Chúng tôi hi vọng rằng các kết quả nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo, định danh của thuật ngữ Đông y trong tiếng Việt sẽ trở thành nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy ng
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN CHI LÊ
ĐẶC ĐIỂM THUẬT NGỮ ĐÔNG Y
Trang 2
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỘI VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Phạm Ngọc Hàm
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2019
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam;
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Nghiên cứu hệ thuật ngữ khoa học nhằm hệ thống hóa và chuẩn hóa
hệ thống thuật ngữ của một ngành khoa học là cần thiết, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế - bối cảnh xã hội đòi hỏi các ngành khoa học cần có các
hệ thuật ngữ mang tính hiện đại, phù hợp với thực tiễn phát triển của khoa học
và các hệ thống thuật ngữ chuẩn quốc tế Nghiên cứu, xây dựng hệ thống thuật ngữ và biên soạn, xuất bản các từ điển thuật ngữ chuyên ngành đang là nhu cầu cần thiết trong xu thế phát triển mạnh mẽ của tất cả các ngành khoa học trên thế giới, trong đó có Việt Nam Kết quả nghiên cứu hệ thống thuật ngữ của các chuyên ngành cụ thể sẽ góp phần thiết thực vào việc phát triển khoa học, kĩ thuật và công nghệ của đất nước
1.2 Thuật ngữ Đông y là một trong những thuật ngữ quan trọng của hệ thống từ vựng trong ngôn ngữ, được con người nhận thức và sử dụng từ rất sớm Chúng có số lượng lớn, phản ánh quá trình nhân loại tự tìm các loại thảo dược từ phổ thông đến quý hiếm, các phương pháp chẩn đoán bệnh và khám chữa bệnh cho bản thân, cho cộng đồng từ đơn giản đến phức tạp Qua đó, thuật ngữ Đông y cũng đã phản ánh rõ nét những đặc trưng văn hóa dân tộc và
sự biến đổi nghĩa phong phú, đa dạng Nghiên cứu hệ thống thuật ngữ Đông y của các quốc gia có nền y học cổ truyền phát triển là một việc làm không chỉ có giá trị về mặt ngôn ngữ học mà nó còn có ý nghĩa to lớn trong việc tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc của các quốc gia đó
Tuy nhiên, dưới góc độ ngôn ngữ học, thuật ngữ Đông y chưa thực sự được giới chuyên môn quan tâm, chú ý Việc khảo sát một cách chuyên sâu, có
hệ thống và toàn diện thuật ngữ Đông y trong tiếng Việt vẫn còn là một khoảng trống lớn bị bỏ ngỏ
Chính vì những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn “Đặc điểm thuật ngữ Đông y tiếng Việt” làm đề tài nghiên cứu của mình Chúng tôi hi vọng rằng các kết quả nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo, định danh của thuật ngữ Đông y trong tiếng Việt sẽ trở thành nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy ngoại ngữ chuyên ngành, biên soạn từ điển chuyên ngành, cũng như góp phần vào việc biên soạn sách giáo khoa, tài liệu tham khảo về ngoại ngữ chuyên ngành y dược học cổ truyền
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 2.1 Mục đích nghiên cứu:
Trang 4Mục đích nghiên cứu của luận án là thông qua khảo sát, miêu tả, phân tích các thuật ngữ Đông y tiếng Việt, nhằm làm sáng tỏ đặc trưng về phương diện cấu tạo và định danh của hệ thống thuật ngữ này Với kết quả nghiên cứu đạt được, luận án góp phần cho công tác biên soạn giáo trình tiếng Trung chuyên ngành y học cổ truyền cũng như xây dựng từ điển Đông y, đặc biệt là công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập và dịch thuật trong lĩnh vực y học cổ truyền Việt Nam hiện nay đạt hiệu quả cao hơn
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nhiệm vụ của luận án bao gồm:a Tổng quan tình hình nghiên cứu về thuật ngữ trên thế giới, đặc biệt là nghiên cứu về thuật ngữ Trung y ở Trung Quốc và thuật ngữ Đông y ở Việt Nam, xác lập khung lý thuyết cho luận án; b.Khảo sát, thống kê, phân loại thuật ngữ Đông y tiếng Việt; tìm hiểu đặc điểm cấu tạo thuật ngữ Đông y gồm: nhận diện thuật ngữ, miêu tả và phân tích các
mô hình cấu tạo của thuật ngữ; c Chỉ ra đặc điểm định danh của thuật ngữ Đông y tiếng Việt về các mặt: cách thức biểu thị, đặc điểm phân định nội dung biểu đạt theo tính chuyên môn làm cơ sở định danh của hệ thuật ngữ
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các thuật ngữ Đông y trong tiếng Việt hiện đại Chúng tôi quan niệm thuật ngữ Đông y là những từ, ngữ bao gồm cụm từ cố định biểu đạt các khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực y học cổ
truyền Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Luận án chỉ tập trung nghiên cứu đặc điểm thuật ngữ Đông y tiếng Việt trên các phương diện: đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa và phương thức định danh Trong giới hạn của phạm vi nghiên cứu này, luận án hướng tới việc
đưa ra khung nghiên cứu tổng quát về hệ thuật ngữ Đông y tiếng Việt
3.3 Tư liệu nghiên cứu của luận án
Tư liệu của luận án là 8061 thuật ngữ được thu thập chủ yếu từ các cuốn
từ điển, giáo trình và tài liệu chuyên ngành
4 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
Trang 5Để giải quyết các nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu đã đặt ra, luận án sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp miêu tả để miêu tả các đặc điểm về cấu trúc hình thức,
con đường hình thành, đặc điểm ngữ nghĩa của hệ thống thuật ngữ Đông y tiếng Việt
- Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp để xác định và phân tích đơn
vị cơ sở cấu tạo thuật ngữ, phục vụ cho việc tìm hiểu đặc điểm của thuật ngữ Đông y trên phương diện cấu tạo
- Phương pháp phân tích thành tố nghĩa được áp dụng để tìm hiểu các
đặc điểm của thuật ngữ Đông y tiếng Việt về mặt định danh, từ đó xây dựng các mô hình định danh thuật ngữ, các đặc trưng làm cơ sở định danh của hệ thuật ngữ này
- Thủ pháp thống kê để thu thập tư liệu từ các nguồn khác nhau Trên cơ
sở đó, luận án tiến hành hệ thống hóa, phân loại tư liệu và xây dựng các sơ đồ, bảng biểu, v.v…Từ đó, dựa vào dữ liệu thống kê về số lượng thuật ngữ, thành
tố cấu tạo, tần số, tần suất xuất hiện, tỉ lệ phần trăm của hệ thuật ngữ, để làm cơ
sở cho những miêu tả, phân tích, nhận xét, đánh giá và kết luận của luận án
5 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN
Luận án này là công trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu, khảo sát và phân tích một cách hệ thống và tổng thể về đặc điểm cấu tạo, con đường hình thành, phương thức, đặc trưng định danh và nét khác biệt về đặc trưng định danh của thuật ngữ Đông y tiếng Việt Dựa vào kết quả nghiên cứu đạt được, luận án sẽ giúp cho các giảng viên giảng dạy chuyên ngành, các giảng viên giảng dạy ngoại ngữ chuyên ngành, những người làm công tác biên soạn giáo trình, từ điển, các học sinh – sinh viên chuyên ngành y học cổ truyền…có được một cái nhìn tổng quát về thuật ngữ Đông y tiếng Việt
6 Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án sẽ trở thành cầu nối tri thức ngôn ngữ học với tri thức khoa học của ngành y dược học cổ truyền, do vậy sẽ đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu cấp
Trang 6thiết của các nhà chuyên môn, các nhà khoa học và người sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp trong công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu và công tác khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, biên phiên dịch, biên soạn giáo trình chuyên ngành y dược học và giảng dạy chuyên ngành y học cổ truyền ở nước ta Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa thiết thực cho việc định hướng để xây dựng, biên saonj và chỉnh lý các thuật ngữ Đông y trong giáo trình, sách giáo khoa và từ điển chuyên ngành; là cơ sở khoa học, khách quan để đề xuất lựa chọn, chuẩn hóa và phát triển hệ thuật ngữ Đông y tiềng Việt nói riêng, cũng như sự phát triển ngành y học cổ truyền Việt Nam nói chung
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình đã công bố liên
quan đến luận án, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án có kết cấu gồm ba
chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của
đề tài; Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ Đông y tiếng Việt; Chương 3: Đặc điểm định danh của thuật ngữ Đông y tiếng Việt
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới
Từ thế kỷ XVIII, các hoạt động liên quan đến thuật ngữ đã bắt đầu manh nha, với các nghiên cứu tập trung chủ yếu về việc xây dựng và xác định các nguyên tắc cho một số hệ thuật ngữ đặc biệt Mặc dù vấn đề thuật ngữ đã được quan tâm từ rất lâu, tuy nhiên phải tới thế kỷ XX, thuật ngữ học mới thực sự được khẳng định như một ngành khoa học Các vấn đề về thuật ngữ khoa học chỉ thực sự được bàn đến từ những năm 30 của thế kỷ XX khi hai trung tâm nghiên cứu thuật ngữ lớn ra đời (trung tâm thứ nhất đặt tại Áo, trung tâm thứ hai đặt tại Liên Xô cũ) với mục đích chỉnh lý những thuật ngữ hiện có và xây dựng các thuật ngữ mới Trung tâm thuật ngữ học Xô Viết gắn liền với tên tuổi của các nhà khoa học nổi tiếng, như: D.S.Lotte, V.V.Vinogradov, A.I.Moiseev, A.A Reformatskij, V.P Danilenko, A.C Gerd, S.I Corsunop, T.L Kandelaki, G.O Vinokur, v.v Những nghiên cứu của họ đi sâu vào phân tích bản chất, chức năng, mối quan hệ của thuật ngữ với các khái niệm, định nghĩa và tiêu chuẩn của thuật ngữ Tại Trung tâm thuật ngữ học ở Áo, khi nghiên cứu các thuật ngữ, È Vjuster – người đứng đầu trung tâm đã nhấn mạnh đến tầm quan
Trang 7trọng của việc đưa ra các nguyên tắc thuật ngữ khoa học và từ điển học Bên cạnh đó, nói đến thuật ngữ học còn phải kể đến các nhà thuật ngữ học Âu – Mỹ như E.Wuster (Đức), R.W Brown (Mỹ), W.E Flood (Mỹ), J.C Segen (Mỹ), J.C.Boulanger (Anh) Các nhà thuật ngữ này nghiên cứu thuật ngữ dưới góc độ khái niệm hay định nghĩa
1.1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam
Tuy xuất hiện khá muộn, nhưng thuật ngữ tiếng Việt đã trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau cùng với những lĩnh vực nghiên cứu về thuật ngữ khác nhau Trải qua hơn nửa thế kỷ, thuật ngữ tiếng Việt đã phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ, có sự thay đổi không những về số lượng, mà cả về chất lượng, không chỉ về hình thức mà cả về nội dung Tùy từng giai đoạn lịch sử, tùy hoàn cảnh xã hội mà thuật ngữ của từng ngành có sự phát triển khác nhau
Về cơ bản, thuật ngữ Việt Nam đã có định hướng phát triển đúng, dần dần đã đi vào con đường khoa học, dân tộc, đại chúng, góp phần cho từ vựng tiếng Việt thêm phong phú
1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ Đông y
1.2.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ Trung y ở Trung Quốc:
Trung y học có lịch sử lâu đời Từ đời Tần, đời Hán, các tác phẩm Trung
y kinh điển như “Hoàng đế nội kinh”, “Thần Nông bản thảo kinh”, “Thương hàn tạp luận bệnh luận”… đã tạo nên hệ thống khái niệm Trung y học về sinh
lý cơ thể người, nguyên nhân bệnh, cơ chế bệnh, chẩn đoán, cách chữa bệnh, phương dược và dưỡng sinh…, đồng thời cũng đã xây dựng một hệ thống thuật ngữ Trung y, đặt nền móng cho hệ thống lý luận Trung y học
Từ sau năm 1949, Đảng và Chính phủ Trung Quốc rất chú trọng công tác Trung y dược, đặc biệt là sau khi Chủ tịch nước Mao Trạch Đông có nhận định sáng suốt về “y dược học Trung Quốc là một kho báu vĩ đại, phải cố gắng phát huy, tăng cường đề cao”, sự nghiệp Trung y dược phát triển mạnh mẽ, công tác chuẩn hoá thuật ngữ danh từ Trung y dược cũng không ngừng phát triển Công tác chuẩn hoá thuật ngữ danh từ Trung y dược từ sau năm 1949 chủ yếu được triển khai trên 3 phương diện: Một là tổ chức biên soạn giáo trình Trung y giảng dạy trong các trường đại học cả nước; Hai là biên soạn và xuất bản các loại sách công cụ như: từ điển, bách khoa toàn thư; Ba là tiến hành nghiên cứu chuẩn hoá thuật ngữ danh từ Trung y dược, xây dựng tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn quốc gia về thuật ngữ Trung y
Về phương diện ngôn ngữ, Trung y hiện đại dùng ngôn ngữ hiện đại để trần thuật Trung y Ngôn ngữ hiện đại bao gồm ngôn ngữ khoa học tự nhiên, khoa học xã hội hiện đại và triết học đương đại, dùng lời nói hiện đại để biểu đạt,
để có thể đối thoại với khoa học chủ lưu đương đại, thể hiện trình độ khoa học hiện đại, phục vụ tốt hơn nữa công tác khám - chữa bệnh cho con người Quá trình hiện đại hoá Trung y cần có sự tham gia của nhiều ngành khoa học, cần có
Trang 8sự góp phần của công nghệ kỹ thuật hiện đại, trong đó thuật ngữ trung y với những khái niệm rõ ràng, chuẩn hoá, thống nhất có vị trí quan trọng hàng đầu Hơn chục năm lại đây, những nghiên cứu về thuật ngữ Trung y ở Trung Quốc tương đối nhiều, thường tập trung vào các vấn đề sau: 1) Nghiên cứu dịch thuật thuật ngữ Trung y; 2) Xây dựng kho dữ liệu thuật ngữ Trung y; 3) Mở rộng và phát triển ngữ nghĩa; 4) Chú trọng công tác giảng dạy Hán ngữ Trung y; 5) Coi trọng công tác giảng dạy Hán ngữ Trung y; 6) Coi trọng công tác chuẩn hóa thuật ngữ Trung y dược; 7) Phương pháp nghiên cứu thuật ngữ Trung y
1.2.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ Đông y ở Việt Nam:
Ở Việt Nam hiện nay, có rất ít công trình nghiên cứu đề cập đến thuật ngữ Đông y tiếng Việt và chưa có công trình nghiên cứu khoa học độc lập, chuyên sâu về hệ thống thuật ngữ Đông y tiếng Việt
1.3 Một số vấn đề về lý thuyết liên quan đến đề tài
1.3.1 Lý thuyết về thuật ngữ
1.3.1.1 Khái niệm về thuật ngữ
Khuynh hướng thứ nhất, thuật ngữ được xem xét trong mối quan hệ với khái niệm: “Thuật ngữ là những từ ngữ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ” Khuynh hướng thứ hai, thuật ngữ được xem xét trên cơ sở dựa vào chức năng của chúng: “Thuật ngữ là một đơn vị từ vựng – ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi các đặc trưng như tính hệ
thống, tính đơn nghĩa” Nhìn chung, các nhà khoa học đều cho rằng, thuật ngữ là
những từ ngữ của ngôn ngữ chuyên môn để biểu thị các khái niệm chuyên môn
và chỉ tên các đối tượng, sự vật, hiện tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn
1.3.1.2 Vai trò của thuật ngữ trong hệ thống ngôn ngữ
Thuật ngữ được xác định là một bộ phận của từ vựng, là một hệ thống có tính độc lập, chúng là đối tượng của thuật ngữ học, một ngành khoa học có vị trí
riêng, được công nhận trên thế giới
1.3.1.3 Đặc điểm của thuật ngữ
Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học đi trước, luận án cho rằng,
các tiêu chuẩn của thuật ngữ nói chung gồm tính chính xác, tính hệ thống, tính
quốc tế, tính đại chúng, tính dân tộc, tính ngắn gọn Nhưng đối với thuật ngữ
Đông y, chúng tôi nhận thấy tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế chiếm
ưu thế, và là tiêu chuẩn quan trọng và cần thiết nhất Do nền y học cổ truyền của Trung Quốc có sự ảnh hưởng lớn tới các nước trong khu vực Châu Á như
Việt Nam, Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật Bản,… nên tính quốc tế (tính khu vực)
trong thuật ngữ Đông y được thể hiện rất rõ nét trong lý luận cơ bản Đông y, chẩn đoán bệnh, điều trị bệnh và châm cứu – huyệt vị Các tiêu chuẩn còn lại
như tính dân tộc, tính đại chúng được thấy phần lớn trong nhóm thuật ngữ đông dược và phương tễ Tính ngắn gọn là tiêu chuẩn cần, nhưng không nhất
Trang 9thiết phải có, và thuật ngữ đáp ứng được những tiêu chuẩn này được bao nhiêu
thì càng tốt bấy nhiêu
1.3.1.4 Thuật ngữ và một số lớp từ vựng liên quan
Khi xác định khái niệm thuật ngữ, các nhà ngôn ngữ học đã có sự phân biệt thuật ngữ với một số khái niệm liên quan Có thể kể đến sự phân biệt thuật ngữ với các khái niệm liên quan chủ yếu sau: a) Phân biệt thuật ngữ và danh pháp; b) Phân biệt thuật ngữ và từ nghề nghiệp; c) Phân biệt thuật ngữ và từ ngữ thông thường
1.3.1.5 Hệ thống thuật ngữ Đông y tiếng Việt
Thuật ngữ Đông y tiếng Việt là một vấn đề rất mới và vẫn còn đang trên con đường hình thành Hiện nay, hệ thuật ngữ này chưa được nghiên cứu chuyên sâu về mặt lý luận Để đưa ra khái niệm thuật ngữ Đông y, trước tiên
chúng ta cần hiểu được nội dung cơ bản của ngành này Đông y là y học cổ
truyền phương Đông, nghiên cứu về lý luận y học cổ truyền, đông dược, phương tễ, châm cứu – huyệt vị, các chuyên khoa lâm sàng, lịch sử y học và văn hiến y tịch…Dựa trên cơ sở lý thuyết về thuật ngữ và nội dung cơ bản của
Đông y , luận án cho rằng, thuật ngữ Đông y tiếng Việt là từ ngữ của ngành y học
cổ truyền để biểu đạt các khái niệm hoặc các đối tượng, sự vật, hiện tượng, nguyên nhân, triệu chứng thuộc lĩnh vực Đông y Hệ thuật ngữ Đông y tiếng Việt bao gồm thuật ngữ thuộc các lĩnh vực chuyên môn sâu, như: lý luận y học cổ truyền, chẩn đoán học, bệnh học, điều trị học, châm cứu – huyệt vị, Đông dược
và phương tễ
1.3.2 Lý thuyết về cấu tạo và phương thức cấu tạo từ,ngữ
1.3.2.1 Quan niệm về từ và các kiểu cấu tạo từ
a Quan niệm về từ
Cho đến nay, những bàn luận và các quan niệm khác nhau về “từ” vẫn còn tiếp diễn và chưa có sự thống nhất, do vậy luận án cũng không đi sâu vào luận bàn định nghĩa về “từ” Trong luận án này, chúng tôi chọn quan điểm của tác giả Nguyễn Tài Cẩn về từ trong tiếng Việt để làm cơ sở xác định thuật ngữ
Đông y: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có thể vận dụng độc lập ở trong câu”
b Các kiểu cấu tạo từ
Về các kiểu cấu tạo “từ”, vì chưa có sự thống nhất trong giới chuyên môn, nên chúng tôi chọn quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn để tiến hành khảo sát
hệ thuật ngữ Đông y trong tiếng Việt Theo tác giả Nguyễn Tài Cẩn, dựa vào số lượng tiếng, từ tiếng Việt có từ đơn và từ ghép
Dựa trên cơ sở lý thuyết, từ là đơn vị có kết cấu chặt chẽ, còn ngữ (trừ thành ngữ) thì thường có kết cấu lỏng lẻo Nhưng trong thực tế, từ và ngữ định danh đều gọi tên một đối tượng, tạo nên nghĩa biệt loại với mục đích khu biệt với cá thể khác cùng loại, nó có tính chỉnh thể định danh về nghĩa Chính vì điều này mà việc phân biệt từ với ngữ định danh là vấn đề rất phức tạp, khó khăn và dễ nhầm lẫn Do vậy, trong giới hạn của luận án, chúng tôi không đi
Trang 10sâu để bàn luận về ranh giới giữa từ và ngữmà chúng tôi dựa vào cách phân loại, sắp xếp của từ điển Tựu chung lại, về bậc “từ”, sẽ có bốn loại kiểu cấu tạo: từ đơn, từ ghép (ghép chính phụ và ghép đẳng lập), từ láy và từ ngẫu hợp
c Thành tố cấu tạo thuật ngữ là từ
* Thành tố cơ sở
Từ quan niệm của tác giả Nguyễn Tài Cẩn, chúng tôi quan niệm mỗi
“tiếng” là một thành tố cơ sở của thuật ngữ ở cấp độ từ
“Tiếng” hay thành tố cơ sở có hai loại Loại thành tố cơ sở thứ nhất là
những thành tố không độc lập (bổ,ích, tư, phế, dưỡng, huyết,…) Ví dụ: bổ ích,
tư phế, dưỡng huyết… Những thuật ngữ này được cấu tạo bởi hai thành tố cơ
sở, mỗi thành tố cơ sở đều có nghĩa hoặc bị mờ nghĩa nhưng không có khả năng hoạt động độc lập Chúng thường có nguồn gốc Hán hoặc thuần Việt nhưng là từ cổ Loại thành tố cơ sở thứ hai có khả năng hoạt động độc lập với
tư cách như từ đơn Ví dụ: thuốc, chích, chua, cay, đau, rêu, lưỡi , ……
*Thành tố trực tiếp
Khái niệm thành tố trực tiếp được tác giả Nguyễn Tài Cẩn nêu lên trong
cuốn Ngữ pháp tiếng Việt: tiếng -từ ghép -đoản ngữ Ông cho rằng “Thành tố
trực tiếp của một tổ hợp là những bộ phận mà ta tìm ra ngay sau bước phân tích đầu tiên Cũng có thể nói ngược lại, nếu đi theo xu hướng tổng hợp: thành tố trực tiếp là những bộ phận mà ta dùng trong bước tổng hợp cuối cùng để tạo ra ngay tổ hợp” Luận án vận dụng quan niệm của tác giả Nguyễn Tài Cẩn về “tiếng” và
“thành tố trực tiếp” trong phân tích phương thức cấu tạo từ (từ ghép và từ láy)
d Mô hình cấu tạo từ
Luận án sử dụng quan niệm của tác giả Lê Quang Thiêm làm định hướng của luận án Theo đó, “mô hình cấu tạo là cái khuôn đúc mà có thể đưa vào những loại chất liệu, từ đó để tạo ra hàng loạt các đơn vị khác nhau” Như
vậy, ngoại trừ từ đơn (đơn vị chỉ có 1 âm tiết), căn cứ vào tiêu chí độc lập - không
độc lập, có nghĩa hay không có nghĩa của các yếu tố tham gia cấu tạo từ (hình vị - tiếng), chúng ta có ba kiểu mô hình cấu tạo từ trong tiếng Việt là:
Kiểu mô hình 1: Thành tố độc lập (A) - Thành tố độc lập (A)
Kiểu mô hình 2: Thành tố độc lập (A) - Thành tố không độc lập (B)
Hoặc Thành tố không độc lập (B) - Thành tố độc lập (A) Kiểu mô hình 3: Thành tố không độc lập (B) - Thành tố không độc lập (B) Trong luận án, chúng tôi áp dụng lý thuyết về cấu tạo từ dựa vào tiêu chí độc lập - không độc lập của các yếu tố tham gia cấu tạo từ như trên để phân tích
mô hình cấu tạo thuật ngữ là từ
1.3.2.2.Quan niệm về ngữ và các kiểu cấu tạo ngữ
a Quan niệm về ngữ
Hiện nay, quan niệm về ngữ cũng chưa thực sự thống nhất Thay vì bàn luận phân tích sâu về khái niệm ngữ, chúng tôi chọn quan niệm của tác Nguyễn Tài Cẩn trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt: tiếng -từ ghép -đoản ngữ Ông cho
Trang 11rằng “đoản ngữ là một tổ hợp từ tự do có ba đặc điểm: a) Nó gồm một thành tố trung tâm và một hay một số thành tố phụ quây quần xung quanh trung tâm đó để bổ sung thêm một số chi tiết thứ yếu về mặt ý nghĩa; b) Quan hệ giữa trung tâm và thành tố phụ có nhiều kiểu loại chi tiết rất khác nhau, nhưng nói chung đều thuộc vào loại quan hệ chính phụ; c) Toàn đoản ngữ có tổ chức phức tạp hơn, có ý nghĩa đầy đủ hơn một mình trung tâm nhưng nó vẫn giữ được các đặc điểm ngữ pháp của trung tâm” Do yêu cầu định danh (gọi tên) sự vật, biểu thị các
khái niệm mới, từ không đủ để thực hiện chức năng này, vì vậy, ngữ xuất hiện Thậm chí, ngữ còn có thể định danh một cách rõ ràng hơn, chính xác hơn từ
b Các kiểu mô hình cấu tạo ngữ
Cũng theo quan niệm của tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong cuốn Ngữ pháp
tiếng Việt: tiếng - từ ghép - đoản ngữ, tiếng Việt có ba loại ngữ tự do phổ biến
là danh ngữ, động ngữ và tính ngữ Từ tư liệu khảo sát của luận án, thuật ngữ Đông y tiếng Việt cũng có ba loại như trên
c Đơn vị cơ sở cấu tạo thuật ngữ là cụm từ (ngữ định danh)
Thuật ngữ là từ, ngữ biểu đạt chính xác khái niệm/ đối tượng của một lĩnh vực khoa học hoặc chuyên môn nhất định Cũng giống như các đơn vị từ vựng khác, thuật ngữ được cấu tạo bởi những đơn vị nhất định Đối với thuật ngữ là ngữ định danh, xuất phát từ thực tế tư liệu thu thập được, luận án vẫn quy ước tên gọi đơn vị cấu tạo thuật ngữ là thành tố (bao gồm thành tố trực tiếp và thành tố cơ sở) Thành tố cấu tạo nên thuật ngữ là ngữ định danh có chức năng biểu thị một khái niệm/ đối tượng hoàn chỉnh hoặc có thể biểu thị khái niệm bộ phận hay đặc trưng của khái niệm/ đối tượng được phản ánh trong mỗi thuật ngữ
và mỗi thành tố đó là đơn vị cấu tạo trực tiếp cuối cùng của thuật ngữ Với chức năng như vậy, mỗi thành tố tham gia vào cấu tạo của thuật ngữ là ngữ định danh nói chung, thuật ngữ Đông y là ngữ định danh nói riêng phải có ý nghĩa từ vựng Luận án vận dụng quan điểm trên trong quá trình thu thập, khảo sát,
phân tích cấu tạo thuật ngữ Đông y Và như vậy, thuật ngữ Đông y chứng trạng
do 1 thành tố cấu tạo; thuật ngữ Đông y biện chứng luận trị do 2 thành tố cấu tạo đó là: biện chứng và luận trị; thuật ngữ Đông y bệnh can thụ nhiệt biểu
nhiệt do 3 thành tố cấu tạo đó là: bệnh can, thụ nhiệt và biểu nhiệt Về nội dung
ý nghĩa, thành tố của thuật ngữ Đông y trong tiếng Việt có thể biểu thị khái niệm loại, khái niệm bộ phận hay đặc trưng, tính chất, trạng thái, động tác, nguyên nhân, cơ chế hoạt động, v.v… của đối tượng, hiện tượng được thuật ngữ định danh
1.3.3 Lý thuyết về định danh
1.3.3.1 Khái niệm định danh
Hiểu một cách đơn giản nhất thì đây chính là chức năng gọi tên những
đối tượng, thuộc tính hoặc những hoạt động của sự vật, hiện tượng…
1.3.3.2 Đơn vị định danh
Trang 12Nhìn từ số lượng đơn vị có nghĩa tham gia đơn vị định danh thì có sự phân biệt: Định danh đơn giản (định danh tổng hợp): được tạo bởi một đơn vị
có nghĩa; Định danh phức hợp (định danh phân tích, miêu tả): được tạo bởi từ hai đơn vị có nghĩa trở lên Luận án sử dụng khái niệm đơn vị định danh đơn giản và đơn vị định danh phức hợp để phân biệt các thuật ngữ Đông y với tư cách là các đơn vị định danh
1.3.3.3 Cơ chế định danh
Phương thức định danh được chia làm hai loại: định danh trực tiếp (định danh nguyên cấp) là việc sử dụng những hình thức đã biết hoặc đã có để gọi tên một sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan; Định danh gián tiếp (định danh thứ cấp) là việc tổ chức lại các đơn vị ngôn từ những yếu tố đã có sẵn theo mô hình nhất định hoặc bằng cách chuyển nghĩa để tạo lập đơn vị mới
Cơ chế định danh sự vật, hiện tượng gắn liền với hành vi phân loại và bao gồm hai giai đoạn: quy loại khái niệm và chọn đặc trưng khu biệt
1.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, luận án đã trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu của thuật ngữ nói chung và thuật ngữ Đông y nói riêng ở trên thế giới và ở Việt Nam, cùng với một số cơ sở lí luận chung về thuật ngữ, qua đó đánh giá những thành tựu đã đạt được và kế thừa, định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO THUẬT NGỮ ĐÔNG Y TIẾNG VIỆT
2.1 Những con đường hình thành hệ thuật ngữ Đông y tiếng Việt
Qua khảo sát 8061 thuật ngữ Đông y, luận án đã xác định được 3 con đường chính hình thành thuật ngữ Đông y tiếng Việt như sau: 1) thuật ngữ hóa
từ ngữ thông thường; 2) cấu tạo mới trên cơ sở ngữ liệu sẵn có; 3) Vay mượn
từ thuật ngữ Trung y – Trung Quốc
2.1.1 Thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường
Thuật ngữ Đông y được hình thành bằng con đường thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường có số lượng 995/8061, chiếm tỉ lệ 12,34% Điều này cho thấy, thuật ngữ Đông y đươc tạo nên từ con đường này không nhiều, chiếm tỉ
lệ thấp Tuy vậy, việc thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường giúp cho thuật ngữ Đông y tiếng Việt, đặc biệt là vị thuốc Đông y, bài thuốc Đông y trở nên gần gũi với người dân, người bệnh hơn
2.1.2 Tạo mới thuật ngữ trên cơ sở ngữ liệu vốn có
Phương thức tạo mới thuật ngữ Đông y tiếng Việt trên cơ sở ngữ liệu có sẵn bằng các con đường chủ yếu sau: 1) Ghép các yếu tố ngôn ngữ sẵn có (từ ngữ thông thường trong vốn từ toàn dân, từ nghề nghiệp của lương y, và từ
Trang 13thuật ngữ trong các ngành khoa học khác); 2) Ghép lai các yếu tố sẵn có thuộc những nguồn gốc khác nhau (Hán, Việt, Ấn – Âu)
2.1.2.1 Ghép các yếu tố ngôn ngữ sẵn có
Trước hết, yếu tố sẵn có là những từ ngữ thông thường trong vốn từ toàn dân Thuật ngữ trong các ngành khoa học nói chung và trong thuật ngữ Đông y nói riêng đã sử dụng những từ ngữ thông thường trong vốn từ toàn dân để mở rộng và phát triển thuật ngữ cho riêng mình Tiếp đến, yếu tố sẵn có là các đơn
vị được mượn từ vốn từ nghề nghiệp của lương y và mượn từ thuật ngữ tiếng Việt trong các ngành khoa học gần và ngành khoa học khác liên quan
2.1.3 Vay mượn thuật ngữ Trung y – Trung Quốc
Để phát triển thuật ngữ Đông y một cách nhanh nhất, tiết kiệm thời gian nhất, đó là vay mượn thuật ngữ Trung y – Trung Quốc thông qua yếu tố sẵn có thuộc nguồn gốc Hán trong tiếng Việt Qua thống kê có những 6425/8061 thuật ngữ Đông y tiếng Việt được hình thành trong việc mượn trực tiếp thuật ngữ Trung y – Trung Quốc để mở rộng và phát triển thuật ngữ Đông y của mình, chiếm tỉ lệ cao nhất là 79,70% (6425/8061) Điều này cũng phù hợp với sự tiếp xúc, giao thoa của các ngôn ngữ trên thế giới, và khẳng định tính quốc tế trong thuật ngữ Đông y tiếng Việt nói riêng và thuật ngữ khoa học nói chung
2.2 Các mô hình cấu tạo thuật ngữ Đông y tiếng Việt
Dựa vào cơ sở lý thuyết đã trình bày, trong 8061 thuật ngữ Đông y tiếng Việt, có 5596 thuật ngữ có cấu tạo là từ (gồm từ đơn và từ ghép), chiếm 69,42% (5596/8061) Còn lại 2465 thuật ngữ Đông y có cấu tạo là ngữ định danh, chiếm 30,58% (2465/8061)
2.2.1 Đặc điểm thuật ngữ Đông y có cấu tạo là từ
Lấy đơn vị cơ sở là thành tố để phân tích thuật ngữ Đông y có cấu tạo là
từ, chúng tôi nhận thấy rằng, có những thuật ngữ chỉ được cấu tạo bởi một thành
tố nhưng có thuật ngữ được cấu tạo bởi nhiều thành tố Chúng tôi dựa trên cơ sở
số lượng thành tố tham gia cấu tạo thuật ngữ để phân loại: thuật ngữ là từ đơn và thuật ngữ là từ ghép Với mỗi loại, chúng tôi sẽ phân tích mô hình cấu tạo, số lượng và tỉ lệ các thuật tố tham gia cấu tạo thuật ngữ xét theo nguồn gốc Sau đó, chúng tôi sẽ thống kê về mặt từ loại các thuật ngữ này
2.2.1.1 Cấu tạo của thuật ngữ Đông y là từ đơn