Giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và phát triển rừng trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc KạnGiải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và phát triển rừng trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc KạnGiải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và phát triển rừng trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc KạnGiải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và phát triển rừng trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc KạnGiải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và phát triển rừng trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc KạnGiải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và phát triển rừng trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc KạnGiải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và phát triển rừng trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc KạnGiải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và phát triển rừng trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc KạnGiải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và phát triển rừng trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc KạnGiải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và phát triển rừng trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN, NĂM 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Người hướng dẫn khoa học: TS Kiều Thị Thu Hương
THÁI NGUYÊN, NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Các thông tin sử dụng trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc, các tài liệu tham khảo được trích dẫn đầy đủ, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
Thái Nguyên, tháng năm 2019
Tác giả
NGUYỄN HÀ THƯ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn “Giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và phát triển rừng trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các tổ chức và các cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Phòng Đào tạo trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên cùng các thầy cô giáo, những người đã trang
bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn Cô giáo, Tiến sĩ Kiều Thị Thu Hương, đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này
Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Ủy ban nhân dân huyện Na Rì đã giúp
đỡ tôi nghiên cứu luận văn “Giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý
và phát triển rừng trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”
Tôi cũng xin chân thành cám ơn Ban lãnh đạo, các cán bộ hạt kiểm lâm huyện Na Rì cùng các hộ gia đình đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi được tìm hiểu tình hình cụ thể về sản xuất lâm nghiệp của huyện Na Rì, đồng thời đã dành thời gian chỉ bảo, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sỹ
Xin chân thành cảm ơn tất các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp
đỡ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này
Do thời gian nghiên cứu có hạn, và đề tài mang tính mới, luận văn của tôi chắc hẳn không thể tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Hà Thư
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5
1.1.1 Khái niệm rừng 5
1.1.2 Đặc điểm và phân loại rừng 6
1.1.3 Vai trò của rừng 7
1.2 Một số vấn đề lý luận về tác động của chính sách quản lý rừng đến phát triển rừng 8
1.2.1 Các khái niệm cơ bản 8
1.2.2 Khái niệm quản lý rừng và quản lý rừng bền vững 9
1.2.3 Khái niệm bảo vệ rừng 9
1.2.4 Khái niệm phát triển rừng 10
1.2.5 Tình hình quản lý phát triển rừng trên thế giới 10
Trang 61.2.6 Tình hình quản lý rừng ở Việt Nam 16
1.2.7 Cơ sở pháp lý trong quản lý và phát triển rừng 19
1.2.8 Hiệu quả công tác quản lý và phát triển rừng 20
1.2.9 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 20
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 22
2.1.1 Vị trí địa lý 22
2.1.2 Địa hình 22
2.1.3 Thủy văn 23
2.1.4 Các nguồn tài nguyên 25
2.1.5 Thực trạng cảnh quan môi trường 31
2.1.6 Những thuận lợi khó khăn cho việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý và phát triển rừng 32
2.2 Nội dung nghiên cứu 33
2.3 Phương pháp nghiên cứu 33
2.3.1 Phương pháp chọn mẫu 33
2.3.2 Thu thập dữ liệu 33
2.3.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin 34
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 34
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Thực trạng công tác quản lý và phát triển rừng tại huyện Na Rì 35
3.1.1 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp 35
3.1.2 Diện tích rừng phân theo chủ quản lý 37
3.1.3 Công tác giao khoán, hình thức giao khoán và cơ chế hưởng lợi từ rừng trên địa bàn huyện Na Rì 39
3.1.4 Công tác trồng rừng và giao khoán bảo vệ rừng 41
3.1.5 Những diễn biến về diện tích và chất lượng rừng tại khu vực nghiên cứu 42
3.1.6 Đánh giá chung công tác quản lý phát triển rừng trên địa bàn huyện Na Rì 43
Trang 73.2 Đặc điểm nhóm hộ nghiên cứu và các hoạt động quản lý và phát
triển rừng tại Hạt kiểm lâm huyện Na Rì 45
3.2.1 Đặc điểm nhóm hộ nghiên cứu 45
3.2.2 Đặc điểm thu nhập của hộ và vai trò của rừng đối với đời sống của hộ gia đình 46
3.2.3 Các hoạt động quản lý phát triển rừng tại Hạt kiểm lâm Na Rì 48
3.3 Phân tích thuận lợi, khó khăn và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý và phát triển rừng 52
3.3.1 Phân tích mối quan tâm của các bên liên quan đến công tác quản lý và phát triển rừng 53
3.3.2 Mức độ quan trọng của các bên liên quan đến công tác quản lý và phát triển rừng 54
3.3.3 Mức độ ưu tiến của các giải pháp quản lý và phát triển rừng 55
3.3.4 Phân tích SWOT trong công tác quản lý, phát triển rừng trên địa bàn huyện Na Rì 57
3.3.5 Những thuận lợi, khó khăn, kiến nghị trong công tác quản lý và phát triển rừng tại huyện Na Rì 58
3.4 Hiệu quả của đề tài 60
3.4.1 Hiệu quả về môi trường 60
3.4.2 Hiệu quả về kinh tế 60
3.4.3 Hiệu quả về xã hội 60
3.5 Đề xuất một số giải pháp cụ thể cho công tác quản lý và phát triển rừng 61
3.5.1 Giải pháp về kinh tế 61
3.5.2 Giải pháp về chính sách 62
3.5.3 Giải pháp về xã hội 62
3.5.4 Giải pháp về khoa học công nghệ 62
KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Hiện trạng tài nguyên rừng huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn 35
Bảng 3.2 Tổng hợp độ che phủ rừng năm 2017 tại 3 xã nghiên cứu 37
Bảng 3.3 Diện tích rừng phân theo chủ quản lý năm 2017 38
Bảng 3.4 Tình hình sử dụng đất sau giao tại các hộ khảo sát 40
Bảng 3.5 Công tác trồng rừng tại huyện Na Rì giai đoạn 2015-2017 41
Bảng 3.6 Công tác giao khoán bảo vệ rừng huyện Na Rì giai đoạn 2015-2017 42
Bảng 3.7 Biến động tài nguyên rừng tại địa bàn nghiên cứu 42
Bảng 3.8 Đặc điểm nhóm hộ nghiên cứu 46
Bảng 3.9 Cơ cấu thu nhập bình quân của một hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu 47
Bảng 3.10 Tổng hợp kết quả hoạt động tuyên truyền, giáo dục từ năm 2015-2017 trong công tác quản lý và phát triển rừng của huyện Na Rì 48
Bảng 3.11 Phương pháp tuyên truyền của Nhà nước 49
Bảng 3.12 Số vụ cháy rừng và mức độ thiệt hại do cháy rừng gây ra tại địa bàn 50
Bảng 3.13 Đối tượng khi tham gia chữa cháy rừng khi có cháy rừng 50
Bảng 3.14 Tổng hợp hình thức số vụ vi phạm lâm luật 51
Bảng 3.15 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý và phát triển rừng 52
Bảng 3.16 Mối quan tâm của các bên liên quan đến công tác quản lý và phát triển rừng 53
Bảng 3.17 Mức độ quan trọng của các bên liên quan đến công tác quản lý và phát triển rừng 54
Bảng 3.18 Mức độ ưu tiên của các giải pháp quản lý và phát triển rừng 56
Bảng 3.19 Phân tích SWOT 57
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Luận văn thạc sỹ với đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và phát triển rừng trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”
được thực hiện nhằm phân tích thực trạng công tác quản lý và phát triển rừng tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, tìm ra những thuận lợi, khó khăn từ đó đề xuất một số giải pháp trong công tác quản lý và phát triển rừng tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn Với phương pháp nghiên cứu lựa chọn các xã có tỷ lệ che phủ rừng cao, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp; cộng đồng thôn bản, người dân có tham gia vào các hoạt động lâm nghiệp ở địa phương, nhận và được khoán rừng; có liên hệ chặt chẽ với công tác quản lý và phát triển rừng Sau đó xử lý số liệu để đưa ra những kết luận cụ thể
Kết quả nghiên cứu Na Rì là huyện miền núi, có diện tích đất lâm nghiệp lớn: 65.218,6 ha, chiếm 76,46 % diện tích tự nhiên toàn huyện Hiện nay công tác quản lý, phát triển rừng tại huyện Na Rì chủ yếu do hộ gia đình, cá nhân (43.629,3 ha), UBND huyện (18.209,3 ha), BQL rừng đặc dụng (10.478,5ha), Doanh nghiệp nhà nước (1.774,5 ha), Cộng đồng (1.415,6 ha), các tổ chức khác (24,2 ha) Công tác quản lý, phát triển rừng đã
và đang nhận được sự hỗ trợ về vốn của Nhà nước theo các chương trình dự
án nhờ vậy những hoạt động quản lý, phát triển rừng đã và đang thực hiện có hiệu quả, góp phần nhất định trong phát triển kinh tế của người dân và địa phương Tuy nhiên cơ cấu thu nhập từ trồng rừng đạt thập chỉ chiếm 4,3 % trong tổng số thu nhập, rừng cộng đồng 2,16% so với tổng thu nhập Như vậy có thể thấy rằng tài nguyên rừng chưa trở thành nguồn thu chính trong
cơ cấu kinh tế hộ gia đình
Các hoạt động quản lý, phát triển rừng bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau như: Yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, phong tục tập quán… Trong đó yếu tố phong tục - tập quán có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý, phát triển rừng
Trang 11Để công tác quản lý và phát triển rừng có hiệu quả, bền vững thì một trong những vấn đề mang tính chất quyết định là làm cho các hoạt động quản
lý, phát triển rừng trở thành hoạt động kinh tế chính của người dân
Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý và phát triển rừng đã
đề xuất một số giải pháp nhằm làm tốt công tác quản lý và phát triển rừng như: Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức người dân, rà soát, bổ sung hàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách về quản lý, phát triển rừng; Xây dựng các mô hình trình diễn về kinh doanh rừng có hiệu quả
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia Rừng không những là tài nguyên có khả năng tự tái tạo và phục hồi mà rừng còn có chức năng sinh thái vô cùng quan trọng Rừng là thành phần quan trọng của sinh quyển, là nguồn vật chất và tinh thần cơ bản thoả mãn nhu cầu của con người Tất cả mọi đời sống xã hội, các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của con người đều có liên quan đến rừng Trên thực tế, giá trị của rừng không chỉ
là cơ sở để phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ nhiều chức năng sinh thái quan trọng, tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, hạn chế tác hại của thiên nhiên lũ lụt, hạn hán, bảo vệ đất…
Theo đánh giá tài nguyên rừng do FAO thực hiện (FRA) diện tích rừng thế giới hiện nay có khoảng gần 4 tỷ hecta, chiếm 30% tổng diện tích đất trên hành tinh Tuy nhiên, diện tích rừng đang tiếp tục suy giảm nghiêm trọng với diện tích rừng bị mất, trong thời kỳ 2006-2010, trung bình một năm,
là 13 triệu ha (http://news.chogo.vn/go-va-cuoc-song.html)
Rừng mất đi đã kéo theo nhiều hệ lụy tất yếu, gây tổn hại lớn đối với cuộc sống con người, tình trạng hạn hán, lũ lụt, lốc xoáy diễn ra với tần suất ngày một dày đặc và nguy hiểm, thời tiết trở nên khó dự báo hơn Nhiều
hệ sinh thái đã bị phá vỡ, số lượng loài có nguy cơ bị tuyệt chủng tăng lên, xói mòn, rửa trôi diễn ra mãnh liệt, nhiều căn bệnh lạ và nguy hiểm xuất hiện
đe dọa cuộc sống của con người
Theo số liệu năm 2016, diện tích rừng của Việt Nam là 14.377.682 ha, bao gồm rừng tự nhiên là 10.242.141 ha, rừng trồng là 4.135.541 ha, độ che phủ 41,19% (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2017) Hệ thực vật, động vật rừng còn đa dạng và phong phú về chủng loại Tuy nhiên, hiện nay rừng Việt Nam
đã và đang bị thu hẹp nhanh chóng do quá trình khai thác quá mức tài nguyên rừng cùng với phong tục tập quán lạc hậu của đồng bào dân tộc như: du canh
Trang 13du cư, đốt rừng làm nương rẫy và sự phát triển của ngành chăn nuôi đại gia súc đã làm cho diện tích rừng nước ta ngày càng bị thu hẹp Theo số liệu thống kê năm 1943 độ che phủ rừng ở nước ta là 43%, đến năm 1995 chỉ còn 28% Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích các cộng đồng dân cư nhận đất, nhận rừng trồng, bảo vệ, khoanh nuôi và ban hành Luật bảo
vệ và phát triển rừng, cùng nhiều văn bản nhằm hạn chế tình trạng mất rừng, đến năm 2001 độ che phủ của rừng tuy đã được nâng lên từ 33,2%, đến năm
2010 là 39,5%, đến năm 2015 tỷ lệ che phủ đạt 40,84% nhưng vẫn chưa đảm bảo mức an toàn sinh thái cho sự phát triển bền vững của đất nước (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016)
Nhà nước ngày càng quan tâm hơn đến việc quản lý, phát triển rừng (PTR), đã có những chính sách và chương trình mục tiêu đầu tư lớn như chính sách giao đất giao rừng, chương trình 327, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng-
dự án 661 Nhận thức của xã hội, của các tầng lớp nhân dân và chính quyền các cấp về quản lý và phát triển rừng được nâng lên
Tuy diện tích rừng có tăng lên trong những năm gần đây do thực hiện các chương trình trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên… nhưng chất lượng rừng vẫn tiếp tục bị suy giảm, do việc khai thác không đúng quy trình, khai thác bất hợp pháp Bắc Kạn là một tỉnh miền núi cũng đang nằm trong tình trạng chung, liên tục trong những tháng đầu năm 2014, tình trạng phá rừng trái phép xảy ra ở nhiều địa bàn trong tỉnh Có những địa phương tình trạng chặt hạ nhiều cây gỗ nghiến lớn đã xảy ra như Chợ Đồn,
Na Rì, Ba Bể Mặc dù ngành kiểm lâm đã phối hợp với các ngành chức năng tăng cường tuần tra bảo vệ rừng nhưng dường như tình trạng này vẫn không
hề thuyên giảm
Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và phát triển rừng trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”
Trang 142 Mục tiêu nghiên cứu
3 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn về công tác quản lý và phát triển rừng ở huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
+ Thời gian thu thập số liệu sơ cấp năm 2018
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Thực tiễn đề tài sẽ góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn
và tổng quan các nghiên cứu về rừng, quản lý và phát triển rừng Là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác quản lý và phát triển rừng và đề xuất các giải pháp nâng cao công tác quản lý và phát triển rừng trên địa bàn huyện Na rì, tỉnh Bắc Kạn
Trang 15- Việc đánh giá thực trạng công tác quản lý và và phát triển rừng sẽ chỉ
ra được những tích cực và những hạn chế, yếu kém còn tồn tại trong công tác quản lý và phát triển rừng nguyên nhân của những tồn tại Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý rừng và phát triển rừng trên địa bàn huyện Na rì một cách bền vững, hiệu quả
- Các kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho huyện Na Rì nói riêng, tỉnh Bắc Kạn nói chung và các địa phương khác có điều kiện tương tự xây dựng phương án để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và phát triển rừng cho địa phương trong thời gian tới
- Các kết luận của luận văn có thể tham khảo để sử dụng cho việc giảng dạy, học tập trong nhà trường, phục vụ cho công tác nghiên cứu của các đối tượng khác có quan tâm
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Khái niệm rừng
Ngay từ thủa sơ khai, con người đã có những khái niệm cơ bản nhất về rừng, bởi lẽ rừng chính là nơi cung cấp mọi thứ phục vụ cuộc sống của họ Lịch sử ngày càng phát triển thì những khái niệm về rừng được tích lũy, hoàn thiện thành những học thuyết về rừng
Năm 1930, Morozov đã đưa ra khái niệm: “Rừng là một tổng thể cây
gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển Rừng chiếm phần lớn bề mặt trái đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý” (Trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh, 2013)
Năm 1952, M.E.Tcahenco đã định nghĩa: “Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và cả vi sinh vật Trong quá trình phát triển của mình, chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài” (Trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh, 2013)
Năm 1974, LS.Melekhop cho rằng: “Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu” (Trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh, 2013)
Việt Nam, tại kỳ họp thứ 6, khóa XI, Quốc Hội nước ta đã ra luật số 29/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm 2004, trong đó nêu rõ: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng”(Quốc hội, 2004)
Trang 17Mặc dù các khái niệm đưa ra vào các thời điểm khác nhau, tuy nhiên, tựu trung lại, tác giả xin đưa ra khái niệm về rừng như sau: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các yếu tố thực vật rừng tự nhiên hoặc do con người trồng mới hoặc khoanh nuôi tái sinh trên đất trồng rừng, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc thực vật đặc trưng là những thực vật chính chiếm ưu thế; động vật rừng sống hoang dã trong rừng; vi sinh vật rừng; quần xã thực vật rừng phải có một diện tích đủ lớn để tạo ra hoàn cảnh rừng đặc trưng và những yếu tố tự nhiên, môi trường do rừng tạo ra khác với hoàn cảnh bên ngoài, độ khép tán của quần xã thực vật phải lớn hơn 0,1”
1.1.2 Đặc điểm và phân loại rừng
1.1.2.1 Đặc điểm của rừng
Có thể nói, rừng là một quần xã sinh vật với diện tích đủ lớn trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu Trong đó, quần xã sinh vật và môi trường cùng với các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết
để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác Do vậy, rừng có những đặc điểm cụ thể như sau:
Thứ nhất, rừng là một thể tổng hợp phức tạp có mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng với hoàn cảnh trong tổng hợp đó (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004)
Thứ hai, rừng luôn luôn có sự cân bằng động, có tính ổn định, tự điều hòa và tự phục hồi để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi về số lượng sinh vật, những khả năng này được hình thành do kết quả của
sự tiến hóa lâu dài và kết quả của sự chọn lọc tự nhiên của tất cả các thành phần rừng (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004)
Thứ ba, rừng có khả năng tự phục hồi và trao đổi cao Khả năng tự phục hồi giúp rừng chống lại những thay đổi nhất định (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004)
Trang 18Thứ tư, rừng có sự cân bằng đặc biệt về sự trao đổi năng lượng và vật chất, luôn luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật, trao đổi vật chất năng lượng, đồng thời nó thải ra khỏi hệ sinh thái các chất và bổ sung thêm vào đó một số chất từ các hệ sinh thái khác (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004)
Thứ năm, sự vận động của các quá trình nằm trong các tác động tương
hỗ phức tạp dẫn tới sự ổn định bền vững của hệ sinh thái rừng (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004)
Thứ sáu, rừng có phân bố địa lý theo vùng miền, địa phương Các vùng miền, địa phương có điều kiện khác nhau có kiểu rừng khác nhau, hệ sinh thái rừng cũng có những đặc trưng riêng theo vùng miền (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004)
1.1.2.2 Phân loại rừng
Theo Thông tư Số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/6/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có 06 kiểu phân loại rừng, Cụ thể:
Phân loại rừng theo mục đích sử dụng
Phân loại rừng theo nguồn gốc hình thành
Phân loại rừng theo điều kiện lập địa (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016) Phân loại rừng theo loài cây (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016)
Phân loại rừng theo trữ lượng (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016)
Đất chưa có rừng (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016)
Trang 19Thứ hai, rừng là lá phổi xanh của thế giới, giúp cung cấp phần lớn oxy cho hoạt động sống của con người Thực vậy, theo thống kê của các nhà khoa học, các cây rừng sẽ thải ra 52,5 tỷ tấn (chiếm 44%) oxy để phục vụ cho hô hấp của con người, động vật và sâu bọ trên Trái Đất trong khoảng 2 năm Trong đó trung bình mỗi người một năm cần 4.000 kg O2 để thở, tương ứng với lượng oxy do 1.000 - 3.000 m² cây xanh tạo ra trong một năm Do đó, rừng giúp ích cho sự sống của con người và động vật (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004)
Thứ ba, rừng là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề mặt Trái Đất, giữ vai trò to lớn đối với con người như: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa khí hậu, tạo ra oxy, điều hòa nước, nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004)
Thứ tư, rừng còn có tác dụng điều hòa không khí Điều này có được là
do nhiệt độ không khí rừng thường thấp hơn nhiệt độ đất trống 3 - 5°C [1]
Thứ năm, rừng còn giúp bảo vệ và ngăn chặn gió bão Các thống kê cho thấy, tại những nơi có rừng trồng, tỷ lệ nhà cửa bị ảnh hưởng do bão và các thiệt hại do thiên tai xảy ra giảm đáng kể so với những nơi không có rừng Đồng thời, lượng đất xói mòn của vùng đất có rừng chỉ bằng 10% lượng đất xói mòn của vùng đất không có rừng (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004)
Thứ sáu, rừng còn là nguồn gen vô tận của con người, là nơi cư trú của các loài động thực vật quý hiếm như các loài hổ, báo, khỉ …(Bộ Nông nghiệp
và PTNT, 2004)
1.2 Một số vấn đề lý luận về tác động của chính sách quản lý rừng đến phát triển rừng
1.2.1 Các khái niệm cơ bản
Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người Tuy nhiên, hiện nay, do khai thác trái phép quá mức đã ảnh hưởng không nhỏ đến cảnh quan, không khí khiến thời tiết nóng hơn, khắc nghiệt hơn… gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của rừng nói riêng và cuộc sống con người nói chung Chính vì vậy, thực hiện quản lý và phát triển rừng là việc làm vô cùng cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Trang 201.2.2 Khái niệm quản lý rừng và quản lý rừng bền vững
Quản lý rừng được hiểu là các cơ quan quản lý rừng ban hành các chính sách, quy định, tổ chức các hoạt động nhằm bảo vệ rừng và các tài nguyên rừng; đảm bảo cho các chủ rừng thu được lợi ích về gỗ, lâm sản và giá trị dịch
vụ từ rừng mà không làm thay đổi diện tích, trữ lượng và năng suất lâm sản trong đó và không làm ảnh hưởng tới lợi ích lâu dài của khu rừng
Quản lý rừng bền vững là việc đóng góp của công tác lâm nghiệp đối với sự phát triển Sự phát triển đó phải mang lợi ích kinh tế, môi trường và xã
hội, có thể cân bằng giữa nhu cầu hiện tại và tương lai Như vậy, “quản lý rừng bền vững còn là quá trình quản lý rừng để đạt được một hay nhiều mục tiêu cụ thể xem xét đến việc phát triển sản xuất dịch vụ và sản phẩm lâm nghiệp, đồng thời không làm giảm giá trị hiện có và ảnh hưởng đến năng suất sau này, cũng như không gây ra các tác động xấu đến môi trường tự nhiên và
xã hội”[ (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006)
1.2.3 Khái niệm bảo vệ rừng
Ngoài việc quản lý rừng bền vững, nhà nước cũng cần phải thực hiện
bảo vệ rừng “Bảo vệ rừng là tổng thể các hoạt động nhằm bảo toàn, phát triển hệ sinh thái rừng hiện có, bao gồm thực vật, động vật rừng, đất lâm nghiệp và các yếu tố tự nhiên khác; phòng, chống những tác động gây thiệt hại đến đa dạng sinh học của rừng, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái” (Nguyễn Huy Dũng, 2002)
Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Huy Dũng (2002) cho rằng bảo vệ rừng bao gồm các hoạt động sau:
Thứ nhất, phải thực hiện tốt công tác tổ chức phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại đến rừng như: phá rừng, đốt rừng, lấn chiếm rừng, đất lâm nghiệp; khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản; xuất nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng; săn bắn động vật rừng, chăn thả gia súc vào rừng trái quy định của pháp luật (Nguyễn Huy Dũng, 2002)
Trang 21Thứ hai, cần thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy; phòng, trừ sâu bệnh hại cho cây rừng (Nguyễn Huy Dũng, 2002)
Thứ ba, hàng năm thực hiện thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng (Nguyễn Huy Dũng, 2002)
1.2.4 Khái niệm phát triển rừng
Theo Luật số 29/2004/QH11 do Quốc Hội ban hành ngày 03 tháng 12
năm 2004 quy định: “Phát triển rừng là việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị khác của rừng” (Quốc hội, 2004)
Việc phát triển rừng bền vững đã được các nhà khoa học, các nhà chính sách các nước trên thế giới quan tâm từ những năm 80 của thế kỷ thứ XX Đây là tiêu chí quan trọng trong “chiến lược bảo tồn thế giới” nhằm đáp lại nhận thức và những mối lo ngại ngày càng tăng về sự suy kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng sự xuống cấp môi trường thế giới Quan điểm chung của các nhà khoa học về sự phát triển bền vững là phải đảm bảo sao cho việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ hôm nay không làm tổn hại đến việc đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ mai sau
1.2.5 Tình hình quản lý phát triển rừng trên thế giới
Trước đây trên thế giới có khoảng 6 tỷ ha rừng,đến năm 1958 chỉ còn 4,4 tỷ ha và đến năm 1973 còn 3,84 tỷ ha với độ che phủ 29,1% bình quân theo đầu người 1,9 ha Rừng phân bố không đồng đều trên các Châu lục về diện tích cũng như thể loại Tính tổng thể thì rừng chiếm 29% diện tích của các Châu lục tương ứng với 3.837 triệu ha gồm 1.280 triệu ha rừng thông ở vùng ôn đới và hàn đới, 2.557 triệu ha rừng rậm ở vùng nhiệt đới và xích đạo (1973) Theo tài liệu công bố của Quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF,
Trang 221998) trong thời gian 30 năm (1960-1990) độ che phủ rừng trên toàn thế giới
đã giảm đi gần 13% diện tích rừng đã giảm đi từ 3,8 tỷ ha xuống còn 3,2 tỷ
ha, với tốc độ giảm trung bình 16 triệu ha/năm Sự mất rừng lớn nhất diễn ra
ở các vùng nhiệt đới, ở Amazon (Braxin) trung bình mỗi năm rừng bị thu hẹp 1,9 triệu ha/năm Bốn loại rừng bị hủy diệt khá lớn là rừng hỗn hợp và rừng
ôn đới lá rộng 60%, rừng lá kim khoảng 30%, rừng ẩm nhiệt đới khoảng 45%
và rừng khô nhiệt đới lên đến khoảng 70% Châu Á là nơi mất rừng nguyên sinh lớn nhất khoảng 70% từ năm 2000 đến 2005 mỗi năm trên thế giới mất 7,3 triệu hecta rừng, chiếm 0,18% diện tích rừng toàn cầu và tỷ lệ này giảm so với thời gian từ năm 1990 đến năm 2000, với 8,9 triệu hecte rừng bị biến mất hàng năm Nam Mỹ là khu vực có tình trạng phá rừng diễn ra tồi tệ nhất do các hoạt động phá rừng trong 5 năm qua, làm mất 4,3 triệu hecta rừng mỗi năm, theo sau là châu Phi với 4 triệu hecta rừng biến mất hàng năm Đến năm
2010 tổng số diện tích rừng của thế giới đã tăng lên hơn 4 tỷ ha với độ che phủ 31% và bình quân theo đầu người 0,6 ha Trong đó năm quốc gia có nhiều rừng nhất bao gồm Liên bang Nga, Brazil, Canada, Hoa Kỳ Mỹ và Trung Quốc, chiếm hơn một nửa tổng diện tích Giai đoạn 1990 và 2010 Ở Châu Phi từ, đã thực hiện một số chương trình trồng rừng chống sa mạc hóa nên xu hướng mất rừng chậm lại, diện tích rừng trồng ngày càng tăng, đặc biệt ở Tây và Bắc Phi Ở khu vực Châu Á và Thái Bình Dương diện tích rừng
đã thay đổi đáng kể trong hai thập kỷ qua Trong những năm 1990 khu vực này mất 0,7 triệu ha mỗi năm, sau một thập kỷ diện tích rừng tăng 1,4 triệu ha/ năm Tuy nhiên diện tích chủ yếu là rừng trồng còn rừng nguyên sinh lại
có xu hướng giảm mạnh trong khu vực Ngược lại với 2 khu vực trên thì ở khu vực Nam Á và Châu Đại Dương, diện tích rừng sản xuất giảm Châu Âu
là khu vực có diện tích rừng lớn nhất so với các khu vực khác, tổng cộng khoảng 1 tỷ ha Từ năm 1990 và 2000 và 2010, diện tích rừng ở Châu Âu tiếp tục tăng Ở Châu Mỹ La tinh và vùng Ca-ri-bê: Diện tích rừng giảm ở Trung
Trang 23và Nam Mỹ do nạn phá rừng diễn ra cao và việc khai thác rừng bừa bãi, các hàng hóa từ rừng tăng 30% trong vài năm gần đây Tại Bắc Mỹ diện tích rừng tăng nhẹ, diện tích rừng trồng tăng lên và tương đối ổn định (Phạm Hữu Sơn, bài đăng trên web)
Ở nước ta, vào năm 1943 ước tính có khoảng 14 triệu ha với độ che phủ 48,3%, do sự tàn phá của chiến tranh và mở rộng sự du canh du cư ở nhân dân đến năm 1975 còn 9,5 triệu ha rừng với độ che phủ 29.1% Trong khoảng thời gian này cả nước mất khoảng 3 triệu ha rừng, bình quân 100.000 ha năm (sthai) Từ 1975 đến 1995, diện tích rừng tự nhiên giảm 2,8 triệu ha Đặc biệt nghiêm trọng ở một số vùng như Tây Nguyên (mất 440.000 ha), vùng Đông Nam Bộ (mất 308.000 ha), vùng Bắc Bộ (mất 242.500 ha) đến năm 1995 còn
8 triệu ha, tích rừng bình quân cho 1 người là 0,13 ha và tỷ lệ che phủ còn 28% Theo FAO, trong năm 2010 tốc độ phá rừng chậm lại nhưng vẫn ở mức báo động Trong những năm 1990 diện tích rừng giảm khoảng 16 triệu ha mỗi
và đến những năm gần đây thế giới mất khoảng 13 triệu ha/năm (Phạm Hữu Sơn, bài đăng trên web)
Tính từ năm 1990 đến nay, thế giới đã mất khoảng 3% diện tích rừng
và 76 nước không còn rừng nguyên sinh.Mất rừng nhiều nhất là ở các nước và các khu vực ở vùng nhiệt đới Một tiến bộ đáng kể đã được thực hiện trong chính sách phát triển rừng của các quốc gia Theo báo cáo của FAO 2010 có
76 quốc gia phát hành hoặc cập nhật luật lâm nghiệp, gần 75% quốc gia trên thế giới cam kết quốc tế thực hiện các chính sách quản lý rừng Trong những năm gần đây, theo công bố về hiện trạng rừng của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn qua các năm 2000, 2005, 2007, 2009 (Phạm Hữu Sơn, bài đăng trên web) như sau: Năm 2014, cả nước có 13.796.506 ha rừng các loại,
độ che phủ tương ứng là 40,43%; trong đó: Diện tích rừng tự nhiên 10.100.186 ha, chiếm 73,2% diện tích rừng cả nước, Diện tích rừng trồng 3.696.320 ha, chiếm 26,8 % diện tích rừng cả nước (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2015) Đến năm 2015, cả nước có 14.061856 ha rừng, trong đó rừng
Trang 24tự nhiên là 10.175.519 ha, còn lại là rừng trồng Tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc đạt 40,84% (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016) Vào năm 2016 nước ta có 14.377.682 ha rừng, trong đó có 10.242.141 ha rừng tự nhiên và 4.135.541 ha rừng trồng, với độ che phủ là là 41,19 %.Qua số liệu trên chúng ta có thể thấy rằng diện tích rừng ở nước ta năm 2014- 2015 tăng từ 13.796.506 ha đến 14.135.541 ha và độ che phủ của rừng cũng tăng từ 40,43% đến 41,19% Có được kết quả đó là công tác quản lý và phát triển rừng của nước ta, đi kèm với việc khoanh nuôi tái sinh diện tích rừng tự nhiên
Theo chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đặt mục tiêu nâng độ che phủ rừng lên 42% - 43% vào năm 2010 và nâng cao độ che phủ rừng toàn quốc lên 42%, diện tích các loại rừng đạt 14,4 triệu ha vào năm 2020; và ổn định diện tích rừng tự nhiên đến 2030 ít nhất bằng diện tích đã đạt được tại năm 2020 và tăng độ che phủ rừng toàn quốc lên 45% Trong thực tế, đến năm 2016, độ che phủ rừng của nước ta đã đạt 41,19 % Hiện nay chúng ta có khoảng 13,4 triệu ha rừng, trong đó, hơn 10 triệu ha là rừng tự nhiên, hơn 4 triệu ha rừng trồng (Thủ tướng Chính phủ, 2007)
Mỗi năm trung bình diện tích rừng nhiệt đới thu hẹp 13 triệu ha, trong
đó diện tích đa dạng của rừng trồng và phát huy vai trò của nó còn rất hạn chế Riêng ở Châu Á Thái bình dương trong thời gian 1976-1980 mất 9 triệu
ha rừng, cũng trong thời gian này ở Châu Phi mất 37 triệu ha rừng, ở Châu
Mỹ mất 18,4 triệu ha rừng Nạn phá rừng diễn ra trầm trọng ở 56 nước nhiệt đới thuộc thế giơi thứ 3 (http://news.chogo.vn/go-va-cuoc-song.html)
Do nạn phá rừng nên đất trồng trọt cũng bị xói mòn nặng, xa mạc hoá ngày càng diễn ra nghiêm trọng Hiện nay 875 triệu người phải sống ở vùng sa mạc, hàng năm trên thế giới mất 12 tỷ tấn đất, với số lượng này có thể sản xuất ra khoảng 50 triệu tấn lương thực mỗi năm Hàng ngàn hồ chứa nước ở vùng nhiệt đới đang bị cạn dần, tuổi thọ nhiều công trình thuỷ điện vùng nhiệt đới bị rút ngắn (Nguyễn Vũ, 2011)
Trang 25Ở mỗi quốc gia và châu lục trên thế giới đều có điều kiện tự nhiên phong tục tập quán khác nhau cũng như tiềm năng về kinh tế, xã hội, chính trị khác nhau Ở nhiều nước trên thế giới vai trò quản lý của Nhà nước về rừng là rất
ít, chủ yếu rừng được giao cho chủ nhân quản lý, phát triển, còn Nhà nước chỉ giữ vai trò bao quát chung (Nguyễn Vũ, 2011)
Ở Ấn Độ: Trong những năm 2008-2009 ở một số Bang ở ấn độ đã thực hiện chuyển giao quyền quản lý một phần rừng cộng đồng lâm nghiệp Năm
1998 chính sách lâm nghiệp quốc gia được thông qua cho rằng “ cộng đồng lâm nghiệp cần được khuyến khích phát triển, tự xác định vị trí của mình trong việc bảo vệ các khu rừng mà hoạ cũng có nhiều quyền lợi trong đó.” (Nguyễn Vũ, 2011)
Ở Philippin: Giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho cho cá nhân, các hội quần chúng và cộng đồng địa phương trong 25 năm, thiết lập rừng cộng đồng và giao cho nhóm quản lý (Nguyễn Vũ, 2011)
Ở Trung Quốc: Chuyển kinh doanh lâm nghiệp đưa vào sở hữu Nhà nước vào tập thể song dựa trên nền kinh tế nhiều thành phần Phát triển nhiều ngành kinh tế lâm sản, chế biến lâm sản nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng kết hợp coi trọng các mặt môi trường, sinh thái và xã hội, Trung Quốc đã hoàn thành giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, bên cạnh đó Ban hành nhiều Luật, chính sách kinh tế để tạo điều kiện việc lưu truyền trao đổi quyền sử dụng tài nguyên (Nguyễn Vũ, 2011)
Hàn Quốc là một điển hình của thế giới về công việc phát triển rừng Hàn Quốc chỉ cần chưa tới hai thập niên đã thành công trong việc trồng rừng nhờ nhận được sự trợ giúp từ cộng đồng quốc tế Cơ quan Kiểm lâm Hàn Quốc (KFS) biến chuyển đất hoang thành đất rừng từ những năm 1970 và đưa vào khai thác tài nguyên rừng từ cuối những năm 1980 Hàn Quốc hiện có 6,3 triệu
ha rừng, chiếm 63,2% diện tích đất của mình Tính đến năm 2015, Hàn Quốc
có tỷ lệ rừng cao thứ tư trong số các thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Con số này gấp đôi con số trung bình của thế giới là 31% (Nguyễn Vũ, 2011)
Trang 26Qua trên ta thấy ở các nước khác nhau về điều kiện tự nhiên, chính sách kinh tế và chính sách phát triển lâm nghiệp ở mỗi quốc gia, thì tình hình
sử dụng quản lý phát triển rừng mang màu sắc riêng Tuy nhiên trước sự phát triển không ngừng khoa học mỗi nước như tin, công nghệ chế biến, công nghệ xây dựng Cộng thêm việc phá hoại tài nguyên rừng của một số đối tượng xấu gây ảnh hưởng không nhỏ đến rừng và tài nguyên rừng thì vấn đề môi trường, sinh thái giữ vai trò hết sức quan trọng và ngày càng được chú trọng
và quan tâm hơn chính vì thế các nước trên thế giới đẩy mạnh việc kinh doanh và xây dựng vốn rừng, tạo rừng mới, khoanh nuôi bảo vệ rừng được coi là vấn đề hết sức cấp bách và cần thiết đối với an toàn nhân loại Trong hơn thập kỷ qua vấn đề quản lý phát triển rừng đã có những chuyển biến, một
số xu hướng quản lý, phát triển rừng đã được các nước trên thế giới áp dụng như: Chuyển mục tiêu quản lý sử dụng rừng từ sản xuất gỗ là chủ yếu sang mục tiêu kết hợp cả 3 lợi ích: Kinh tế, sinh thái và xã hội, Nhiều nước
đã tuyên bố thực hiện hoặc áp dụng nhiều biện pháp như: Đình chỉ khai thác
gỗ rừng, nâng cao diện tích rừng đặc chủng, lập các khu bảo tồn thiên nhiên, phát triển du lịch sinh thái, chú trọng hơn vào mục tiêu phát huy tác dụng phòng hộ của rừng Phân cấp quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp (phi tập trung hoá), xu hướng là chuyển giao dần trách nhiệm, quyền lực và quản lý rừng từ trung ương đến địa phương và cơ sở
Xúc tiến việc giao đất, giao rừng cho nhân dân, giảm bớt can thiệp của Nhà nước, thực hiện tư nhân hoá đất đai và cơ sở kinh doanh lâm nghiệp
để tạo điều kiện cho việc quản lý rừng năng động và đem lại nhiều lợi nhuận Thu hút sự tham gia của các nhóm dân cư có điều điện thuận lợi trong quá trình xây dựng kế hoạch quản lý rừng, chủ rừng rất quan tâm đến sự tham gia của các nhóm có liên quan đến quyền lợi từ rừng
Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào công tác quản lý rừng, khuynh hướng phát triển các hình thức tổ chức để thu hút các cộng đồng địa phương vào quản lý rừng như liên kết rừng, phát triển
Trang 27chương trình lâm nghiệp cộng đồng, các công trình bảo vệ thiên nhiên theo làng Về hiện tượng biến đổi khí hậu, Ngân hàng Thế giới cho rằng, 20% lượng phát thải khí nhà kính hiện nay là do phá rừng Do đó, cùng với Diễn đàn về rừng được thành lập năm 2000, Liên Hợp quốc đã quyết định chọn năm
2011 là Năm quốc tế về rừng với mục tiêu chính là thúc đẩy việc quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững tất cả các loại rừng; đồng thời, tăng cường cam kết chính trị lâu dài giữa các quốc gia dựa trên “Tuyên bố Rio” (1992), các nguyên tắc trong Chương trình nghị sự 21 về công tác chống phá rừng Thông qua các hoạt động trong Năm quốc tế về rừng tại các quốc gia
và khu vực, Liên Hợp quốc mong muốn mật độ che phủ rừng trên toàn thế giới sẽ gia tăng đáng kể thông qua quản lý rừng bền vững (SFM), bao gồm bảo vệ, phục hồi trồng rừng và tái trồng rừng, cùng những nỗ lực ngăn chặn suy thoái rừng Đồng thời, giảm những tác động kinh tế - xã hội và môi trường đến rừng bằng cách cải thiện sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào rừng Tháng 9 năm 2008, Liên hợp quốc đã triển khai Chương trình Giảm phát thải khí nhà kính thông qua giảm mất rừng và suy thoái rừng tại các nước đang phát triển (REDD) Chương trình được xây dựng dưới sự phối hợp và giám sát của Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO), Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) nhằm mục tiêu hỗ trợ các nước đang phát triển tổ chức và triển khai chiến lược REDD+ ở quy mô quốc gia Chương trình hiện
có 29 nước tham gia, từ châu Phi, châu Á-Thái Bình Dương và châu Mỹ La tinh REDD+ được coi là một trong những sáng kiến hiệu quả nhất về mặt kinh tế nhằm giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, góp phần chặn đứng nguy cơ nhiệt độ trái đất tăng lên 2oC (Nguyễn Vũ, 2011)
1.2.6 Tình hình quản lý rừng ở Việt Nam
Tại Việt Nam, các hoạt động quản lý và phát triển rừng đã được quan tâm; tỷ lệ che phủ rừng đạt 41,19% Tuy vậy, tình trạng chặt phá, khai thác rừng trái phép vẫn diễn biến phức tạp Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm
Trang 28nghiệp Nguyễn Bá Ngãi đã khẳng định vai trò to lớn của rừng trong chống biến đổi khí hậu, ngăn lũ lụt, thiên tai bất thường Do sự mất mát của rừng lớn dẫn đến nghèo kiệt đất đai và sự biến mất dần những sinh vật quý hiếm, làm tăng hàm lượng CO2 trong khí quyển, tăng nhiệt độ trung bình của trái đất
Do những thập kỷ ở nước ta toàn bộ rừng và đất rừng thuộc quyền
sở hữu của Nhà nước.Trên danh nghĩa rừng của toàn dân nên vì thế mà mọi người đều có quyền khai thác, lơi dụng bất kỳ tài nguyên có từ rừng và đất rừng, nên rừng bị khai thác triệt để dẫn đến ngày càng cạn kiệt là điều không thể tránh khỏi, thêm vào đó tình trạng du canh, du cư, hoạt động đốt nương làm dẫy, dân số tăng nhanh làm cho tài nguyên rừng nước ta bị tàn phá nặng nề hơn, hình thức trên kéo dài suốt bốn thập kỷ do đó tài nguyên rừng nước ta bị suy giảm nhanh chóng, diện tích bị thu hẹp từ 14,3 triệu ha (1943) xuống 9,3 triệu ha (1995), tỷ lệ che phủ từ 47% (1943) xuống còn 28% năm (1995) (Tổng cục Lâm nghiệp) Công tác quản lý phát triển rừng ở Việt Nam trong những năm gần đây đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, ban hành nhiều đường lối chính sách bao gồm những văn kiện, những quyết định, chỉ thị và quan trọng nhất là ban hành Luật bảo vệ và phát triển rừng, với nội dung hoạt động của lực lựợng Kiểm lâm phong phú đa dạng nên đã nâng diện tích rừng nước ta từ 13,7 triệu ha năm 2014 (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2015) lên 14,4 triệu ha năm 2016 (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2017) Đây thực
sự là bước ngoặt lớn trong lịch sử phát triển lâm nghiệp ở nước ta, làm cho pháp Luật về rừng đi vào cuộc sống Mục tiêu của Đảng và Nhà nước đặt ra đối với công tác quản lý và bảo vệ rừng và giao đất Lâm nghiệp là: Ngăn chặn tận gốc các hành vi, vi phạm bảo vệ và phát triển rừng
Thiết lập hệ thống chủ rừng trên phạm vi toàn quốc với từng loại rừng Rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, từng bước thực hiện từng mảnh đất khu rừng có chủ cụ thể Tạo điều kiện cho Nông dân tổ chức sản xuất cây trồng, vật nuôi hạn và đi đến xoá bỏ tình trạng độc canh cây lúa,
Trang 29phá rừng làm nương dẫy, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiên đại hoá nông thôn Góp phần bảo vệ, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sống Những năm qua công tác quản lý bảo vệ rừng từng bước phát triển và đạt được những thành công đáng kể: Độ che phủ năm 2014 là 40,43% đến năm 2016 tăng lên 41,19% chủ chương của Nhà nước nâng cao độ che phủ của rừng đến năm 2010 là 43% (Bộ Nông nghiệp
và PTNT, 2015) Để quản lý phát triển rừng hợp lý, Đảng và Chính phủ đã ban hành Nghị định 02 về giao đất Lâm nghiệp cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, Nghị định cho đến nay góp phần tích cực làm hạn chế việc phá rừng, kết quả giao đất Lâm nghiệp đến nay đã có hiệu quả ngày càng tăng việc bảo vệ rừng có chủ thực
sự, cùng với hàng loạt các chính sách làm cho độ che phủ của rừng ngày càng được nâng lên Để nâng cao ý thức vai trò quản lý nhà nước về rừng cho UBND các cấp, chính phủ đã Ban hành Quyết định 245/QĐ/TTG ngày 12/12/1998 Sau khi có Quyết định này, nhận thức được vai trò, trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp, các ngành được nâng cao, đặc biệt sau khi có Nghị định 29/CP về việc ban hành quy chế dân chủ ở xã và thông tư
số 56/BNN&PTNT thì ở các xã lúc này bắt đầu hình thành các quy ước quản
lý phát triển rừng ở cộng đồng thôn bản do người dân tham gia xây dựng Năm 1992 Chính phủ phê duyệt chương trình 327 nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc được bắt đầu từ năm 1992-1998 và được ghép vào chương trình trồng mới 5 triệu ha (661) và kéo dài đến năm 2010 Ngày 02/05/1998 Chính phủ đã gia Quyết định số 202/TTG QĐ về khoán bảo vệ rừng và khoán khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên và rừng trồng Ngày 26/4/2016 Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Quyết định số 08/VBHN-BNNPTNT về ban hành quy định nhiệm thu rừng trồng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh học, chăm sóc rừng trồng, bảo vệ rung, khoanh nuôi rừng phục hồi rừng tự nhiên Phải nói rằng vấn đề đổi mới pháp luật, chính
Trang 30sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực và quản lý bảo vệ rừng và đất rừng
ở nước ta là không ngừng nó kịp thời động viên, khích lệ bà con nhất là bà con dân tộc ít người Đây cũng là sự chuyển đổi nhanh chóng từ quảng lý bảo
vệ rừng theo hướng lâm nghiệp xã hội nhằm hướng tới sử dụng, quản lý rừng
và đất rừng lâu bền
1.2.7 Cơ sở pháp lý trong quản lý và phát triển rừng
Quản lý rừng là lĩnh vực tương đối rộng với những biện pháp kỹ thuật khác nhau tác động từ nhiều phía lên hệ sinh thái rừng nhằm tạo điều kiện cho rừng phát triển một cách tốt nhất, năng suất và chất lường cao nhất Với đặc điểm của nước ta diện tích đồi núi chiếm hơn 60% diện tích tự nhiên và cũng
là nơi sinh sống của hầu hết các dân tộc ít người Vùng miền núi đất sản xuất Nông nghiệp ít, lương thực làm ra hàng năm chưa đủ phục vụ cho dân do thâm canh lạc hậu, sản xuất chủ yếu mang tính tự cung tự cấp và còn phụ thuộc vào thiên nhiên, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, trình độ dân trí thấp cộng thêm phong tục tập quán du canh du cư dẫn đến việc đốt phá rừng bừa bãi để làm nương dẫy người dân lợi dụng triệt để vào rừng để khai thác lâm sản trái phép, săn bắn động vật rừng làm diện tích rừng bị suy giảm, chất lượng rừng kém (Ủy ban thường vụ Quốc hội)
Với những vị trí quan trọng của miền núi Đảng và Nhà nước đã quan tâm xây dựng, phát triển kinh tế xã hội và phát triển ngành lâm nghiệp,
đề ra chủ trương chính sách quản lý bảo vệ rừng, ngăn chặn mức thấp nhất nạn phá rừng, khai thác trái phép (Ủy ban Thường vụ Quốc hội)
Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách bao gồm nhiều văn kiện, nghị định, thông tư mang pháp chế về công tác quản lý phát triển rừng, xây dựng và phát triển rừng của Ban lâm nghiệp nói riêng và các ngành liên quan nói chung Những văn bản quy phạm pháp luật thể hiện
sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với ngành lâm nghiệp Trong công tác phát triển xây dựng vốn rừng, tái sinh, trồng lại rừng Cụ thể: Quyết định số
Trang 3107/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 về ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng Nghị định 119/2006/NĐ-CP hệ thống tổ chức, nhiệm vụ
& quyền hạn của kiểm lâm
1.2.8 Hiệu quả công tác quản lý và phát triển rừng
Thực hiện tốt công tác quản lý và phát triển rừng làm cho diện tích rừng và độ che phủ rừng ngày càng tăng, hạn chế được lũ lụt, sạt lở… do thiên tai gây ra, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quản lý và phát triển rừng từng bước được hoàn thiện, trong đó có nhiều cơ chế, chính sách về bảo vệ và phát triển rừng gắn với giảm nghèo đã giúp người dân làm nghề rừng, nhất là các hộ nghèo cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập nâng cao chất lượng rừng, môi trường sinh thái từ đó nhận thức của người dân cũng được nâng lên
1.2.9 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Từ tổng quan tài liệu về các vấn đề liên quan tới đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và phát triển rừng trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”, tôi rút ra một số nhận xét như sau:
Nhìn chung các nghiên cứu đã thực hiện, kể cả trong nước và ngoài nước, đã đề cập đến nhiều nội dung liên quan đến đề tài như: Hệ thống chính sách quản lý và phát triển rừng; Kinh nghiệm quản lý, phát triển và sử dụng bền vững tài nguyên rừng; Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quản
lý sử dụng tài nguyên rừng; Quyền sở hữu/quyền sử dụng rừng và đất rừng; Chia sẻ lợi ích trong quản lý tài nguyên rừng;
Đối với các nghiên cứu trong nước, một số nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu phân tích về sự thay đổi trong phân loại và quy hoạch rừng, quy chế quản lý các loại rừng, quyền sở hữu/quyền sử dụng rừng và đất rừng, hỗ trợ trong quản lý và phát triển rừng, chia sẻ lợi ích, đồng thời các nghiên cứu này cũng phân tích và chỉ ra những tồn tại hạn chế liên quan đến các lĩnh vực trên Một số nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu phân tích các hình thức
Trang 32quản lý rừng, kinh nghiệm trong quản lý và phát triển rừng, các nghiên cứu này đã chỉ ra những mặt tích cực và những tồn tại hạn chế trong công tác quản
lý và phát triển rừng trong thời gian qua Các nghiên cứu này đã chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực đến phát triển kinh tế, xã hội và môi trường của địa phương, của khu vực và trên phạm vi toàn quốc
Với những phân tích như đã trình bày ở trên, có thể thấy rằng, việc hình
thành và triển khai nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và phát triển rừng trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn” là thực sự cần thiết, có ý nghĩa cả trước mắt, cả về lâu dài
Trang 33CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Na Rì là huyện miền núi, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Bắc Kạn,
có diện tích tự nhiên là 85.300,00 ha, chiếm 17,54% diện tích tự nhiên tỉnh Bắc Kạn, gồm 21 xã và 01 thị trấn với 233 thôn, bản; nằm trong toạ độ địa lý
từ khoảng 21055’ đến 22030’ vĩ độ Bắc, 105058’ đến 106018’ kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp huyện Ngân Sơn
- Phía Nam giáp huyện Chợ Mới và tỉnh Thái Nguyên
- Phía Đông giáp huyện Bình Gia và Tràng Định (tỉnh Lạng Sơn)
- Phía Tây giáp huyện Bạch Thông
Thị trấn Yến Lạc là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của huyện, cách thị xã Bắc Kạn 72 km và thành phố Thái Nguyên 130 km theo Quốc lộ 3B và Quốc lộ 3 Đời sống kinh tế của nhân dân còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng như đường giao thông, trường học, điện lưới quốc gia, trạm y
tế xã mặc dù đã được Nhà nước quan tâm đầu tư xong vẫn còn nhiều khó khăn
2.1.2 Địa hình
Na Rì có địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi với nhiều núi đá vôi, thung lũng hẹp, độ dốc lớn, thuộc cánh cung Ngân Sơn Độ cao trung bình toàn huyện là 500m, cao nhất là núi Phyia Ngoằm (xã Cư Lễ) với độ cao 1.193m, thấp nhất ở xã Kim Lư với độ cao 250m so với mực nước biển Nhìn tổng thể, địa hình của huyện có hướng thấp dần từ Tây Nam sang Đông Bắc, được chia thành 2 dạng địa hình sau:
* Địa hình vùng núi đá
Các dãy núi đá trải dài trên hầu hết các địa bàn trong huyện là các xã Kim Hỷ, Ân Tình, Lạng San, Lam Sơn, Hảo Nghĩa, Cư Lễ với độ dốc trên
Trang 34200 Tại nhiều nơi núi đá còn có độ dốc tới 600 với độ cao thay đổi từ 300m - 500m Khối núi đá vôi Kim Hỷ được đánh giá là loại địa hình caxtơ trẻ với những đỉnh đá tai mèo, vách đứng, vực sâu, nhiều sông suối chảy ngầm, vô cùng nguy hiểm
* Địa hình vùng núi đất
Phân bố ở hầu hết các xã trong huyện, gồm các dãy núi kéo dài liên tiếp nhau có độ cao thay đổi từ 300m - 700m Địa hình vùng này rất phức tạp, hầu hết các dãy núi được hình thành trên các khối đá mắc ma, biến chất, trầm tích,
có đỉnh nhọn, độ dốc lớn Xen kẽ giữa các dãy núi chạy dọc theo các sông suối lớn có các thung lũng nhỏ hẹp dạng lòng máng hầu hết đã được khai thác
để trồng lúa màu Ở vùng này thực vật phát triển rất đa dạng và phong phú, những nơi còn rừng đất đai còn tốt, tầng đất dày Một số nơi do việc khai thác không hợp lý, độ che phủ thực vật giảm, đất đai bị xói mòn, rửa trôi, hàm lượng các chất dinh dưỡng suy giảm nhiều
Địa hình của huyện Na Rì đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành đất, cụ thể là các quá trình rửa trôi và tích luỹ Quá trình rửa trôi diễn ra mạnh vào mùa mưa ở vùng núi đá chia cắt, dốc nhiều, ở vùng đồi núi thấp có những thung lũng tương đối bằng phẳng, thích nghi với các loại cây lương thực và cây ngắn ngày vùng nhiệt đới
- Sông Na Rì: Bắt nguồn từ vùng núi đá có độ cao 850m thuộc xã Yên
Cư (huyện Chợ Mới) chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc
Trang 35Do ảnh hưởng của địa hình và cấu tạo địa chất đã chi phối mạng lưới sông suối khá phức tạp trên địa bàn huyện Phần lớn đồi núi sát thềm sông, thềm suối đã khống chế quá trình bồi tụ phù sa, chính vì vậy trong huyện không có những cánh đồng rộng lớn mà chỉ có những dải đất bồi tụ phù sa nhỏ, hẹp dọc theo các triền sông, triền suối
Đặc điểm chung của các sông suối trong huyện là có độ dốc lớn, lắm thác nhiều ghềnh Lưu lượng dòng chảy phân bố không đều trong năm, chủ yếu tập trung vào mùa lũ (chiếm khoảng 60 - 80% tổng lượng dòng chảy trong năm), nên việc khai thác sử dụng gặp khó khăn, đòi hỏi đầu tư lớn
Tuy nằm cách trung tâm tỉnh khoảng 70 km và cách đường quốc lộ 3 tới 50 km nhưng có thể nói tới nay hệ thống đường giao thông đi lại từ trung tâm huyện tới tỉnh và các huyện khác rất thuận lợi Từ trung tâm huyện có thể nối với đường quốc lộ 3 theo 3 con đường (đường qua đèo Áng Toòng, đường ra Ngân Sơn và đường ra Chợ Mới), và đường nối với huyện Bình Gia, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Việc hình thành các con đường giao thông mới (đường ra Tân Sơn, Chợ Mới) sẽ tạo điều kiện cho việc thông thương thuận lợi hơn, hàng hoá lưu thông tốt hơn Điều này
sẽ kích thích sản xuất hàng hoá phát triển
Huyện có tổng diện tích tự nhiên lên tới hơn 85 nghìn ha và bình quân diện tích tự nhiên trên đầu người là 0,47 ha/người Đây là một thế mạnh của huyện trong phát triển nông lâm nghiệp đặc biệt là phát triển lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia súc
Nằm trong vùng khí hậu thuận lợi có 2 mùa, mùa Hè nóng ẩm, mùa Đông khô lạnh với độ cao trung bình so với mực nước biển là 500m nên thuận lợi cho việc trồng trọt nhiều loại cây nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới Chế độ gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc kèm theo không khí lạnh và gió mùa Đông Nam mang theo hơi nước từ biển Đông, tạo ra các trận mưa lớn về mùa Hè
Trang 362.1.4 Các nguồn tài nguyên
2.1.4.1 Tài nguyên đất
Đất Na Rì chủ yếu được hình thành do sự phong hóa trực tiếp của đá
mẹ và một phần hình thành do sự bồi tụ phù sa các hệ thống sông, suối Toàn huyện gồm có 10 loại được phân thành 2 nhóm chính: Nhóm đất thủy thành
và nhóm đất địa thành
* Nhóm đất địa thành (đồi núi)
Có diện tích 81.999 ha, chiếm 96,13% diện tích tự nhiên; nhóm đất này gồm các loại đất sau:
+ Đất Feralít mùn vàng nhạt trên núi cao trên 700 m (FH): loại đất này
có diện tích 3.297 ha, chiếm 3,87% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các
xã Cư Lễ, Vũ Loan, Kim Hỷ, Côn Minh, Đổng Xá, Dương Sơn Hình thành trên các loại đá: Granít, Liparit, phiến thạch biến chất,… tầng đất mỏng, màu vàng nhạt có nhiều đá lộ đầu, địa hình hiểm trở, độ dốc lớn, tỷ lệ mùn cao, mức
độ tích luỹ sắt (Fe3+), nhôm (Al3+) không nhiều bằng vùng núi thấp và vùng trung du Loại đất này chủ yếu dành cho phát triển lâm nghiệp, tuy nhiên có thể lựa chọn một số nơi để trồng cây ăn quả như: đào, lê, táo, mơ, mận,…
+ Đất Feralít đỏ nâu trên đá vôi (FQv): loại đất này có diện tích 23.518ha, chiếm 27,57% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã Đổng Xá, Xuân Dương, Dương Sơn, Hảo Nghĩa, Côn Minh, Hữu Thác, Cư Lễ, Lam Sơn, Lương Thành, Lạng San, Vũ Loan, Lương Hạ, Văn Minh, Cường Lợi, Văn Học, Kim Hỷ, Ân Tình, Liêm Thuỷ Đất phát triển trên đá vôi, tầng đất mỏng, tỷ lệ sét cao nhưng thường thoát nước nhanh vì nền đá vôi có nhiều hang động và suối ngầm (hiện tượng Kastơ) nên đất thường bị hạn Loại đất này ngoài khả năng trồng các cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày còn có thể trồng được các cây ăn quả như: mận, đào, táo, lê,… nhưng diện tích không lớn
Trang 37+ Đất Feralít đỏ vàng trên đá biến chất (FQj): loại đất này có diện tích 1.052ha, bằng 1,23% diện tích tự nhiên, phân bố rải rác ở các xã trong huyện Đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, tỷ lệ sét cao, hàm lượng mùn và đạm tổng số khá giàu, hàm lượng kali, lân tổng số và lân dễ tiêu nghèo, loại đất này chủ yếu dành cho lâm nghiệp
+ Đất Feralít vàng đỏ trên phiến thạch sét (FQs): Là loại đất có diện tích lớn nhất so với các loại đất khác với 50.416ha, bằng 59,10% diện tích tự nhiên, phân bố ở hầu khắp các xã trong huyện Đất có thành phần cơ giới nặng, hàm lượng mùn từ trung bình đến khá Phần lớn đất nằm trên địa hình hiểm trở, độ dốc lớn nên được sử dụng cho lâm nghiệp là chính Một số ít diện tích đã được cải tạo để trồng hoa màu, cây lâu năm và bãi chăn thả gia súc
+ Đất Feralít màu vàng nhạt trên đá cát (FQq): Loại đất này có diện tích 3.680ha, chiếm 4,31% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã Lương Thượng, Lạng San, Vũ Loan, Văn Học Đất có thành phần cơ giới nhẹ, tỷ lệ cát cao, nhất là ở những vùng đồi trọc, khả năng giữ ẩm và giữ màu của đất kém, hàm lượng oxit sắt (Fe2O3), nhôm (Al2O3) Hàm lượng mùn và đạm tổng số thay đổi theo mật độ cây rừng Lân tổng số và dễ tiêu nghèo, Kali vào loại trung bình Đất thích hợp với nhiều loại cây trồng, khi sử dụng để trồng trọt cần phải thận trọng trong việc lựa chọn tầng đất, độ dốc, chống xói mòn rửa trôi
để bảo đảm được thâm canh lâu dài
Trang 38+ Đất phù sa ngòi, suối: Có diện tích 1.281ha, chiếm 1,50% diện tích tự nhiên, phân bố dọc theo các triền suối thuộc các xã Kim Hỷ, Đổng Xá, Kim Lư,… là sản phẩm bồi tụ phù sa của ngòi, suối Đất có thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, hơi chua, hàm lượng các chất hữu cơ từ trung bình đến khá, thích hợp để trồng lúa và hoa màu, khả năng thâm canh tốt
+ Đất dốc tụ trồng lúa nước: Có diện tích 139ha, chiếm 0,16% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các xã Xuân Dương, Ân Tình, Hảo Nghĩa, Lương Thành Là kết quả của quá trình xói mòn từ đồi núi đổ xuống theo dòng chảy được tích tụ lại ở chân sườn dốc và các lòng chảo đã được khai phá thành ruộng để trồng lúa nước Đất có thành phần cơ giới nặng hay nhẹ phụ thuộc vào đá mẹ, mật
độ che phủ thực vật, mức độ xói mòn, độ dốc ở nơi trực tiếp hình thành ra nó, hàm lượng các chất dinh dưỡng từ trung bình đến nghèo Thích hợp cho trồng lúa nước
và cây hoa màu, tuy nhiên về mặt giá trị sử dụng không bằng đất phù sa ngòi, suối Trong quá trình canh tác cần chú ý tạo điều kiện thoát nước về vụ đông
+ Đất dốc tụ trồng lúa nước ảnh hưởng Cacbonat (LdK): Có diện tích 211ha, chiếm 0,23% diện tích đất tự nhiên, phân bố rải rác ở các xã có núi đá vôi như Liêm Thuỷ, Xuân Dương, Côn Minh, Dương Sơn, Lương Hạ, Kim Lư,… Loại đất này chỉ khác đất dốc tụ (Ld) là bị ảnh hưởng Cacbonat, nên đất có phản ứng hơi kiềm (pHkcl = 6,5 - 7,5) Đất thường có màu xám đen, thường bị hạn vì ở vùng núi đá vôi có nhiều suối ngầm khe nứt dễ thoát nước, đất trở nên cứng rắn khi khô hạn và keo dính khi gặp nước
+ Đất Feralít biến đổi do trồng lúa nước (Lf): Có diện tích 346ha, chiếm 0,41% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã Vũ Loan, Cường Lợi, Hảo Nghĩa, Quang Phong, Hữu Thác,… được hình thành từ đất đồi được san thành ruộng bậc thang để trồng lúa nước nên tính chất đất khác hẳn về màu sắc, thành phần cơ giới và các chất dinh dưỡng Do thường xuyên ngập nước nên đã xuất hiện Glây ở các lớp dưới tầng canh tác, hàm lượng mùn sét bị rửa trôi nhiều, hầu hết diện tích mới chỉ trồng được một vụ mùa và bỏ hoá vụ đông xuân
Trang 39Nhìn chung đất đai Na Rì cho phép phát triển đa dạng các loại cây trồng, vật nuôi Tuy nhiên phần lớn đất của huyện là đất bị xói mòn trơ sỏi đá, thoái hoá nghiêm trọng, nên việc phục hồi, nâng cao chất lượng đất là một nhiệm vụ quan trọng trong sử dụng đất
2.1.4.2 Tài nguyên nước
- Nước mặt
Với lượng mưa hàng năm khá lớn, hệ thống ao hồ và sông suối nhiều nên nguồn nước mặt ở Na Rì khá phong phú Do cấu tạo địa chất cộng với địa hình cao, dốc nên khả năng giữ nước vào mùa khô rất khó vì vậy cần có giải pháp hợp lý về công tác thủy lợi, kết hợp với nâng cao độ che phủ của rừng để đảm bảo nguồn nước cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong tương lai
- Nước ngầm
Tài nguyên nước ngầm ở Na Rì chưa được khảo sát, đánh giá đầy đủ, song qua tình hình khai thác phục vụ sinh hoạt của nhân dân cho thấy, trữ lượng nước ngầm ở các vùng thấp, ven sông suối là khá dồi dào
2.1.4.3 Tài nguyên rừng
Rừng của Na Rì ngày nay liên quan mật thiết với những đặc trưng địa
lý tự nhiên và quá trình diễn biến tài nguyên rừng, thảm thực vật rừng của huyện Rừng phát huy tác dụng rất cao đối với đất - nước - môi trường của huyện, trong điều kiện hiện tại thuộc tính phòng hộ của rừng đối với nguồn nước, ngăn chặn xói mòn và thoái hóa đất, điều hòa khí hậu thể hiện rất rõ rệt Nằm trong vùng có điều kiện khí hậu, địa hình, đất đai nhiều thuận lợi, nên thảm thực vật ở đây phát triển rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, trong những năm qua, do rừng bị khai thác không theo quy hoạch nhằm đáp ứng các nhu cầu trước mắt của người dân nên diện tích rừng đang bị suy kiệt mạnh, diện tích rừng nhất là rừng gỗ quý hiếm giảm nhanh chóng và diện tích đất trống đồi núi trọc tăng lên Kể từ khi có chủ trương của Nhà nước về việc tăng cường giao đất, giao rừng cho nông dân nên diện tích rừng của huyện đã
Trang 40được phục hồi theo hướng tích cực, độ che phủ rừng ngày càng được nâng cao Đến nay độ che phủ rừng của huyện đã đạt 66% Thảm thực vật rừng của huyện được chia thành 2 dạng sau:
* Thảm thực vật tự nhiên
Rừng tự nhiên ở Na Rì chủ yếu thuộc kiểu rừng kín thường xanh, mưa
ẩm nhiệt đới, được phát triển chủ yếu trên địa hình núi cao, các khe suối và hợp thuỷ có nhiều tầng và nhiều loài có độ che phủ tốt, tầng thảm mục dày, đất tơi xốp Loại rừng này có diện tích rất lớn, đây là nguồn tài nguyên quý không chỉ riêng của huyện, của tỉnh mà còn chung của cả nước Các khu rừng này đã
và đang được quy hoạch thành các vườn rừng quốc gia, rừng đầu nguồn để bảo vệ môi trường thiên nhiên sinh thái và các loài động thực vật quý hiếm nhằm phục vụ cho nghiên cứu khoa học, du lịch danh lam thắng cảnh
Các kiểu rừng khác ở Na Rì có diện tích không lớn, được phát triển trên địa hình đồi lượn sóng và trên nhiều loại đất với cây tiêu biểu là khộp, có nơi xen kẽ khộp và le, trúc, tre, nứa, Đây là kiểu rừng thưa, cây lá rộng thường
có một tầng duy nhất, cây ít cành và ít lá, tầng mặt cỏ vẫn phát triển được
Rừng non tái sinh và cây bụi là kết quả của việc khai thác qua nhiều năm, rừng cây lá rộng đã nhường lại cho cây non phát triển, cây cao từ 2 - 15m, phân bố ở hầu khắp các vùng trên địa bàn huyện, trên các dạng địa hình
và các loại đất khác nhau với thảm thực vật chủ yếu là các cây họ dầu, đậu, xoan, dẻ, gai, sim, cỏ lau Hiện nay loại rừng này là đối tượng bị khai thác mạnh nhất do việc chuyển mục đích sử dụng sang trồng cây nông nghiệp
Thảm cỏ tự nhiên: Loại hình này là kết quả của nhiều lần khai phá, đốt nương làm rẫy, các loại cây gỗ bị phá bỏ nhường chỗ lại cho thảm cỏ tự nhiên phát triển
* Thảm thực vật trồng
Bên cạnh sự phong phú về thảm thực vật tự nhiên, thảm thực vật trồng
ở Na Rì cũng hết sức đa dạng về chủng loại với nhiều loại cây nhiệt đới điển
hình như các loại cây ăn quả và nhiều loại cây lương thực khác