Tuy nhiên, với yêu cầu hiện nay đưa DL trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, làm động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của Đà Nẵng thì NLDL ở thành phố còn nhiều hạn chế như: số lượng chư
Trang 1LÊ THỊ THANH HUYỀN
PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC DU LỊCH
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 62 31 01 02
HÀ NỘI - 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Phạm Thị Túy
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Vào hồi giờ ngày tháng năm 20
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia và Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, mang nội dung văn hóa sâu sắc và xã hội hoá cao Ở các nước phát triển trên thế giới xem du lịch (DL) là ngành kinh tế quan trọng của quốc gia Hiện nay, ở Việt Nam ngành DL đang có tốc độ tăng trưởng cao đạt mức bình quân hằng năm khoảng 25 - 30% (giai đoạn 2016 - 2018), đã thu hút 1,3 triệu nhân lực du lịch (NLDL), chiếm khoảng 2,5% tổng nhân lực (NL) cả nước; trong đó, trình độ chuyên môn của NLDL mới đạt khoảng 42% được đào tạo (ĐT) về chuyên ngành DL, 38% được ĐT từ các ngành khác chuyển sang và khoảng 20% chưa qua ĐT chính quy mà chỉ được huấn luyện tại chỗ Đặc biệt, có hơn một nửa tỷ
lệ lao động không biết ngoại ngữ và năng suất lao động trong ngành DL nước ta chỉ bằng 1/15 của Singapore, 1/10 của Nhật Bản và 1/5 của Malaysia…
Đà Nẵng là thành phố có tiềm năng phát triển DL và có điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng những sản phẩm DL đa dạng, hấp dẫn du khách như DL sinh thái, DL biển, DL đường sông, DL văn hóa đã và đang được khai thác Sự tăng trưởng nhanh của ngành DL đã tạo ra nhiều việc làm cho người lao động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng và trong vùng nói chung Tuy nhiên, với yêu cầu hiện nay đưa DL trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, làm động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của Đà Nẵng thì NLDL ở thành phố còn nhiều hạn chế như:
số lượng chưa đảm bảo với nhu cầu của doanh nghiệp du lịch; trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ còn nhiều hạn chế, kỹ năng, kiến thức, thái độ thể hiện tính chuyên nghiệp chưa cao; cơ cấu chưa hợp lý, thiếu trầm trọng hướng dẫn viên quốc tế, nhân lực ở những vị trí quản lý cấp cao, trưởng các bộ phận tại các khu nghỉ dưỡng, nhà hàng, khách sạn và các công ty lữ hành Xuất phát từ đánh
giá thực tiễn nêu trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Phát triển nhân lực du lịch
ở thành phố Đà Nẵng” làm Luận án tiến sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án làm rõ cơ sở lý luận, phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra những thành công và nguyên nhân của thành công, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế
về phát triển nhân lực du lịch (PTNLDL) ở thành phố Đà Nẵng Trên cơ sở đó đưa
ra dự báo, phương hướng và đề xuất quan điểm, giải pháp chủ yếu để PTNLDL ở thành phố Đà Nẵng từ nay đến năm 2030
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận về quan niệm, đặc điểm, vai trò NLDL; quan niệm, nội dung và những nhân tố ảnh hưởng đến PTNLDL tại
Trang 4một tỉnh, thành phố trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay
- Từ kinh nghiệm thực tiễn thành công của một số tỉnh, thành phố trong nước và nước ngoài về PTNLDL, rút ra những bài học cho PTNLDL ở thành phố
Đà Nẵng trong thời gian tới
- Phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra được những thành công và nguyên nhân của thành công, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế về PTNLDL ở thành phố
Đà Nẵng giai đoạn 2011 - 2017 trước yêu cầu phát triển mới, hội nhập quốc tế
- Trên cơ sở hạn chế về PTNLDL, luận án đưa ra dự báo, phương hướng, đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu để PTNLDL ở thành phố Đà Nẵng từ nay đến năm 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu PTNLDL là lao động trực tiếp của các doanh nghiệp du lịch (DNDL) ba lĩnh vực lưu trú, nhà hàng, lữ hành (HDVDL) ở thành phố Đà Nẵng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng phát triển về số lượng, chất lượng, cơ
cấu NLDL là lao động trực tiếp của các DNDL (lưu trú, nhà hàng, lữ hành) ở thành phố Đà Nẵng
Về không gian: Nghiên cứu thực trạng về PTNLDL ở các DNDL tại thành
phố Đà Nẵng và thực tiễn PTNLDL của các tỉnh, thành phố khác được mở rộng theo không gian mà tác giả lựa chọn
Về thời gian: Nghiên cứu PTNLDL ở các DNDL tại thành phố Đà Nẵng
trong thời gian từ năm 2011 - 2017 và đề xuất quan điểm, giải pháp chủ yếu từ nay đến năm 2030
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp nghiên cứu cơ bản của kinh
tế chính trị và một số phương pháp khác như: thống kê thu thập thông tin, phân tích, so sánh, tổng hợp Ngoài ra luận án đã sử dụng phương pháp điều tra xã hội học phục vụ cho quá trình nghiên cứu
- Đối tượng điều tra: là lao động trực tiếp tại các DNDL ở các lĩnh vực (khách sạn, nhà hàng, lữ hành) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu
- Quy mô điều tra: số phiếu triều tra 540, số phiếu thu hồi 540 nhưng số phiếu được điền đầy đủ thông tin cần thiết là 433 phiếu đạt 80,19% yêu cầu đặt
Trang 5ra Trong đó, số phiếu điều tra ở 30 cơ sở lưu trú là khách sạn từ 1 đến 5 sao với
300 phiếu (mỗi khách sạn thực hiện 10 phiếu) và số phiếu thu về đạt yêu cầu là
250, đạt tỷ lệ 83,33% Đối với cơ sở lữ hành với số phiếu điều tra phát ra là 120
số phiếu tại 20 công ty lữ hành (mỗi cơ sở thực hiện 6 phiếu điều tra) và thu về được 93 phiếu đạt yêu cầu, chiếm tỷ lệ 77,50% Các cơ sở nhà hàng số phiếu điều tra là 120 phiếu tại 20 nhà hàng đạt tiêu chuẩn phục vụ KDL do Sở Du lịch quản lý (mỗi nhà hàng thực hiện điều tra 6 phiếu) và số phiếu thu về đạt yêu cầu là 90, chiếm tỷ lệ 75,00%
- Thời gian điều tra vào tháng 12 năm 2017 là thời điểm không phải vào thời điểm chính của mùa du lịch nên kết quả thu thập được đạt tỷ lệ khá cao
- Kết quả được xử lý thống kê bằng phần mềm excel tính giá trị phần trăm của mỗi yếu tố, đặc điểm để phân tích, đánh giá thực trạng về các nội dung PTNLDL như quy mô, cơ cấu, chất lượng NLDL hiện có thông qua giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và sử dụng nhân lực của các DNDL ở thành phố Đà Nẵng
5 Những đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hóa quan niệm, đặc điểm, vai trò về NLDL, và quan niệm, nội dung, những nhân tố ảnh hưởng đến PTNLDL ở Việt Nam nói chung và ở Đà Nẵng nói riêng trong điều kiện hiện đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh
tế tri thức và hội nhập quốc tế
- Phân tích, đánh giá thực trạng, đồng thời chỉ ra những thành công, hạn chế
và nguyên nhân của thành công, hạn chế đó về PTNLDL ở thành phố Đà Nẵng thời gian 2011 - 2017
- Trên cơ sở thành công, hạn chế nêu trên luận án đưa ra dự báo, phương hướng, đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu PTNLDL ở thành phố Đà Nẵng từ nay đến năm 2030
- Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo bổ ích cho các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, doanh nghiệp du lịch về công tác quy hoạch, hoạch định, phát triển giáo dục, đào tạo và tiếp tục hoàn thiện chế độ, chính sách
ưu đãi thu hút, sử dụng NL để PTNLDL với quy mô ngày càng lớn mạnh, chất lượng ngày càng được nâng cao, cơ cấu hợp lý đáp ứng yêu cầu của phát triển nghành DL ở thành phố Đà Nẵng theo hướng bền vững và hội nhập
6 Kết cấu của luận án
Kết cấu của Luận án ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình
đã công bố của tác giả liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án bao gồm 4 chương, 10 tiết Cụ thể:
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN
Oppermann và Kye - Sung Chon (1997) “Tourism in Developing Countries”, Nxb
International Thomson Business Press; Martin Mowforth, Ian Munt (2001),
“Tourism and Sustainability: New Tourism in the Third World”, Routledge, NY;
Nafees A.Khan (2008), “Human Resource Development in Tourism Industry in
India: A Case Study of Air India Ltd, New Delhi”; Paul F.J Eagles, Stephen
F.McCool and Christopher D.Haynes, (2002) “Sustainable Tourism in Protected
Areas”; Janne J.Liburd, Deborah Edwards (2010), “Understanding the Sustainable Development of Tourism”; Greg Richards, Derek Hall (2000), “Tourism and sustainable community development”, Routledge, NY; Soh, Juliana Kheng Mei
(2012), “Human Resource Development in the Tourism Sector in Asia”
1.1.2 Những công trình trong nước đã công bố liên quan đến phát triển nhân lực du lịch
1.1.2.1 Những công trình trong nước liên quan đến thực tiễn phát triển nhân lực du lịch
Các công trình tiêu biểu như: Vũ Đức Minh (2003), “Nguồn nhân lực du
lịch ở nước ta hiện nay: Thực trạng và giải pháp phát triển”, Tạp chí Kinh tế và
phát triển, (67); Thái Bình (2007), “Phát triển nguồn nhân lực du lịch trong hội
nhập sâu và toàn diện sau khi gia nhập WTO”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, (1); Vũ
Minh Huệ (2009), “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch ở Việt Nam hiện
nay”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, (161); Trọng Lê Nghĩa (2011), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thời hội nhập”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật,
Trang 7(328); Nguyễn Thị Quỳnh Hương (2013), “Phát triển nhân lực du lịch giải pháp
nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến Quảng Ninh”, Tạp chí Khoa học
Thương mại, (53 + 54); Phạm Viết Long, Đỗ Thị Thanh Vinh (2015), “Six
senses Ninh Vân Bay với việc phát triển nguồn nhân lực du lịch trong giai đoạn
hiện nay”, Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản, (1); Nguyễn Thị Thúy
Hường (2016), “Giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong cộng đồng
ASEAN”, Tạp chí Giáo dục, (376); Trần Sơn Hải (2010), Luận án tiến sĩ “Phát
triển nguồn nhân lực du lịch ngành Du lịch khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên”, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh - Học
viện Hành chính, Hà Nội; Nguyễn Văn Lưu (2014), “Phát triển nguồn nhân lực
du lịch yếu tố quyết định sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam”, Nhà xuất
bản Thông Tấn, Hà Nội
1.1.2.2 Những công trình đã công bố liên quan đến đào tạo phát triển nhân lực du lịch
Một số công trình nghiên cứu đã được công bố là: Phùng Đức Chiến
(2008), “Đào tạo nguồn nhân lực du lịch: Nhìn từ yêu cầu thực tiễn”, Tạp chí Tài
chính Du lịch, (6); Nguyễn Văn Đính (2008), “Đào tạo nhân lực du lịch theo nhu
cầu xã hội - Một số vấn đề đặt ra cần giải quyết”, Phát triển Kinh tế, (8); Trần Quang Hảo (2008), “Đâu là điều kiện cần thiết để phát triển nguồn nhân lực du lịch”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, (4); Trần Văn Long (2011), “Đào tạo nhân lực
du lịch đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển”, Tạp chí Khoa học giáo dục,
(70); Nguyễn Quốc Tiến (2011), “Công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch vùng
trung du miền núi Bắc Bộ và những câu hỏi cần được giải đáp”, Tạp chí Khoa
học và Công nghệ, (5); Ung Thị Nhã Ca (2015), “Thực trạng chất lượng đào tạo
nhân lực du lịch trình độ đại học tại trường đại học Tây Đô và khả năng đáp ứng
thị trường du lịch ở thành phố Cần Thơ”, Tạp chí Khoa học, (1); Nguyễn Sơn Hà (2016), “Đào tạo nguồn nhân lực du lịch hiện nay”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, (382); Trần Văn Long (2016), “Quản lý đào tạo của các trường cao đẳng du lịch
đáp ứng nhu cầu nhu cầu cho các doanh nghiệp khu vực đồng bằng Bắc Bộ”,
Luận án tiến sĩ Khoa học giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
1.1.2.3 Những công trình đã công bố liên quan đến thu hút, sử dụng nhân lực du lịch
Có các công trình nghiên cứu sau: Trần Hữu Nam (2011), “Đổi mới cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực du lịch trong giai đoạn hiện nay ở nước
ta”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, (165); Vũ Đức Minh (2004), “Một số giải
Trang 8pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp du lịch nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới”, Luận án tiến sĩ Kinh tế - Đại học Thương mại, Hà Nội; Đinh Thị Hải Hậu
(2014), Huy động vốn đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Tài
Chính; Hoàng Văn Hoan (2006), “Hoàn thiện quản lý Nhà nước về lao động
trong kinh doanh du lịch ở Việt Nam”, Nxb Thống kê, Hà Nội
1.1.3 Những công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển nhân lực
du lịch ở thành phố Đà Nẵng
Một số công trình nghiên cứu đã công bố như: Ngô Ngọc Hậu (2015),“Đà
Nẵng phát triển sản phẩm du lịch đặc thù’’, Tạp chí Du lịch, (11); Đỗ Thanh
Phương (2015), “Để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn bền vững của
thành phố Đà Nẵng’’, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, (456); Phạm
Hùng Cường, Võ Hoàng Nhân (2016),“Thu hút khách du lịch quốc tế đến Đà
Nẵng’’, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (9); Lê Đức Viên (2017), “Phát triển du lịch
thành phố Đà Nẵng theo hướng bền vững”, Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế Đà
Nẵng; Phạm Thị Hoa (2018), “Thị trường du lịch thành phố Đà Nẵng trong hội
nhập quốc tế”, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị, Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên chỉ đề cập đến NLDL ở Đà Nẵng như là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành DL của thành phố trong những năm qua và đã đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng NLDL như một giải pháp để phát triển ngành du lịch thành phố đến năm 2020 Tóm lại, trong thời gian qua chưa có công trình nghiên cứu nào đã được công bố
đề cập chi tiết về các nội dung PTNLDL ở thành phố Đà Nẵng dưới góc độ chuyên ngành kinh tế chính trị
1.2 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NHỮNG CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.2.1 Những kết quả đạt được của các công trình đã công bố
- Thứ nhất, trình bày khái quát được cơ sở lý luận về NL, nội dung về
NLDL của các chuyên ngành kinh tế khác nhau
- Thứ hai, các nghiên cứu chỉ ra được vai trò của NLDL đối với sự phát triển
ngành DL nói riêng và kinh tế - xã hội của tỉnh, thành phố và quốc gia nói chung
- Thứ ba, khái quát thực trạng NLDL ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc
biệt là các nước ở châu Á và NLDL được xem như là một yếu tố thành công đối với sự phát triển DL theo hướng bền vững
Trang 9- Thứ tư, đánh giá thực trạng NLDL từ quy mô đến chất lượng và hiệu quả
sử dụng NLDN ở một số vùng, tỉnh và thành phố trong cả nước Từ thực trạng về PTNLDL nói trên, các tác giả đã rút ra được một số hạn chế, những kinh nghiệm quý giá và đề ra một số giải pháp để PTNLDL đến năm 2020
Nhìn chung, các công trình đã công bố trong và ngoài nước liên quan đến PTNLDL ở các tỉnh, các vùng và phạm vi quốc gia nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này một cách có hệ thống, mang tính toàn diện dưới góc độ chuyên ngành kinh tế chính trị về PTNLDL ở thành phố Đà Nẵng Đây chính là những gợi mở để nghiên cứu sinh chọn đề tài nghiên cứu Luận án không trùng tên và nội dung với những công trình khoa học đã được công bố
1.2.2 Những vấn đề tiếp tục nghiên cứu về phát triển nhân lực du lịch
Câu hỏi 3: Những số bài học kinh nghiệm nào cho các tỉnh, thành phố ở Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng về phát triển NLDL từ mô hình kinh nghiệm thực tiễn của một số nước Đông Nam Á (ASEAN) và một số tỉnh trong nước có điều kiện tương đồng đã thành công về PTDL?
Câu hỏi 4: Những nguyên nhân thành công và nguyên nhân của hạn chế về
PTNLDL ở thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua (211 - 2017) là gì?
Câu hỏi 5: Để phát triển NLDL ở thành phố Đà Nẵng từ nay đến năm 2030 cần có những giải pháp nào?
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC DU LỊCH
2.1 QUAN NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ VỀ NHÂN LỰC DU LỊCH
2.1.1 Quan niệm nhân lực du lịch
Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu về nhân lực ở các chuyên ngành khác nhau, dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế chính trị Mác - Lênin NCS
cho rằng: Nhân lực là toàn bộ sức lao động của con người, đó là sự kết hợp giữa
Trang 10thể lực và trí lực của con người đã và đang được người đó tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội được pháp luật thừa nhận và bảo vệ
Từ quan niệm về NL nêu trên, NCS đưa ra quan niệm về nhân lực du lịch:
Nhân lực du lịch là toàn bộ sức lao động của con người, đó là sự kết hợp giữa thể lực và trí lực đã và đang được người đó tham gia vào quá trình lao động sáng tạo
vì sự phát triển ngành Du lịch của một địa phương hay của một quốc gia
Với quan niệm nêu trên của NCS, cho thấy NLDL bao gồm hai loại lao động đó là lao động trực tiếp và lao động gián tiếp
2.1.2 Đặc điểm của nhân lực du lịch
Nhân lực du lịch là bộ phận cấu thành của lực lượng lao động xã hội, là những người lao động chủ yếu hướng vào các hoạt động dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch cho nên nó có những điểm đặc sau đây: Nhân lực du lịch có tính chuyên môn hóa cao; Nhân lực du lịch phải có kiến thức về kinh tế, văn hóa, xã hội, lịch sử, địa lý, giỏi ngoại ngữ, tin học, có tinh thần dân tộc, đổi mới và hội nhập; Nhân lực du lịch thường xuyên chịu áp lực lớn về tâm lý, có
tính nghệ thuật cao; Nhân lực du lịch mang tính thời vụ cao; Nhân lực du lịch có
khả năng thích ứng linh hoạt, xử lý nhanh các tình huống trong công việc
2.1.3 Vai trò của nhân lực du lịch
Một là, nhân lực du lịch là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển ngành
du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung: Nhân lực với tư cách sức lao động
của con người, là chủ thể sáng tạo, là một trong hai yếu tố chính của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội Ngoài ra, nhân lực du lịch thể hiện vai trò mở rộng giao lưu giữa các vùng trong nước với nước ngoài, được xem như là nhà ngoại giao nhân dân với chức năng
là đại sứ của hòa bình góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững trong điều kiện nền kinh tế mở, hội nhập
Hai là, nhân lực du lịch có vai trò đánh thức nguồn lực phát triển du lịch ở dạng tiềm năng thành hiện thực: Khác với các nguồn lực khác như vốn, tài
nguyên du lịch, vị trí địa lý, khoa học - công nghệ… tồn tại dưới dạng tiềm năng
và chỉ có tác dụng khi có tác động của con người vào các đối tượng đó Còn nhân lực du lịch có vai trò đặc biệt quan trọng, gắn kết với nhau và tạo thành sức mạnh tổng hợp để khai thác, sử dụng, duy trì và phát triển các nguồn lực đó
từ dạng tiềm năng thành hiện thực để phát triển ngành du lịch, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 11Ba là, nhân lực du lịch có vai trò sáng tạo giá trị, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình thực hiện công nghiệp, hiện đại hóa đất nước: Hiện nay, nền kinh tế ngày càng phát triển, DL đã trở thành
một nhu cầu tất yếu của xã hội, là ngành kinh tế quan trọng, có tính liên ngành thể hiện nội dung văn hóa sâu sắc Ở Việt Nam vai trò của NLDL (trực tiếp và gián tiếp), tất cả đều tham gia vào hoạt động tạo cung DL trong việc bảo tồn, phát huy và truyền bá văn hóa dân tộc ngày càng được khẳng định ở trong nước và trên thế giới
2.2 PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC DU LỊCH
2.2.1 Quan niệm phát triển nhân lực du lịch
Dưới góc độ chuyên ngành kinh tế chính trị, luận án cho rằng: Phát triển
nhân lực là sự tăng lên về số lượng, chất lượng và cơ cấu của người lao động, đó chính là sự tăng lên về thể lực và trí lực của người lao động đang tham gia vào quá trình sản xuất theo hướng phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng điều kiện cụ thể
Từ quan niệm nêu trên về PTNL và thực tiễn ở nước ta hiện nay NCS cho
rằng: Phát triển nhân lực du lịch là quá trình làm tăng lên về số lượng và chất
lượng được biểu hiện ở sự hoàn thiện từng bước nâng cao về thể lực, trí lực (trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng, thái độ) thông qua đào tạo,bồi dưỡng
và thu hút, sử dụng NLDL đảm bảo trong một cơ cấu hợp lý nhằm thúc đẩy quá trình phát triển du lịch của một địa phương hay của một quốc gia
Tóm lại, quan niệm phát triển nhân lực du lịch mà Luận án nêu trên đã
phản ánh được các nội hàm cơ bản như: (1) Mục đích phát triển nhân lực du lịch; (2) Chủ thể phát triển nhân lực du lịch; (3) Phương thức phát triển nhân
lực du lịch
2.2.2 Nội dung phát triển nhân lực du lịch
2.2.2.1 Phát triển nhân lực du lịch về số lượng
Khi nói đến số lượng NL tức là muốn nói đến số lao động đang làm việc tại các DNDL và những ngành có liên quan đến DL (đây là bộ phận lao động trực tiếp trong ngành DL) Số lượng NLDL là yếu tố tổng hợp sức mạnh về vật chất, tinh thần của NL ngành DL Phát triển số lượng NLDL được tạo nên bởi số lượng lao động hiện đang trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động, sản xuất ở các DNDL thuộc các lĩnh vực lưu trú, nhà hàng, lữ hành, HDVDL, các CSĐT NLDL, các cơ quan quản lý nhà nước về chuyên ngành DL
Trang 122.2.2.2 Phát triển chất lượng nhân lực du lịch
Theo quan điểm C.Mác về sức lao động là toàn bộ năng lực của con người bao gồm thể lực và trí lực Ngành DL ở Việt Nam đang trong quá trình thực hiện CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế, cho nên phát triển chất lượng NLDL phải được thể hiện ở ba mặt: thể lực, trí lực, thái
độ (tinh thần) và ba mặt này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
2.2.2.3 Cơ cấu nhân lực du lịch
Phát triển nhân lực du lịch trong bối cảnh thực hiện CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam phải đảm bảo tính toàn diện, tính hội nhập, tính phù hợp với xu thế thời đại Vì vậy, cơ cấu NLDL theo từng lĩnh vực ở DNDL lưu trú, nhà hàng, lữ hành phải thể hiện được tính chủ động, hợp lý đảm bảo đáp ứng yêu cầu phát triển cả về số lượng và chất lượng Đồng thời, phải đảm bảo cơ cấu lao động theo hướng tăng lao động trí thức, ưu tiên phát triển NLDL chất lượng cao ở các vị trí quản lý, điều hành, giám đốc kinh doanh, trưởng các bộ phận, các chuyên gia, các nghệ nhân ẩm thực, HDVDL (nhất là HDVDL quốc tế) Hiện nay, NLDL ở các DNDL, cơ quan quản lý nhà nước, các CSĐT về DL đã và đang sử dụng Bộ tiêu chuẩn nghề DL Việt Nam (VTOS) đánh giá trình độ chuyên môn theo năm bậc trình độ để đánh giá chất lượng, bố trí lao động làm việc theo đúng năng lực của mình
2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nhân lực du lịch
2.2.3.1 Sự phát triển kinh tế - xã hội: làm cho cơ cấu các ngành kinh tế,
hệ thống hạ tầng kỹ thuật cho ngành DL, mức sống của người dân tăng lên, các thiết chế xã hội đạt ở mức độ cao hơn, và vốn đầu tư của nhà nước, xã hội vào y
tế, chăm sóc sức khỏe và giáo dục tạo điều kiện nâng cao thể lực và trí lực
NLDL đáp ứng được nhu cầu phát triển theo hướng bền vững
2.2.3.2 Tiềm năng và môi trường du lịch: tiềm năng đa dạng, phong phú
và môi trường du lịch thuận lợi là nhân tố trực tiếp thúc đẩy sự phát triển ngành
DL và tạo ra nhiều việc làm trực tiếp đến kinh doanh dịch vụ du lịch
2.2.3.3 Sự tác động của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế: là yếu tố tạo
điều kiện cho các quốc gia, địa phương tạo nên sức mạnh dân tộc, sức mạnh quốc tế, phát huy được tiềm năng sáng tạo; đồng thời, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài tạo nên sự đa dạng, phong phú các loại hình sản phẩm, cơ
sở hạ tầng kỹ thuật DL hiện đại; phân công lao động quốc tế và người lao động
tiếp thu tri thức tiến bộ của thế giới về chuyên ngành DL
Trang 132.2.3.4 Sự phát triển của hệ thống giáo dục - đào tạo: tác động trực tiếp
đến việc nâng cao chất lượng NLDL từ thể lực đến trí lực, tạo ra những nhà khoa học, những người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ năng, kiến thức chuyên sâu theo từng vị trí công việc cụ thể, tạo nên sự năng động, sáng tạo có khả năng thích ứng với điều kiện lao động có cường độ cao, những biến đổi trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển nhanh như hiện nay
2.2.3.5 Chính sách kinh tế - xã hội vĩ mô: Bao gồm các chính sách tiền
lương, chính sách thu hút, đãi ngộ đối với NLDL nói chung và NLDL chất lượng cao nói riêng như: chế độ dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho người lao động nói chung, người lao động trong ngành Du lịch nói riêng; chính sách nhà ở; chính sách nhập cư; chính sách bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm lao động…
2.3 KINH NGHIỆM THỰC TIỄN TRONG, NGOÀI NƯỚC VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC DU LỊCH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.3.1 Kinh nghiệm thực tiễn phát triển nhân lực du lịch của một số nước trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN)
Kinh nghiệm thực tiễn phát triển nhân lực du lịch ở Malaysia, Singapore được thể hiện như sau: Xây dựng chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triển nhân lực du lịch quốc gia; Phát triển hệ thống GD - ĐT chuyên sâu về DL theo các cấp học từ trung cấp đến đại học; Thực hiện xã hội hóa nguồn vốn đầu tư vào PTNLDL, khuyến khích các DNDL thành lập cơ sở ĐT tại DN; Chính phủ đóng vai trò tạo mối liên kết giữa các CSĐT và DNDL nhằm đảm bảo nhân lực đầu vào và đầu ra cho ngành DL
2.3.2 Kinh nghiệm phát triển nhân lực du lịch ở một số tỉnh trong nước
Quảng Ninh, Khánh Hòa là hai tỉnh có điều kiện tự nhiên khá tương đồng với thành phố Đà Nẵng về phát triển du lịch, đã thực hiện khá thành công về phát triển nhân lực du lịch cụ thể là: Quan tâm, đầu tư xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển nhân lực du lịch; Đầu tư mạnh vào hệ thống giáo dục, đào tạo về mở rộng quy mô, nội dung, hình thức, chất lượng ở các cơ sở đào tạo chuyên ngành du lịch; Xây dựng, ban hành các chính sách kinh tế - xã hội nhằm thu hút, sử dụng nhân lực du lịch; Khuyến khích xã hội hóa các cơ sở đào tạo du lịch; liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp du lịch theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội