Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Phạm Thị Tươi Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Dân sự; Mã số: 60 38 30 Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Phương Lan Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Những vấn đề lý luận liên quan đến việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) hiện hành, làm rõ khái niệm chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; đặc điểm cơ bản của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Xác định quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng đối với nhau,
Trang 1Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân - Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn
Phạm Thị Tươi
Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Dân sự; Mã số: 60 38 30 Người hướng dẫn: TS Nguyễn Phương Lan
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Những vấn đề lý luận liên quan đến việc chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân theo pháp luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) hiện hành, làm rõ khái niệm chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; đặc điểm cơ bản của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Xác định quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng đối với nhau, đối với gia đình và đối với người thứ ba sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Tìm hiểu những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn về vấn đề này và đề xuất cách
thức giải quyết, góp phần hoàn thiện pháp luật
Keywords: Luật dân sự; Tài sản chung; Hôn nhân; Pháp luật Việt Nam; Luật hôn
nhân và gia đình
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội Tính chất và kết cấu của gia đình trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau là khác nhau Quan điểm này đã được Ph.Ăngghen nhấn mạnh như một nguyên lý của nội dung lý luận
Macxit về hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) trong tác phẩm nổi tiếng "Nguồn gốc của gia
đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước" Sự ổn định và phát triển lành mạnh của gia đình sẽ
góp phần vào sự phát triển chung của toàn bộ xã hội Mỗi gia đình được xây dựng dựa trên những sợi dây liên kết của hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng trong đó quan hệ hôn nhân
có thể xem là quan hệ nền tảng của mỗi gia đình
Đánh giá cao tầm quan trọng của gia đình trong đời sống xã hội nói riêng cũng như trong việc xây dựng, phát triển đất nước nói chung, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng quan tâm đến việc xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc Điều này được cụ thể hóa ở việc Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ HN&GĐ cho phù hợp với sự phát triển của xã hội
Trong quá trình xã hội hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, Việt Nam đã thực sự chuyển mình và có những thay đổi toàn diện và sâu sắc về mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt, đời sống gia đình ngày càng được nâng cao Dưới ảnh hưởng của nền kinh tế mở đó đã
Trang 2tạo cho mọi người đều có cơ hội làm giàu cũng như tự khẳng định mình Đời sống gia đình được cải thiện đồng nghĩa với việc khối tài sản của vợ chồng tăng lên, nhu cầu riêng cũng nhiều hơn, đa dạng hơn, theo đó, nhu cầu có tài sản riêng để phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp và giao dịch do một bên thực hiện không bị phụ thuộc hoặc gây ảnh hưởng cho bên kia
là rất cần thiết Trước tình hình thực tế, quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
là một giải pháp có nhiều ưu điểm cho vấn đề này
Trên cơ sở kế thừa Điều 18 Luật HN&GĐ năm 1986, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại Luật HN&GĐ năm 2000 đã có những bước thay đổi tích cực, phù hợp với sự phát triển của xã hội Các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng đã từng bước đi vào cuộc sống, phát huy được hiệu quả điều chỉnh Một vấn đề hết sức bức thiết được đặt ra là sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, thì quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sẽ được xác định như thế nào? Luật HN&GĐ hiện hành đã có quy định cụ thể hơn so với Luật HN&GĐ năm 1986 song vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần được bàn luận, giải quyết
cả về mặt lý luận và áp dụng trong thực tiễn Để đi đến thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là cả một quá trình cân nhắc, quyết định không phải là dễ dàng nhưng việc bóc tách, xác định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc gấp bội do pháp luật chưa có quy định cụ thể điều chỉnh vấn đề này Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay, khi Việt Nam đang hội nhập kinh tế quốc tế, hơn lúc nào hết vợ, chồng đã và đang tham gia ngày càng nhiều hơn vào các hoạt động kinh tế với mục đích không chỉ nhằm đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của gia đình mà còn nhằm làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội Họ có thể dùng tài sản chung hoặc tài sản riêng vào hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại khác; mỗi bên vợ chồng sẽ phát sinh nhiều mối quan hệ xã hội mới và có xu hướng duy trì, mở rộng hơn nữa Do đó, việc xác định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với gia đình, đối với các con và đối với người thứ ba có liên quan sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân khá phức tạp bởi vấn đề này chưa được quy định, chưa có cơ sở pháp lý để giải quyết khi có tranh chấp phát sinh Việc vợ chồng lạm dụng quyền, trốn tránh trách nhiệm đối với nhau và đối với gia đình cũng đòi hỏi phải có những giải pháp phù hợp cần được pháp luật điều chỉnh Đây là những vấn đề tồn tại, phát sinh từ thực tiễn mà chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh nên cần phải có sự nghiên cứu thấu đáo
Bởi lẽ đó, việc nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là hết sức cần thiết Trên cơ sở đó, tác giả quyết định chọn đề tài
"Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn" làm luận văn thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu về đề tài
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực HN&GĐ đã có nhiều công trình, bài viết về tài sản của vợ chồng nói chung và chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân nói riêng, chẳng hạn như luận án tiến sĩ "Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật
Hôn nhân và gia đình Việt Nam" đã được tác giả Nguyễn Văn Cừ bảo vệ thành công năm
2005; "Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân" của tác giả Nguyễn Phương Lan đăng trên Tạp chí Luật học số 6 năm 2002; "Chế độ tài sản
theo thỏa thuận của vợ chồng trong pháp luật cộng hòa Pháp và pháp luật Việt Nam" của tác
giả Bùi Minh Hồng đăng trên Tạp chí Luật học số 11 năm 2009… Đây thực sự là những công trình có giá trị lớn trong cả khoa học lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này hoặc đề cập đến những vấn đề mang tính khái quát chung về chế độ tài sản của vợ
Trang 3chồng, hoặc chỉ đi sâu vào phân tích một vấn đề nhỏ có liên quan đến việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chứ chưa nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và chuyên sâu về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Vấn đề quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chưa được pháp luật quy định nên việc nghiên cứu để có hướng đề xuất các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề này là rất cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đồng thời chỉ ra những vướng mắc, bất cập và đưa ra những kiến nghị về việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:
- Những vấn đề lý luận liên quan đến việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật HN&GĐ hiện hành, làm rõ khái niệm chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; đặc điểm cơ bản của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
- Xác định quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng đối với nhau, đối với gia đình và đối với người thứ ba sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
- Tìm hiểu những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn về vấn đề này và đề xuất cách thức giải quyết, góp phần hoàn thiện pháp luật
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và một số công trình nghiên cứu cũng như những vụ việc cụ thể
có liên quan về vấn đề này
Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong một số văn bản pháp luật như: Luật HN&GĐ năm 1986; Luật HN&GĐ năm 2000;
Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 và các văn bản pháp luật khác có liên quan Trong đó, luận văn tập trung nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
- Luận văn cũng nghiên cứu các quy định trong pháp luật của một số nước điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia (tách) tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, có
sự so sánh và đối chiếu với pháp luật HN&GĐ Việt Nam, qua đó học hỏi, tiếp thu có chọn lọc những điểm phù hợp để bổ sung, hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong pháp luật HN&GĐ Việt Nam
- Đặc biệt, luận văn nghiên cứu một số trường hợp cụ thể về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như quyền và nghĩa vụ về nhân thân
và tài sản của vợ chồng đối với nhau, đối với gia đình và quyền và nghĩa vụ về tài sản đối với người thứ ba có quan hệ tài sản với vợ chồng
5 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng,
Trang 4Nhà nước ta trong lĩnh vực HN&GĐ Ngoài ra, để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn còn
vận dụng, kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê
6 Những điểm mới của luận văn
Luận văn phân tích các căn cứ lý luận và thực tiễn nhằm làm rõ sự cần thiết quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nghiên cứu cũng bổ sung, làm phong phú thêm cho lý thuyết về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Về thực tiễn, gia đình được coi là hạt nhân của xã hội Sự phát triển bền vững của gia đình là nền tảng phát triển của xã hội Do đó, trong sự phát triển và biến đổi mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường hiện nay, gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự thúc đẩy và phát triển kinh tế, xã hội Như là một tất yếu của cuộc sống chung, vợ và chồng thực hiện những quan hệ về tài sản nhằm đáp ứng những nhu cầu tồn tại và phát triển của gia đình Nhu cầu chia tài sản chung của vợ chồng để nâng giá trị khối tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng nhằm xác lập những giao dịch riêng cũng có chiều hướng gia tăng Và lẽ đương nhiên, sẽ kéo theo những vấn đề không dễ giải quyết về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung Nghiên cứu cũng chỉ ra những khó khăn trong việc xác định nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cũng như nguyên nhân của tồn tại đó đồng thời đưa ra những giải pháp, kiến nghị giúp cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp,… tham khảo trong việc xây dựng, bổ sung những quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, đặc biệt là những quy phạm điều chỉnh quan hệ nhân thân Trên cơ sở đó, tạo điều kiện thuận lợi và nâng cao ý thức, trách nhiệm cho các cặp
vợ chồng trong việc đưa ra thỏa thuận chia tài sản chung cũng như những vấn đề phát sinh sau
đó, góp phần giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh, quản lý cũng như vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con và chăm sóc, nuôi dưỡng các thành viên khác trong gia đình
Tóm lại, luận văn có những điểm mới sau đây:
- Phân tích sự cần thiết pháp luật phải quy định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (tính khách quan)
- Xác định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau, đối với gia đình và đối với người thứ ba sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trên cơ sở những quy định của Luật HN&GĐ hiện hành cùng với sự so sánh, đối chiếu với những quy định tương ứng trong pháp luật một số nước, từ đó phát hiện những bất cập, đưa ra kiến nghị bổ sung, sửa đổi nhằm hoàn thiện những quy định về vấn đề này trong điều kiện hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân
Chương 2: Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau
khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Chương 1
Trang 5MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA VỢ CHỒNG SAU KHI CHIA TÀI SẢN CHUNG
TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 1.1 Một số vấn đề lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
1.1.1 Khái niệm chung về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Khái niệm chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chưa được ghi nhận trong bất kỳ văn bản pháp luật nào nhưng có thể hiểu là:
Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là việc chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản vốn là tài sản chung của vợ chồng thành tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng theo sự thỏa thuận của vợ chồng hoặc do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ, chồng khi có những lý
do nhất định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng và người thứ ba có liên quan mà không làm chấm dứt quan hệ giữa vợ và chồng trước pháp luật
1.1.2 Đặc điểm của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
- Không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật
- Không làm chấm dứt chế độ tài sản chung của vợ chồng
- Chỉ phát sinh khi có những lý do nhất định
- Nhằm giải quyết những vấn đề về kinh tế - tài sản chung của vợ chồng chứ không nhằm giải quyết vấn đề tình cảm
- Chủ thể có quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chỉ có thể là vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng
- Hình thức của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là bằng văn bản và không buộc phải được cơ quan có thẩm quyền chứng nhận
- Tài sản chung có thể chia toàn bộ hoặc một phần
- Hậu quả pháp lý về tài sản khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chính là sự thay đổi của các khối tài sản hay nói cách khác, làm thay đổi việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; từ đó quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng cũng bị chi phối, thay đổi
- Khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng làm chấm dứt hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
- Pháp luật ghi nhận việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không có nghĩa là gián tiếp quy định về ly thân
- Vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và sự thỏa thuận này khác với sự thỏa thuận trong hôn ước đã được thừa nhận ở nhiều quốc gia
1.2 Sự cần thiết của việc quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
- Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng vẫn có đầy đủ mọi quyền
và nghĩa vụ với nhau, với gia đình Tuy nhiên, Luật HN&GĐ hiện hành mới chỉ quy định về việc xác định tài sản chung, tài sản riêng sau khi chia
- Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tài sản chung có thể còn hoặc không còn Mặt khác, vợ chồng có thể ở riêng sau khi chia tài sản chung Do đó, cần quy định cụ thể trách nhiệm của vợ chồng để duy trì đời sống chung của gia đình, đặc biệt là việc chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên, hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự (NLHVDS)
Trang 6- Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của mỗi bên
- Tạo cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng với nhau và giữa vợ chồng với những người khác
1.3 Ý nghĩa của việc quy định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1.3.1 Ý nghĩa về mặt pháp lý
- Thể hiện sự hoàn thiện, thống nhất và logic về kỹ thuật lập pháp, tạo cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
- Bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của vợ, chồng, của gia đình cũng như quyền lợi của người thứ ba giao dịch với vợ chồng
- Là cơ sở pháp lý để phân định rõ trách nhiệm của các bên vợ, chồng trong quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản trong gia đình
- Có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng khi phát sinh tranh chấp về tài sản
1.3.2 Ý nghĩa về mặt xã hội
- Nhằm hạn chế tình trạng vợ, chồng trốn tránh trách nhiệm với gia đình, con cái, và với những người khác có liên quan, đặc biệt là trường hợp chia toàn bộ tài sản chung
- Đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp về tài sản của mỗi bên vợ, chồng
- Đảm bảo sự lành mạnh trong các giao dịch của vợ chồng với người thứ ba, sự ổn định quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự, thương mại
- Thể hiện sự bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất và về mọi mặt của gia đình
1.4 Quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân theo pháp luật một số nước trên thế giới
1.4.1 Pháp luật dân sự Pháp
Pháp luật Pháp chỉ ghi nhận việc tách tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thông qua Tòa
án Hậu quả là làm chấm dứt chế độ tài sản chung của vợ chồng Sau khi chia tài sản chung,
vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ được quy định tại Điều 1448 Bộ luật Dân sự Pháp: "Vợ
hoặc chồng đã được tách riêng tài sản có trách nhiệm đóng góp các chi phí cho gia đình và cho việc nuôi dạy con theo khả năng của mình và của người kia Nếu một trong hai vợ chồng không còn tài sản sau khi tách riêng tài sản, thì người kia phải trả hết các chi phí nêu trên"
Hoặc khi tuyên bố tách riêng tài sản, Tòa án có thể quyết định một bên vợ hoặc chồng sẽ nộp khoản đóng góp của mình cho người kia và người này sẽ một mình đảm nhận việc thanh toán mọi chi phí sinh hoạt gia đình, đối với các bên thứ ba
1.4.2 Pháp luật dân sự và thương mại Thái Lan
Vì tất cả các tài sản được chia và tài sản có được sau khi chia đều là tài sản riêng , kể cả trường hợp tài sản được tă ̣ng cho chung , thừa kế chung cũng trở thành tài sản riêng bằng cách chia đều cho mỗi b ên nên pháp luật Thái Lan quy định sau khi tài sản chung đã được chia thì
cả hai vợ chồng đều phải chịu trách nhiệm thanh toán những chi tiêu của gia đình theo tỷ lệ tương ứng với số tài sản riêng của mỗi người (Theo Điều 1493)
Chế đô ̣ tài sản chung chỉ được Tòa án cho phục hồi khi có yêu cầu của vợ, chồng hoă ̣c khi lý
do chia đã chấm dứt Sau khi viê ̣c chia tài sản chung đã được hủy bỏ hoă ̣c đình hoãn do vợ hoă ̣c chồng đã thoát khỏi viê ̣c phá sản thì tài sản là tài s ản riêng vào ngày có quyết định của Tòa án
Trang 7hoặc vào ngày mà người vợ hoặc người chồng thoát khỏi việc phá sản vẫn giữ nguyên là tài sản riêng
Chương 2
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA VỢ CHỒNG SAU KHI CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 2.1 Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
2.1.1 Quyền và nghĩa vụ về nhân thân giữa vợ và chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật Do đó, sau khi chia tài sản chung thì quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ chồng vẫn chịu sự điều chỉnh từ Điều 18 đến Điều 26 của Luật HN&GĐ năm 2000
- Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ chung thủy, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau
- Vợ chồng bình đẳng với nhau về mọi mặt trong gia đình
- Vợ chồng có quyền tự do lựa chọn nơi cư trú, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính
- Quyền đại diện cho nhau giữa vợ và chồng
- Sau khi chia tài sản chung vẫn phát sinh nghĩa vụ liên đới giữa vợ và chồng
- Vợ chồng có thể sống chung hoặc ở riêng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Nếu vợ chồng ở chung thì việc chăm sóc lẫn nhau được đảm bảo thực hiện một cách tương đối trọn vẹn nhưng nếu vợ, chồng ở riêng thì sự quan tâm, chăm lo cho nhau sẽ gặp nhiều khó khăn
2.1.2 Quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng sau khi chia một phần tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân
Chia một phần tài sản chung có nghĩa là chỉ có một lượng nhỏ tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng được chia
Theo quy định tại Điều 30 và khoản 1 Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2000, khoản 1 Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP, thì sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, khối tài sản riêng của vợ, chồng gồm:
- Tài sản vợ, chồng có trước khi kết hôn;
- Tài sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;
- Tài sản là đồ dùng, tư trang cá nhân;
- Tài sản vợ, chồng được chia từ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản được chia này;
- Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nếu vợ chồng không có thỏa thuận khác
Đối với khối tài sản riêng này, vợ, chồng có toàn quyền sở chiếm hữu, sử dụng và định đoạt không phụ thuộc vào ý chí của bên kia Tuy nhiên, sau khi chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân làm thay đổi các khối tài sản kéo theo sự thay đổi về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng Vậy trong trường hợp tài sản riêng là tài sản được chia từ khối tài sản chung thì có bị
Trang 8hạn chế quyền định đoạt theo quy định tại khoản 5 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2000 không? Theo quan điểm của chúng tôi, trong trường hợp này vợ, chồng không bị ràng buộc bởi quy định tại khoản 5 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2000, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác
Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng được thanh toán bằng tài sản riêng của mỗi bên
Vợ, chồng có quyền tự quản lý tài sản riêng của mình
Sau khi chia một phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tài sản chung được xác định như sau:
- Tài sản chung còn lại chưa chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản này
- Tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi chia tài sản chung căn cứ vào quy định tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 và Điều 24, Điều 25 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP
- Quyền sử dụng đất mà mỗi bên vợ chồng có được sau khi chia tài sản chung do được Nhà nước giao, giao khoán, hoặc cho thuê,…căn cứ theo Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, Điều 24 và Điều 25 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP là tài sản chung của vợ chồng nếu quyền sử dụng đất này có được không liên quan đến lý do chia tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên, vấn đề này chưa được quy định rõ trong luật nên còn nhiều quan điểm khác nhau
Tài sản chung bị giảm đi sau khi chia một phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Theo đó, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung cũng có sự thay đổi so với trước khi chia nhưng vẫn chịu sự điều chỉnh tại Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000
Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản chung Nếu khối tài sản chung này có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình khi được đưa vào làm đối tượng giao dịch thì buộc phải có sự thỏa thuận của cả vợ
và chồng Nếu một bên vợ hoặc chồng không đồng ý, thì giao dịch đó bị coi là vô hiệu Đối với những giao dịch thông thường hoặc nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình liên quan đến tài sản chung mà giao dịch này chỉ do một bên vợ hoặc chồng thực hiện thì nghĩa vụ phát sinh là nghĩa vụ chung của vợ chồng
Sau khi chia tài sản chung, vợ chồng vẫn phải phải chịu trách nhiệm liên đới theo quy định tại Điều 25 Luật HN&GĐ năm 2000 Đặc biệt là trong trường hợp vợ chồng ở riêng thì nghĩa vụ này càng cần phải được đảm bảo Tuy nhiên, việc xác định nghĩa vụ liên đới trong trường hợp vợ chồng ở riêng sẽ khó khăn hơn
Quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ và chồng không bị thay đổi sau khi chia một phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng sau khi chia toàn bộ tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân
Việc chia toàn bộ tài sản chung dễ gây xáo trộn, ảnh hưởng lớn đến đời sống chung của gia đình nên trường hợp này chỉ đặt ra trong những hoàn cảnh đặc biệt
Sau khi vợ chồng chia toàn bộ tài sản chung thì tài sản chung về cơ bản sẽ không còn Tài sản chung của vợ chồng có thể phát sinh sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chẳng hạn như tài sản được thừa kế chung, tặng cho chung nhưng những khoản tài sản này không phải là tài sản chung cơ bản trong đời sống vợ chồng Khi đó nếu vợ chồng không thỏa thuận được thì chi phí cho đời sống chung của gia đình sẽ khó được đảm bảo Luật HN&GĐ cần có quy định cụ thể trách nhiệm, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với đời sống chung của gia đình
Trang 9Việc xác định quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng đối với khối tài sản riêng sau khi chia toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân tương tự như việc xác định quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng đối với khối tài sản riêng sau khi chia một phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Tài sản riêng mà mỗi bên vợ, chồng làm ra sau khi chia tài sản chung có thể như nhau hoặc có thể chênh lệch đáng kể Trong tình huống này, sau khi chia tài sản chung, nếu vợ chồng không thỏa thuận được với nhau thì phương
án đóng góp tài sản theo tỉ lệ thuận với số tài sản riêng mà vợ chồng được chia để chi dùng cho đời sống gia đình cũng như cho việc chăm sóc lẫn nhau giữa vợ và chồng được xem là khá phù hợp
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng có thể phát sinh trong trường hợp sau khi chia toàn bộ tài sản chung, vợ chồng ở riêng và một bên vợ hoặc chồng lâm vào tình trạng túng thiếu mà bên kia có tài sản riêng Vấn đề này chưa được pháp luật quy định song trong trường hợp đặc biệt này, có thể thấy việc cấp dưỡng sau khi chia tài sản chung khi hôn nhân vẫn tồn tại là một thực tế rất cần thiết
Sau khi chia toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng vẫn có quyền thừa kế tài sản của nhau
Vợ chồng có yêu cầu xin ly hôn sau khi chia toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, thì giải quyết vấn đề tài sản trên cơ sở Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000 Tài sản được chia cho mỗi bên vợ, chồng là tài sản riêng nên không chia Tài sản chung có thể phát sinh như được thừa kế chung, tặng cho chung sẽ được chia đôi
2.2 Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với gia đình sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
2.2.1 Quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ chồng đối với gia đình sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ chồng đối với gia đình mà cụ thể ở đây xét mối quan hệ chủ đạo giữa vợ chồng với tư cách là cha mẹ đối với con, đặc biệt là con chưa thành niên Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm thay đổi quyền và nghĩa vụ về nhân thân của cha mẹ đối với con cái
Thứ nhất, cha mẹ có quyền và nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất hoặc hạn chế NLHVDS
Thứ hai, vợ chồng phải chăm lo cho sự phát triển bình thường của gia đình và cách thành
viên khác trong gia đình về thể chất, đạo đức, trí tuệ đồng thời giữ gìn sự phát triển bền vững,
ấm no, hạnh phúc của gia đình
Nếu như sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng vẫn ở chung với các con thì việc cùng nhau chăm sóc, nuôi dạy con cái được thực hiện một cách thuận lợi hơn và hầu như không có sự xáo trộn hay ảnh hưởng nhiều Nhưng trong trường hợp vợ chồng ở riêng thì vấn đề thực hiện quyền nhân thân, cụ thể là chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sẽ gặp nhiều khó khăn và không được thực hiện trọn vẹn
Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà vợ, chồng ở riêng thì con chưa thành niên sẽ ở với ai nếu các bên không thỏa thuận được mà có tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án có giải quyết hay không? Theo quy định của Luật HN&GĐ hiện hành thì Tòa án giải quyết tranh chấp về quyền nuôi con chỉ đặt ra khi vợ chồng ly hôn
Trang 102.2.2 Quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng đối với gia đình sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Theo quy định tại khoản 2 Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000 thì tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình và thực hiện các nghĩa vụ chung khác của vợ chồng Trường hợp vợ chồng chia một phần tài sản chung thì tài sản chung còn lại giảm không đáng kể, có thể đáp ứng được toàn bộ hoặc một phần nhu cầu thiết yếu của gia đình Trường hợp vợ chồng chia toàn bộ tài sản chung, thì tài sản chung có thể không còn Khi đó nếu vợ chồng không thỏa thuận được với nhau thì chi phí cho việc đảm bảo nhu cầu chung thiết yếu của gia đình sẽ được lấy từ nguồn tài sản nào? Vấn đề này cần được pháp luật điều chỉnh kịp thời
Để đảm bảo nhu cầu ăn, ở, học tập…và những nhu cầu thiết yếu khác cho sự phát triển bình thường của các con nói riêng, của gia đình nói chung thì sau khi chia tài sản chung, quyền định đoạt tài sản riêng của vợ chồng vẫn bị hạn chế theo quy định tại khoản 4 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2000
Sau khi chia tài sản chung, vợ hoặc chồng không ở cùng con thì có phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng không? Hiện nay, Luật HN&GĐ hiện hành chỉ ghi nhận nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ hoặc chồng đối với con cái trong trường hợp vợ chồng ly hôn Tuy nhiên, để đảm bảo lợi ích của con, Luật HN&GĐ cần quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ hoặc chồng đối với con cái sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong trường hợp vợ chồng sống riêng và bên không trực tiếp nuôi con trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng
Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ quản lý và định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên trong những trường hợp cụ thể vì lợi ích của con Nếu sau khi chia tài sản chung, vợ chồng vẫn ở chung thì việc thỏa thuận để thực hiện quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng của con sẽ rất dễ dàng Tuy nhiên, trong trường hợp vợ chồng ở riêng thì việc cùng nhau thực hiện quyền và nghĩa vụ này phức tạp hơn Giải pháp bảo vệ lợi ích của con trong trường hợp này là bên nào trực tiếp nuôi con, người đó sẽ có quyền quản lý và định đoạt tài sản riêng của con theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
Vợ chồng có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con chưa thành niên hoặc con mất NLHVDS gây ra Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại này là nghĩa vụ chung nên
vợ chồng sẽ phải dùng tài sản chung để chi trả Nếu vợ chồng chia toàn bộ tài sản chung hoặc tài sản chung còn lại không đủ để bồi thường thiệt hại thì trách nhiệm của mỗi bên được xác định như thế nào? Vấn đề này pháp luật hôn nhân hiện hành vẫn chưa có quy định điều chỉnh
2.3 Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với người thứ ba có quan hệ tài sản với vợ chồng
2.3.1 Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với người thứ ba có quan hệ giao dịch dân
sự, thương mại với vợ chồng
- Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nếu vợ chồng cùng tham gia giao dịch với người thứ ba liên quan đến tài sản chung còn lại không chia thì về mặt nguyên tắc vợ chồng cùng hưởng các hoa lợi, lợi tức thu được và cùng chịu trách nhiệm căn cứ theo khoản 1 Điều 27 và khoản 2 Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000
- Vợ hoặc chồng ủy quyền cho chồng hoặc vợ thực hiện, xác lập các giao dịch liên quan đến tài sản chung mà theo quy định của pháp luật cần phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng Theo khoản 1 Điều 24 và khoản 3 Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000 thì trong trường hợp này trách nhiệm được xác định là trách nhiệm chung của vợ chồng