1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TỔNG HỢP VỀ HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNH

11 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 76,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự kết nối tiền đình- tiểu não: Khi cơ thể, chủ yếu vùng đầu bị thay đổi vị trí hoặc thay đổi tốc độ vận động, thì các bộ phận nhận cảm của tiền đình bị kích thích, sẽ phát xung về tiểu

Trang 1

HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNH

TS Nguyễn Hữu Dũng

BM TMH, ĐHYD TP HCM Nhắc lại giải phẫu và sinh lý:

Mê nhĩ xương nằm ở 1/3 giữa xương đá gồm có

+ Ốc tai là cơ quan thính giác nằm ở phía trước

+ Tiền đình là cơ quan thăng bằng nằm ở phía sau

Mê nhĩ màng: ngăn cách với mê nhĩ xương bởi ngoại dịch

+ Ốc tai: có ống ốc tai

+ Tiền đình: gồm soan nang, cầu nang, 3 ống bán khuyên

Động mạch tưới máu mê nhĩ: động mạch tai trong (là nhánh tận của động mạch tiểu não trước dưới)

+ Động mạch ốc tai: tưới máu ốc tai, vết cầu nang và bóng ống bán khuyên sau

+ Động mạch tiền đình: tưới máu vết cầu nang, cầu nang và bóng ống bán khuyên trên và ngoài

Bộ máy tiền đình:

a) Soan nang (utricule) và cầu nang (saccule) có các cơ quan giác quan của nó gọi là vết soan nang (macule utriculaire) và vết cầu nang (macule sacculaire)

b) Ba ống bán khuyên nằm trên ba bình diện trong không gian

- Ống bán khuyên ngoài hay ống bán khuyên ngang

- Ống bán khuyên sau và ống bán khuyên trên nằm theo mặt phẳng đứng Nơi phồng lên của các ống bàn khuyên gọi là bóng (ampoule) mỗi bóng chứa cơ quan giác quan gọi là mào bóng (crête ampullaire)

Dịch của mê nhĩ :

+ Ngoại dịch (périlymphe): là một dịch trong suốt, nằm giữa mê nhĩ xương và mê nhĩ màng, thông với khoang dưới nhện qua ống ốc tai (aqueduc cochléaire)

+ Nội dịch (endolymphe): dịch quánh, thông với khoang dưới nhện qua túi nội dịch (sac endolymphatique)

Mô học cơ quan thụ cảm:

a- Mào bóng (crête ampullaire): là cơ quan giác quan của các ống bán khuyên Nó

là chỗ lồi hình ngấn chiếm 1/3 dưới của bóng (ampoule), gồm có những tế bào nâng đỡ và tế bào giác quan Cực trên của các tế bào giác quan có các sợi lông cố định (kinocil) và lông lập thể (stéréocil)

Đài chén (cupule): không có các thành phần của tế bào, dạng thạch hơi đục,

thành phần cấu tạo gồm các proteines và mucopolysaccharides Đài chén tựa lên mào

Trang 2

bóng và hệ thống lông của các tế bào giác quan cắm vào trong lòng của nó Đài chén choáng toàn bộ khẩu kính còn lại của bóng

- Khi có sự chuyển động của nội dịch, do di chuyển của đầu, sẽ làm dịch chuyển đài chén, do đó kéo căng các lông của những tế bào giác quan vì vậy kích thích các tế bào giác quan Các xung động cơ học chuyển thành xung động điện sinh học và được chuyển qua chỗ khớp nối giữa tế bào giác quan với các sợi thần kinh (synapse) rồi được truyền về hệ thần kinh trung ương theo dây thần kinh tiền đình

b-Vết soan nang và vết cầu nang (Les macules Utriculaires et Sacculaires): là cơ

quan giác quan của cầu nang và soan nang

+ Gồm có tế bào nâng đỡ và tế bào giác quan có lông (kinocil và Stéréocil) + Màng thạch nhĩ (membrane otolithique): lông của những tế bào giác quan cắm vào những lỗ nhỏ của màng này Trên lớp ngoài của màng thạch nhĩ có những hạt sạn gọi là otolithes, một loại carbonate calcium Ở người có tuổi, dưới tác dụng một số loại thuốc, hoặc bệnh lý, các hạt thạch nhĩ có thể bị mất chất khoáng làm thay đổi hình dạng và khối lượng

+ Khi cósự chuyển động của nội dịch, do di chuyển của đầu, làm di chuyển các thạch nhĩ, làm kích thích các tế bào giác quan

DÂY THẦN KINH TIỀN ĐÌNH:

+Thần kinh tiền đình bao gồm:

- Thần kinh tiền đình trên: tạo thành từ những sợi của soan nang , bóng trên và bóng ngoài

- Thần kinh tiền đình dưới hay cầu nang

- Thần kinh bóng sau

+ Thần kinh tiền đình hợp với thần kinh ốc tai thành thần kinh VIII chạy trong

ống tai trong cùng với dây VII, VII’, đến góc cầu tiểu não, khe hành cầu để vào thân não

+ Nhân thần kinh tiền đình:

Nằm dưới sàn não thất IV chỗ nối hành –cầu gồm có 4 nhân: trên, ngoài, trong và dưới

- Nhóm nhân trên và trong nhận các xung động thần kinh từ các ống bán khuyên gây ra các cử động của mắt, đầu và cổ

- Nhóm nhân ngoài nhận xung động thần kinh từ soan nang và cầu nang kiểm soát vận động của cơ thể

- Nhóm nhân dưới nhận các tín hiệu từ cả ống bán khuyên, soan nang và cầu nang truyền đến tiểu não và cấu trúc lưới của cuống não

+ Sự kết nối của nhân tiền đình:

1 Sự nối kết tiền đình- mắt:

Kết nối với nhân III, IV, VI Đóng vai trò chủ yếu trong vân động nhãn cầu

Trang 3

2 Sự kết nối tiền đình- tủy sống: (sừng trước của tủy)

- Bó tiền đình- tủy giữa: phân bố trong neurone vận động của tủy cổ và ngực cao

- Bó tiền đình- tủy bên: với toàn bộ tủy

- Bó tiền lưới- tủy sống: tác dụng ức chế các neurone-vận động gamma và alpha

Nhân tiền đình kiểm soát các tín hiệu kích thích có chọn lọc từ bộ máy tiền đình tới các cơ duỗi chống trọng lực, gây tăng- trương lực cơ Trong khi đó nhân đỏ nằm phía trên cuống đại não là trung tâm của phản xạức chế trương lực cơ Hai nhân này có tác dụng đối lập nhau nhưng thăng bằng lẫn nhau nhằm mục đích điều hòa trương lực cơ giúp duy trì sự thăng bằng của cơ thể.Nếu cắt đứt sự liên lạc giữa tiền đình và tủy sống sẽ làm mất trương lực cơ do đó làm bệnh nhân bị ngã

3 Sự kết nối tiền đình- tiểu não:

Khi cơ thể, chủ yếu vùng đầu bị thay đổi vị trí hoặc thay đổi tốc độ vận động, thì các bộ phận nhận cảm của tiền đình bị kích thích, sẽ phát xung về tiểu não Từ đây phát xung ly tâm đến các nhân vận động ngoại tháp để điều chỉnh lại sự thăng bằng cho cơ thể

4 Kết nối với đồi thị và vỏ não.

SINH LÝ VỀ THĂNG BẰNG

Thăng bằng nghĩa là tính ổn định của cơ thể khi đứng yên cũng như khi vận động Hệ thống điều hòa thăng gồm có:

A/ Hệ thụ cảm và đường hướng tâm:

1) Thị giác:

+ Yếu tố định hướng và di chuyển trong không gian Nó cho phép sắp đặt vị trí

cơ thể tương thích với môi trường khách quan

+ Thị giác phụ thuộc vào tiền đình

Trong khám lâm sàng, người ta loại bỏ yều tố phụ thuộc này của mắt, bằng cách dán hai mắt lại

2) Hệ thống cảm giác bản thể:

Nó được tạo thành bởi các thụ thể cơ học nông và sâu:

a) Thụ thể nông: có ở da, đặc biệt là ở gan bàn chân, cho biết áp lực khác nhau giữa gan bàn chân với mặt đất bằng phẳng hay lồi lõm… để đưa ra những phản xạ về thăng bằng tương ứng

b) Thụ thể sâu: có ở cơ, gân và khớp, hướng dẫn về vị trí và sự vâïn động của những phần khác nhau của cơ thể Đặc biệt những thụ cảm bản thể ở vùng gáy cung cấp những thông tin về tư thế và sự thăng bằng

Trang 4

3) Hệ thống tiền đình:

+ Bởi mào bóng (crêtes ampullaires), nó nắm bắt những thông điệp về sự tăng tốc lên xuống hoặc xoay của đầu trong không gian

+ Bởi vết soan nang và cầu nang (macules utricularies et sacculaires), nó nắm bắt những thông điệp về sự tăng tốc thẳng

Chúng chuyển những luồng thần kinh đến nhân tiền đình Sau đó nối kết với những phần khác để định hướng những phản ứng tương ứng để duy trì tư thế và thăng bằng

B/ Hệ thống ly tâm:

+ Những thông tin từ bên ngoài của 3 hệ thống giác quan (thị giác, cảm giác bản thể và tiền đình) được truyền đến nhân tiền đình để phân tích, đối chiếu giữa chúng cũng như đưa ra những dự báo

+ Khi đó những thông tin này sẽ liên kết lại, một cung phản xạ vận động được khởi phát:

1) Bởi phản xạ tiền đình- mắt: thực hiện một sự phối hợp vận nhãn bằng cung phản xạ của các thần kinh vận nhãn III, IV, VI

2).Bởi sự vận động bản thể: qua trung gian bó tiền đình- tủy sống

Tất cả những tiến trình trên được kiểm soát bởi tiểu não

KHÁM TIỀN ĐÌNH

Khám tiền đình tức là nghiên cứu những phản ứng của tiền đình ở người bệnh và so sánh những phản ứng đó với những phản ứng của những người bình thường để đánh giá mức độ và vị trí của thương tổn Khám tiền đình chẳng những rất cần thiết cho sự chẩn đoán các bệnh về tai mà còn giúp ích nhiều cho khoa tai thần kinh (oto-neurologie)

Chúng ta sẽ nghiên cứu những triệu chứng tự phát và những triệu chứng do thầy thuốc gây ra

RỐI LOẠN TỰ PHÁT

Những triệu chứng tự phát là: chóng mặt, động mắt hay giật nhãn cầu (nystagmus), lệch ngón tay trỏ, rối loạn thăng bằng

1 chóng mặt:

Chóng mặt do mê nhĩ có những đặc tính sau đây:

+ Bệnh nhân có cảm giác bị quay tròn hay đưa qua đưa lại, đưa tới đưa lui, đưa lên đưa xuống (chóng mặt chủ quan) Bệnh nhân cũng có thể thấy đồ đạc, nhà cửa, cây cối chung quanh mình chạy qua trước mặt hoặc đảo lộn lung tung (chóng mặt khách quan)

Trang 5

+ Chóng mặt xuất hiện từng cơn nhất là khi bệnh nhân cử động mạnh hoặc thay đổi tư thế của đầu, hoặc liếc mắt về phía động mắt Cơn chóng mặt có thể kèm theo nôn mửa, ù tai, điếc Ngoài cơn chóng mặt, bệnh nhân có thể đi lại được

+ cường độ của chóng mặt giảm dần trong bệnh mạn tính và sẽ mất nếu mê nhĩ bị hủy hoại

Nói chung trong cơn chóng mặt do mê nhĩ , bệnh nhân có cảm giác là bị quay tròn, bị xô đẩy, bị vật xuống Ngoài cơn chóng mặt các triệu chứng khách quan nghèo nàn Chúng ta không nên nhầm chóng mặt thật sự với những hiện tượng như là hoa mắt, nẩy đom đóm mắt, tối xẩm mặt mày mà nhân dân quen gọi là “chóng mặt “

2 Động mắt tự phát(nystagmus spontané).

Động mắt tức là hai nhãn cầu cùng bị giật về một hướng theo một nhịp nhất định Không nên nhầm với rung nhãn cầu (tremblement oculaire) Động mắt gồm có hai động tác chiều hướng trái ngược: giật chậm và giật nhanh Hướng của động mắt do giật nhanh quyết định

Động mắt do mê nhĩ có những đặc tính sau đây:

+ Sau khi đeo kính +20 điôp, động mắt vẫn tiếp tục đập

+ Động mắt có đủ hai thì giật chậm và giật nhanh

+ Khi bệnh nhân nhìn về phía giật nhanh động mắt sẽ tăng lên

+ Động mắt thường kèm theo những rối loạn khác của mê nhĩ : chóng mặt, điếc…

Chúng ta sẽ không nhầm động mắt do mê nhĩ với những động mắt khác như động mắt do nhìn tập trung hoặc động mắt sinh lý do liếc ngang cực độ, hoặc động mắt của thợ mỏ do liếc về phía trước thường xuyên, hoặc động mắt thị vận (nystagmus opto-cinétique) do nhìn các vật di chuyển nhanh qua trước mắt

Chúng ta phân biệt ba thể động mắt do mê nhĩ với những động mắt chính: động mắt ngang, động mắt đứng và động mắt quay tùy theo sự vận động của nhãn cầu Trong động mắt quay, nhãn cầu xoay tròn theo trục trước sau, biên độ di động thường không quá 1/16 vòng (24 độ) Ba thể động mắt này có thể phối hợp với nhau ở trên một bệnh nhân

Về cường độ chúng ta cũng chia động mắt ra làm ba loại:

+ Độ một: động mắt xuất hiện khi nhãn cầu nhìn về hướng giật nhanh

+ Độ hai: động mắt xuất hiện khi nhãn cầu nhìn thẳng về trước

+ Độ ba: động mắt xuất hiện khi nhãn cầu nhìn về hướng giật chậm

3 Lệch ngón tay:

Chúng ta dùng hai nghiện pháp sau đây để thể hiện lệch chi trên: nghiệm pháp đưa tay thẳng và nghiệm pháp ngón tay chỉ

Nghiệm pháp đưa tay thẳng:

Bệnh nhân ngồi trước mặt thầy thuốc, lưng tựa vào ghế, đưa hai tay thẳng về phía trước mặt, ngón tay trỏ chỉ thẳng về phía trước mặt, các ngón khác nắm lại Thầy thuốc ngồi trước mặt bệnh nhân, hai tay gập lại trước ngực và chìa ngón cái ra, đối diện với hai ngón tay trỏ của bệnh nhân Xong rồi bảo bệnh nhân nhân nhắm mắt lại

Trang 6

Bình thường hai ngón tay trỏ của bệnh nhân luôn luôn chỉ vào hai ngón tay của thầy thuốc Trong trường hợp bệnh lý, hai ngón tay của bệnh nhân sẽ lệch về một bên Thường là cả hai tay cùng lệch về một hướng nhưng cũng có khi chỉ lệch một tay thôi Hướng tay lệch đối lập vơí hướng động mắt trong trường hợp thương tổn mê nhĩ (Hội chứng ngoại biên)

Nghiệm pháp ngón tay chỉ:

Bệnh nhân và thầy thuốc cùng ngồi đối diện như trên Bảo bệnh nhân nhắm mắt và dùng nón trỏ của tay phải và chỉ đầu gối mình và chỉ ngón tay cái trái của thầy thuốc Sau đó lại dùng ngón tay trỏ trái chỉ đầu gối mình và ngón tay cái phải của thầy thuốc

Trong trường hợp bệnh lý, người ốm sẽ chỉ lệch theo chiều ngang sang bên phải hoặc sang bên trái

Chúng ta cũng có thể tìm sư lệch hướng theo chiều cao bằng cách bảo bệnh nhân di động tay theo bình diện ngang, từ bên phải hoặc bên trái đến trước mặt mình

4 Rối loạn thăng bằng.

Có ba nghiệm pháp được dùng để thể hiện sự mất thăng bằng của bệnh nhân: nghiệm pháp Romberg, nghiệm pháp Foix-Thévenard, nghiệm pháp Rademaker Garcin

a Nghiệm pháp Romberg:

Để bệnh nhân đứng thẳng, hai chân chụm lại, mắt nhắm Nếu có rối loạn thăng bằng, bệnh nhân sẽ nghiêng người về một bên hoặc ngã về một bên

Nếu bệnh tích ở mê nhĩ, bệnh nhân sẽ ngã về hướng đối lập với hướng động mắt tức là ngã về bên tai bệnh, hướng ngã này sẽ thay đổi tùy theo tư thế của mê nhĩ Thí dụ bệnh nhân bị bệnh ở tai trái, nếu họ nhình thẳng về phía trước họ sẽ ngã về bên trái, nếu họ quay đầu 90 độ về bên trái thì sẽ ngã về phía sau, nếu họ quay đầu 90 độ về bên phải thì sẽ ngã về phía trước

Trong trường hợp rối loạn nhẹ, chúng ta phải làm nghiệm pháp Romberg nhạy cảm mới thể hiện được sự mất thăng bằng: bệnh nhân nhắm mắt, đứng thẳng, hai bàn chân để dọc theo một đường thẳng, bàn chân trái trước, bàn chân phải sau

b Nghiệm pháp Foix-Thévenard:

Nghiệm pháp này thể hiện sự giảm trương lực cơ ở chi dưới

Để bệnh nhân đứng thẳng trong tư thế “ nghiêm”, thầy thuốc dùng ngón tay đẩy khẽ vào ngực, hướng về phía sau làm cho bệnh nhân mất thăng bằng Bình thường cơ cẳng chân trước (muscle jambier antérieur) và cơ duỗi chung (extenseur commun) sẽ co lại và làm cho các ngón chân nhấc lên khỏi mặt đất

Nếu bệnh nhân bị giảm trương lực cơ (hypotonie musculaire) thì các ngón chân sẽ không nhấc lên và nếu đẩy mạnh hơn bệnh nhân sẽ ngã về phía sau

c Nghiệm pháp Rademaker Garcin:

Trong nghiệm pháp này bệnh nhân chỉ được mặc quần dùi và áo lót

Chúng ta để bệnh nhân bò chống hai tay và hai đầu gối xuống bàn, rồi đột nhiên chúng ta nhắc cái bàn nghiêng 30 độ về một bên Nếu là người bình thường, họ sẽ có phản xạ gò người lại duỗi các chi bên thấp và go các chi bên cao để giữ thăng bằng

Trang 7

không bị hất xuống đất Nói theo lý học là họ cố giữ cho trọng tâm (centre de gravité) không rơi ra ngoài khung chân đế (polygone de sustentation) Trái lại nếu là người bị hỏng mê nhĩ họ sẽ không có phản ứng thích nghi và bị hất xuống đất như một pho tượng gỗ

Chúng ta cũng có thể tìm phản ứng thích nghi bằng cách để bệnh nhân ngồi trên một cái ghế tựa, rồi đột nhiên lật ngửa ghế về phía sau Bệnh nhân mất thích nghi sẽ ngã người theo lưng ghế như tượng gỗ Trái lại nếu là người lành mạnh, họ sẽ có phản ứng nghiêng người về phía trước để giữ thân mình đứng thẳng theo đường dây dọi, không ngã theo lưng ghế

d Nghiệm pháp Babinski-Weil hay nghiệm pháp đi hình ngôi sao:

Bảo bệnh nhân nhắm mắt lại và đi tới đi lui 6 lần, mỗi lần 8 bước Trong khi bước tới, bệnh nhân sẽ đi lệch về bên mê nhĩ bệnh, khi đi lui họ sẽ đi lệch về bên mê nhĩ lành Rút cuộc đường đi của bệnh nhân có dạng hình ngôi sao và bệnh nhân không trở về đúng xuất phát điểm

Nếu là người lành mạnh thì họ sẽ đi theo đường thẳng và về đúng chỗ cũ

RỐI LOẠN DO GÂY RA

Trong những nghiệm pháp sau đây, thầy thuốc kích thích mê nhĩ để nghiên cứu các phản ứng của nó Hiện nay trên lâm sàng người ta dùng ba phương pháp để kích thích tiền đình: nước lạnh, điện một chiều và ghế quay

1.Nghiệm pháp nước lạnh:

Về nguyên tắc chúng ta có thể dùng nước nóng 44 độ C hay nước lạnh 25 độ C để kích thích tiền đình Hướng của động mắt sẽ trái ngược nhau tùy theo nhiệt độ của nước Trên thực tế chúng ta quen dùng nước lạnh hơn nước nóng Nước lạnh vào tai sẽ làm di chuyển nước nội dịch Luồng nội dịch này kích thích các tế bào giác quan của ống bán khuyên và gây ra động mắt

Trước khi bơm nước lạnh cần phải xem màng nhĩ có bị thủng không, nếu có thủng thì phải thận trọngnhư dùng nước vô trùng, nhiệt dộ vừa phải (30 độ C, bơm nhẹ…Có tác giả khuyên không nên làm nghiệm pháp này nếu tai bị thủng)

Chúng tôi quen dùng phương pháp Kobrak cải biên theo lối Hautant Cách làm này không đòi hỏi dụng cụ đặc biệt và ít gây phản ứng dữ dội

Để bệnh nhân ngồi thẳng trên ghế có tựa lưng, mắt deo kính Bartels (+ 20 điôp) để loại động mắt giả, đầu ngửa 60 độ về phía sau Chúng ta bơm 10 ml nước lạnh 25 độ

C vào tai người bệnh

Bình thường 20 giây sau khi bắt đầu bơm nước, động mắt xuất hiện Người ta gọi đó là thời gian tiềm tàng Động mắt kéo dài trong 60 đến 90 giây

Nếu thời gian tiềm tàng bị rút ngắn dưới 20 giây và thời gian phản ứng dài trên 120 giây thì người ta gọi là quá kích thích Trái lại nếu thời gian tiềm tàng kéo dài trên 30 giây và thời gian động mắt dưới 30 giây thì người ta gọi là kém kích thích

Trang 8

Nếu tiền đình không trả lời chúng ta sẽ tăng khối lượng nước lên đến 100ml Sau đó nếu tiền đình vẫn không phản ứng thì chúng ta kết luận rằng tiền đình không kích thích được

Muốn nghiên cứu tính chất của phản ứng chúng ta phải để đầu nghiêng theo 3 tư thế Brunings khi bơm nước:

+ Tư thế Brunings I: ngồi thẳng, đầu ngửa 60 độ về phía sau, ống bán khuyên nằm bị dựng đứng lên 90 độ Trong trường hợp bình thường sẽ có động mắt ngang, đập về bên đối diện với tai bị bơm nước

+ Tư thế Brunings II: đầu ngả về phía sau 60 độ và nghiêng 45 độ về bên tai được bơm nước Oáng bán khuyên nằm bị kích thích và động mắt ngang xuất hiện Động mắt đập về phía bên đối diện với tai bị bơm nước

+ Tư thề Brunings III: đầu ngả về phía sau 60 độ và nghiêng 45 độ về phía không bơm nước Hai ống bán khuyên đứng bị kích thích cùng một lúc, và gây ra động mắt quay về hướng đối diện với tai bơm nước

Nghiệm pháp nước lạnh rất tiện lợi vì nó cho phép chúng ta nghiên cứu từng mê nhĩ một và ở mỗi tai chúng ta có thể khám riêng ống bán khuyên nằm hhoặc ống bán khuyên đứng

Sau khi phân tích động mắt xong chúng ta làn ngay nghiệm pháp đưa tay thẳng: bình thường hai tay sẽ lệch về bên bị bơm nước Kế đó chúng ta bảo bệnh nhân đứng dậy để làm nghiệm pháp Romberg: bệnh nhân sẽ ngả về bên tai bị bơm nước

Cuối cùng chúng ta hỏi bệnh nhân có chóng mặt, buồn nôn không? Nói chung bệnh nhân sẽ trả lời rằng có rạo rực buồn nôn hoặc thấy khó chịu trong người vài phút Khám xong một bên tai, chúng ta phải đợi 10 phút rồi hãy chuyển sang tai bên kia Chúng ta tóm tắt kết quả vào bảng kết quả khám như sau:

Tai phải Tai trái Khối lượng nước

Nhiệt độ nước

Thời gian tiềm tàng

Brunings I

Brunings II

Brunings III

Đưa tay thẳng

Romberg

Rối loạn giao cảm

Kết luận

10ml

25 độ

20 giây Động mắt ngang về bên trái độ 2 Động mắt ngang về bên trái độ 2 Động mắt quay về bên trái Lệch về bên phải

Ngả về bên phải Nao nao

Phản ứng bình thường

10ml

25 độ

10 giây Động mắt nằm về bên phải độ 3 Động mắt nằm về bên phải độ 3 Động mắt quay về bên phải Lệch về bên trái

Không đứng được Nôn ọe, xanh tái, toát mồ hôi Phản ứng quá mức nhưng hài hòa

Phản ứng hài hòa tức là hướng động mắt và hướng nghiêng người (hoặc hướng lệch ngón tay) đối lập nhau

Phản ứng không hài hòa tức là động mắt và nghiêng người (hay lệch ngón tay) cùng

đi về một hướng, hoặc động mắt đập về phía tai bệnh bị bơm nước, hoặc ngón tay chỉ lệch về phía tai lành không bơm nước

Trang 9

2 Nghiệm pháp ghế quay:

Nguyên tắc: khi chúng ta để bệnh nhân ngồi trên ghế quay và chúng ta cho ghế quay tròn, toàn bộ mê nhĩ sẽ quay theo Nếu chúng ta cho ngừng cái ghế lại một cách đột ngột thì nội dịch trong tiền đình, do cái đà đã có sẵn, sẽ đập vào bong bóng của ống bán khuyên và kích thích các tế bào thần kinh của mào bóng (crête ampullaire) gây ra động mắt Muốn kích thích ống bán khuyên nào thì phải để ống bán khuyên đó trong bình diện nằm Trong nghiệm pháp này chúng ta thử cả hai tiền đình cùng một lúc a) Khám ống bán khuyên nằm

Bệnh nhân đeo kính +20 điôp, ngồi trên ghế quay kiểu Lermoyez, đầu nghiêng

30 độ về phía trước, lưng tựa vào thành ghế, chân đặt trên bàn đạp của ghế, hai tay nắm chặt thành ghế

Thầy thuốc quay ghế 10 vòng trong 20 giây và đến vòng thứ 10 chặn ghế đứng lại đột ngột ngay khi ghế đứng lại thì động mắt xuất hiện và đập về hướng đối lập với chiều quay của ghế Thầy thuốc dùng đồng hồ đo thời gian từ lúc động mắt bắt đầu cho đến khi hết động mắt

Muốn khám tiền đình phải thì chúng ta quay ghế từ phải sang trái (của bệnh nhân ) Nếu khám tiền đình trái thì quay từ trái sang phải

Nếu quay từ phải sang trái, thì động mắt sẽ đập từ trái sang phải Nếu quay từ trái sang phải, thì động mắt sẽ đập từ phải sang trái

Khi chúng ta quay từ trái sang phải thời gian động mắt là 30 giây trong đó có 25 giây

do mê nhĩ trái gây ra (do dòng nội dịch chảy về bong bóng) còn 5 giây do mê nhĩ phải (dòng nội dịch thoát khỏi bong bóng ) gây ra Nếu chúng ta quay từ phải sang trái, thời gian động mắt cũng là 30 giây, trong đó 25 giây do mê nhĩ phải gây ra (dòng nội dịch chảy về bong bóng) còn 5 giây do mê nhĩ trái(dòng nội dịch thoát khỏi bong bóng)

Nếu mê nhĩ của hai bên đều chết, bệnh nhân sẽ không có phản ứng

Nếu chỉ có mê nhĩ trái bị chết thì thời gian động mắt sẽ như sau:

- Quay từ trái sang phải: 30- 25 = 5 giây

- Quay từ phải sang trái: 30-5 = 25 giây

Nếu chỉ có mê nhĩ phải bị chết thì thời gian động mắt sẽ như sau:

- Quay từ phải sang trái: 30- 25 =5 giây

- Quay từ trái sang phải : 30 –5 =25 giây

Sau mỗi lần quay nên nghỉ10 phút để bệnh nhân hồi tĩnh

Trên đây là kết quả của xét nghiệm khi bệnh tích còn mới Trong những trường hợp mạn tính, lâu ngày, kết quả sẽ không được rõ rệt như trên vì có hiện tượng bù trừ xen vào: mê nhĩ lành đảm bảo một phần chức năng của mê nhĩ chết Thời gian của động mắt sẽ là 15 giây mặc dù chúng ta quay về bên phải hay về bên trái

b) Khám ống bán khuyên đứng:

Oáng bán khuyên đứng gồm có ống bán khuyên trên và ống bán khuyên sau Ơû đây còn nhiều điểm chưa được rõ lắm, nhất là về vai trò của ống bán khuyên riêng lẽ Đại khái người ta qui ước với nhau rằng:

Trang 10

Muốn khám ống bán khuyên trên(bình diện trán) phải ngả đầu 90 độ về phía trước Động mắt thuộc về loại quay và kéo dài trong 20 giây Hướng của động mắt và hướng quay của ghế đối lập nhau

Muốn khám ống bán khuyên sau (bình diện dọc-plan sagittal) phải ngả đầu 90 độvề một bên, động mắt thuộc về loại đứng và kéo dài trong 6 giây Thí dụ: ghế quay về bên phải mà đầu ngả về bên phải thì sẽ có động mắt đứng đập về phía dưới, nếu ngả đầu về bên trái sẽ có động mắt đứng đập về phía trên

3 Nghiệm pháp điện một chiều.

Ưûng dụng dòng điện một chiều tác động trực tiếp đến thần kinh tiền đình và gây ra phản ứng nghiêng đầu, động mắt và chóng mặt

Dụng cụ cần thiết là 20 cái pin 1,5 vôn nối tiếp nhau, một cái ampe kế, một cái điện trở và hai cực điện

Phương pháp thường dùng là kiểu hai tai hai cực tức là mỗi bên tai đeo một cực điện khác tên với nhau

Cách làm:

- Phản ứng nghiêng đầu: để bệnh nhân đứng thẳng, mắt nhắm, lắp cực điệc nắp tai: cực dương bên phải, cực âm bên trái Bắt đầu cho điện chạy, và tăng dần cường độ từ 0 mili ampe trở lên Đối với người thường khi lên đến 3mA thì đầu nghiêng về cực dương Trong trường hợp có thương tổn mê nhĩ, hướng nghiêng đầu sẽ thay đổi Nếu là bệnh tích ở thân dây thần kinh hoặc ở các nhân trung ương thì ngưỡng kích thích sẽ tăng lên 10 mA hoặc hơn

Sau khi phản ứng xuất hiện rồi, chúng ta giảm điện dần trở về 0 mA Nếu chúng

ta cắt điện nhanh bệnh nhân sẽ ngả về bên đối diện

- Phản ứng động mắt :

Bệnh nhân mở mắt Động mắt sẽ xuất hiện khi chúng ta tăng cường độ lên đến 5

mA và đập về phía cực âm Động mắt ngang hoặc quay

Lúc làm nghiệm pháp này nên cho bệnh nhân đeo kính +20 điôp

Nếu có thương tổn tiền đình, hướng của động mắt sẽ thay đổi và ngưỡng kích thích của dòng điện cũng tăng(10 mA)

- Cảm giác chóng mặt

Chóng mặt xuất hiện muộn và đòi hỏi cường độ điện cao (trên 10 mA) Nếu bệnh nhân mở mắt họ sẽ thấy đồ đạc di động qua trước mắt họ từ cực dương qua cực âm Nếu bệnh nhân nhắm mắt lại họ sẽ có cảm giác bị lôi kéo về phía cực dương

4 Nghiệm pháp bơm hơi:

Bình thường nếu chúng ta dùng spêculum Siegle bơm không khí vào ống tai ngoài, bệnh nhân chỉ có cảm giác căng trong tai

Trái lại nếu mê nhĩ có lỗ rò (rò ở ống bán khuyên nằm) khi chúng ta bơm không khí vào tai, bệnh nhân sẽ ngả người về phía đối lập và có động mắt ngang quay đập về phía tai bệnh Đó là triệu chứng Lukê (Lucae)

Ngày đăng: 04/10/2019, 20:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w