1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp ở quảng nam – đà nẵng tt

32 191 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Luận án miêu tả TNNN của ba nghề TCMN ở QN-ĐN, chỉ ra nhữngđặc điểm ngôn ngữ và đặc trưng văn hóa của những TNNN đó, nhằm gópphần bảo vệ và phát triển TNNN ở QN-ĐN tr

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-NGÔ THỊ THU HƯƠNG

NGHIÊN CỨU TỪ NGỮ NGHỀ NGHIỆP

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘIVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

ười ướng dẫn khoa h c: PGS.TS Phạm Tất Thắng

PGS TS Bùi Tr ng Ngoãn

Phản biện 1: PGS TS Nguyễn Hồng Cổn

Phản biện 2: PGS TS Nguyễn Hữu Hoành

Phản biện 3: PGS.TS Lê Thị Lan Anh

Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xãhội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Vào hồi giờ ngày tháng

Có thể tìm hiểu luận án tại:

-Thư viện Quốc gia Việt Nam

-Thư viện Học viện Khoa học xã hội

Trang 3

và bảo vệ lớp TNNN còn phần nào đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu văn hóa,ngôn ngữ ở các địa phương.

1.2 Quảng Nam – Đà Nẵng (QN-ĐN) là vùng đất có sự đa dạng vănhóa với rất nhiều làng nghề truyền thống Trước yêu cầu phát triển kinh tếcủa xã hội hiện đại, nhiều nghề truyền thống đã không còn tồn tại hoặc đã

bị biến đổi Bởi thế, cần phải nghiên cứu và thu thập TNNN để bảo vệ vàphát triển văn hóa, ngôn ngữ của các cộng đồng làm nghề ở nơi đây khỏi bịmai một

1.3 Mặt khác, hiện nay ở QN-ĐN đang có sự chuyển đổi cơ cấu kinh

tế, tập trung phát triển du lịch gắn với làng nghề truyền thống, nhất lànhững nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với thế mạnh là những sản phẩmmang bản sắc văn hóa của cộng đồng Vì thế nghiên cứu TNNN còn gópphần phát huy giá trị văn hóa, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - văn hóa –

xã hội của địa phương

Vì vậy, nghiên cứu TNNN ở QN-ĐN, đặc biệt là TNNN một số nghềTCMN có ý nghĩa về mặt lí luận cũng như thực tiễn bảo vệ và phát triểnTNNN cũng như góp phần phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội ở địaphương trong bối cảnh hiện nay

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án miêu tả TNNN của ba nghề TCMN ở QN-ĐN, chỉ ra nhữngđặc điểm ngôn ngữ và đặc trưng văn hóa của những TNNN đó, nhằm gópphần bảo vệ và phát triển TNNN ở QN-ĐN trong quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

1) Tổng quan về tình hình nghiên cứu về TNNN; xác định cơ sở lýthuyết cho luận án và giới thiệu bối cảnh nghiên cứu; 2) Miêu tả đặc điểmngôn ngữ của TNNN ở QN-ĐN; 3) Phân tích đặc trưng văn hóa của TNNN

ởQN-ĐN

3 Đối tượ , p ạm vi và tư liệu iê ứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp tiếng Việt ở QN-ĐN

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu TNNN của ba nghề đại diện cho các nghề TCMN

Trang 4

2truyền thống của người Việt ở QN-ĐN như: 1) TNNN nghề làm gốm NamDiêu, Thanh Hà, Quảng Nam; 2) TNNN nghề chạm khắc đá Non Nước,Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng; 3) TNNN nghề làm lồng đèn Hội An, QuảngNam.

3.3 Tư liệu nghiên cứu

Luận án thu thập được 317 TNNN của ba nghề TCMN của người Việt

ở QN-ĐN và được phân tích theo 9 nội dung biểu thị (hay phạm trù ngữnghĩa), bao gồm: dụng cụ, nguyên liệu, thao tác, tên sản phẩm, người laođộng, tên nghề, đặc điểm, tính chất và nội dung khác

Luận án sử dụng phương pháp điều tra điền dã, phương pháp miêu tả,phương pháp phân tích ngữ nghĩa Đồng thời luận án cũng sử dụng một sốthủ pháp như mô hình hóa, sơ đồ hóa, so sánh và thống kê mô tả những đơn

vị TNNN

Luận án miêu tả đặc điểm ngôn ngữ và đặc trưng văn hóa của TNNN ởQN-ĐN qua ba nghề TCMN ở QN-ĐN trong bối cảnh hiện nay; Luận áncung cấp tư liệu cho các nghiên cứu về TNNN ở QN-ĐN; Luận án gợi mởmột số hướng nghiên cứu tiếp theo về TNNN (từ nguyên học, phương ngữhọc, lịch sử tiếng Việt…)

6 Ý ĩa lý luậ và t ự tiễ ủa luậ á

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận án góp phần củng cố lý thuyết nghiên cứu về TNNN cũng như sựphát triển của Từ vựng học, Ngôn ngữ học văn hóa trong bối cảnh hiện nay;Luận án góp phần bảo vệ và phát huy giá trị ngôn ngữ, văn hóa ở vùng đấtQN-ĐN

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết cho việc nghiên cứu vàgiảng dạy tiếng Việt và văn hóa Việt; Luận án đóng góp bảng từ và địnhnghĩa cho một số loại từ điển như từ điển phương ngữ và từ điển TNNN…

ở QN-ĐN

7.Kết ấu ủa luậ á

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận ángồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết

và bối cảnh nghiên cứu; Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ của từ ngữ nghềnghiệp ở Quảng Nam – Đà Nẵng; Chương 3: Đặc trưng văn hóa của từ ngữnghề nghiệp ở Quảng Nam – Đà Nẵng

Trang 5

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.1.1 Nghiên cứu về mặt lý thuyết

Quan điểm thứ nhất, TNNN là một lớp từ ngữ trong hệ thống ngôn

ngữ và nó xuất hiện trong những nghề truyền thống TNNN được đề cậpnhiều trong các công trình ngôn ngữ học đại cương, chẳng hạn như côngtrình của YU Xtêpanov (1984), Bonđaletov, IU.V Rozdextvenxki,

O.N.Trubachev (1966) Quan điểm thứ hai, TNNN được nghiên cứu trong

từ ngữ của những ngành nghề hiện đại, có áp dụng tiến bộ khoa học kỹthuật (TNNN bao gồm cả thuật ngữ) Vì thế, TNNN cũng được đề cậpnhiều trong nghiên cứu của Kenneth Hudson (1978) và Peter Bakker (2010)như là một bộ phận của phương ngữ xã hội, phân biệt với phương ngữ địa

lý, pidgins và creoles, tiếng lóng, từ vay mượn, …

1.1.1.2 Nghiên cứu về mặt thực tiễn

Nghiên cứu ứng dụng TNNN trong lĩnh vực từ điển học với quan điểmTNNN là một lớp từ ngữ thuộc hệ thống ngôn ngữ, Rosemarie Gläser(2000) nghiên cứu việc bổ sung TNNN vào từ điển chuyên ngành đã chorằng từ điển này trở nên đầy đủ và gần với thực tế giao tiếp hơn Cũng theo

xu hướng này, TNNN thường xuất hiện dưới dạng bảng từ/ từ điển chuyênmôn như: Từ điển giải thích từ ngữ máy tính, Từ điển từ ngữ ngữ giáo dục,

Từ điển từ ngữ quân sự,… Ngoài ra, TNNN còn được nghiên cứu theohướng ngôn ngữ học xã hội để phân tích nhân tố ảnh hưởng đến việc sửdụng TNNN giữa những người trong và ngoài nghề như ở các nghiên cứucủa Berman và cộng sự (2015), Marousek Ivan (2015), Thomas và cộng sự(2014), Lindholm và cộng sự (2012),… với kết quả: 1) không khuyến khích

sử dụng TNNN đối với người ngoài nghề để phá bỏ rào cản trong giao tiếp;2) khuyến khích sử dụng TNNN đối với người trong nghề để thể hiện tínhchuyên môn, tăng cường đoàn kết trong nhóm nhằm thực hiện giao tiếp cóhiệu quả nhất trong môi trường làm việc của mình

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.1.2.1 Nghiên cứu về mặt lý thuyết

Quan điểm thứ nhất, người ta xếp từ ngữ nghề nghiệp vào các lớp từ vựng

có phạm vi hạn chế về mặt xã hội khác như từ địa phương, tiếng lóng, thuật

Trang 6

4ngữ khoa học trong sự đối lập với ngôn ngữ toàn dân như công trình củaNguyễn Thiện Giáp (1998, 2005), Nguyễn Văn Khang (2012), Đỗ Hữu

Châu (1999), Hoàng Trọng Canh (2006, 2010, 2013)… Quan điểm thứ hai,

người ta xếp TNNN thuộc các lớp từ vựng có phong cách khẩu ngữ nhưcông trình của Nguyễn Văn Tu (1978), Thái Hòa (1981) Những công trìnhnày đã xem xét TNNN trên bình diện phạm vi hoạt động, phong cách chứcnăng, sắc thái thể hiện của chúng… Bên cạnh việc giới thiệu TNNN về mặt

lý thuyết trong các công trình nghiên cứu về từ vựng, Nguyễn Văn Khang

(2012) trong cuốn Ngôn ngữ học xã hội cũng đề cập tới TNNN như là một

phương ngữ xã hội trong sự phân biệt với biệt ngữ, uyển ngữ

1.1.2.2 Nghiên cứu về mặt thực tiễn

Những công trình nghiên cứu về TNNN ở Việt Nam thường đượcnghiên cứu trong hệ thống từ vựng với việc miêu tả TNNN Càng về sau,những nghiên cứu về TNNN ngày càng được bổ sung thêm những nội dungnghiên cứu khác như: môi trường hoạt động, cách định danh đơn vị ngônngữ như các công trình của Lê Văn Trường (2002), Phạm Tất Thắng(2005),… Ngoài ra, còn có khá nhiều các công trình được thực hiện theohướng ngôn ngữ - văn hóa như công trình của Lương Vĩnh An (2001), TrầnHoàng Anh (2017), Trịnh Phương Anh (2012), Hoàng Trọng Canh (2003,

2009, 2014), Nguyễn Chí Quang (2011), Nguyễn Thị Tâm Hạnh (2008)…Mặt khác, TNNN còn được nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ - tư duy nhưcông trình của Nguyễn Kỳ, Nguyễn Thị Bạch Nhạn (2006)… đã phân tíchđặc điểm ngữ nghĩa một số từ ngữ nghề nghiệp để thấy được cách tư duy,cách phạm trù hóa không gian, thời gian và các hiện tượng thiên nhiên củacộng đồng làm nghề trong quá trình lao động sản xuất

Có thể thấy, mỗi hướng nghiên cứu TNNN có những ưu điểm và hạnchế riêng Vì thế, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu mà nhà nghiên cứulựa chọn những quan điểm nghiên cứu, hướng nghiên cứu và phương phápnghiên cứu thích hợp Xuất phát từ mục đích bảo vệ và phát triển TNNN ởQN-ĐN trong bối cảnh hiện nay, luận án này phân tích TNNN trong hệthống ngôn ngữ và tiếp cận theo hướng ngôn ngữ – văn hóa

1.2.1 Khái quát về từ ngữ nghề nghiệp

1.2.1.1 Các quan điểm về từ ngữ nghề nghiệp

Nhìn chung các quan niệm đều cho rằng TNNN là một lớp từ vựng của

hệ thống ngôn ngữ, chẳng hạn như: quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp,

Trang 7

Đỗ Hữu Châu, Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, BùiMinh Toán … Ngoài ra, TNNN được nghiên cứu trên phạm vi hoạt động,phong cách chức năng và sắc thái thể hiện

1.2.1.2 Quan điểm của luận án về từ ngữ nghề nghiệp

Luận án này sử dụng quan điểm của Nguyễn Văn Khang và cộng sự vềkhái niệm TNNN: “Từ ngữ nghề nghiệp biểu thị toàn bộ quy trình sản xuất,công cụ, nguyên liệu, đối tượng lao động, ưu khuyết khi sản xuất cũng nhưthành phẩm, sản phẩm của một ngành nghề nào đó…; Từ ngữ nghề nghiệpđược dùng nhiều trong phong cách khẩu ngữ và có tính chất chuyên môn;Trong lớp từ ngữ này có nhiều từ ngữ được nhiều người biết đến vì tínhchất thông dụng, toàn dân của nó và ngược lại nhiều từ nghề nghiệp ngay cảngười trong nghề nếu không có chuyên môn sâu cũng khó có thể hiểuđược”

1.2.1.3 Vị trí của từ ngữ nghề nghiệp trong mối quan hệ với các lớp

từ vựng

Luận án này xuất phát từ quan điểm của logic học, xác định vị trí củaTNNN trong mối quan hệ với các lớp từ ngữ của tiếng Việt thông qua ngoại

diên của chúng Thứ nhất, mối quan hệ giữa từ vựng toàn dân và TNNN là

mối quan hệ trùng nhau, từ ngữ toàn dân là khái niệm loại, TNNN là khái

niệm chủng Thứ hai, mối quan hệ giữa từ ngữ địa phương và TNNN là mối

quan hệ trùng nhau, từ ngữ địa phương là khái niệm loại, TNNN là khái

niệm chủng Thứ ba, mối quan hệ thuật ngữ và TNNN là mối quan hệ trùng nhau và thuộc loại quan hệ giao nhau Thứ tư, mối quan hệ giữa biệt ngữ và

TNNN là mối quan hệ trùng nhau, biệt ngữ là khái niệm loại, TNNN là khái

niệm chủng Thứ năm, mối quan hệ giữa tiếng lóng và TNNN là mối quan

hệ trùng nhau và thuộc loại quan hệ giao nhau

1.2.2.Một số cơ sở lý luận sử dụng trong nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp

1.2.2.1 Quan điểm của luận án về các hình thức cấu tạo của từ ngữ

nghề nghiệp

Tiếp thu và kế thừa quan điểm của những nghiên cứu đi trước về từngữ tiếng Việt, luận án này thống nhất về hình thức cấu tạo của TNNN ởQN-ĐN như sau: Đối với những đơn vị cấu tạo là từ, chúng tôi phân loạitheo quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn: 1) Từ đơn; 2) Từ ghép (hay còn gọi là

từ phức, bao gồm từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ; 3) Từ láy/ dạngláy (hay còn gọi là từ láy âm) Đối với những đơn vị cấu tạo lớn hơn từ

Trang 8

6(cụm từ/ ngữ), chúng tôi phân loại theo quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp:1) Ngữ định danh; 2) Thành ngữ.

1.2.2.2 Quan điểm của luận án về nghĩa

Trong luận án này, chúng tôi sử dụng quan điểm về nghĩa của LêQuang Thiêm và xem xét nghĩa từ vựng của TNNN theo tiêu chí sau: 1) Xét

về cấu trúc ngữ nghĩa, nghĩa của từ không phải là một khối không thốngnhất mà là một tập hợp những thành phần ý nghĩa nhất định (bao gồm ýnghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái, trong đó ý nghĩabiểu thái không được thể hiện rõ); 2) Xét về mối liên hệ với SV, HT (nghĩacủa từ gồm nghĩa trực tiếp và nghĩa chuyển tiếp)

1.2.2.3 Quan điểm của luận án về nguồn gốc các yếu tố cấu tạo

Từ ngữ nghề nghiệp của ba nghề TCMN ở QN-ĐN được phân loạinhư sau: 1) Từ ngữ gốc Việt; 2) Từ ngữ gốc vay mượn; 3) Từ ngữ kết hợpgiữa gốc Việt và gốc vay mượn

1.2.2.4 Mối quan hệ giữa định danh và văn hóa

Luận án này sử dụng khái niệm định danh của G.V Cônsansky (1976)

và phân tích đặc điểm định danh dựa vào 2 tiêu chí: 1) Cấu trúc định danh(định danh đơn giản hay và định danh phức hợp); 2) Phương thức định danh(định danh gián tiếp và định danh trực tiếp)

1.2.2.5 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

Nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ với văn hóa thường được xemxét trên quan điểm nghiên cứu truyền thống và quan điểm nghiên cứu hiệnđại Dù trên quan điểm nào thì “mỗi ngôn ngữ tự thân là một hiện tượngvăn hóa” và mối tương quan giữa ngôn ngữ và văn hóa là vô cùng lớn, đượcthể hiện qua sự phân nhóm các phương ngữ (địa lý và xã hội), các nội dungvăn hóa, thói quen tư tưởng

1.3.1 Giới thiệu về Quảng Nam – Đà Nẵng

Trang 9

1.3.2 Một số nghề thủ công mỹ nghệ của người Việt ở Quảng Nam – Đà Nẵng

1.3.2.1 Vài nét về nghề thủ công mỹ nghệ

Qua tư liệu lịch sử cho thấy, nghề TCMN của người Việt ở QN-ĐN là

sự tiếp nối truyền thống từ các vùng châu thổ Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ Trongquá trình Nam tiến tại QN-ĐN, người Việt đã có sự thích ứng với điều kiện

tự nhiên - văn hóa của cư dân bản địa, hình thành và phát triển nên các nghềTCMN truyền thống như nghề làm gốm Nam Diêu, nghề chạm khắc đá NonNước và nghề làm lồng đèn Hội An

1.3.2.2 Nghề làm gốm Nam Diêu, Thanh Hà, Hội An

Nghề làm gốm ở ấp/ làng Nam Diêu, Thanh Hà, Hội An, Quảng Nam,nơi gần với các địa điểm có trữ lượng đất sét lớn, có vị trí có giao thôngđường thủy thuận tiện, phục vụ nhu cầu dân sinh và phát triển du lịch ở địaphương

1.3.2.3 Nghề chạm khắc đá Non Nước, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng

Nghề chạm khắc đá Non Nước có lịch sử lâu đời ở phường Hòa Hải,quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng Nghề được hình thành và pháttriển gần cụm núi đá vôi và có vị trí giao thông thuận lợi, phục vụ nhu cầudân sinh và phát triển du lịch ở địa phương

1.3.2.4 Nghề làm lồng đèn Hội An, Quảng Nam

Nghề làm lồng đèn có truyền thống lâu đời tại ở Hội An, Quảng Nam– thương cảng quan trọng ở xứ Đàng Trong trong những thế kỷ trước, nơi

có nhiều tộc người cùng sinh sống và buôn bán như người Việt, người NhậtBản, người Hà Lan, người Trung Quốc nên sản phẩm của người Việt vừamang tính truyền thống, vừa mang tính giao lưu, tiếp biến văn hóa ở QN-ĐN

Trang 10

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TỪ NGỮ NGHỀ NGHIỆP

Ngoài ý nghĩa biểu thái không được thể hiện rõ trong TNNN, ý nghĩa

biểu vật của các nhóm từ ngữ cho thấy sự khác biệt của các nhóm đối tượng

được biểu thị và sự khác biệt về tiêu chí phân loại trong mỗi nhóm từ ngữ

Trong khi đó, ý nghĩa biểu niệm của TNNN được mô hình hóa theo cấu trúc

như sau: Y ± X (n) Trong đó, Y là nét nghĩa chỉ loại; X là nét nghĩa chi tiết,

bổ sung thông tin cho nét nghĩa chỉ loại; n là số lượng các nét nghĩa, n càng

lớn thì nhận thức về đối tượng càng nhiều

2.2.2.2 Nghĩa trong mối quan hệ với đối tượng mà từ biểu thị

Trong TNNN nghề làm gốm, nghĩa trực tiếp biểu thị những đối tượng

khác nhau trong nghề như công cụ, nguyên liệu, sản phẩm, … Ngoài ra,

nghĩa trực tiếp của TNNN nghề làm gốm còn là sự tổng hợp nghĩa của các

yếu tố thành phần, chẳng hạn như: sửa nguội, thợ đốt lò Trong khi đó,

nghĩa chuyển tiếp của TNNN được phái sinh qua phương thức ẩn dụ/ hoán

dụ nghĩa của từ, như trường hợp: miệng lò, cửa hông Đồng thời nghĩa

chuyển tiếp còn được phái sinh trên cơ sở mở rộng nghĩa của từ, chẳng hạn

như các trường hợp rấm, rang, sống hoặc chuyển nghĩa khi công dụng

Trang 11

của đối tượng biểu thị thay đổi như trường hợp sò vốn là một loài sinh vật

biển, thường được sử dụng như một loại thực phẩm nhưng được sử dụngtrong nghề như là một dụng cụ dùng để tạo hình sản phẩm gốm

2.2.3 Đặc điểm nguồn gốc yếu tố cấu tạo

Trang 12

2.2.5.2 Phương thức định danh

Từ ngữ nghề làm gốm có phương thức định danh trực tiếp có sốlượng lớn (chiếm 85.5%), với 11 đặc điểm định danh nhưng chủ yếu lànhững đặc trưng định danh ngoài bản thể như công dụng, chức năng….Trong khi đó, TNNN nghề làm gốm có phương thức định danh gián tiếpchiếm số lượng ít

 Đối với TNNN có cấu tạo là ngữ, chúng tôi sử dụng từ loại của thành tố trung tâm.

Trang 13

10(chiếm 14.5%), được thể hiện qua phương thức ẩn dụ/ hoán dụ, chẳng hạn

như các trường hợp: rấm (đất), rang (đất), đồ sống (đồ gốm chưa nung)…

Trong cấu trúc ngữ nghĩa của TNNN, ý nghĩa biểu thái thường không

thể hiện rõ, ý nghĩa biểu vật của các nhóm từ ngữ trong TNNN nghề chạm

khắc đá cho thấy sự khác biệt của những nhóm đối tượng được biểu thị

trong nghề như công cụ, nguyên liệu, thao tác/ công đoạn và sự khác biệt

về tiêu chí phân biệt đối tượng trong nghề Mặt khác, ý nghĩa biểu vật cho

thấy tính ổn định tương đối của TNNN nghề chạm khắc đá khi còn lưu lại

những từ ngữ hiện không/ ít được sử dụng độc lập trong tiếng Việt hiện đại

Trong khi đó, ý nghĩa biểu niệm của TNNN nghề chạm khắc đá được mô

hình hóa theo cấu trúc sau: Y ± X (n) Trong đó, Y là nét nghĩa chỉ loại; X

là nét nghĩa chi tiết, bổ sung thông tin cho nét nghĩa chỉ loại; n là số lượng

các nét nghĩa, n càng lớn thì nhận thức về đối tượng càng nhiều.

2.3.2.2 Nghĩa trong mối quan hệ với đối tượng mà từ biểu thị

Nghĩa trực tiếp của TNNN nghề chạm khắc đá biểu thị những đối

tượng khác nhau trong nghề như công cụ, nguyên liệu, … Đồng thời, nghĩa

trực tiếp của TNNN nghề chạm khắc đá còn là sự tổng hợp nghĩa của các

yếu tố thành phần, chẳng hạn như: phá phôi, máy cà giấy nhám Trong khi

đó, nghĩa chuyển tiếp của TNNN nghề chạm khắc đá được phái sinh trên cơ

sở ẩn dụ/ hoán dụ nghĩa của từ, chẳng hạn như: gân đá, xuống lòng và

Trang 14

được phái sinh dựa vào phương thức mở rộng – thu hẹp nghĩa của từ, chẳng

hạn như: cây (đá tròn)… (nghĩa của từ ngữ này vốn thuộc lĩnh vực nông

nghiệp được chuyển sang nghĩa của từ ngữ biểu thị đối tượng trong nghề

Sau khi loại 07 từ ngữ là từ láy, từ ngẫu hợp; chúng tôi phân tích đặc

điểm định danh TNNN nghề chạm khắc đá trên số lượng 179 từ ngữ

Bả

đị

1

Trang 15

2.

Trang 16

2.2.5.2 Phương thức định danh

Từ ngữ nghề chạm khắc đá có phương thức định danh trực tiếp chiếm

số lượng lớn (83.7%) với 11 đặc điểm định danh, trong đó đặc trưng định

danh thuộc bản thể chiếm số lượng lớn (61.1%), chẳng hạn: đá đen, đục

thẳng… Trong khi đó, TNNN nghề chạm khắc đá có phương thức định danh

gián tiếp chiếm số lượng nhỏ (16.3%), được định danh theo phương thức ẩndụ/ hoán dụ những thuộc tính của bộ phận cơ thể người và động vật, chẳng

hạn như các trường hợp xuống lòng, gân đá…

hình hóa theo cấu trúc: Y ± X (n) Trong đó, Y là nét nghĩa chỉ loại; X là nét nghĩa chi tiết, bổ sung thông tin cho nét nghĩa chỉ loại; n là số lượng các nét nghĩa, n càng lớn thì nhận thức về đối tượng càng nhiều.

2.4.2.2 Nghĩa trong mối quan hệ với đối tượng mà từ biểu thị

Nghĩa trực tiếp trong TNNN nghề làm lồng đèn biểu thị đối tượngkhác nhau trong nghề thông qua ý nghĩa biểu vật Ngoài ra, nghĩa trực tiếp

Ngày đăng: 04/10/2019, 20:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w