Ngày nay, trên thị trường các sản phẩm bảo hiểm rất phongphú và đa dạng, tuy nhiên có một sản phẩm bảo hiểm rất cần thiết với tất cả chúng tanhưng hiện tại nó chưa được phổ biến và đón n
Trang 1Khoa Ngân Hàng
-TIỂU LUẬN MÔN HỌCNGUYÊN LÝ VÀ THỰC HÀNH BẢO HIỂM
Trang 2Nhận xét của Giảng viên:
Điểm :
MỤC LỤC
Trang 3Lời mở đầu
I Phần 1: Thuật ngữ và cơ sở Luật Trang 5
1 Một số thuật ngữ 5
2 Cơ sở Luật 6
II Phần 2: Một số góc nhìn về bảo hiểm hỏa hoạn nhà ở tư nhân ở Việt Nam
1 Một số nhân tố ảnh hưởng đến khả năng hỏa hoạn nhà ở tư nhân ở Việt Nam 7
1.1 Kiến trúc nhà ở tư nhân 7
1.2 Khí hậu, thời tiết 10
2 Thống kê tình hình hỏa hoạn nhà ở tư nhân trong những năm qua và khả năng khắc phục 11
2.1 Thống kê tình hình hỏa hoạn nhà ở tư nhân trong những năm qua 11
2.2 Các biện pháp phòng và khắc phục hậu quả hỏa hoạn nhà tư nhân ở nước ta 13
2.2.1 Người dân Việt thường làm gì để phòng và khắc phục hậu quả hỏa hoạn nhà ở 13
2.2.2 Khả năng của lực lượng cứu hỏa Việt Nam 14
2.2.3 Bảo hiểm hỏa hoạn nhà ở tư nhân 15
3 Hợp đồng bảo hiểm hỏa hoạn 16
4 Tóm lược một số nguyên nhân bảo hiểm hỏa hoạn ở Việt Nam chưa phát triển 17
III Phần 3: Giải pháp phát triển bảo hiểm hỏa hoạn nhà ở tư nhân ở Việt Nam
1 Đối với Nhà nước 18
2 Doanh nghiệp bảo hiểm 19
3 Nâng cao ý thức của người dân 20
IV.Kết Luận 22
Danh mục tham khảo 23
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Cuộc sống xung quanh ta luôn chứa đựng những rủi ro, những nguy cơ màchúng ta không thể nào có thể lường trước được Vì thế mà mỗi người cũng đã cónhững cách phòng tránh theo ý nghĩ riêng của mình.Và có lẽ, cách tốt nhất là bạn hãy
để cả cộng đồng chia sẻ những tổn thất với bạn thông qua việc tham gia vào các loạihình bảo hiểm phù hợp Ngày nay, trên thị trường các sản phẩm bảo hiểm rất phongphú và đa dạng, tuy nhiên có một sản phẩm bảo hiểm rất cần thiết với tất cả chúng tanhưng hiện tại nó chưa được phổ biến và đón nhận bởi đông đảo người dân, đó là loạihình sản phẩm bảo hiểm hỏa hoạn nhà tư nhân ở Việt Nam Thông qua bài nghiên cứunày, nhóm chúng tôi trình bày một số kiến thức của mình về sản phẩm bảo hiểm nàycũng như một vài giải pháp để có giúp phát triển hơn sản phẩm này tại Việt Nam Dù
đã hết sức cố gắng nhưng bài nghiên cứu vẫn không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót.Nhóm thực hiện rất mong nhận được sự góp ý chân thành của Thầy và các bạn
Chân thành cảm ơn!
Nhóm thực hiện lớp Ngân hàng 4_K33
Trang 5PHẦN I: THUẬT NGỮ VÀ CƠ SỞ LUẬT
Hay theo từ điển Việt Nam, hỏa hoạn được định nghĩa là nạn cháy nói chung.Hỏa hoạn được hiểu rộng hơn là cháy nhà, nó có thể bao gồm việc cháy do nổ, sét…
Định nghĩa về bảo hiểm
Theo các nhà kinh tế bảo hiểm, một định nghĩa đầy đủ và thích hợp cho bảohiểm phải bao gồm việc hình thành một quỹ tiền tệ (quỹ bảo hiểm), sự hoán chuyểnrủi ro, và thêm nữa, phải bao gồm cả sự kết hợp số đông các đơn vị đối tượng riêng
lẻ và độc lập, chịu cùng một rủi ro như nhau thành một nhóm tương tác
Tuy nhiên, bảo hiểm, do đáp ứng nhu cầu đảm bảo an toàn của con người vốn
dĩ rất phong phú và nhiều biến động, nên cũng rất đa dạng Rất khó tìm kiếm mộtđịnh nghĩa về bảo hiểm cho nhiều góc nhìn khác nhau, tương ứng với các lĩnh vựckhác nhau của đời sống kinh tế- xã hội Các nhà nghiên cứu kinh tế, xã hội, các họcgiả bảo hiểm đã lần lượt đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau Có thể ghi nhận một vàiđịnh nghĩa như sau:
Định nghĩa 1: “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít”(theo Dennis Kessler, Risque No 17, Jan-Mars 1994)
Định nghĩa 2: “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảohiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để chomình hoặc để cho một người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được mộtkhoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Ngườibảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại dựa theo cácphương pháp của thống kê” (theo Monique Gaultier, Géneralite sur l’assurance,
Trang 6Project d’assur, L’ école superieur des Finances et de la Comptabilite de HanoiFFSA, Hanoi-1994)
Các định nghĩa trên hoặc quá thiên về góc độ xã hội, hoặc thiên về góc độ kinh
tế cũng như kỹ thuật và ít nhiều có sự khiếm khuyết các yếu tố cần thiết của một địnhnghĩa đầy đủ Một định nghĩa vừa đáp ứng được khía cạnh xã hội (dùng cho bảohiểm xã hội) vừa đáp ứng được khía cạnh kinh tế (dùng cho bảo hiểm thương mại) vàvừa đầy đủ về khía cạnh kỹ thuật và pháp lý có thể phát biểu như sau :
“Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấpnhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ ba trong trường hợp xảy
ra rủi ro Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối vớitoàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại dựa theo các phương pháp của thống kê”.(theo Monique Gaultier, Géneralite sur l’assurance, Project d’assur, L’ écolesuperieur des Finances et de la Comptabilite de Hanoi FFSA, Hanoi-1994)
2 Cơ sở luật
Luật phòng cháy chữa cháy 2001
Quyết định số 06/TCQĐ ngày 17-01-1989 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hànhQuy tắc về bảo hiểm hoả hoạn Đánh dấu mốc sự ra đời của bảo hiểm hoả hoạn ở ViệtNam
Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08-11-2006 quy định chế độ bảo hiểmcháy nổ bắt buộc
Trang 7PHẦN II: MỘT SỐ GÓC NHÌN VỀ BẢO HIỂM HOẢ HOẠN
NHÀ Ở TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM
1 Một số nhân tố ảnh hưởng đến khả năng hoả hoạn nhà ở tư nhânViệt Nam
1.1 Kiến trúc nhà ở tư nhân:
Kiến trúc nhóm nhà ở dân gian miền Bắc
Thông thường, nhà ở dân gian miền Bắc được xây dựng kiểu hai mái với mặtbằng bố cục đối xứng và số gian lẻ (3, 5, 7), bao gồm ba gian giữa và hai gian buồngnằm về hai phía của gian giữa Phía trước nhà thường có thêm một hàng hiên chạydài suốt chiều ngang mặt đứng Bên trong nhà, giữa gian giữa và hai gian buồngđược ngăn cách bởi vách ngăn bằng gỗ (bức thuận), mặt hướng ra gian giữa đượcchạm trổ công phu Phía trong cùng của gian giữa là nơi đặt bàn thờ tổ Không gianhai bên và phía trước của bàn thờ được đặt các bộ phản hoặc bàn ghế là nơi tiếpkhách và chỗ ngủ của chủ nhà Vì kèo là yếu tố cơ bản để tạo nên cấu trúc của mộtngôi nhà Mỗi bước cột có hai vì kèo nằm theo chiều sâu của nhà với cột được đặt
trực tiếp lên chân đá tảng Thông thường trong một vì kèo, câu đầu là ranh giới phân chia vì thân và vì nóc Đối với vì thân có thể chia thành năm loại hình cơ bản dựa trên bố cục của các cột trong một vì kèo Bên cạnh đó, vì nóc cũng được chia thành bốn loại hình chính Cấu tạo kiến trúc liên kết giữa cột cái, kẻ ngồi và câu đầu được
sử dụng kỹ thuật chồng đè, ít sử dụng đến kỹ thuật xẻ mộng Vì thân loại 1 có sốlượng hiếm (dưới 10%), chỉ xuất hiện chủ yếu ở Bắc Ninh và một số ít tại Hà Tây
Có thể nói đây là hình thức ít phổ biến Một số ngôi nhà có hình thức này có thể đãđược xây dựng vào cuối thế kỷ 17 hoặc đầu thế kỷ 18 nhưng cho đến nay vẫn chưatìm thấy những cơ sở xác thực để chứng minh năm xây dựng này Tuy nhiên, dựatrên những đánh giá về hiện trạng cũng như kỹ thuật kết cấu vẫn có thể kết luận đây
là hình thức vì kèo cổ điển nhất của nhà ở dân gian miền bắc
Khác với loại 1, vì thân loại 2 được xuất hiện khá phổ biến tại Bắc Ninh và HàTây Hình thức này xuất hiện ở cả những ngôi nhà với qui mô lớn, vừa và nhỏ Xétdưới góc độ kết cấu, loại hình này có cấu trúc ổn định hơn nhiều so với vì thân loại 1.Trên thực tế, vì thân loại 2 đã sử dụng cột có đường kính nhỏ hơn và dài hơn Kể cả
các thành phần cấu kiện khác (kẻ ngồi, xà) cũng có kích thước mảnh mai hơn so với
Trang 8loại 1 Kết hợp những yếu tố trên và việc loại 2 đã sử dụng những kỹ thuật tiên tiếnhơn loại 1 có thể kết luận rằng loại hình này đã được ra đời sau loại 1 và được phổcập trong một khoảng thời gian dài.
Vì thân loại 3, là hình thức vì kèo trốn cột, được xuất hiện phổ biến Nhìn
chung, vì thân loại này được xuất hiện trong những ngôi nhà với qui mô nhỏ Việc trốn đi một hoặc hai cột trong một vì kèo, cũng như lược bớt một vài thanh xà đã thể
hiện một bước tiến vượt bậc về mặt kỹ thuật kết cấu so với các hình thức loại 1 vàloại 2 Dựa trên những số liệu điều tra về năm xây dựng, có thể cho rằng loại hìnhnày bắt đầu được xây dựng phổ biến từ khoảng đầu thế kỷ 19
Vì thân loại 4 cũng được xuất hiện, nhưng có số lượng ít hơn 5% so với cácloại khác Nó thường được xây dựng tại những ngôi nhà có qui mô vừa phải Việc
lược bỏ xà lòng liên kết giữa hai cột cái trong vì kèo đã làm cho hình thức này có nét
đặc trưng tương đồng với kiến trúc được sử dụng phổ biến trong các công trình tínngưỡng công cộng như đình, đền, chùa Trên thực tế, một số các ngôi nhà ban đầuđược xây dựng với hình thức vì thân loại 2 về sau khi chuyển đổi chức năng sử dụng
từ nhà ở sang nhà thờ họ, hoặc khi trong nhà có người thi đỗ trạng nguyên họ đã tháo
bỏ đi xà lòng Cũng có không ít những ngôi nhà được xây dựng với vì thân loại 4 ngay từ ban đầu, và được gọi là nhà lòng thuyền Mặc dù hình thức này đã được phổ
biến trong các công trình công cộng từ trước đó rất lâu, nhưng nó mới được du nhập
và phổ cập trong kiến trúc nhà ở dân gian từ khoảng nửa sau thế kỷ 19, khi chế độphong kiến cuối cùng ở nước ta bước vào giai đoạn suy thoái
Tại Bắc Ninh và Hà Tây, vì thân loại 5 đa số được sử dụng để xây dựng nhà
tiền tế hoặc nhà thờ Thông thường chúng đều có qui mô nhỏ ba gian Ngược lại, tại
Nam Định và Thanh Hóa nó được xây dựng như những ngôi nhà ở năm gian thôngthường Điều này cho thấy, hình thức vì thân này đã được sử dụng để xây dựngnhững công trình có chức năng sử dụng khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay chưa tìmthấy trường hợp nào sử dụng loại vì thân này được xây dựng vào trước thế kỷ 19.Tóm lại, có thể khẳng định rằng vì thân loại 1 và loại 2 là những hình thức cổtruyền đặc trưng cho kiến trúc nhà ở dân gian miền Bắc, chúng đã được sử dụng đểxây dựng những ngôi nhà cổ với qui mô lớn Bên cạnh đó, những hình thức vì kèoloại 3, loại 4 và loại 5 được coi như là những hình thức mới được xây dựng phổ cập
Trang 9ở Nam Định và Thanh Hóa, những nơi cho đến nay không tìm thấy dấu vết của các
vì thân loại 1 và loại 2 Ngoài ra, tại Bắc Ninh, vì kèo loại 5 hầu như chỉ được sử
dụng để xây dựng nhà tiền tế ba gian, trong khi đó tại Nam Định và Thanh Hóa lại
được phổ cập để xây dựng nhà ở
Kiến trúc nhóm nhà ở dân gian miền Trung và miền Nam
Đặc trưng trong bố cục mặt bằng của nhà ở dân gian miền Trung và miền Nam
là tổng thể nhà ở bao gồm nhiều nếp nhà được xây dựng với mái liền kề Trong đó
nhà trên là nơi đặt bàn thờ tổ tiên và nhà dưới là không gian dành cho sinh hoạt
thường nhật Tại miền Trung, nhà trên và nhà dưới thường được bố cục vuông góc
với nhau và cùng hướng về sân phơi phía trước nhà Ngược lại, tại miền Nam, nhàtrên và nhà dưới được bố cục thẳng hàng với nhau theo chiều ngang hoặc chiều dọc
Giữa nhà trên và nhà dưới thường được nối với nhau bằng nhà cầu Đa số các nhà
được xây dựng với hình thức bốn mái có đầu hồi Qui mô của nhà ở miền Trung và
miền Nam cũng lớn hơn nhiều so với miền Bắc Nhà trên thường có qui mô từ năm đến bảy gian và nhà dưới từ ba đến năm gian Không gian nhà trên cũng được bố cục đối xứng bao gồm gian giữa là nơi đặt bàn thờ tổ tiên và các gian buồng hai bên là
chỗ ngủ hoặc là kho chứa đồ Tại miền Nam, do vì kèo thường có bước cột lớn vàchiều sâu của nhà gấp đôi so với các địa phương khác, nên mặt bằng thường đượcchia theo bố cục trước sau, nhưng vẫn đảm bảo tính đối xứng Khác với miền Bắc, tại
miền Trung và miền Nam đã sử dụng kèo chồng tạo nên một cấu trúc vì kèo mang tính thống nhất Đặc trưng của cấu trúc kèo chồng đó là các thanh kèo được đặt nằm
nghiêng theo chiều dốc của mái liên kết các đầu cột với nhau và đầu của thanh kèonằm phía dưới được gác lên đuôi của thanh kèo nằm phía trên.Nét đặc trưng này đãđược thể hiện thông qua chính tên gọi của nó
Nhận xét
Kiến trúc nhà ở 3 miền tuy có đôi chút khác biệt nhưng đều có chung đặc điểmcấu trúc hợp lý, tiện dụng, thong thoáng và mát mẻ Nhìn ở góc nhìn này, nhà ở dângian Việt Nam hạn chế được khả năng phát sinh hoả hoạn và cũng tạo điều kiện choviệc chữa cháy, khắc phục hậu quả khi hoả hoạn xảy ra Tuy nhiên lối kiến trúc nhưtrên đặc trưng cho nhà ở nông thôn, nơi nhà cách nhà cái giậu mồng tơi như thơNguyễn Bính hoặc cách nhau cái lương, cái rạch nơi sông nước miền Tây Ở những
Trang 10nơi ấy, nếu hoả hoạn có xảy ra thì khả năng ảnh hưởng liên hoàn được hạn chế, thiệthại sẽ ít hơn khi xảy ra hoả hoạn ở những căn hộ chung cư của người thành phố.
1.2 Khí hậu, thời tiết Khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa Lãnh thổ Việt Nam nằm trọntrong vùng nhiệt đới, đồng thời nằm ở rìa phía đông nam của phần lục địa châu Á,giáp với biển Đông (một phần của Thái Bình Dương), nên chịu ảnh hưởng trực tiếpcủa kiểu khí hậu gió mùa mậu dịch, thường thổi ở các vùng vĩ độ thấp
Việt Nam có bốn miền khí hậu chủ yếu, bao gồm: miền khí hậu phía Bắc, miềnkhí hậu phía Nam, miền khí hậu Trung và Nam Trung Bộ, miền khí hậu biển Đông
Miền khí hậu phía Bắc: Bao gồm phần lãnh thổ phía Bắc dãy Hoành Sơn.
Miền này có khí hậu nhiệt đới gió mùa với bốn mùa xuân, hè, thu, đông rõ rệt Tuynhiên, miền khí hậu này có đặc điểm là mất ổn định với thời gian bắt đầu-kết thúccác mùa và về nhiệt độ
Vùng Đông Bắc Bắc Bộ chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão nhiệt đới, về mùa hè,
ít chịu ảnh hưởng của gió Lào (gió foehn)
Vùng Tây Bắc Bắc Bộ
Miền khí hậu phía Nam: Gồm phần lãnh thổ thuộc Tây Nguyên và Nam Bộ.
Miền này có khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với hai mùa: mùa khô và mùa mưa(từ tháng 4-5 đến tháng 10-11) Quanh năm, nhiệt độ của miền này cao Khí hậumiền này ít biến động nhiều trong năm
Vùng cao nguyên Nam Trung Bộ (Tây Nguyên)
Vùng đồng bằng Nam Bộ
Miền khí hậu Trung và Nam Trung Bộ: Gồm phần lãnh thổ phía Đông dãy
Trường Sơn, kéo dài từ phía Nam dãy Hoành Sơn tới Phan Thiết Đây là miền khíhậu chuyển tiếp giữa hai miền khí hậu nói trên Miền này lại có thể chia làm haivùng:
Vùng Bắc Trung Bộ là vùng Bắc đèo Hải Vân đôi khi có thời tiết lạnh và cónhững thời kỳ khô nóng do gió foehn gây nên Về mùa đông, do hình thế vùng nàychạy dọc bờ biển Đông theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, đón trực diện với hướnggió mùa chủ đạo thổi trong mùa này là gió mùa Đông Bắc Vùng này bị ảnh hưởngbởi thời tiết lạnh do gió mùa Đông Bắc mang đến và thường kèm theo mưa nhiều
Trang 11(đặc biệt là tại Thừa Thiên - Huế) do gió mùa thổi theo đúng hướng Đông Bắc mangtheo hơi nước từ biển vào, hơi khác biệt với thời tiết khô hanh của miền Bắc cùngtrong mùa đông Về mùa Hè, khi gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh thổi từ vịnhThái Lan qua vùng lục địa rộng lớn đến dãy Trường Sơn thì bị trút hết mưa xuốngsườn Tây Trường Sơn nhưng vẫn tiếp tục vượt qua dãy núi để thổi sang vùng này.Lúc này do không còn hơi nước nên gió mùa Tây Nam gây ra thời tiết khô nóng (cókhi tới > 40 °C, độ ẩm chỉ còn 50 ÷ 60), gió này gọi là gió foehn.
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộphía Nam đèo Hải Vân nóng quanh năm
Một đặc điểm quan trọng của miền khí hậu này là mùa mưa và mùa khô khôngcùng lúc với mùa mưa và khô của hai miền khí hậu còn lại Mùa hè, trong khi cảnước có lượng mưa lớn nhất, thì miền khí hậu này lại đang ở thời kỳ khô nhất
N
hận xét:
Tuy là đất nước có những khu vực khô , nóng, gió nhiều, có nhiều sét, tăng khảnăng xảy ra hoả hoạn Nhưng bù lại Việt Nam có độ ẩm không khí cao, lượng mưanhiều, thời tiết cũng không quá khắt nghiệt nếu so với nhiều khu vực khác trên thếgiới, cũng góp phần hạn chế hoả hoạn xảy ra, và giúp giảm thiểu thiệt hại nhanhchóng
2 Thống kê tình hình hoả hoạn nhà ở tư nhân những năm qua và khả năng khắc phục
2.1 Thống kê tình hình hoả hoạn nhà ở tư nhân những năm qua
Theo Cục Cảnh Sát phòng Cháy Chữa Cháy,trong giai đoạn 2000-2009, trênđịa bàn cả nước xảy ra 15.906 vụ cháy, làm 2.851 người chết và bị thương, gây thiệthại trực tiếp về tài sản trị giá 3.291 tỷ đồng
Riêng trong giai đoạn 2002-2006, cả nước đã xảy ra 11.795 vụ cháy, thiệt hại
ước tính 1.710 tỷ đồng.
Năm 2007, cả nước xảy ra 2.278 vụ cháy, trong đó 1.529 vụ cháy ở các cơ sở
và nhà dân,749 vụ cháy rừng Thiệt hại: Chết 43 người, bị thương 171 người; về tàisản ước tính trị giá 423,507 tỷ đồng và 4.188,52 ha rừng