MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tàiTrong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhậpkhu vực và quốc tế hiện nay, văn hóa dân tộc nói chung và phong tục tập quán, cá
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-NGUYỄN THỊ HOA MAI
NGHI LỄ TRONG CHU KỲ ĐỜI NGƯỜI CỦA NGƯỜI TÀY HUYỆN NÀ
HANG TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
Hà Nội - 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-NGUYỄN THỊ HOA MAI
NGHI LỄ TRONG CHU KỲ ĐỜI NGƯỜI CỦA NGƯỜI TÀY HUYỆN NÀ
HANG TỈNH TUYÊN QUANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận án với đề tài: “Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày ở huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang” là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi Tôi xin cam đoan các kết quả nghiên cứu của luận án là trung thực
và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Hoa Mai
Trang 4Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành đến Khoa Dân tộc học và Nhân học, đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà và các thầy, cô giáo trong Khoa đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án.
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành đến Lãnh đạo và các phòng ban, đơn vị thuộc Học viện Khoa học xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện luận án này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến lãnh đạo và các cán bộ Viện Nghiên cứu Con người, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian và vật chất để tôi thực hiện luận án này.
Tôi xin bày tỏ lời biết ơn chân thành đến các thôn, bản, xã, thị trấn của huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang nơi tôi đã tiến hành khảo sát thực tiễn của
đề tài luận án.
Tôi xin bày tỏ lời biết ơn chân thành đến gia đình, người thân và bạn bè
đã động viên và giúp đỡ tôi thực hiện luận án này.
Hà Nội, tháng năm 2019
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Hoa Mai
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN, CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 8
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài 18
1.3 Khái quát về Tuyên Quang, về Nà Hang và người Tày ở Nà Hang 29
Chương 2: NGHI LỄ SINH ĐẺ VÀ NUÔI DẠY CON 40
2.1 Quan niệm của người Tày về con cái 40
2.2 Cơ sở tín ngưỡng của nghi lễ sinh đẻ 48
2.3 Chăm sóc và nuôi dạy trẻ 62
Chương 3: NGHI LỄ HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI TÀY 68
3.1 Quan niệm của người Tày về hôn nhân 68
3.2 Nguyên tắc kết hôn của người Tày 76
3.3 Phong tục và các nghi lễ hôn nhân của người Tày 78
Chương 4: NGHI LỄ TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY 95
4.1 Quan niệm về sự sống, cái chết và linh hồn 95
4.2 Quan niệm hồn vía con người 98
4.3 Các loại tang ma 99
4.4 Trình tự nghi lễ tang ma của người Tày 101
4.5 Lễ chôn cất người chết. 111
4.6 Các nghi lễ sau khi chôn cất người chết 114
Chương 5: BIẾN ĐỔI CỦA NGHI LỄ CHU KỲ ĐỜI NGƯỜI VÀ MỘT SỐ NHẬN XÉT 125
5.1 Những biến đổi của nghi lễ chu kỳ đời người của người Tày 125
5.2 Những mặt tích cực và hạn chế của nghi lễ trong sinh đẻ và nuôi dạy con 135
5.3 Những mặt tích cực và hạn chế của hôn nhân và nghi lễ trong hôn nhân.139 5.4 Những mặt tích cực và hạn chế của nghi lễ trong tang ma 140
5.5 Một vài kiến nghị 141
5.6 Một số giải pháp 143
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 5.1: Đánh giá sự biến đổi về sinh đẻ và nghi lễ trong sinh đẻ, nuôi dạy con.125Bảng 5.2: Đánh giá sự biến đổi về hôn nhân và nghi lễ trong hôn nhân 130Bảng 5.3: Đánh giá sự biến đổi của nghi lễ tang macủa người Tày ở Nà Hang
hiện nay 133
Trang 7MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhậpkhu vực và quốc tế hiện nay, văn hóa dân tộc nói chung và phong tục tập quán, cácnghi lễ trong chu kỳ đời người của các tộc người trong đại gia đình các dân tộc ViệtNam nói riêng cũng có những biến đổi nhất định do những nguyên nhân khácnhau.Việc tìm hiểu thực trạng và sự biến đổi văn hóa tộc người, trong đó có nghi lễtrong chu kỳ đời người, đặc biệt là việc bảo tồn và phát huy những giá trị của cácnghi lễ đó là rất cần thiết trong tiến trình xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đàbản sắc dân tộc Việt Nam thống nhất trong đa dạng
Dân tộc Tày là một dân tộc thiểu số đông dân nhất ở nước ta hiện nay chỉ saungười Kinh, có một bản sắc văn hóa đặc thù, phong phú Họ sống tập trung tại một
số tỉnh như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang Cho đếnnay đã có nhiều công trình về người Tày, các công trình nghiên cứu của các nhàkhoa học đi trước chủ yếu tập trung nghiên cứu về người Tày ở các tỉnh miền núibiên giới, nơi mà người Tày có điều kiện được giao lưu, tiếp xúc và trao đổi vớinhiều nền văn hóa, kinh tế, chính trị, giáo dục khác nhau Trong khi đó, dân tộc Tàyđang sinh sống ở tỉnh Tuyên Quang, đặc biệt là một bộ phận người Tày ở huyện NàHang thì các dạng thức văn hóa, trong đó có nghi lễ trong chu kỳ đời người thườngchậm biến đổi hơn so với người Tày ở một số tỉnh khác Người Tày ở huyện NàHang hiện nay vẫn được coi là người Tày cổ, còn bảo tồn được nhiều yếu tố văn hóatruyền thống, nhất là trong các nghi lễ chu kỳ đời người của họ Việc nghiên cứunghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày ở Nà Hang, sẽ giúp chúng ta biếtđược những bảo lưu, cũng như những biến đổi của nghi lễ trong chu kỳ đời ngườicủa người Tày ở Nà Hang, qua đó phát huy được những giá trị văn hóa tốt đẹp, phùhợp và hạn chế được những biểu hiện tiêu cực, không phù hợp của nghi lễ trong chu
kỳ đời người của người Tày ở Nà Hang, để có những giải pháp góp phần giúp ngườiTày ở Nà Hang phát triển kinh tế, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của mình.Mặt khác, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và cótính hệ thống, toàn diện về nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày ở huyện NàHang Có thể nói, việc nghiên cứu nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày tạimột địa bàn cụ thể là huyện Nà Hang, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Kết quả
Trang 8nghiên cứu của đề tài luận án góp phần làm sáng tỏ hơn các đặc trưng văn hóa, nhữngvấn đề thực trạng và nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi văn hóa, cũng như việc bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong nghi lễ chu kỳ đời người của dân tộcTày tại huyện Nà Hang Kết quả đạt được của đề tài cũng có đóng góp cho việc thựchiện có hiệu quả chính sách dân tộc, chính sách phát triển văn hóa dân tộc của Đảng vàNhà nước ta, phù hợp với tinh thần nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) và Nghị quyếtTrung ương IX ( khóa XI), đồng thời góp phần thực hiện trực tiếp chương trình xâydựng nông thôn mới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích
Luận án đi sâu tìm hiểu đời sống văn hóa của người Tày ở huyện Nà Hang, tỉnhTuyên Quang thông qua các nghi lễ trong chu kỳ đời người bao gồm nghi lễ sinh đẻ,hôn nhân và tang ma Trên cơ sở đó, luận án đề xuất một số kiến nghị và giải phápphục vụ công tác bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa của tộc ngườinhằm góp phần xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của nhóm tộc người nàytrong tình hình mới hiện nay
2.2 Nhiệm vụ
- Luận án tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề liên quan tới nghi lễ trong chu kỳđời người (quan niệm và thực hành nghi lễ gồm sinh đẻ, hôn nhân, tang ma) củangười Tày ở huyện Nà Hang trong truyền thống;
- Làm rõ những biến đổi trong nghi lễ chu kì đời người của người Tày ở huyện
Nà Hang hiện nay và phân tích các nguyên nhân dẫn tới sự biến đổi đó;
- Từ các kết quả đạt được, luận án đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm bảotồn và phát huy các giá trị văn hóa phù hợp trong nghi lễ chu kỳ đời người củangười Tày tại huyện Nà Hang trong tình hình hiện nay
3 Đối tƣợngvà phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các nghi lễ chu kỳ đời người của người Tày huyện Nà Hang
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu sâu về nghi lễ trong chu kỳ đời người của ngườiTày ở huyện Nà Hang bao gồm: nghi lễ sinh đẻ, nghi lễ hôn nhân và nghi lễ tang ma
Trang 9từ truyền thống đến biến đổi Phạm vi truyền thống được giới hạn là giai đoạn trướcnăm 1986; Giai đoạn biến đổi được xác định là từ đổi mới năm 1986 đến nay vànhất là từ khi có Thủy điện Tuyên Quang đã tác động đáng kể đến văn hóa củangười Tày và một số tộc người sinh sống ở nơi đây.
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở phương pháp luận
Tác giả luận án dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vậtbiện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc,văn hóa dân tộc để luận giải các sự vật, hiện tượng trong nghi lễ chu kỳ vòng đờitrong hệ thống và bối cảnh cụ thể, có sự tác động qua lại lẫn nhau và luôn luôn có
sự vận động, biến đổi NCS còn vận dụng các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta vềdân tộc và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc vùng đồng bào dân tộc thiểu
số để làm sáng tỏ hơn những nội dung nghiên cứu dưới góc nhìn về chính sách quản
lý và phát triển văn hóa tộc người trong xã hội hiện tại Cùng với đó, luận án sửdụng các cơ sở lý luận chuyên ngành, các lý thuyết tiếp cận phù hợp để làm sáng tỏcác vấn đề trong văn hóa tộc người thông qua hệ thống các nghi lễ trong chu kỳ đờingười của người Tày ở huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang dưới góc nhìn Dân tộchọc/Nhân học
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Thu thập tổng hợp và kế thừa các tài liệu sẵn có: NCS đã tìm đọc và xử lý
nhiều nguồn tài liệu từ sách, tạp chí, luận án, luận văn và báo cáo kết quả của cácchương trình, dự án nghiên cứu trong nước, các báo cáo tổng kết của các cơ quantrung ương và địa phương liên quan đến đề tài nghiên cứu; những nguồn số liệuthống kê ở trung ương và địa phương;
- Phương pháp điền dã Dân tộc học/ Nhân học:
Đây là phương pháp nghiên cứu chủ đạo được NCS sử dụng để khai thác, thuthập các nguồn thông tin, tư liệu tại địa bàn nghiên cứu ở huyện Nà Hang Với phương pháp này, các thao tác kỹ thuật được sử dụng gồm có:
+ Quan sát và quan sát tham dự: Việc quan sát được thực hiện trong suốt quá
trình nghiên cứu tại thực địa tại các điểm nghiên cứu, giúp tác giả có cơ hội tiếp cậnvới chủ thể văn hóa và cộng đồng, dễ hòa nhập, gần gũi với người Tày, hiểu biết
Trang 10sâu về văn hóa Tày, về từng nghi lễ liên quan đến chu kỳ vòng đời của người Tày tạicác điểm nghiên cứu được lựa chọn.
+ Phỏng vấn sâu: Công cụ này đã được tác giả luận án sử dụng cho nhiều đối
tượng là người Tày ở huyện Nà Hang Các thông tin viên ở các bản được lựa chọn
để phỏng vấn sâu, khai thác thông tin khác nhau về giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp Trong đó, đối tượng được tác giả chú ý nhiều hơn là những người cao tuổi, am hiểuphong tục tập quán, những người làm thầy Tào, thầy Pụt, mai mối và các chủ hộ giađình, phụ nữ, nam nữ thanh niên đã xây dựng gia đình Tác giả cũng gặp gỡ, phỏngvấn những người trẻ tuổi để tìm hiểu quan niệm của họ về sinh nở, về nguyên vọngsinh con trai hay gái, lựa chọn bạn đời, về xu hướng biến đổi trong các nghi lễ vòngđời của người Tày ở huyện Nà Hang hiện nay cũng như các yếu tố tác động đến sựbiến đổi
+ Thảo luận nhóm cũng được tác giả luận án sử dụng để thu thập thông tin, tư
liệu từ người Tày, qua đó thấy được những nhận định, đánh giá của họ về giá trịtruyền thống và biến đổi của các nghi lễ chu kỳ đời người, cũng như các yếu tố cóảnh hưởng đến sự biến đổi đó; các quan điểm và giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn vàphát huy các giá trị của các nghi lễ vòng đời trong bối cảnh mới, phục vụ cho mụctiêu phát triển từ góc nhìn của người Tày
+ Trong những chuyến điền dã dân tộc học/ nhân học tại các bản làng củangười Tày, tác giả luận án cũng tiến hành quay phim, chụp ảnh, kết hợp với phỏngvấn để thu thập những thông tin, tư liệu cập nhật liên quan đến các nghi lễ chủ yếutrong chu kỳ vòng đời của người Tày tại địa bàn nghiên cứu
Để có thể thu thập thông tin, tư liệu hoàn thành luận án, nghiên cứu đã tiến hànhcác đợt điền dã từ năm 2015 - 2018 tại các xã của huyện Nà Hang cụ thể như sau:
a Thị trấn Nà Hang: Thị trấn Nà Hang gồm 20 tổ dân phố Đó là tổ dân phố số
2 đến tổ dân phố số 17, tổ Hà Vị, tổ Khuôn Phươn, tổ Tân Lập, tổ Ngòi Nè
và tổ Nà Mỏ Trong 20 tổ dân phố, đề tài luận án đã khảo sát 3 tổ: Tổ 2, tổ 3,
tổ Khuôn Phươn
b Xã Sinh Long: bao gồm 9 thôn Đó là thôn Trung Phàn, thôn Phiêng Ten, thôn
Lũng Khiêng, thôn Phiêng Thốc, thôn Nà Tấu, thôn Nặm Đường, thôn Khuổi Phìn,
Trang 11thôn Bản Lá, thôn Phiêng Ngàn Trong số 9 thôn của xã Sinh Long đề tài luận án đãkhảo sát 3 thôn: Thôn Trung Phàn, thôn Nà Tấu, thôn Nặm Đường
c Xã Thượng Giáp: gồm có 6 thôn là thôn Nà Ngoa, thôn Bản Cườm, thôn Nà
Thài, thôn Bản Muông, thôn Bản Vịt, thôn Năm Cằn
Trong số 6 thôn của xã Thượng Giáp đề tài luận án đã khảo sát 3 thôn: Thôn BảnMuông, thôn Bản Vịt, thôn Năm Cằn
d Xã Côn Lôn: gồm có 7 thôn: Thôn Phia Lếch, thôn Nà Ngoãng, thôn Nà
Thưa, thôn Pom Pán, thôn Đon Thài, thôn Pác Bẻ, thôn Lũng VàiTrong số 7 thôncủa xã Sinh Long đề tài luận án đã khảo sát 3 thôn: Thôn Nà Ngoãng, thôn NàThưa, thôn Pom Pán
e Xã Hồng Thái gồm có 7 thôn là Thôn Nà Khiếu, thôn Bản Muông, thôn
Khau Tràng, thôn Hồng Ba, thôn Nà Mụ, thôn Khuổi Phẩy, thôn Pắc Khoang
Trong số 7 thôn của xã Sinh Long đề tài luận án đã khảo sát 3 thôn: Thôn Nà
Mụ, thôn Khuổi Phẩy, thôn Pắc Khoang
g Xã Khau Tình gồm có 4 thôn: Thôn Nà Lũng, thôn Khau Tình, thôn Khau
Phiêng và thôn Nà TạngTrong số 4 thôn của xã Sinh Long, luận án đã khảo sát 3thôn: Thôn Nà Lũng, thôn Khau Phiêng, thôn Khau Tình
Tại địa bàn, nghiên cứu tập trung phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với các đốitượng cụ thể như sau:
Bảng 1: Mẫu khách thể phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
1.3 Người dân là dân tộc Tày ở thị trấn và xã 54
- Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này giúp cho chúng tôi được gặp gỡ trao đổi với các chuyên gia
về lĩnh vực nghiên cứu của mình, là những người có kiến thức, kinh nghiệm sâu về
Trang 12văn hóa tộc người, về người Tày và là những người có uy tín trong cộng đồng ngườiTày tại địa bàn đã chọn để nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài luận ánchúng tôi sẽ trao đổi, xin ý kiến của một số chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vựcvăn hóa, dân tộc học/ nhân học để tìm hiểu sâu hơn về những biểu hiện, nguyênnhân của nghi lễ chu kỳ đời người của người Tày, đặc biệt là những nguyên nhânbiến đổi của nghi lễ này ở người dân tộc Tày huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang.
- Phương pháp so sánh: Nghiên cứu này đã sử dụng các phương pháp so
sánh, để làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt, cũng như sự biến đổi của nghi
lễ trong chu kỳ đời người của người Tày ở huyện Nà Hang thời kỳ trước 1986 vàsau 1986 đến nay; đồng thời so sánh nghi lễ chu kỳ đời người của người Tày ở NàHang với người Tày ở địa phương khác
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án là công trình nghiên cứu tổng thể, toàn diện, có hệ thống và chuyênsâu dưới góc độ chuyên ngành Nhân học về nghi lễ trong chu kỳ đời người củangười Tày ở huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang
- Trên cơ sở các tư liệu có được, luận án góp phần hiểu biết sâu sắc hơn vềnhững đặc trưng văn hoá của người Tày ở huyện Nà Hang, thông qua các nghi lễ trong chu kỳ đời người
- Luận án đã cho thấy được sự biến đổi nghi lễ trong chu kỳ đời người củangười Tày ở huyện Nà Hang, dưới tác động của quá trình đổi mới, hội nhập và giaothoa văn hóa Đồng thời qua hệ thống các nghi lễ trong chu kỳ đời người, luận áncung cấp cứ liệu để người Tày và chính quyền địa phương thấy được các giá trị vănhóa cần được bảo tồn và phát huy
- Luận án đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị tốtđẹp, hạn chế những mặt không phù hợp của nghi lễ trong chu kỳ đời người củangười Tày huyện Nà Hang, Tuyên Quang hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp những luận cứ khoa học choviệc hoàn thiện những vấn đề lý luận về các nghi lễ trong chu kỳ đời người của
Trang 13người Tày ở Việt Nam, chỉ ra được những biểu hiện, các yếu tố ảnh hưởng đến cácnghi lễ này.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể là tài liệu tham khảo trong việc nghiêncứu và giảng dạy về các nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày tại các cơ sởđào tạo ở nước ta hiện nay
Đây cũng là tài liệu tham khảo cho lãnh đạo địa phương có dân tộc Tày sinhsống, trước hết là cán bộ quản lý ngành văn hóa để phát huy các giá trị văn hóa tốtđẹp của các nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày, hạn chế những biểu hiệnkhông phù hợp trong các nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày ở Nà Hangnói riêng và ở khu vực miền núi phía Bắc nói chung
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án có kết cấu
5 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và khái quát về địa bàn nghiên cứu
Chương 2: Nghi lễ sinh đẻ và nuôi dạy con
Chương 3: Nghi lễ hôn nhân của người Tày
Chương 4: Nghi lễ tang ma của người Tày
Chương 5 Biến đổi của nghi lễ chu kỳ đời người và một số nhận xét
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN, CƠ SỞ LÍ THUYẾT
VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu của học giả nước ngoài về người Tày
Đã từ lâu, sử sách Trung Quốc có đề cập tới các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữTày – Thái, trong đó có tộc người Tày ở Việt Nam Các nghiên cứu này đã viết vềmối liên hệ giữa cộng đồng người Choang - Đồng ở Trung Quốc với một số tộcngười thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái hiện nay ở Việt Nam, Lào…
Thời kỳ cận hiện đại, các học giả Trung Quốc tập trung chủ yếu nghiên cứu vềlịch sử hình thành và phát triển của các tộc người, trong khi lại ít quan tâm đến các khíacạnh văn hóa tộc người cũng như sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các tộc người
Từ đầu thế kỷ XX, một số học giả phương Tây đã bắt đầu quan tâm nghiêncứu về các khía cạnh như lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa… của các tộc người thuộcnhóm ngôn ngữ Choang - Đồng ở Trung Quốc và nhóm Tày - Thái ở Việt Nam Một
số cuốn sách đã được công bố như Vân Nam – cái chốt giữa Ấn Độ và sông Dương
Tử của H R Danes, Tính năng động chủng tộc ở Đông Á và từ Vân Nam đến Thái Lan của V Eichstedt, hay Thái - Kađai và Indonexia, một cách phân loại mới ở Đông Nam Á của Paul K Benedict
Đáng chú ý là, vào những thập kỷ 60 - 70 của thế kỷ XX, các nhà Dân tộc học
Xô Viết như IU Bromlei, N Cheboksarov, M Kriucov… đã tiến hành các nghiên
cứu và công bố một số ấn phẩm, trong đó có đề cập đến tộc người Tày như: Các dân tộc trên thế giới (Moscova, 1965), Những vấn đề dân tộc học hiện đại và Lịch
sử tộc người Nam Đông Á (Moscova, 1972) Tuy nhiên, các công trình nêu trên
chưa phải là những nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện , có hệ thống về các tộc người,
về văn hóa của tộc người Tày ở Việt Nam nói riêng
1.1.2 Các nghiên cứu của tác giả trong nước về người Tày
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, nhiều nhà dân tộc học Việt Nam đã quantâm nghiên cứu sâu về tộc người Tày từ những góc nhìn chuyên ngành khác nhau
Có thể phân chia các nghiên cứu này theo các hướng chủ yếu như sau:
Trang 15- Hướng nghiên cứu tổng hợp về người Tày: Các công trình nghiên cứu này đề
cập khá toàn diện về điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử tộc người, đặc điểm kinh tế,
văn hóa, xã hội của người Tày như Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) (Viện Dân tộc học, 1978), Một số vấn đề về lịch sử tộc người và những đặc điểm chủ yếu của văn hóa các dân tộc Tày - Thái và Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam (Bế Viết Đẳng chủ biên, 1992), Văn hóa Tày – Nùng (Lã Văn Lô, Hà Văn Thư); Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía Bắc Việt Nam (Hoàng Hoa
Toàn, Nguyễn Chí Huyên chủ biên, 2000),v.v
- Nghiên cứu về ngôn ngữ của tộc người Tày: Có thể đưa ra một số công trình
tiêu biểu nghiên cứu về tiếng Tày - Nùng và mối quan hệ giữa tiếng Tày - Nùng vàtiếng Việt của Nguyễn Hàm Dương và Nguyễn Thiện Giáp công bố trên các Tạp chí
Ngôn ngữ như Nguồn gốc lịch sử tiếng Tày - Nùng, Quan hệ giữa tiếng Tày - Nùng và tiếng Việt và vấn đề ngôn ngữ; Các chức năng xã hội của tiếng Tày – Nùng; Hiện tượng mượn từ trong tiếng Tày - Nùng và cách làm giàu vốn từ vựng Tày – Nùng, v.v.
Cũng trong giai đoạn này, nhiều các tác giả là người Tày và người Nùng cũng
đã tiến hành nghiên cứu chuyên sâu và công bố nhiều công trình có giá trị như Vấn
đề chữ Tày - Nùng (Nông Quốc Chấn, 1960); Vài ý kiến nhỏ trong việc dùng tiếng
và chữ Tày - Nùng (Ban Giáo dục Khu Việt Bắc, 1962); Tiếng nói chữ viết Tày – Nùng với việc xây dựng âm tiêu chuẩn cho chữ Tày – Nùng (Ma Thế Dân, 1969); Ngữ pháp tiếng Tày - Nùng (Hoàng Văn Ma - Lục Văn Pảo - Hoàng Chí, 1971); Từ điển Tày - Nùng - Việt (Hoàng Văn Ma - Lục Văn Pảo - Hoàng Chí, 1974); Từ điển thành ngữ - tụcngữ dân tộc Tày (Triều Ân, Hoàng Quyết, 1996); Việc xây dựng chữ dân tộc ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta (Phương Bằng, 1985),v.v.
Từ những năm 80 của thế kỷ XX đã xuất hiện những nghiên cứu chuyên sâu
về tiếp xúc ngôn ngữ, về các trạng thái song đa/ ngữ giữa các tộc người thiểu số vàngười Việt dưới góc độ Xã hội học – ngôn ngữ Trong đó, đáng chú ý là tác giảĐặng Thanh Phương (1979), đã tiếp cận với phương pháp nghiên cứu định lượng vàđịnh tính trong nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc, để chỉ ra sự tiếp xúc ngôn ngữ Tày -Việt trên bình diện chức năng xã hội và cấu trúc ngôn ngữ qua nghiên cứu trườnghợp ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn,v.v
- Nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu về văn hóa dân gian Tày, Nùng: Đáng chú ý
là công trình Văn hóa truyền thống Tày, Nùng của Hoàng Quyết và các cộng sự
Trang 16(1993); Ca dao Tày, Nùng của Triều Ân (1994); Truyện thơ nôm Tày của Hoàng Quyết và Triều Ân (1994); Từ điển thành ngữ - tục ngữ dân tộc Tày của Triều Ân và Hoàng Quyết (1996); Phong Slư của Phương Bằng (1994), Lượn cọi: Ngữ Tày - Quốc Tày của Lục Văn Pảo (1994).
Cũng theo hướng nghiên cứu này còn có Lượn Tày Lạng Sơn (song ngữ Tày Kinh) của Hoàng Văn Páo, 2003), đã nêu rõ giá trị tinh thần của hát lượn trong đời
-sống đồng bào Tày, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp thích hợp nhằm bảo tồn và
phát huy hát lượn Lạng Sơn Cuốn sách Nghệ thuật múa rối Tày, Nùng (Nguyễn
Huy Hồng, 2003) đã giới thiệu một số trò rối của người Tày, Nùng ở các tỉnh BắcKạn, Thái Nguyên và Cao Bằng
Nghệ thuật diễn xướng Then Tày được mô tả khá sinh động và tỷ mỉ trong công trình Nét chung và riêng của âm nhạc trong Then Tày - Nùng (Nông Thị Nhình, 2004) Tác giả đã đề cập tới phần âm nhạc trong Then, sự giống nhau và khác nhau về âm nhạc Then của mỗi vùng, qua đó thấy được sự phong phú, đa dạng cũng như giá trị nghệ thuật trong Then của người Tày, Nùng ở Việt Nam Cuốn Lễ hội Nàng Hai của người Tày Cao Bằng (Nguyễn Thị Yên, 2003) đã đi sâu tìm hiểu
đặc điểm, vị trí và ý nghĩa của lễ hội Nàng Hai trong hệ thống các lễ hội ở tỉnh CaoBằng, từ đó rút ra những nhận xét ban đầu về sự hình thành và phát triển của lễ hội
Nàng Hai ở tỉnh này Cuốn Then Tày - những khúc hát (Triều Ân, 2000), đã giới thiệu những khúc hát cầu chúc và lễ hội: Thì thầm dân ca nghi lễ (Vi Hồng, 2001),
giới thiệu dân ca nghi lễ của người Tày ở tỉnh Cao Bằng,v.v
- Nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng cổ truyền: Đáng chú ý là Bộ Then Tứ Bách,
do nhà nghiên cứu quá cố Lục Văn Pảo dịch và biên soạn (1996) Cuốn sách giới thiệu
một thể loại nghi lễ cúng bái của dân cư Tày ở Việt Bắc - bộ tứ bách gồm: Bách cốc, Bách thú, Bách điểu, Bách va Cùng thể loại này còn có Then Bách điểu (Vi Quốc
Bình, Nông Văn Tư, Hoàng Hạc, 1994) “Bách điểu” là một xã hội thu nhỏ của các loàichim, nhưng phản ánh rõ những bất công, ích kỷ, oan trái, buồn vui, v.v… mà trung
tâm là chúa Then “Bách điểu” có 3.980 câu, 27.860 từ bằng chữ Nôm Tày.
Liên quan đến tín ngưỡng của người Tày có cuốn Tàng mừa pjá lệ đẳm (Hoàng
Hạc, sưu tầm và biên soạn, 2004), sách gồm hai phần: Phần tiếng Tày là “Tằng mừa
Trang 17pjá lệ đẳm” và phần dịch ra tiếng Việt là “Đường lên dâng lễ tổ”, giới thiệu hìnhthức hát bụt trong lễ cúng vía và cúng mụ của dân tộc Tày,v.v.
Viện Dân tộc học đã thực hiện dự án điều tra cơ bản kinh tế, xã hội, văn hóacác dân tộc ở Việt Nam (2000) do Khổng Diễn làm chủ nhiệm Đề tài đã phác họamột bức tranh khá phong phú về các dân tộc thuộc bốn vùng ở nước ta (Tây Bắc Bộ,Đông Bắc, Trung Bộ và Nam Bộ) Tại vùng Đông Bắc, đã khảo sát dân tộc Tày,Nùng ở Cao Bằng Ở đây đề tài chỉ ra thực trạng dân tộc, tỷ lệ sinh, chết, tăng dân
số, những nơi đặc biệt khó khăn tỷ lệ đi học, không biết chữ, biết chữ, hộ nghèo,nhà ở, di dân tự do, đời sống tinh thần của hai dân tộc Tày, Nùng tại Cao Bằng
Tác giả Lê Thị Hường (2006), đã tìm hiểu nghi lễ hôn nhân của người Tày
huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn Trong nghiên cứu này, tác giả đã phân tích quátrình hôn nhân và các bước tiến hành nghi lễ hôn nhân của người Tày Đó là quátrình từ lúc đôi trai gái tìm hiểu nhau, đến lễ dạm hỏi, lễ báo lá số, lễ ăn hỏi, lễ cướichính thức, lễ lại mặt Tác giả đã phân tích biểu hiện của từng lễ trong nghi lễ cướinày Nghiên cứu cũng chỉ ra những biến đổi trong nghi lễ hôn nhân của người Tày ởVăn Lãng Đó là quyền lựa chọn người yêu của con cái, sự giảm bớt các lễ vậtmang đến nhà gái, sự thay đổi phương tiện đi đón dâu, thay đổi trang phục, thay đổi
tục hát lượn Tuy có một số thay đổi, song về cơ bản các phong tục truyền thống của
nghi lễ cưới của người Tày ở Văn Lãng vẫn giữ được bản sắc truyền thống [37]
Tác giả Đặng Thanh Phương (2007), đã tìm hiểu về người phụ nữ Tày ở
vùng ven thị trấn trong quá trình đô thị hóa hiện nay Trong nghiên cứu này, tác giả
đã phân tích đặc điểm nghề nghiệp và phân công lao động của phụ nữ Tày Tác giảcũng phân tích về trình độ học vấn, việc giáo dục con cái của phụ nữ Tày Kết quảkhảo sát cho thấy, người phụ nữ Tày tham gia vào nhiều hoạt động sản xuất ngoàinông nghiệp Các gia đình nhiều thế hệ của người Tày giảm và gia đình hai thế hệ
có xu hướng tăng Qua nghiên cứu này cho chúng ta thấy sự phát triển của ngườiphụ nữ Tày trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế của đấtnước hiện nay Đó là sự phát triển về năng lực sản xuất, sự thay đổi quan hệ tronggia đình người Tày Nghiên cứu không tập trung tìm hiểu về nghi lễ sinh đẻ củangười Tày, cũng như các nghi lễ vòng đời khác của dân tộc này [52]
Trang 18Nguyễn Thị Yên (2009), đã xuất bản cuốn sách có tựa đề: “Tín ngưỡng dân gian Tày – Nùng” Trong cuốn sách này, tác giả đã đi sâu phân tích các hình thức
văn hóa tín ngưỡng của người Tày, nùng (then, pụt; Tào và sinh hoạt tín ngưỡng tào;Một số hình thức văn hóa tín ngưỡng khác) Tác giả cũng đi sâu vào phân tích sựhình thành và biến đổi của các hình thức văn hóa tín ngưỡng Tày, nùng cũng nhưhiện trượng đời sống sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người Tày, Nùng, vai tròhình thức văn hóa tín ngưỡng trong đời sống của người Tày, Nùng
Bên cạnh công trình tiêu biểu về tín ngưỡng dân gian Tày, Nùng đã phân tích
ở trên, tác giả Nguyễn Thị Yên (2010) cũng đã cho người đọc thấy được bức tranh
đời sống tín ngưỡng của người Tày ở Cao Bằng thông qua cuốn sách Đời sống tín ngưỡng của người Tày ven biên giới Hạ Lang, Cao Bằng Trong đó, tác giả đã đi
sâu phân tích về đời sống kinh tế, đời sống văn hóa của người Tày Đặc biệt, tác giả
đã đi sâu vào việc phân tích tín ngưỡng dân gian của người Tày thông qua việc phântích quan niệm về thế giới ba tầng, đối tượng thờ cúng, các hình thức văn hóa tínngưỡng của người Tày như là Then và sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng Then; Tào vàsinh hoạt văn hóa tín ngưỡng Tào; Siên và sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng Siên; ThầyPhường, Nghiên cứu này đã khẳng định đời sống tín ngưỡng của người Tày venbiên giới Hạ Lang, Cao Bằng đã góp phần bảo lưu các phong tục tập quá cổ truyềncủa địa phương
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga (2010), trong công trình nghiên cứu về các dân
tộc vùng Tây Bắc đã phân tích một số nghi lễ của người Tày như: Lễ mừng năm mới, lễcưới xin, lễ tang ma Tác giả đã phân tích quan niệm, ý thức về tầm quan trọng của các
lễ này đối với dân tộc Tày, chỉ ra cách thức tiến hành các lễ Ngoài ra, tác giả còn phântích một số nghi lễ liên quan đến tín ngưỡng tang ma, lễ thờ cúng của người Tày Đây
là những nghi lễ quan trọng của dân tộc này trong cuộc đời và cuộc sống của cộngđồng Cũng trong công trình nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga đã phântích một số nghi lễ của người Thái như lễ cúng nhà, lễ cầu hồn, chúc thọ, lễ hỏa táng, lễđưa hồn về nghĩa địa, lễ đưa hồn lên trời gặp tổ tiên… Tác giả cũng chỉ ra sự bảo tồn
và phát triển bản sắc của các dân tộc Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay Có thể nói, trongcông trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga đã phân tich một số nghi lễtrong cuộc đời của người H’mông và người Thái – Những
Trang 19dân tộc thiểu số lớn ở khu vực Tây Bắc Qua đó cho chúng ta thấy sự bảo tồn vànhững biến đổi của các nghi lễ ở các dân tộc này [47].
Tác giả Bùi Xuân Đính trong đề tài nghiên cứu về một số vấn đề cơ bản của
các dân tộc vùng Đông Bắc đã phân tích các nghi lễ cưới xin, tang ma của người Lô
Lô, H’mông vùng Hà Giang, của người Tày, Nùng ở vùng biên giới Lạng Sơn trongbối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và vùng Đông Bắc hiện nay Theotác giả, các nghi lễ cưới xin, ma chay hiện nay của các dân tộc không thay đổinhiều Điểm thay đổi rõ nhất của nghi lễ cưới xin là thủ tục đơn giản hơn, lễ vậtthách cưới dành cho nhà giái trước đây bằng lễ vật (lợn, gạo, rượu) thì nay bằng tiềnđựng trong phong bì Các bài hát mới thay cho các bài hát truyền thống trong lễcưới Lễ tang của bộ phận người Tày không thay đổi nhiều Ngoài ra, trong nghiêncứu này, tác giả cũng cho rằng, các hình thái tín ngưỡng của các tộc người thiểu số
ở đây vẫn còn được bảo lưu khá tốt như thờ cúng tổ tiên, thờ mụ, thờ thổ công…Tuy tác giả không phân tích đầy đủ các nghi lễ vòng đời của các dân tộc thiểu số,song đã phân tích một số nghi lễ trong cuộc đời con người của một số dân tộc, trong
đó có dân tộc Tày vùng Đông Bắc [32]
Gần đây, tác giả Vũ Phương Nga đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ngành
Nhân học với đề tài: Tiếp biến văn hóa trong bối cảnh gia đình hỗn hợp dân tộc (qua nghiên cứu về người Tày ở huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn), đã luận giải khá rõ sự tiếp
nhận các giá trị văn hóa của các tộc người khác trong gia đình hỗn hợp dân tộc là ngườiTày với người Kinh trên các phương diện ngôn ngữ, phân công lao động, giáo dục vàchăm sóc sức khỏe, quan hệ gia đình và dòng họ, thực hành tôn giáo, tín ngưỡng, trong
đó có các nghi lễ trong chu kì đời người Theo tác giả, trong bối cảnh hội nhập, có sựgiao thoa văn hóa giữa các gia đình hỗn hợp việc biến đổi là điều tất yếu và trong quátrình giao thao ấy, sự tự điều chỉnh và thích ứng của mỗi cá nhân để phù hợp với lốisống của gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì gia đình tốt đẹp
Trong thời gian qua, khi nghiên cứu về các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, một
số tác giả cũng đã tìm hiểu nghi lễ sinh đẻ, tang ma của một số dân tộc Nhữngnghiên cứu này bổ sung và làm đậm nét hơn bức tranh về nghi lễ trong chu kỳ đờingười của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Trang 201.1.3 Những nghiên cứu về nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày
Khi nghiên cứu về nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày, một số tácgiả đã quan tâm đến nghi lễ tang ma của dân tộc này Có thể kể ra một số nghiêncứu sau:
Tang ma là một việc hệ trọng trong chu kỳ đời người trên cõi trần gian Mặc
dù mỗi quốc gia, mỗi tộc người có các cách thức tổ chức nghi lễ khác nhau, nhưngcách tiếp cận nghiên cứu, cách nhìn nhận, đánh giá về tang ma của các tác giả trongnước cũng như ngoài nước nhìn chung khá thống nhất
Các tác giả Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn trong cuốn Sơ lược giới thiệu các nhóm Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam (1968), đã phân tích khá sâu về tôn giáo, tín
ngưỡng, ý niệm về hồn Phi, khoăn và cái chết, về sự tồn tại của thế giới bên kia,những nghi lễ liên quan đến sản xuất của dân tộc Tày [41]
Trong công trình nghiên cứu Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam (1982) của
các tác giả Bế Viết Đẳng, Khổng Diễn, Phạm Quang Hoan, Nguyễn Quang Huy,Nguyễn Anh Ngọc đã phân tích khá sâu về nghi lễ tang ma của dân tộc Tày
Trong cuốn sách Văn hóa Tày - Nùng, xuất bản 1984, các tác giả Lã Văn Lô,
Hà Văn Thư đã giới thiệu khá đầy đủ về xã hội, con người và văn hoá của hai dântộc Tày, Nùng ở Việt Nam Các tác giả đã miêu tả về 9 nghi lễ chính và 13 lễ nhỏcủa người Tày Đây là nghiên cứu khá sâu về nghi lễ chu kỳ đời người của ngườiTày ở Việt Nam [42]
Một cuốn sách khác cũng phân tích tương đối đầy đủ về các phong tục tập
quán trong văn hóa dân tộc Tày là cuốn Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc
của tác giả Hoàng Quyết (1995) Cuốn sách đã tập trung tìm hiểu về đời sống vănhoá tinh thần của dân tộc Tày ở khu Việt Bắc, với những phong tục tập quán về ănmặc, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tang ma, cưới hỏi,… từ xa xưa của người Tày.Công trình nghiên cứu này đã cho ta thấy một bức tranh khá sinh động về đời sốngvăn hóa của dân tộc Tày ở Việt Nam [55]
Tác giả Đỗ Thúy Bình trong công trình Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày - Nùng - Thái ở Việt Nam (1994), đã phân tích 6 nghi lễ chính trong tang ma
của 3 dân tộc, trong đó có tang ma của dân tộc Tày [9]
Trang 21Từ năm1997 đến nay, hoạt động sưu tầm, nghiên cứu, khôi phục văn hoá Tày
ở tỉnh Bắc Kạn đã được quan tâm Có thể nêu ra một số nghiên cứu sau:
Các tác giả Hà Văn Viễn, Lương Văn Bảo, Lâm Xuân Đình, Triệu Kim Văn,
Bàn Tuấn Năng, Đàm Thị Uyên, Hoàng Thị Lan (2004) xuất bản cuốn sách Bản sắc
và truyền thống văn hoá các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, đã phản ánh khá chi tiết về
những kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, về đời sống văn hoá vật chất vàtinh thần của các dân tộc thiểu số ở địa phương này, trong đó có dân tộc Tày Nhưngnhững nghi lễ trong tang ma, cũng chỉ được giới thiệu một cách khái quát
Một nghiên cứu khá sâu về nghi lễ tang ma của người Tày là công trình Việc tang lễ cổ truyền của người Tày, của tác giả Hoàng Tuấn Nam (1999) Tác giả đã
nghiên cứu một cách có hệ thống về các nghi lễ tang ma của dân tộc Tày ở Việtnam, từ biểu hiện đến cách thức tiến hành nghi lễ tang ma Qua nghiên cứu này đãthể hiện một số đặc trưng về nghi lễ tang ma của người Tày ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Ngân (2002), đã tìm hiểu Nghi lễ tang ma của người Nùng huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn Nghiên cứu này đã phác họa đầy đủ, chi tiết các
nghi lễ tang ma của người Nùng huyện Bạch Thông Đây là nguồn tài liệu bổ íchgiúp chúng tôi thấy được những nét tương đồng và khác biệt trong tang lễ của ngườiTày và người Nùng ở Bắc Kạn trong bối cảnh hiện nay
Tác giả Hoàng Lương (2005), đã nghiên cứu Văn hóa các dân tộc Tây Bắc Việt Nam Ở đây, tác giả đã phân tích sự phân bố, nguồn gốc lịch sử, hoạt động kinh tế, các
dạng thức văn hóa vật thể của các dân tộc ở Tây Bắc Đặc biệt trong công trình nghiêncứu này, tác giả đã phân tích tục lệ vòng đời của các dân tộc vùng Tây Bắc, trong đó códân tộc Tày Đó là tục lệ hôn nhân của dân tộc Tày gồm quá trình tìm hiểu nhau, các lễdạm hỏi, ăn hỏi, định ngày cưới, lễ cưới chính thức, lễ đón dâu, lễ lại dấu chân Tục lệsinh đẻ và nuôi dạy con cái Tục lệ này thể hiện ở tục lệ ăn kiêng, chăm sóc thai nhi, tụckiêng kỵ để sinh nở may mắn, tự khi sinh, sau sinh và các tục lệ chăm sóc đứa trẻ Tục
lệ ma chay của dân tộc Tày Tục lệ này thể hiện ở chỗ khâm liệm người chết, tổ chứcđám ma Có thể nói đây là một trong số ít nghiên cứu phân tích đầy đủ các nghi lễ trongvòng đời của người Tày từ lúc sinh ra đến khi qua đời
Tác giả Nguyễn Thị Yên (chủ biên), Vương Hùng, Nông Vĩnh Tuân (2008), trong
quyển sách Quyển Đẳm đã đi sâu vào việc phân tích nghi lễ Quyển Đẳm của then và pựt
Trang 22nhạc trong đám tang của Thầy cúng người Tày, Nùng chính là một cách để hiện thực hóaviệc tiễn đưa linh hồn người chết trở về trời Thông qua đó nó đã tích hợp nhiều yếu tố vănhóa tín ngưỡng đặc trưng của người Tày Trong tác phẩm này, các tác giả cũng đã đi sâuvào việc phân tích trình tự một lễ Quyển Đẳm, ý nghĩa tôn giáo tín ngưỡng của QuyểnĐẳm, ý nghĩa tôn giáo và tín ngưỡng của người Tày, Nùng qua lễ Quyển Đẳm.
Tác giả La Công Ý (2010), đã phân tích khá sâu về phong tục tập quán trong chu kỳđời người của người Tày Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã phân tích một sốnghi lễ như: cưới xin; mang thai, sinh con, nuôi con và ma chay của người Tày Về nghi
lễ cưới xin tác giả đã cho rằng, việc cưới hỏi của người Tày là một quá trình diễn ratrong một thời gian tương đối dài, phải trải qua nhiều bước khác nhau với những nghi
lễ rườm ra phức tạp, tốn kém, trong đó có ba lễ chính là lễ dạm hỏi, lễ ăn hỏi và lễ cưới.Trong mỗi lễ này được tác giả phân tích khá cụ thể Về nghi lễ mang thai, sinh con vànuôi con nhỏ, tác giả đã phân tích qua niệm của người Tày là “giàu con hơn giàu của”.Nhiều con, lắm cháu là yếu tố quan trọng nhất tạo nên hạnh phúc bền lâu của mỗi giađình Người Tày tin rằng trẻ em là loài hoa đẹp nhất trên thượng giới Về vấn đề concái, người Tày rất quan tâm đến việc sinh con trai hay con gái Người Tày rất quan tâmđến việc chăm sóc cho người phụ nữ khi mang thai để có được mẹ tròn con vuông.Người phụ nữ phải kiêng cữ rất nhiều từ ăn uống đến lao động và sinh hoạt hàng ngày.Tác giả cũng phân tích quá trình thực hiện việc sinh đẻ, chăm sóc đứa trẻ sau khi sinh
Về nghi lễ ma chay, người Tày cho rằng tổ chức tang lễ cho người đã khuất là đưa tiễnlinh hồn của người đó về với thế giới bên kia, chuẩn bị mọi thứ cho người đã khuấtsống cuốc sống mới Tổ chức tang lễ cũng là dịp để xóa sạch mọi tội lỗi lúc sinh thờingười đó đã phạm phải để linh hồn được siêu thoát Các lễ trong nghi lễ tang ma được
tổ chức theo một quy trình cẩn thận, nghiêm túc và chặt chẽ Từ nghiên cứu này, tác giả
đã cho ta thấy một chu trình khép kín của một đời người từ lúc hôn nhân đến khi sinh
ra và mất đi [69]
Một công trình nghiên cứu quan trọng về các nghi lễ trong chu kỳ đời người củangười Tày ở Tuyên Quang là nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Ngọc Thanh, NgôThị Trang, Phạm Thị Hằng, Nguyễn Linh Hương, Lục Mạnh Hùng, Hoàng Thị Hỏi,
Hồ Sỹ Lập, Trần Đức Tùng, Nguyễn Mạnh Tiến (2016) Trong công trình này cáctác giả đã phân tích một bức tranh khá đầy đủ và sinh động về đời sống kinh tế, tổ
Trang 23chức xã hội và văn hóa của dân tộc Tày ở Tuyên Quang Về nghi lễ vòng đời củangười Tày ở Tuyên Quang Các tác giả đã phân tích các nghi lễ sinh đẻ và nuôi con;nghi lễ trong đám cưới và nghi lễ tang ma Về nghi lễ sinh đẻ và nuôi con, các tácgiả đã phân tích quan niệm về sinh đẻ và ảnh hưởng của nó đến vị thế của ngườiphụ nữ trong gia đình Đối với người phụ nữ sinh con nhất là con trai sẽ có ảnhhưởng quan trọng đến việc khẳng định vị thế của người phụ nữ trong gia đình Sựchuẩn bị cho người phụ nữ trước khi sinh đến khi sinh và sau khi sinh, giai đoạnchăm sóc đứa trẻ cũng được các tác giả phân tích cụ thể Về nghi lễ trong đám cưới,các tác giả cũng phân tích khá kỹ về quá trình từ khi dạm ngõ đến ăn hỏi và tổ chức
lễ cưới Về nghi lễ tang ma, các tác giả đã phân tích quan niệm của người Tày về cáichết, tổ chức nghi lễ tang ma với nhiều nghi thức cầu kỳ và rất trang trọng Trongcông trình nghiên cứu này các tác giả không chỉ phân tích thực trạng bảo lưu cácnghi lễ mà còn chỉ ra những biến đổi của các nghi lễ này trong xã hội hiện nay [61].Nghiên cứu về phong tục, tập quán đã xuất hiện nhiều công trình có giá trị
Chẳng hạn, Lễ cầu tự của người Tày Cao Bằng (Triệu Thị Mai, 2001) đã khảo cứu
về lễ cầu tự cổ truyền của người Tày tại vùng Trí Viễn, huyện Trùng Khánh, tỉnhCao Bằng và so sánh với một số lễ cầu tự ở một số địa phương khác trong tỉnh đểthấy rằng, lễ cầu tự hiện nay vẫn là một lễ thức gắn với đời sống tinh thần của cộng
đồng người Tày Một cuốn sách khác cũng rất được chú ý ở mảng đề tài này là Dân
ca đám cưới Tày, Nùng của Nông Minh Châu (1973), đã mô tả và phản ánh khá sắc
nét nhiều phương diện đời sống của xã hội Tày - Nùng
1.1.4 Các nghiên cứu về nghi lễ trong chu kỳ đời người của các tộc người thiểu số ở khu vực phía Bắc
Có thể nói, văn hóa tộc người được thể hiện qua nghi lễ khá cụ thể và rõ ràng,
nó chứng minh được sự thống nhất và khác biệt trong văn hóa của mỗi cộng đồngtộc người Chính vì vậy, trong thời gian vừa qua, các nghiên cứu về nghi lễ trongchu kì vòng đời của các tộc người thiểu số, trong đó có các tộc người ở khu vực
phía Bắc khá được các tác giả chú ý Chẳng hạn như: Nghi lễ trong chu kì đời người của nhóm Dao Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn của Lý Hành Sơn (2003); Nghi lễ trong chu
kì đời người của người Mường ở Hòa Bình của Nguyễn Thị Song Hà (2011), Nghi
lễ gia đình của người Tày Mường ở Nghệ An của Lê Hải Đăng (2013), Nghi lễ gia đình của người Mảng ở Việt Nam (2015) của Nguyễn Văn Thắng; Nghi lễ trong chu
Trang 24kì đời người của người Dao Thanh Y, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh của
Nguyễn Thị Thu Hà (2016),… Có thể nói, trong các công trình ấy, văn hóa của cáctộc người thể hiện qua các nghi lễ trong chu kì đời người được tái hiện khá rõ, đồngthời các công trình cũng đã luận giải được quá trình biến đổi, nguyên nhân tác độngđến quá trình biến đổi của văn hóa trong bối cảnh hội nhập Các công trình trên đãcung cấp cho tác giả luận án này các phương pháp tiếp cận, các công cụ về kháiniệm và lí thuyết phù hợp để làm rõ vấn đề nghiên cứu, do đó nó có giá trị gợi ý vàđịnh hướng tác giả nhận thức sâu hơn về văn hóa thông qua các hệ thống nghi lễchu kì đời người mà các tộc người thiểu số, trong đó có người Tày đang thực hànhhàng ngày trong cuộc sống của họ
Từ tổng quan nghiên cứu có thể thấy rằng, cho đến nay chưa có nhiều cácnghiên cứu về văn hóa, trong đó có nghi lễ vòng đời của dân tộc Tày ở tỉnh TuyênQuang Do vậy, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Tày
ở huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang qua các nghi lễ chu kỳ vòng đời là rất cầnthiết, vừa có ý nghĩa khoa học vừa có giá trị thực tiễn sâu sắc
Từ phân tích những công trình nghiên cứu trên có thể rút ra một số nhận xét sau:
Có khá nhiều công trình nghiên cứu quan tâm đến văn hóa, trong đó có cácnghi lễ vòng đời của các dân tộc thiểu số phía Bắc, trong đó có dân tộc Tày Nhữngnghiên cứu này chủ yếu của các tác giả Việt Nam, rất ít các công trình nghiên cứunước ngoài Nhiều nghiên cứu tìm hiểu về đời sống kinh tế, văn hóa, điều kiện sống
và sinh hoạt của dân tộc Tày Một số nghiên cứu lại tìm hiểu một khía cạnh của đờisống văn hóa của dân tộc Tày, hay nghi lễ trong vòng đời của người Tày Rất ítnghiên cứu tìm hiểu đầy đủ các nghi lễ trong chu kỳ vòng đời của dân tộc Tày.Những nghiên cứu về người Tày ở Tuyên Quang còn rất khiêm tốn, đặc biệt chưa
có nghiên cứu nào tìm hiểu sâu, có hệ thống về các nghi lễ vòng đời của dân tộc Tày tạihuyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang Đây là khoảng trống để luận án đi nghiên cứu
1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
- Nghi lễ
Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đưa ra những quan niệm khác nhau về nghi lễ Theo Schultz và Lavenda, nghi lễ thường có bốn yếu tố chính: (i) Các hoạtđộng xã hội lặp đi lặp lại gồm hàng loạt những động tác có tính biểu tượng dưới
Trang 25dạng múa, hát, lời nói, điệu bộ, thao tác trên một số đồ vật nào đó; (ii) Nghi lễ táchriêng khỏi các hoạt động thường ngày của xã hội; (iii) Nghi lễ theo đúng một mô hìnhnhất định do văn hoá đặt ra; (iv) Hoạt động nghi lễ liên quan chặt chẽ đến một số tưtưởng thường xuất hiện trong huyền thoại Mục đích của thực hiện nghi lễ là để hướngdẫn việc lựa chọn tư tưởng nêu trên và thực thi chúng qua biểu tượng Tuy nhiên, theoquan điểm của ngành Nhân học nói chung thì, nghi lễ bao gồm nhiều hoạt động với tầmrộng hơn cách hiểu nêu trên, bởi: nghi lễ tạo ra hành động, nghi lễ hoàn toàn có thểchuyển đổi, nghi lễ và vui chơi luôn gắn liền và bổ sung cho nhau.
Theo Từ điển Nhân học, nghi lễ là những hành động nghi thức diễn ra trong
bối cảnh thờ cúng tôn giáo Thông thường, các nhà nhân học sử dụng khái niệm
“nghi lễ” để nói về bất kỳ một hành động nào có nhiều nghi thức và với mục đíchphi bình quân chủ nghĩa Theo nghĩa rộng nhất, nghi lễ liên quan không chỉ đến mộtloại sự kiện cụ thể đặc biệt nào mà cả với khía cạnh thể hiện toàn bộ hoạt động củacon người Trong chừng mực nhất định nó chuyển tải các thông điệp về địa vị vănhóa và xã hội của các cá nhân, của bất kỳ một hành động con người nào có khíacạnh nghi lễ” (Barfield, 1997)
Theo Từ điển Bách khoa thư Việt Nam (2003, tr.109), nghi lễ là những hoạt
động mang tính truyền thống được thực hiện tại những thời điểm quan trọng trongđời sống và trong hoạt động sản xuất của con người Có thể phân biệt 2 loại: nghi lễchính là loại gắn với chu kỳ đời người (sinh đẻ, cưới xin, ma chay) gọi là nghi lễ giađình; còn một loại liên quan đến sản xuất nông nghiệp và các hoạt động kinh tếkhác gọi là nghi lễ theo lịch
Trong luận án này, NCS xác định khái niệm nghi lễ theo từ điển tiếng Việt:
“Nghi lễ là nghi thức và trình tự tiến hành một cuộc lễ”.
- Nghi lễ chu kỳ đời người
Nghi lễ chu kì đời người (hay nghi lễ vòng đời) là toàn bộ những nghi lễ liênquan đến chu kỳ của một con người từ khi sinh ra, lớn lên, kết hôn và chết đi Trongmỗi xã hội có những nghi lễ đánh dấu các mốc quan trọng của đời người như: lễ đặttên, lễ cúng mụ, lễ mừng thọ, lễ cưới, lễ tang,
Theo Từ điển tiếng Việt, thứ nhất, chu kỳ là khoảng thời gian nhất định để mộtquá trình tuần hoàn lặp lại sự diễn biến của nó một cách đều đặn Thứ hai, chu kỳ là
Trang 26khoảng thời gian tương đối không đổi giữa hai lần diễn ra kế tiếp nhau của một hiệntượng thường xuyên lặp đi lặp lại [Từ điển Tếng Việt 1995][ tr 541].
Theo tác giả Đặng Nghiêm Vạn, nghi lễ vòng đời hay nghi lễ trong chu kỳ đờingười là tập hợp các hành vi của con người (cá nhân hay tập thể) trong quá trìnhthực hành các nghi thức của cuộc lễ theo một trật tự nhất định, liên quan đến sinh
đẻ, cưới xin, tang ma,
Khi nói đến khái niệm chu kỳ đời người, trong Từ điển Tiếng Việt xác định:
“Chu kỳ đời người được hiểu: 1) Chu kỳ đời người là quá trình sống của một conngười, của một cá thể sinh vật, nhìn một cách toàn bộ từ lúc mới sinh ra cho đếnchết 2) Chu kỳ đời người là toàn bộ đời sống xã hội với những hoạt động, những
sự kiện xảy ra trong đó”[59]
Nói một cách khác, chu kỳ đời người là sinh – lão – bệnh – tử Ở đây, sinh là con
người được sinh ra; Lão là con người lớn lên, trưởng thành và già đi; Bệnh là nhữngloại bệnh tật xuất hiện trong cuộc đời con người đặc biệt là lúc con người chuyển sanggiai đoạn tuổi già thì các bệnh tệ thường xuất hiện nhiều hơn; Tử là lúc con người chết.Nói cách khác đó là một quá trình mà con người sinh ra, lớn lên, già đi và chết
Từ các khái niệm trên, trong luận án này xác định khái niệm chu kỳ đời ngườinhư sau:
Chu kỳ đời người là quá trình sống của một con người từ lúc sinh ra cho đếnlúc chết
- Nghi lễ trong chu kỳ đời người
Từ phân tích các khái niệm trên, có thể xác định khái niệm nghi lễ trong chu kỳđời người như sau:
Nghi lễ trong chu kỳ đời người là nghi thức và trình tự tiến hành các cuộc lễcủa con người từ lúc sinh ra đến lúc chết
Như vậy, nghi lễ trong chu kỳ đời người là những hành động có tính khuônmẫu, tức là những hành động này được lặp đi, lặp lại trong cuộc đời của một conngười Nó được truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ khác
Nghi lễ trong chu kỳ đời người gắn với ba sự kiện quan trọng của cuộc đời làsinh đẻ, hôn nhân và tang ma Nghi lễ trong chu kỳ đời người được thực hiện theomột trật tự nhất định Các thế hệ nối tiếp tuân theo trật tự này để thực hiện nghi lễ
Trang 27- Sinh đẻ:
Theo tác giả Thomas Barfield (2006, tr.105), sinh đẻ là việc người phụ nữ cốgắng dùng cơ dạ con của họ để đẩy những đứa con từ thế giới riêng bên trong tửcung ra một xã hội và văn hóa rộng lớn hơn
Trong Từ điển tiếng Việt, sinh đẻ là nói về việc sinh con Sinh đẻ là một vấn đềquan trọng trong cuộc đời của một con người gia đình và một dân tộc, quốc gia.Sinh đẻ giúp cho dòng họ, dân tộc và quốc gia trường tồn Sinh đẻ cũng là cơ sở đểtạo ra nguồn nhân lực cho gia đình và xã hội [67]
Sinh đẻ là hoạt động duy trì và bảo tồn nòi giống, là công việc của phụ nữ cốgắng và dùng cơ của dạ con để đẩy đứa con từ thế giới riêng bên trong tử cung ramột xã hội và văn hóa rộng lớn hơn [33, tr35]
- Nghi lễ sinh đẻ:
Nghi lễ sinh đẻ là nghi thức và trình tự tiến hành việc sinh
con - Hôn nhân:
Hôn nhân theo Từ điển Nhân học (1997, tr.519), hôn nhân là mối quan hệ gắn
bó được thừa nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bànhằm mục đích duy trì nòi giống một cách hợp pháp lập gia đình hạt nhân mới hoặcnhằm tạo ra hộ gia đình mới
Khi nghiên cứu về hôn nhân, Emily A.Schultz và Robobert H Lavenda (2001, 343) cho rằng: Hôn nhân là một quá trình xã hội mà mô hình mẫu của nó là sự kết hợp giữamột người đàn ông và một người đàn bà, là một sự kiện làm biến đổi những thành viên của
tr.342-nó, làm thay đổi quan hệ giữa những người thân thuộc của mỗi bên và những khuôn mẫu
xã hội thông qua việc sinh đẻ cùng với một số quyền lợi và nghĩa vụ đi kèm Hôn nhâncũng tạo nên tính hợp pháp của con cái do người vợ sinh ra và thiết lập các mối quan hệgiữa họ hàng bên vợ và họ hàng bên chồng Do vậy, có thể nói hôn nhân là hiện tượng xãhội, là một trong những đặc trưng cơ bản của văn hóa tộc người
Tác giả Đỗ Thúy Bình cho rằng: “Hôn nhân là sự liên kết giữa một nam và nữ
nữ được hợp thức hóa bởi tập quán và luật pháp tạo thành một gia đình Sau hônnhân là những gia đình với tổng thể các mối quan hệ ứng xử giữa các thành viên vàcác nghi lễ trong gia đình và cộng đồng” [Dẫn theo 22]
Khái niệm hôn nhân cũng được xác định tại điểm 6, Điều 8 trong Luật Hôn
Trang 28nhân và Gia đình năm 2004 quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau
khi đã kết hôn” [43]
Trong luận án này, sử dụng khái niệm hôn nhân của nhà nghiên cứu Đỗ ThúyBình: Hôn nhân là sự liên kết giữa một nam và nữ được hợp thức hóa bởi tập quán vàluật pháp tạo thành một gia đình Sau hôn nhân là những gia đình với tổng thể các mốiquan hệ ứng xử giữa các thành viên và các nghi lễ trong gia đình và cộng đồng
Như vậy, khi nói đến hôn nhân là nói đến quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kếthôn Ngày nay, khái niệm này được mở rộng hơn, có thể áp dụng đối với các đốitượng khác nhau, chẳng hạn như hôn nhân của những người đồng giới Tuy nhiên,trong nghiên cứu hôn nhân của người Tày tại điểm nghiên cứu chúng tôi chưa thấy
có hiện tượng hôn nhân đồng giới
- Nghi lễ hôn nhân
Nghi lễ hôn nhân được hiểu là các nghi lễ diễn ra theo tập quán hoặc theo quyđịnh của cộng đồng trong mỗi cuộc hôn nhân Nghi lễ hôn nhân là một thủ tục đểkhẳng định cuộc hôn nhân đó là hợp pháp, được cộng đồng và luật pháp công nhận,
nó làm thay đổi địa vị xã hội của con người Nghi lễ hôn nhân nhằm mục đích đảmbảo cho sự chứng kiến và sự công nhận từ phía cộng đồng, ngoài ra nó còn thựchiện một số yếu tố tâm linh gắn với cuộc hôn nhân Qua nghi lễ hôn nhân chúng tathấy được bản sắc văn hóa tộc người
- Tập quán hôn nhân:
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Tập quán là những thói quen hình thành trong đời
sống, sinh hoạt thường ngày”[67]
Khái niệm tập quán hôn nhân được quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Tại điểm 4, Điều 3 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 định nghĩa:
“Tập quán hôn nhân và gia đình là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền,nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi, lặp lại trongmột thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng”[43]
- Tang ma
Trang 29Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, tang ma (tang lễ) là những hành động ứng
xử đối với người đã chết Tang ma thường gắn với những quy định, nghi thức thờcúng, kiêng cữ nhất định [58]
Theo tác giả Nguyễn Thị Song Hà, tang ma là thuật ngữ chỉ cách thức vànghi lễ liên quan đến người chết và những tín ngưỡng gắn liền với nghi lễ đó màtrọng tâm là làm như thế nào để đưa linh hồn người chết về an cư ở thế giới bên kia.Theo tác giả H.R River (1926), nhờ nghi lễ tang ma mà người chết được giao vềcho thế giới tổ tiên và như vậy họ không còn được nuôi dưỡng nữa Khi thực hiệnnghi lễ tang ma đã thể hiện những tình cảm mạnh mẽ của người sống với ngườichết Theo tác giả này, việc giải thích các nghi lễ liên quan đến tang ma phải gắnliền với bối cảnh văn hóa và xã hội mà người ta thực hiện nghi lễ đó
Theo Từ điển Bách khoa thư Việt Nam, tang ma hay còn gọi là tang lễ lànhững nghi lễ, hành động ứng xử đối với người chết… Tang lễ thường gắn vớinhững quy định, nghi thức thờ cúng, kiêng cữ nhất định và cả việc chu cấp thức ăn,nước uống cho người chết Thường có sự khác biệt giữa tang lễ của người chết bình
thường (tai đi/tai tháu) và tang lễ của người chết do tai nạn xe cộ, chết trôi, chết do
bị hổ vồ, ngã cây, đá đè tức chết bất đắc kỳ tử (tai hại).
Trong luận án này, khái niệm tang ma được xác định như sau:
Tang ma là những hành động ứng xử đối với người đã chết Tang ma thường gắn với những quy định, nghi thức thờ cúng, kiêng cữ nhất định.
- Nghi lễ tang ma:
Nghi lễ tang ma là nghi thức và trình tự tiến hành hành động ứng xử đối với người đã chết
- Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành
trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, traotruyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Phong tục không mang tính cố định, bắt buộcnhư nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày
Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững và tương đối thống nhất
- Tập quán: là thói quen hình thành từ lâu đời trong đời sống, được lặp đi lặp
lại và được mọi người làm theo
Trang 30- Truyền thống được hiểu là thói quen được hình thành đã lâu trong lối sống và nếp
nghĩ, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Trong nội dung của luận án này,NCS xác định mốc thời gian của truyền thống là trước khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước (1986)
- Biến đổi là sự thay đổi khác so với trước như: biến đổi xã hội, biến đổi văn
hóa, biến đổi tôn giáo, tín ngưỡng Văn hóa tộc người không phải là bất biến mà
nó luôn luôn vận động, biến đổi để thích nghi với hoàn cảnh và yêu cầu của thựctiễn Trong luận án này, mốc biến đổi mà nghiên cứu này áp dụng là sau năm 1986đến nay bởi đây là thời điểm Đảng và Nhà nước ta có nhiều chính sách, chủ trươngtác động đến đời sống của nhân dân, trong đó có vùng đồng bào dân tộc Tày ởhuyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang
1.2.2 Các lý thuyết nghiên cứu
- Lý thuyết về Nghi lễ chuyển đổi
Lý thuyết về Nghi lễ chuyển đổi được Arnold van Gennep (1873 - 1985) khởi
xướng vào năm 1909, sau đó được Mary Douglar và Victor Turner phát triển lên vàonăm 1960 để lý giải các vấn đề nghiên cứu về nghi lễ Nghi lễ chuyển đổi biểu đạt
sự việc khi con người vượt qua những ranh giới về không gian, thời gian, hoặc địa
vị xã hội hoặc chứng tỏ sự vượt qua (trưởng thành) một thời kỳ trong chu kỳ đời
người Ví dụ, sự chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn thường bao gồm một nghi lễ
thành đinh; những sự chuyển tiếp sang hôn nhân, chết, và tư cách thành viên củamột nhóm là những dịp kỷ niệm trong hầu hết mọi xã hội Tương tự, hầu hết các xãhội đều ghi nhận sự chuyển tiếp từ năm này sang năm khác và từ mùa này sang mùakhác Do các nghi thức chuyển tiếp diễn ra tại ranh giới của các dạng thức văn hóa,chúng mang lại một chìa khóa rất quý báu để hiểu được sự phân loại về mặt xã hội
và thời gian của một xã hội Thậm chí, chúng có thể giúp hiểu được những côngviệc cơ bản của trí óc con người Arnold van Gennep và Victor Turner (1960) chorằng, các nghi thức chuyển tiếp biểu trưng cho một sự thống nhất đáng kinh ngạc
trong cấu trúc bên trong và dọc theo các nền văn hóa (Từ điển Nhân học, 2006:
682) Như vậy, các nghi lễ chuyển tiếp bao gồm những lễ kỷ niệm riêng tư khôngtheo quy tắc nào nhằm ghi nhớ những dấu mốc cá nhân như ngày sinh, lễ trưởngthành, kết hôn và qua đời Chúng cũng bao gồm những lễ kỷ niệm thường kỳ củacộng đồng đánh dấu vòng tuần hoàn của các mùa, ví dụ như lễ Giáng sinh, Phục
Trang 31sinh, v.v Tất nhiên, những dạng thức này không mang tính loại trừ lẫn nhau TheoVan Gennep, nghi lễ chuyển tiếp thường diễn ra theo ba giai đoạn:
Cách ly: biểu thị sự biệt lập một cá nhân đối với nhóm Chuyển tiếp: đó là thời
điểm tính hiệu lực của nghi lễ về việc loại bỏ cá nhân đó ra khỏi nhóm được thực
thi Tái hợp: đó là sự trở lại, tái hòa nhập cộng đồng.
Ba giai đoạn của nghi lễ nói trên còn được Van Gennep biểu thị bằng các khái
niệm khác như: Tiền ngưỡng, Ngưỡng và Hậu ngưỡng Van Gennep nhận xét những biểu hiện thường thấy ở giai đoạn Cách ly bao gồm phá vỡ, xé rách, cắt bỏ, cạo bỏ, lột bỏ; tiếp đó là giai đoạn Chuyển tiếp (ở ngưỡng) - sự chỉ dẫn mang tính huyền bí
ma thuật, và kết thúc với việc thu nạp trở lại cộng đồng (Tái hợp) theo một cách
thức mang tính biểu tượng
Các nghi thức đặc biệt quan trọng tại những thời điểm chuyển tiếp, khi một cấutrúc xã hội ở trong tình trạng yếu nhất của nó Bất kỳ sự chuyển tiếp xã hội nào cũngtạo ra một phản ứng dây chuyền trong một hệ thống các mối quan hệ; nếu một cô gáiđột ngột trở thành một người đàn bà, hoặc một người trở thành vua, vị thế của tất cảnhững người có liên quan tới họ cũng sẽ đột ngột thay đổi Các nghi thức chuyển tiếplàm kịch tính hóa những sự thay đổi này, cho phép các tác nhân định hình trong nhữngvai trò mới và những mối quan hệ mới, cùng với nó là những giáo huấn, chỉ thị chongười được thay đổi về những nhiệm vụ và trách nhiệm của vị trí mới
Năm 1969, V Turner dựa trên sơ đồ về nghi lễ chuyển tiếp của A Van Gennep, đã
đưa ra nội dung xã hội học như sau: các nghi lễ gắn chặt sự chuyển tiếp của các cá thể
vào giữa hai trạng thái quan hệ tương phản nhau, cấu trúc và cộng đồng, cộng đồng là nền tảng cho cấu trúc Phát triển lý thuyết nghi lễ chuyển tiếp của Van Gennep, Victor Turner nghiên cứu và cho xuất bản cuốn Le Phénomène rituel Structure et contre structure (Hiện tượng nghi lễ Cấu trúc và phi cấu trúc) Từ quan sát và phân tích tỉ mỉ
một số nghi lễ liên quan đến giới nữ người Ndembu ở Trung Phi về sinh đẻ, Turner sửdụng khái niệm nghi lễ chuyển tiếp từ một trạng thái hay một vị thế này sang một vị thế
khác với ba giai đoạn mà Van Gennep đã đưa ra (tiền ngưỡng, ngưỡng và hậu ngưỡng); ông nhấn mạnh đến giai đoạn ngưỡng trong đó những “loại ngưỡng” vượt ra ngoài tất
cả hệ thống phân loại và dấu hiệu riêng của cấu trúc xã hội như thứ bậc, sở hữu, trangphục, v.v Victor Turner gọi những mối quan hệ xã hội cùng loại và được tách khỏi hệthống rất khác biệt và hữu cơ với cấu
Trang 32trúc là communitas: Cùng với cấu trúc xã hội, communitas tương ứng với hai thời
điểm hay hai thái cực của phép biện chứng về đời sống xã hội… Vì xã hội gồmnhiều hình thái khác nhau nên luôn có sự chuyển tiếp từ một vị thế này sang vị thế
khác và mỗi cá nhân hay mỗi nhóm xã hội trải nghiệm đan xen giữa communitas
với cấu trúc (Victor Turner, 1990: 124.)
Như vậy, có thể thấy rằng, nghi lễ chuyển đổi biểu thị sự chuyển đổi về mặt
không gian, thời gian, từ vị thế xã hội này sang vị thế xã hội khác của một cá thểhay một nhóm xã hội Nghi lễ chuyển tiếp phụ thuộc vào bối cảnh văn hóa và chịuảnh hưởng của văn hóa tộc người, bởi vậy ở mỗi nền văn hóa khác nhau, nghi lễchuyển tiếp sẽ được tiến hành dưới những hình thức khác nhau Đây cũng chính là
cơ sở lý thuyết để chúng tôi vận dụng vào nghiên cứu, luận giải về các nghi lễ trongchu kỳ vòng đời của người Tày ở huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang
- Lý thuyết về Bản sắc văn hóa tộc người được F Boas đưa ra để chỉ tính đặc thù
của văn hóa tộc người Theo quan điểm này, các nhà nghiên cứu, trong đó có các nhàDân tộc học và Nhân học nhấn mạnh đến những bản sắc riêng, có tính riêng biệt trongvăn hóa của mỗi cộng đồng tộc người Bản sắc văn hóa tộc người là những nét đẹp,những tinh hoa đã được chắt lọc từ trong cuộc sống của cộng đồng, được cộng
đồng thừa nhận, là sự kết nối, gắn bó giữa con người với nhau, là tài sản vô giá hếtsức quý báu của cả cộng đồng, dân tộc, tạo nên sức sống diệu kỳ và sức mạnh tinhthần để vượt qua những khó khăn, thử thách, những trở ngại trong cuộc sống
Bản sắc văn hóa tộc người là tổng thể những yếu tố văn hóa vật chất và tinhthần mang tính đặc trưng và đặc thù của tộc người, giúp phân biệt tộc người này vớitộc người khác Bản sắc văn hóa tộc người được hình thành lâu dài trong lịch sử gắnliền với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trường địa lý tự nhiên trong đời sống củatừng tộc người và chúng có sức sống lâu bền, thậm chí ngay cả khi đời sống của tộcngười có những biến đổi mạnh mẽ Bản sắc văn hóa tộc người cũng thể hiện rõ rệtsức sống của một tộc người, được lưu giữ trong những thành tố văn hóa khác nhau,đặc biệt là ở ý thức tộc người hay nhóm tộc người (nhóm địa phương)
Tác giả luận án vận dụng lý thuyết về Bản sắc văn hóa tộc người để nghiên
cứu, nhận diện những sắc thái riêng trong các nghi lễ chu kỳ vòng đời của ngườiTày ở huyện Nà Hang, trong bối cảnh phát triển và hội nhập của đất nước, nhất là
trong điều kiện biến đổi ở địa phương.
Trang 33- Lý thuyết về Biến đổi và tiếp biến văn hóa
Biến đổi và tiếp biến văn hóa được trường phái Nhân học Anglo - Saxon khởi
xướng vào cuối thế kỷ XIX Biến đổi văn hóa là một quá trình tất yếu diễn ra trong
tất cả các xã hội và ở tất cả các tộc người ở cả trong xã hội phát triển và đang pháttriển, chậm phát triển Thuộc tính biến đổi thể hiện ngay trong chính nội hàm củakhái niệm văn hóa; văn hóa biến đổi do tác động của các yếu tố nội sinh và ngoạisinh Tiền đề của biến đổi là sự lựa chọn của các tộc người Văn hóa các tộc ngườiluôn biến đổi để thích nghi với những biến đổi đã và đang diễn ra xung quanh tộcngười và có tác động đến đời sống tộc người Khi nghiên cứu về biến đổi văn hóa,các nhà nhân học thường lý giải dưới nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau như
Tiếp biến văn hóa, Tiến hóa luận, Truyền bá văn hóa, Thuyết sinh thái văn hóa
Để lý giải sự biến đổi của các nghi lễ trong chu kỳ vòng đời của người Tày ở huyện
Nà Hang, trong luận án này, tác giả thiên về cách tiếp cận Tiếp biến văn hóa.
Tiếp biến văn hóa dùng để diễn giải quá trình thay đổi văn hóa diễn ra do sự tiếp xúc
của hai hệ thống văn hóa độc lập; sự tiếp xúc đó làm tăng đặc tính của nền văn hóa nàytrong nền văn hóa kia Tiếp biến văn hóa bao gồm nhiều quá trình khác nhau như truyền
bá, thích nghi, phản ứng lại, với nhiều kiểu tái tổ chức văn hóa xã hội sau quá trình tiếp xúc
và sau cùng là “tan rã văn hóa” Phạm vi điều chỉnh trong đó có giữ lại đặc điểm văn hóachủ đạo (thuyết đa nguyên bền vững) hay đặc trưng hơn là nhóm tiếp xúc có ảnh hưởng lớnđồng hóa nhóm yếu hơn và có sự hợp nhất về văn hóa (mặc dù hiếm xảy ra), do đó hai nềnvăn hóa có thể trao đổi các yếu tố để tạo nên một nền văn hóa kế cận đặc biệt Vì tiếp biếnvăn hóa bao hàm sự tương tác của hai hay nhiều nhóm văn hóa riêng biệt nên sự tương tác
xã hội giữa các nhóm sẽ quyết định kết quả thu được
Tiếp biến văn hóa được tác giả luận án vận dụng trong luận án để lý giải sự biến
đổi của các nghi lễ gia đình của người Tày tại điểm nghiên cứu Sự biến đổi của cácnghi lễ trong chu kỳ vòng đời của người Tày được nghiên cứu dưới ảnh hưởng của cácchương trình phát triển của Nhà nước sự biến đổi môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội,cũng như sự biến đổi xuất phát từ chính trong nội bộ tộc người Tày hay còn gọi là biếnđổi nội sinh, là sự tự nhận thức về biến đổi Văn hóa tộc người, trong đó có nghi lễ chu
kỳ vòng đời của người Tày ở Nà Hang không phải là bất biến mà nó luôn vận động,biến đổi theo thời gian và trong không gian cảnh
Trang 34quan tộc người Sự biến đổi đó ngày càng rộng lớn về quy mô và nhanh, mạnh vềcường độ, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi mà không một dân tộc nào, đấtnước nào có thể đứng ngoài lề sự giao lưu, hội nhập trên nhiều lĩnh vực như chínhtrị, kinh tế, thương mại và văn hóa.
Khung phân tích của luận án
NGHI LỄ TRONG CHU KỲ ĐỜI NGƯỜI CỦA NGƯỜI
TÀY Ở NA HANG
Nghi lễ trong sinh đẻ
và nuôi con
- Quan niệm về con cái
- Nghi lễ khi con dâu
có thai và sự chăm sóc
thai nhi
- Nghi lễ cho người phụ
nữ trước và trong khi đẻ
-Nghi lễ trước khichôn cất
-Lễ chôn cất người chết
- Các nghi lễ sau khi chôn cất người chết
Các yếu tố tác động:
Tâm lý dân tộc, văn hóa truyền thống của dân tộc Tày
Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và địaphương; Giao lưu tiếp biến văn hóa; truyền thông-thông tin; chính sách của nhà nước; tự nhận thức về
biến đổi của chủ thể văn hóa vv…
Lý thuyết nghiên cứu:
Lý thuyết về Nghi lễ chuyển đổi
Lý thuyết về Biến đổi và tiếp biến văn hóa
Lý thuyết về Bản sắc văn hóa tộc người
Trang 351.3 Khái quát về Tuyên Quang, về Nà Hang và người Tày ở Nà Hang
1.3.1 Khái quát về Tuyên Quang, dân tộc Tày ở Tuyên Quang
1.3.1.1 Về điều kiện tự nhiên tỉnh Tuyên Quang
Tuyên Quang nằm ở miền núi phía Bắc Việt Nam, vị trí địa lý từ 21°29' đến22°42’ độ vĩ Bắc, từ 104°50' đến 105°36' độ kinh Đông
Tuyên Quang xưa (bao gồm cả tỉnh Hà Giang hiện nay) thuộc bộ Vũ Định củaNhà nước Văn Lang Đến thời Lê, tên trấn là Tuyên Quang Đời Trần thuộc lộ QuốcOai, năm 1949 đổi là Thừa Tuyên, đời Hồng Thuận đổi là trấn Minh Quang, đờiMạc đổi là Tuyên Quang Năm 1831 đổi là tỉnh với một phủ, một huyện, ba châu,
38 tổng, 200 xã Năm 1884, Pháp chiếm đóng Tuyên Quang, đến đầu thế kỷ XXchúng chia Tuyên Quang thành hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang Ngày nay tỉnhTuyên Quang gồm một thành phố với 6 huyện (Yên Sơn, Sơn Dương, Hàm Yên,Chiêm Hóa, Nà Hang, Lâm Bình)
Địa hình Tuyên Quang bị chia cắt lớn bởi hệ thống sông ngòi dày đặc, núi đồitrùng điệp, thung lũng sâu và phân chia thành hai vùng rõ rệt: Vùng núi cao phíaBắc gồm 4 huyện: Nà Hang, Chiêm Hóa, Hàm Yên, Lâm Bình và vùng đồi núi thấpvới các bãi soi rộng, màu mỡ cùng những thung lũng lớn ở phía Nam gồm 2 huyệnYên Sơn, Sơn Dương và thành phố Tuyên Quang Thung lũng Tuyên Quang cósông Lô chảy qua, thung lũng Sơn Dương có sông Phó Đáy chảy qua Đây là vùngđất có tiềm năng kinh tế lớn của tỉnh, giao thông phát triển, dân cư chủ yếu là đồngbào Kinh, Tày
Tuyên Quang có hệ thống sông ngòi dày đặc, lớn nhất là sông Lô và sông Gâmchảy qua địa phận các huyện Nà Hang, Chiêm Hóa, Lâm Bình; các con sông nhỏnhư sông Năng (Nà Hang), sông Phó Đáy (Sơn Dương) cùng hàng trăm con suốinhỏ khác là nguồn thủy sinh không thể thiếu trong đời sống của nhân dân
Núi đồi Tuyên Quang chiếm 73% diện tích toàn tỉnh, chịu sự chi phối lớn bởicác dãy núi cao như dãy núi Tam Đảo ở phía Nam, dãy núi Cao Khánh ở phía Bắc,dãy núi Ba Xứ, dãy núi Cham Chu, núi Là, Núi đồi Tuyên Quang được bao phủbởi thảm thực vật nhiệt đới khá dày và phong phú, đa dạng về chủng loại
Thiên nhiên ưu đãi cho Tuyên Quang có nguồn tài nguyên, khoáng sản quýhiếm Nằm trong vùng khí hậu núi rừng nhiệt đới, Tuyên Quang có lượng mưa
Trang 36trung bình hàng năm rất lớn, độ ẩm cao, lượng chiếu sáng lớn, chia thành hai mùa
rõ rệt Mùa nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình 28°c, mùa rét
từ tháng 10 đến tháng 3, nhiệt độ trung bình 16°c, có lúc xuống dưới 10°c
Với điều kiện đất đai, khí hậu và độ ẩm thích hợp, nên thiên nhiên đã ưu đãicho núi rừng Tuyên Quang nhiều loại lâm thổ sản và muông thú quý hiếm đã gópphần tạo nên những nét đặc trưng cơ bản cho môi trường cảnh quan nơi cư trú của
cư dân Tày ở tỉnh Tuyên Quang
1.3.1.2.Về người Tày ở Tuyên Quang
Trong lịch sử, tộc người Tày được hình thành trong mối quan hệ, đan xen vàgiao lưu với các tộc người khác Người Tày có quan hệ gần gũi về nhiều mặt vớicác dân tộc khác trong nhóm ngôn ngữ Tày-Thái cư trú ở vùng Đông Bắc nước tanhư người Nùng, người Giáy, nhóm Cao Lan (thuộc dân tộc Sán Chay), nhóm Bố Y(thuộc dân tộc Bố Y) và trong chừng mực nhất định với cả người Choang ở QuảngTây (Trung Quốc)
Về cơ bản, tộc người Tày ở Việt Nam là sự tập hợp của nhiều thành phần nhưngười Tày bản địa, người Tày gốc Kinh, người Tày gốc Tày, Thái, Nùng từ TrungQuốc di cư sang Hiện nay, tộc người Tày được chia thành bốn nhóm địa phương:
Pa Dí, Thu Lao, Ngạn và Phén Mỗi nhóm có những nét đặc trưng riêng, tương đốikhác biệt so với cộng đồng người Tày nói chung Riêng người Tày ở một số huyệnthuộc Thái Nguyên và Tuyên Quang còn tự gọi mình là “Tày Măng giang” (TàyMảy rạng) hoặc “Tày Mục” (Tày Đooc) để phân biệt với những người nói theo cácphương ngôn khác mà họ gọi là Tày Thúa
Qua tìm hiểu gia phả và theo người già kể lại, Tày là tộc người cư trú lâu đờinhất ở Tuyên Quang Trải qua quá trình lịch sử lâu dài sinh tồn và phát triển, tộcngười Tày tạo dựng được nhiều truyền thống tốt đẹp đồng thời vẫn bảo lưu đượcnhững nét đặc sắc của văn hoá tộc người mình Từ thế kỷ XI, dòng họ Hà (ngườiTày ở Tuyên Quang) đã có công giúp triều đình nhà Lý đánh đuổi quân phong kiếnnhà Tống xâm lược nước ta và được vua Lý gả công chúa cho, đồng thời dựng biaghi tạc công họ Hà Hiện nay tấm bia được lưu giữ tại chùa Bảo Ninh Sùng Phúc, xãYên Nguyên, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang
Gần đây, Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Viện Khảo cổ học đã tiến
Trang 37hành thám sát, khai quật được một số di chỉ mộ táng của người Tày cổ ở Pù Quân,Heo Uẩn thuộc xã Trùng Khánh cũ, nay là lòng hồ thuỷ điện Tuyên Quang; di chỉLeo Luông, xã Thuý Loa có niên đại vào khoảng thế kỷ XIV - XV Ngoài ra, cácnhà khảo cổ học còn tìm thấy nhiều đi vật liên quan đến người Tày cổ ở TuyênQuang như: Rìu đá có vai, rìu đồng, mũi tên đồng Qua các kết quả nghiên cứukhảo cổ học, có thể xác định, cư dân Tày là cư dân bản địa, cư trú lâu đời trên mảnhđất Tuyên Quang.
Người Tày ở Tuyên Quang có đân số đứng thứ hai sau người Kinh Theo Tổngđiều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, tổng số người Tày ở Tuyên Quang là 185.464người, chiếm 25,5% dân số toàn tỉnh và 22,5% tổng số người Tày ở Việt Nam.Người Tày cư trú ở hầu khắp các huyện trong tỉnh Tuyên Quang, trong đó, huyện
Nà Hang và Sơn Dương có số lượng người Tày tương đối đông
1.3.2 Khái quát về Nà Hang và dân tộc Tày ở Nà Hang
1.3.2 1.Điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa của Nà Hang
Nà Hang là huyện vùng cao phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang, nằm trong hệ tọa độđịa lý từ 22o14’ đến 22o42’ vĩ Bắc và 105o08’ đến 105o36’ kinh Đông Huyện Nà Hangphía Bắc giáp các huyện Bảo Lạc (Cao Bằng), Ba Bể (Bắc Kạn), Bắc Mê (Hà Giang);phía Nam giáp huyện Chiêm Hoá (Tuyên Quang); phía Đông giáp huyện Chợ Đồn(Bắc Kạn); phía Tây giáp huyện Bắc Quang (Hà Giang) Nà Hang có diện tích tự nhiên
là 146.368 ha, trong đó có 7.257,42 ha đất nông nghiệp; 85.665,38 ha đất lâm nghiệp,còn lại là núi đá, sông suối và các loại đất chuyên dụng khác
Địa hình của Nà Hang khá hiểm trở, bị chia cắt bởi các dãy núi cao và sông,suối, vì vậy nhiều vùng gần như biệt lập, giao thông đi lại rất khó khăn, sự gắn kếtgiữa các vùng dân cư, các điểm kinh tế - xã hội hết sức hạn chế Do đặc điểm địahình, sự phân bố dân cư và yêu cầu của việc quản lý địa bàn đảm bảo cho sự pháttriển chung, huyện hình thành 3 khu vực chủ yếu: Khu A gồm các xã: Vĩnh Yên,Thanh Tương, Sơn Phú, Năng Khả, Trùng Khánh và thị trấn Nà Hang (trung tâm làthị trấn Nà Hang) Khu B gồm các xã: Thượng Lâm, Khuôn Hà, Đức Xuân, ThúyLoa, Lăng Can, Xuân Lập, Phúc Yên (trung tâm là Thượng Lâm) Khu A và B củahuyện là vùng thấp, tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ Khu C gồm các xã: Đà
Vị, Hồng Thái, Yên Hoa, Côn Lôn, Khau Tinh, Thượng Nông, Thượng Giáp, Sinh
Trang 38Long (trung tâm là Yên Hoa) Đây là khu vực tập trung nhiều đồi, núi có độ dốccao, đặc biệt khó khăn về kinh tế, xã hội.
Nằm trên vòng cung sông Gâm, Nà Hang có nhiều dãy núi lớn, nhiều đỉnhnúi cao trên 1.000 mét Núi đất và núi đá xen kẽ nhau, tạo thành nhiều thung lũnglớn, nhỏ
Nà Hang có sông Gâm và sông Năng Sông Gâm bắt nguồn từ Trung Quốc,chảy qua tỉnh Hà Giang, đổ vào địa phận Nà Hang qua các xã: Thuý Loa, ĐứcXuân, Thượng Lâm, Trùng Khánh, Năng Khả, Vĩnh Yên, Thị trấn, Thanh Tươngvới chiều dài 53 km, sau đó chảy qua huyện Chiêm Hoá rồi hợp với sông Lô tạihuyện Yên Sơn Đây là đường thuỷ duy nhất nối Nà Hang với tỉnh lỵ Tuyên Quang.Sông Năng bắt nguồn từ tỉnh Cao Bằng, chảy qua Chợ Rã, cửa hồ Ba Bể (Bắc Kạn)xuống thác Đầu Đẳng vào địa bàn huyện Nà Hang theo hướng Đông-Tây, qua địaphận các xã Đà Vị, Khau Tinh, Sơn Phú, Vĩnh Yên với chiều dài 25 km, hợp lưu vớisông Gâm tại chân núi Pác Tạ Từ năm 2002, khi công trình thủy điện Tuyên Quangđược khởi công xây dựng, ngoài khúc sông chảy qua địa phận thị trấn Nà Hang và
xã Thanh Tương, những khúc chảy qua địa phận các xã còn lại nay thuộc lòng hồthuỷ điện Tuyên Quang
Ngoài sông Gâm và sông Năng, huyện còn có hai suối lớn là Khuổi Trang vàBắc Vãng (Nặm Vang) cùng hàng chục suối nhỏ khác
Sông, suối của huyện có tốc độ dòng chảy lớn, nhiều thác ghềnh, thường có
lũ trong mùa mưa, tuy gây ra một số khó khăn trong phát triển kinh tế, xã hội songcũng có những tiềm năng, giá trị về mặt kinh tế Ngoài cung cấp nước phục vụ đờisống, sản xuất, sông, suối Nà Hang còn có nguồn thủy sản khá phong phú, có giá trịkinh tế cao, là đường giao thông quan trọng kết nối giữa các vùng và tiềm năng pháttriển thuỷ điện, du lịch
Do ảnh hưởng của địa hình, khí hậu ở Nà Hang không đồng nhất giữa cácvùng, phụ thuộc vào độ cao và đặc điểm của núi Vùng cao trên 800 mét mang sắcthái khí hậu á nhiệt đới, nhiệt độ cao nhất trong năm khoảng trên 30 độ Vùng thấpdưới 800 mét mang sắc thái khí hậu nhiệt đới, nóng, ẩm Khí hậu trong năm chialàm 4 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình trong năm 22 độ, độ ẩm không khí khoảng85%, lượng mưa trung bình là 1.800 mm
Trang 39Nằm sâu trong nội địa, được che chắn bởi nhiều dãy núi cao, Nà Hang khôngchịu ảnh hưởng của bão biển, song thường hay có gió xoáy, gió hang, gió lốc thấtthường, không theo chu kỳ Mùa lạnh nhiều sương, đầu mùa hè hay có mưa đá, mùamưa thường có các trận lũ ngắn đột ngột.
Rừng Nà Hang có nhiều loại gỗ, thảo dược và muông thú quý, hiếm, là thếmạnh kinh tế cơ bản của huyện Nằm ở thượng nguồn sông Gâm, do vậy rừng NàHang có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ nguồn nước, hạn chế tác hại của lũ, lụtđối với vùng hạ lưu
Diện tích đất nông nghiệp của huyện tuy không lớn song mầu mỡ, thích hợpvới việc phát triển cây lương thực, cây công nghiệp Bên cạnh đó, huyện còn cóthảm thực vật phong phú để phát triển chăn nuôi đại gia súc Đất đai và khí hậu mộtvài nơi cho phép trồng các loại cây ăn quả ôn đới như mận, đào, lê…
Ngoài nguồn tài nguyên chính là rừng, Nà Hang còn có các loại khoáng sản:thiếc, ăng-ti-moan, vàng sa khoáng… Trữ lượng các loại khoáng sản không lớn, khókhai thác vì địa hình phức tạp, giao thông vận tải khó khăn
Điều kiện tự nhiên tạo cho huyện những thuận lợi lớn để phát triển nền kinh
tế nông, lâm nghiệp Tuy vậy, sự phức tạp của địa hình đã và đang gây khó khăn lớncho việc phát triển giao thông liên lạc, xây dựng các trung tâm dân cư, kinh tế - vănhoá - xã hội Nằm ở vùng giáp ranh của nhiều tỉnh, địa hình hiểm trở, dân cư phântán, trình độ dân trí còn hạn chế, Nà Hang vừa có vị trí chiến lược về quân sự, songcũng lại gặp nhiều khó khăn trong công tác xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh
Nà Hang cũng là nơi có nhiều cảnh đẹp: Núi Pác Tạ, thung lũng ThượngLâm, thác Pác Ban (thác Mơ), khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung… Sự kếthợp, hoà quyện giữa cảnh quan thiên nhiên đa dạng sinh học với các điểm dân cưgiàu bản sắc văn hoá truyền thống đã tạo nên sự hấp dẫn, cuốn hút du khách đến với
Nà Hang
Nà Hang là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc Tính đến năm 2010, dân số củahuyện là 60.151 người, sinh, sống tại 17 xã, thị trấn, trong đó dân tộc Tày chiếm55,18%, Dao 25,72%, Kinh 10,11%, Hmông 7,52% Mỗi dân tộc có địa bàn cư trúphù hợp và phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa riêng Đồng bào Kinh, Tày thường
cư trú ở vùng thấp, nơi có những cánh đồng, soi bãi rộng, giao thông thuận lợi
Trang 40Đồng bào Dao, Hmông thường phân bố thành từng làng, bản độc lập trên các triềnnúi Trong xu thế phát triển chung, sự cư trú, xen kẽ nhiều dân tộc trên cùng một địabàn ngày càng trở thành phổ biến, khoảng cách về trình độ phát triển giữa các dântộc được rút ngắn dần.
Quá trình lao động, chinh phục và cải tạo thiên nhiên của nhân dân các dântộc nơi đây qua nhiều thế hệ đã để lại những di sản văn hóa phong phú, đặc sắc,phản ánh sự kỳ vỹ của thiên nhiên, ý chí vươn lên và khát vọng về một cuộc sống,
một xã hội vui tươi, hạnh phúc Những làn điệu Sli, lượn, then, cọi, páo dung bay
bổng; kho tàng tục ngữ, câu đối phong phú; những truyền thuyết đậm chất nhân vănnhư sự tích 99 ngọn núi, sự tích hoa Phạc Phiền, Cọc Vài , những vườn bông trắngmượt triền núi, những tấm chăn, gối, váy, áo thổ cẩm với những đường nét hoa văntinh xảo của đồng bào Tày, Dao, Hmông là kết quả của quá trình lao động lâu dài,kết tinh của một đời sống văn hoá tinh thần chứa đựng sức sống, khả năng phát triểnmạnh mẽ
Dưới thời pháp thuộc, Nà Hang là vùng kém phát triển về xã hội và văn hóa
do chính sách ngu dân của thực dân Pháp Với số dân khoảng một vạn người, nhưng
cả huyện không có một trường tiểu học nào Từ năm 1940, mới có trường hương
học, chỉ dạy đến sơ học yếu lược (gồm lớp Đồng ấu, Dự bị, Sơ đẳng) bằng tiếng
Pháp, tương đương lớp 3 hiện nay, giành cho con em nhà giàu, có chức sắc Một sốgia đình khá giả đón thầy về dạy tư, song chủ yếu là dạy chữ nho Nạn thất học làmột trong những nguyên nhân chính làm kéo dài, trầm trọng thêm các hủ tục mê tín,
dị đoan, đẩy đồng bào các dân tộc vào vòng sống u tối Toàn huyện không có một
cơ sở y tế nào, nhân dân ốm đau đều trông nhờ vào thuốc nam và cúng bái, nạn hữusinh vô dưỡng khá phổ biến
Dưới thời Pháp thuộc, ở vùng thấp của Nà Hang đã bắt đầu có sự phân chiagiai cấp Đã có một số tiểu thương, tư sản nhỏ, chủ yếu là người Hoa buôn bán tạicác trung tâm: Phố Nà Hang, Gốc Sấu, Bắc Vãng, Bắc Giòn Ở nông thôn đã cómột số ít địa chủ, phú nông, trung nông, còn phần lớn là bần cố nông Công nhân có
số lượng ít, tập trung tại các mỏ, đồn điền nhỏ bé, khai thác theo lối thủ công, trình
độ thấp kém và những người làm nghề thủ công len lỏi làm thuê trong các làng, bản.Nông dân là thành phần cư dân chủ yếu của huyện Họ sống cần cù, lam lũ với