa cộng đồng thì đó là một nguy hại

1.2 Đề tài gia đình trong văn học Việt Nam hiện đại

1.2.1 Đề tài gia đình trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945

Đầu thế kỉ XX, văn học Việt Nam được tiếp xúc ngày một rộng rãi, sâu sắc

với tư tưởng văn hóa, văn học phương Tây hiện đại (chủ yếu của Pháp) để bước vào thời kỳ hiện đại hóa Một trong những biểu hiện của sự hiện đại hóa văn học chính là việc mở rộng đề tài, trong đó, gia đình là một đề tài lớn mà người cầm bút hướng tới, khám phá Từ những năm 30 của thế kỷ XX, các nhà Thơ mới và

các nhà văn Tự lực văn đoàn đã khai thác thành công nguồn cảm hứng này

Ngòi bút của họ quan tâm đến vấn đề con người với nhu cầu về tự do và phát huy bản ngã Ta bắt gặp ở đó tiếng nói đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, đòi tự

do hôn nhân, phê phán xã hội đã ngăn trở tình yêu, hạnh phúc của con người

Tinh thần ấy, ta có thể thấy rõ trong các tác phẩm văn xuôi của nhóm Tự

lực văn đoàn Với tiểu thuyết Lạnh lùng, nhà văn Nhất Linh tập trung phản ánh

những khổ đau của người phụ nữ sống không có tình yêu, nhưng phải kéo dài cuộc hôn nhân bất hạnh do thành kiến xã hội Tác phẩm là niềm cảm thương cho thân phân phận Nhung - một phụ nữ trẻ đẹp rơi vào cảnh goá bụa mà lòng vẫn cháy bỏng ngọn lửa khát khao yêu đương Lễ giáo phong kiến, danh dự của bản thân và tiếng thơm của gia đình…đã trở thành rào cản ngăn trở cô không được

đi bước nữa Song niềm khát khao được yêu thương, sẻ chia đã khiến cô gặp và yêu một anh thầy giáo (tên Nghĩa) Hai người đã định trốn đi xây tổ uyên ương

vì sợ gia đình không cho phép lấy nhau: “Mình muốn tốt mà thành ra xấu Chỉ vì

muốn giữ cái tiếng tốt hão ấy mà mình đâm ra xảo quyệt gian trá” [48, 230] Từ

số phận của những người con gái như Nhung, Nhất Linh đã cảm thông và đứng

Trang 36

về phía người phụ nữ, chủ trương giải phóng họ ra khỏi quan niệm phong kiến hẹp hòi, bảo thủ, phản động

Trong xã hội phong kiến, việc “môn đăng hộ đối” trong hôn nhân cũng đã

đẩy biết bao con người vào bi kịch gia đình Điều đó đã được phản ánh chân

thực trong Nửa chừng xuân của Khái Hưng Chỉ vì hai gia đình không “môn

đăng hộ đối” mà nhân vật bà Án đã kiên quyết ngăn cản Lộc cưới Mai Bà cấm

đoán quyết liệt chuyện tình cảm của đứa con trai, tìm cách lợi dụng tính đa nghi của con trai để đuổi Mai đi trong khi nàng đã mang trong mình giọt máu của gia tộc bà Có thể thấy, tác phẩm đã phản ánh cuộc xung đột giữa hai phái mới và cũ

về vấn đề tự do kết hôn Thông qua câu chuyện tình yêu giữa Mai - Lộc, Khái Hưng đưa ra quan điểm mới về hôn nhân tự do, đồng tình với những khát khao hạnh phúc của con người

Tinh thần “phản phong” ấy được thể hiện rõ hơn qua nhân vật Loan trong

Đoạn tuyệt Loan là cô gái có học thức, nhưng theo sự sắp đặt của cha mẹ, Loan

buộc nhắm mắt đưa chân về làm vợ một người mình không yêu: “Việc nhân

duyên của nàng chỉ là việc mua bán” [46, 59] Gia đình Thân lấy cô về để có

người hầu hạ, phục vụ chứ không cần một nàng dâu: “Chính Thân cũng có ngỏ ý

rằng chàng cưới Loan về để hầu mẹ” [46, 54] Vì vậy, ở nhà chồng, Loan được

dạy bảo như một con ở Nàng vẫn tự hỏi “Cái gì bắt ta phải đau đớn, khổ nhục

mãi mãi?” [46, 98] Khi mẹ chồng đánh đập chửi bới quá nhiều, cô đã thẳng

thắn nói: “Không ai có quyền chửi tôi, không ai có quyền đánh tôi (…) Bà cũng

là người, tôi cũng là người, không ai hơn ai kém ai” [46, 104] Cuối tác phẩm

nhà văn đã mượn lời nhân vật trạng sư để nói lên tư tưởng của mình: “Giữ lấy

gia đình! Nhưng xin đừng lầm giữ gia đình với giữ lại nô lệ” [46, 110] Về

phương diện này, Đoạn tuyệt là áng văn tiêu biểu và có ý nghĩa xã hội sâu sắc

nhất trong việc công khai phủ nhận khá triệt để những cổ hủ của luân lý Nho giáo trong tình yêu và hôn nhân con người Vì thế tác phẩm đã đạt được những giá trị đẹp đẽ của nhân văn và nhân đạo

Trang 37

Trong văn học Việt Nam 1930 -1945, nhiều cây bút của trào lưu văn học hiện thực phê phán cũng rất quan tâm tới vấn đề hôn nhân - gia đình Các tác giả như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan…bắt đầu quan tâm sâu sắc đến đời sống cá nhân của con người - điều mà trước đây ít được văn học chú ý Các tác phẩm của họ đã đề cập đến vấn đề gia đình của những người nông dân và trí thức trong sự quay quắt, phũ phàng của

hoàn cảnh thực tại đã gây nên bất hòa, sóng gió trong gia đình

Trong số các nhà văn hiện thực phê phán, có lẽ Nam Cao là cây bút viết nhiều về vấn đề của con người hơn cả Trước cách mạng tháng Tám, ông tập trung vào hai mảng đề tài chính là người nông dân và người trí thức tiểu tư sản

Ở đề tài người nông dân, Nam Cao cũng cho chúng ta thấy trong hầu hết gia đình ở nông thôn, nỗi lo cơm áo gạo tiền dẫn đến tình trạng con người vật lộn, giành giật từng bữa ăn, con cái nheo nhóc, vợ chồng lục đục cãi cọ nhau, thậm chí tư cách người bị bóp méo Ở đề tài người trí thức, Nam Cao có nhiều tác

phẩm viết về cuộc sống gia đính như: Trăng sáng, Đời thừa, Mua nhà, Sống

mòn…Nhà văn đã phản ánh một thực tế: ngay với các trí thức, gánh nặng vật

chất “áo cơm ghì sát đất” là nguyên nhân nảy sinh những bất hòa, đau khổ, tổ

ấm đảo điên Những rạn nứt trong gia đình cứ thế hình thành và lớn dần từ những điều tủn mủn, nhỏ nhặt của cuộc sống thường ngày Đến với truyện ngắn

Đời thừa, người đọc sẽ không khỏi xót xa trước tấn bi kịch tinh thần của Hộ -

một nhà văn nghèo, có ý thức sâu sắc về sự sống, từng ôm ấp một hoài bão, một

giấc mộng văn chương lớn lao, đẹp đẽ Với Hộ “đói rét không có nghĩa lí gì”, hắn “khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất” [6, 152] Từ khi ghép đời Từ vào

cuộc đời của mình, với một bầy con thơ nhiều sài, nhiều đẹn, quấy rức, khóc mếu suốt ngày đêm và quanh năm uống thuốc, Hộ đã rơi vào tấn bi kịch ghê gớm Hắn phải gánh trên đôi vai của mình gánh nặng vợ con, bao thì giờ bị ngốn vào những bận rộn tẹp nhẹp, vô nghĩa lí Trước những lo lắng liên miên về vật

chất, hắn mới thấm hiểu “giá trị của đồng tiền”, thấm hiểu nỗi đau khổ của một người chồng khi thấy vợ mình đói rách

Trang 38

Bên cạnh các tác phẩm của Nam Cao, ta phải kể đến sáng tác viết về vấn đề thân phận con người, về đề tài gia đình của Nguyên Hồng Có thể nhận thấy văn của Nguyên Hồng thường mang một nỗi xót thương lớn lao Với trái tim đồng cảm và yêu thương cao cả, nhà văn đã viết nên những trang sách thấm đẫm nước mắt về số phận của những con người nghèo khổ sống dưới đáy cùng của xã hội Nhưng họ cũng là những người dám sống vì hạnh phúc của mình, dám vượt qua

rào cản của gia đình mà đi bước nữa Mợ Du của Nguyên Hồng cũng là câu

chuyện phản ánh số phận bi đát của một người mẹ và tình mẫu tử sâu thẳm,

thiêng liêng Người phụ nữ ấy đã “phạm tội” tày trời không thể tha thứ: “Mợ Du

bỏ chồng! Mợ Du phải bỏ chồng vì bị mẹ chồng và em chồng bắt được quả tang tình tự với anh thợ may trai trẻ, có duyên, làm cho nhà mợ!” [18, 234] Nhưng

tình cảm với con trai - bé Dũng đã thôi thúc mợ trở về Những lần gặp đứa con trai bé bỏng là những lần mợ phải lén lút như có tội Những cuộc gặp gỡ ấy đầy nước mắt đau thương và ê chề như xoáy sâu vào tâm can người đọc Từ cuộc đời đau khổ bất hạnh của người mẹ ấy, Nguyên Hồng cho thấy một quan niệm mới của ông về gia đình: gia đình không có nghĩa là khuôn khổ bó buộc cá nhân, gia đình là nơi để con người tìm được tình yêu, hạnh phúc và sự bình an Tác phẩm không chỉ có giá trị hiện thực mà còn góp phần thể hiện sâu sắc tinh thần nhân đạo trong ngòi bút của Nguyên Hồng

Có thể thấy, gia đình là một đề tài có sức hấp dẫn đối với các cây bút văn học hiện đại giai đoạn 1930 - 1945, cả trong văn học lãng mạn lẫn hiện thực Viết về đề tài này, các tác giả không chỉ ca ngợi, khẳng định khát vọng tình yêu

tự do, trong sáng, thủy chung của con người, mà còn lên án sự xuống cấp về đạo đức trong gia đình bởi sự chi phối của hoàn cảnh sống Đồng thời, thông qua đó, người nghệ sỹ cũng lên tiếng tố cáo chế độ xã hội với những quan niệm, tư tưởng cổ hủ, bất công đã đè nén mọi ước mơ, khát vọng của con người Đó là tư tưởng Nho giáo chi phối tự do cá nhân, tình yêu và các mối quan hệ gia đình

trong suốt một thời gian dài của lịch sử

Trang 39

1.2.2 Đề tài gia đình trong văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1975

Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 phát triển trong hoàn cảnh đặc biệt của hai cuộc chiến tranh vệ quốc, bị chi phối bởi những quy luật bất thường Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn là âm hưởng chủ đạo của giai đoạn văn học này Mục tiêu thống nhất đất nước, lợi ích của cộng đồng, dân tộc được đặt lên trên hết; các quan hệ gia đình, những tâm tư tình cảm của mỗi cá nhân dồn nén lại, được đặt xuống hàng thứ yếu Nếu viết về tình cảm gia đình, các tác giả cũng hướng ngòi bút của mình tới việc ca ngợi những chiến công của các thành viên trong gia đình với đất nước, ca ngợi những vẻ đẹp tâm hồn, sự thống nhất riêng - chung, lý tưởng và tình cảm…

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi Đất nước bước vào giai đoạn lịch sử mới với những nhiệm vụ chiến lược chung nhưng mỗi miền cũng có những nhiệm vụ riêng, khác biệt Trong tình hình ấy, đề tài gia đình cũng xuất hiện rất nhiều trong các tác phẩm văn xuôi Nội dung văn hóa gia đình có những yêu cầu và biểu hiện mới phù hợp với nhiệm vụ chính trị của cách mạng, ở từng chặng đường Nó có những định hướng tư tưởng và cảm xúc

thẩm mĩ mang sắc màu khác biệt Có thể lấy truyện ngắn Mùa lạc làm một ví dụ

tiêu biểu cho đề tài văn hóa gia đình trong chặng đường văn học này Ở một nơi, đất đai vừa hoang hóa, còn in những những dấu vết cày xới, lở loét và nóng bỏng của bom đạn, đã mọc lên những nông trường trồng lạc, nhà cửa san sát Những cặp đôi như Huân - Duệ, Dịu - Đào…tiến lên nông trường Điện Biên lúc đầu mỗi người một lý do, cảnh ngộ và mơ ước Hạnh phúc gia đình đối với Đào lúc bấy giờ chỉ là những kỷ niệm buồn, đau xót Số phận về thời loạn đã giật phăng và cướp trắng của Đào niềm hạnh phúc gia đình, khiến cô trở thành một người chua chát vừa tủi phận vừa hận đời Sự tinh tế của ngòi bút Nguyễn Khải

là đã hé mở cho bạn đọc thấy đằng sau cách sống có vẻ táo tợn bất cần đời của một người như Đào vẫn ẩn dấu niềm mơ ước thầm kín về một tổ ấm gia đình:

Trang 40

“Có ngày ốm đau, nằm nhờ nhà người quen, bưng bát cơm nóng, nhìn ngọn đèn

dầu lại sực nhớ trước đây mình cũng có một gia đình” [36, 254] Cuộc sống ở

nông trường Điện Biên như một môi trường có sức cảm hóa kỳ diệu đã khiến tâm hồn Đào mềm dịu, tươi mới trở lại Những quan niệm và những giá trị mới đầy tính nhân văn không chỉ làm hồi sinh mà còn xác lập những con người Đào

và Dịu là hai mảng đời đã trải qua những xót đau, mất mát đổ vỡ trong cuộc sống gia đình Khát vọng lứa đôi là một trong những nhân tố giúp Đào tìm lại được chính mình, phát huy được sức khỏe trời cho, sự thông minh sắc sảo, lòng say mê lao động và nhất là lòng vị tha trong quan hệ và trong hạnh phúc gia đình Văn hóa gia đình trong thời đại mới cần phải vươn tới những giá trị nhân văn như thế Vẻ đẹp của văn hóa gia đình trong chế độ xã hội mới được tiếp thu, phát huy và hồi sinh trong cuộc hồi sinh vĩ đại của cả dân tộc

Đến những năm của thập kỷ 70, với các tác phẩm như Tầm nhìn xa, Hãy đi

xa hơn nữa của Nguyễn Khải, đời sống nông thôn ở miền Bắc nước ta dường

như lại đặt ra một câu hỏi lớn khác Đó là dừng lại hay tiếp tục tiến lên Xã hội chủ nghĩa? Công cuộc xây dựng hợp tác xã và cuộc sống mới, con người mới không thể phủ nhận là đã thu được nhiều thành tựu to lớn Nhưng đây cũng là giai đoạn gia đình với những đòi hỏi tư hữu khiến cho không ít cán bộ tìm mọi cách trục lợi,

tư lợi, tham ô của chung thành của riêng Đây đó đã có những biểu hiện “vinh

thân phì gia” Nhân vật Tuy Kiền trong Tầm nhìn xa của Nguyễn Khải là một

điển hình Những tư lợi đã làm cho ông Phó chủ nhiệm Hợp tác xã nhìn vào đâu cũng thấy chút lợi lộc Văn hóa gia đình ở đây là phải giữ sao cho công tư rành mạch, rõ ràng Muốn đi xa hơn nữa trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội,

phải có “tầm nhìn xa”, đừng để những vấn đề kinh tế gia đình chi phối con người

đến mức vi phạm đạo đức và pháp luật

Trong chiến tranh cách mạng chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, đề tài gia đình cũng vẫn được tập trung khám phá và khắc họa ở những khía cạnh và giá trị cao đẹp Dù viết ở miền Nam hay miền Bắc, nhất là khi cả hai miền cùng

Ngày đăng: 05/10/2019, 00:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w