1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại tỉnh bình phước

105 178 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 891,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Đề tài nghiên cứu: “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình Phước” nhằm xác định các yếu t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

-

TRẦN DƯƠNG SƠN HẰNG

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ NƯỚC

NGOÀI TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Chuyên ngành : Quản trị Kinh doanh

Mã số ngành: 60.34.01.02

TP HỒ CHÍ MINH, Tháng 03 năm 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

-

TRẦN DƯƠNG SƠN HẰNG

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ NƯỚC

NGOÀI TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC

Trang 3

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS VÕ THANH THU

Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP.HCM ngày

31 tháng 03 năm 2018

Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:

1 PGS.TS Nguyễn Đình Luận Chủ tịch

5 TS Phan Quan Việt Ủy viên, Thư ký

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn sau khi Luận văn đã được sửa chữa (nếu có)

Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn

Trang 4

TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHỆ TP HCM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

PHÒNG QLKH–ĐTSĐH Độc lập - Tự do - Hạnhphúc

TP.HCM, ngày tháng 03 năm 2018

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: Trần Dương Sơn Hằng Giới tính: Nữ

Ngày, tháng, năm sinh: 16/08/1992 Nơi sinh: Bình Phước

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh MSHV: 1641820028

I- Tên đề tài :

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC

II- Nhiệm vụ và nội dung:

Thứ nhất, tổng quan lại đề tài nghiên cứu từ đó đưa ra các mục tiêu nghiên

cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, giới han và đóng góp của nghiên cứu

Thứ hai, luận văn hệ thống hóa một cách đầy đủ về các lý thuyết liên quan

đến các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng CBTT BCTC Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả tổng hợp, đúc kết các nghiên cứu trước đây liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng chất lượng CBTT trên BCTC

Thứ ba, tác giả đưa ra các phương phương pháp, mô hình nghiên cứu của đề

tài nhằm thu thập dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu định lượng

Thứ tư, tác giả phân tích thực trạng chất lượng CBTT BCTC, đưa ra kết quả

nghiên cứu và kiểm định giả thuyết của luận văn

Cuối cùng, từ kết quả nghiên cứu tác giả nhận xét, đưa ra hạn chế của luận

văn và đề xuất một số kiến nghị liên quan đến đề tài

III- Ngày giao nhiệm vụ:

IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ:

V- Cán bộ hướng dẫn: GS.TS Võ Thanh Thu

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ

công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Học viên thực hiện Luận văn

Trần Dương Sơn Hằng

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được được sự nhiệt tình giảng dạy của các thầy, các cô trong trường nói chung và trong Khoa Quản Trị Kinh Doanh nói riêng em xin được bày tỏ sự trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc đối với sự giúp đỡ này

Em xin chân thành cảm ơn đặc biệt đến Cô Võ Thanh Thu đã luôn tạo điều kiện, quan tâm và tận tình hướng dẫn em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện

đề tài

Khóa luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự đóng góp chỉ bảo của các thầy, các cô và các bạn để bài khóa luận càng hoàn thiện hơn Đây sẽ là kiến thức bổ ích cho công việc của em sau này

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh, chị, cán bộ tại Cục Thuế Tỉnh Bình Phước, những người đồng nghiệp, doanh nghiệp, đã cung cấp tài liệu, hướng dẫn, góp ý cho em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Em xin chân thành cảm ơn!

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018

Học viên làm luận văn

Trần Dương Sơn Hằng

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu: “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình Phước” nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Trên cơ sở đó, luận văn đã nghiên cứu và đưa ra ba vấn đề cốt lõi sau đây:

Thứ nhất, nêu lên các khái niệm và lý thuyết nền tảng có liên quan các nhân

tố ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin trong báo cáo tài chính Trên cơ sở

kế thừa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả xây dựng mô hình lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin trong báo cáo tài chính gồm 6 yếu tố: (1) đòn bẩy nợ, (2) khả năng thanh toán, (3) quy mô doanh nghiệp, (4) tài sản cố đinh, (5) chủ thể kiểm toán và (6) khả năng sinh lời

Thứ hai, dựa trên mô hình lý thuyết và qua kết quả trao đổi với các chuyên gia, các ý kiến thống nhất giữa các chuyên gia đã tạo thêm cơ sở cho tác giả về việc đưa thêm 2 nhân tố vào mô hình nghiên cứu là nhân tố tính trì hoãn của BCTC và thời gian hoạt động Từ đó, tác giả đã đưa tổng cộng 8 nhân tố (biến độc lập) vào

mô hình và chia làm 3 nhóm nhân tố, bao gồm: (1) nhóm nhân tố liên quan cơ cấu vốn gồm đòn bẩy nợ, khả năng thanh toán, (2) nhóm nhân tố liên quan đến đặc điểm thị trường gồm quy mô doanh nghiệp, tài sản cố đinh, thời gian hoạt động, chủ thể kiểm toán, tính trì hoãn của BCTC và (3) nhóm nhân tố liên quan hiệu quả công ty gồm khả năng sinh lời

Thứ ba, tác giả đã phân tích thực trạng về chất lượng công bố thông tin trong báo cáo tài chính và rút ra những ưu điểm là chất lượng công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Bình Phước giai đoạn

2014 - 2016 đạt 91,9% so với mức độ yêu cầu Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 nhân tố không ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Bình Phước và 2 nhân tố quy mô doanh

Trang 8

nghiệp và khả năng sinh lời lại ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Bình Phước theo mô hình sau:

CBTT = 0,88 + 0,557 QMDN - 1,23 KNSL Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số hàm ý đối với cơ quan quản lý nhà nước, công ty kiểm toán độc lập và các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài nhằm tăng chất lượng công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Bình Phước Người sử dụng thông tin có thể dựa vào 02 nhân tố ảnh hưởng này để biết được thông tin mà các doanh nghiệp đưa ra có chất lượng như thế nào, qua đó kết hợp với một số thông tin khác để đưa ra các quyết định chính xác của mình

Hy vọng kết quả nghiên cứu này sẽ mang lại những thay đổi tích cực góp phần tăng chất lượng công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Bình Phước trong thời gian tới

Trang 9

ABSTRACT

Thesis’s topic: “The factors affect the quality of the disclodure Financial Statementsin Foreign Direct Investment at Binh Phuoc province” aims at determining the factor affecting the quality of the disclodure Financial Statements Audit in Foreign Direct Investment at Binh Phuoc province Based on that, the thesis has studied and identified the following three core issues:

Firstly, the concepts and basic theories are related to the quality of disclosures in financial statements Based on the inheritance of domestic and foreign researches, the author develops a theoretical model of that including four factors: (1) Financial Leverage, (2) The repayment ability, (3) The enterprise scale, (4) The fixed assets, (5) The auditsubject và (6) The profitability

Secondly, based on theoretical models after through the results of exchanges with experts, experts have created two factors to the research model that are the delay financial statements and the operation period

Thirdly, the result of research showed that the factors of financial leverage, the repayment ability, the fixed assets, the auditsubject, the delay financial statements and the operation period have not afftected quality of the disclodure Financial Statements in Foreign Direct Investment at Binh Phuoc province Wheaeas, the factors of the enterprise scale and the profitability have had an influence on that

Quality of the disclodure Financial Statementsin Foreign Direct Investment

at Binh Phuoc province = 0,88 + 0,557 * the enterprise scale - 1,23 * the profitability

Based on that, the author has proposed some implications in order to increase the quality of information disclosure in Financial Statements in Foreign Direct Investment at Binh Phuoc province

The results of this research will bring about positive changes that will contribute to improving the quality of disclosure in Financial Statements in Foreign Direct Investment at Binh Phuoc province in the coming time

Trang 10

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Sự cần thiết của đề tài 1

1.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 6

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 6

1.5 Phương pháp nghiên cứu 6

1.6 Đóng góp mới của luận văn 7

1.7 Hạn chế của luận văn 8

1.8 Kết cấu của luận văn 8

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 11

2.1 Giới thiệu các khái niệm 11

2.1.1 Khái niệm công bố thông tin 11

2.1.2 Khái niệm chất lượng 12

2.1.3 Khái niệm chất lượng công bố thông tin 13

2.1.4 Khái niệm chất lượng công bố thông tin báo cáo tài chính 14

2.2 Lý thuyết nền tảng có liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin BCTC 15

2.2.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) 15

2.2.2 Lý thuyết dấu hiệu (Signalling theory) 16

2.2.3 Lý thuyết hợp đồng (Contractual theory) 17

2.2.4 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary cost theory) 18

2.3 Đo lường chất lượng công bố thông tin BCTC 18

2.3.1 Một số lý thuyết về đo lường chất lượng công bố thông tin BCTC 18

2.3.2 Các chỉ số đo lường chất lượng công bố thông tin BCTC 20

2.4 Mô hình nghiên cứu 24

2.3.1 Mô hình nghiên cứu của luận án 24

2.3.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu 26

Trang 11

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 31

3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 31

3.1.2 Quy trình nghiên cứu 32

3.2 Mô hình hồi quy và đo lường biến trong mô hình 33

3.2.1 Mô hình hồi quy 33

3.2.2 Đo lường biến trong mô hình 33

3.3 Thiết kế nghiên cứu 38

3.3.1 Khung nghiên cứu 38

3.3.2 Mẫu nghiên cứu 39

3.3.3 Thu thập dữ liệu 40

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42

4.1 Phân tích thực trạng CL CBTT BCTC của DN đầu tư nước ngoài tại Bình Phước hiện nay 42

4.2 Mô tả các biến nhân tố ảnh hưởng đến CBTT BCTC 44

4.2 Kết quả nghiên cứu và bàn luận kết quả 45

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 53

5.1 Nhận xét chung 53

5.2 Một số kiến nghị có liên quan 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

PHỤ LỤC 1 Nội dung Phỏng vẫn chuyên gia (Nghiên cứu định tính) 64

PHỤ LỤC 2 DANH SÁCH 12 CHUYÊN GIA 65

PHỤ LỤC 3 THÔNG TIN CÁC CÔNG TY ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI BÌNH PHƯỚC 66

PHỤ LỤC 4 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH THEO NGÀNH QUA TỪNG NĂM 2014,2015,2016 72

PHỤ LỤC 5 DỮ LIỆU CÁC CÔNG TY ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI BÌNH PHƯỚC 75

Trang 12

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

TTCK Thị trường chứng khoán

UBCKNN Ủy ban chứng khoán nhà nước

Trang 13

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Tổng hợp các khái niệm về CBTT 11

Bảng 2: Tổng hợp chỉ tiêu đo lường chất lượng CBTT BCTC 18

Bảng 3: Kết quả thảo luận tóm tắt 25

Bảng 4: Các giả thuyết nghiên cứu và mối quan hệ với các lý thuyết nền tảng có liên quan 28

Bảng 5: Danh sách các biến và đo lường các biến 35

Bảng 6: Mô tả mẫu nghiên cứu 39

Bảng 7: Mô tả mẫu nghiên cứu chính thức 40

Bảng 8: Bảng thống kê mô tả biến phụ thuộc 42

Bảng 12: Thực trạng CBTT BCTC theo ngành giai đoạn 2014-2016 43

Bảng 13: Bảng thống kê mô tả các biến độc lập 44

Bảng 14: Bảng tóm tắt mô hình 45

Bảng 15: Kết quả kiểm định F 46

Bảng 16: Bảng trọng số hồi quy và giá trị VIF 46

Bảng 17: Các giả thuyết nghiên cứu và mối quan hệ với các lý thuyết nền tảng có liên quan 47

Bảng 18: Tác động của các nhân tố đến CL CBTT BCTC 51

Bảng 9: Thực trạng CL CBTT BCTC theo ngành năm 2014 72

Bảng 10: Thực trạng CBTT BCTC theo ngành năm 2015 73

Bảng 11: Thực trạng CBTT BCTC theo ngành năm 2016 74

Trang 14

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng CBTT BCTC của các doanh

nghiệp ĐTNN tại Bình Phước 26

Hình 2: Sơ đồ quy trình nghiên cứu 33

Hình 3: Khung nghiên cứu của luận án 38

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Thực trạng CL CBTT BCTC giai đoạn 2014-2016 42

Biểu đồ 5: Thực trạng CBTT BCTC theo ngành giai đoạn 2014- 2016 43

Biểu đồ 2: Thực trạng CBTT BCTC theo ngành năm 2014 72

Biểu đồ 3: Thực trạng CBTT BCTC theo ngành năm 2015 73

Biểu đồ 4: Thực trạng CBTT BCTC theo ngành năm 2016 74

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Sự cần thiết của đề tài

Trong thời đại được chi phối bởi thông tin, chất lượng công bố thông tin (CL CBTT) là mối bận tâm hàng đầu của phần lớn các tổ chức (Mouzhi Ge, 2009) Thông tin là nhân tố chính yếu tạo ra sự thành công, gia tăng khả năng cạnh tranh, tạo ra giá trị gia tăng và cung cấp những sản phẩm và dịch vụ có ích cho khách hàng (Laudon & Laudon, 2007) Ruzevicius & Gedminaite (2007) đã chỉ ra hiệu quả của hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào CL (Chất lượng) của thông tin và các tổ chức không chỉ xem xét thông tin là một yếu tố hỗ trợ, mà còn là một sản phẩm hỗ trợ cho quá trình quản lý Ruzevicius & Gedminaite (2007) cho rằng quản trị CL CBTT trở thành một trong những nhân tố chính của quản trị tổ chức

Về khía cạnh thực tiễn, đã có rất nhiều sự kiện liên quan đến BCTC kém chất lượng và điều này gây tác động nghiêm trọng đến thị trường tài chính và ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế thế giới Tại Việt Nam, rất nhiều các vụ việc xảy ra trong khoản thời gian gần đây gây ra tác động không nhỏ đến nền kinh tế và ảnh hưởng đến niềm tin của công chúng vào chất lượng BCTC của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp niêm yết (Trần, 2009) BCTC không đảm bảo CL đã gây ra nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đối với thị trường tài chính và nền kinh tế Các nghiên cứu cho thấy gian lận về KT dẫn đến CL CBTT BCTC không được đảm bảo là một trong những nguyên nhân chính yếu dẫn đến khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008-2009 (Nguyễn, 2010)

Có nhiều tác giả đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin của doanh nghiệp, ở mỗi quốc gia cũng như của các nghiên cứu trước đã có các nhân tố ảnh hưởng khác nhau như: Quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, chủ thể kiểm toán, đòn bẩy tài chính Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng chất lượng công bố thông tin trong BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin trong BCTC của các doanh nghiệp hiện nay là thật sự cần thiết

Qua 20 năm tái lập, Bình Phước hiện có 13 khu công nghiệp, trong đó có 8 khu công nghiệp đang hoạt động, 2 khu đang đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, 3 khu đang hoàn chỉnh thủ tục đầu tư Các khu công nghiệp đang hoạt động có gần 800 ha

Trang 16

diện tích đất để cho thuê Hiện nay đã cho thuê hơn 530 ha, trong đó có 60 dự án trong nước và 107 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký gần 3.400

tỷ đồng và hơn 1 triệu USD

Địa phương đã có nhiều giải pháp tăng cường thu hút, khuyến khích đầu tư vào khu công nghiệp, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp để đẩy mạnh sản xuất kinh nhoanh Trong năm 2017, có 892 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký 10.465 tỷ đồng Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động là 4.688, trong năm có

472 doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể, phá sản, bỏ địa chỉ kinh doanh (chiếm 10%) Có 2.830/4.688 doanh nghiệp đang hoạt động có phát sinh doanh thu, chiếm 60,3%

Toàn tỉnh có 147 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, với tổng số vốn đăng ký trên 1.153 triệu USD, tạo việc làm cho trên 142 ngàn lao động trong và ngoài tỉnh Kéo theo sự phát triển của các khu công nghiệp là bộ mặt nông thôn, đô thị thay đổi; các hoạt động kinh doanh, dịch vụ phát triển; nhiều khu dân cư mới được xây dựng đã trở nên đông đúc Năm 2017, thu 95,5 tỷ đồng bằng 74% dự toán Bộ Tài chính, dự toán điều chỉnh tỉnh giao và bằng 80% so cùng kỳ Nguyên nhân thu đạt thấp là do giá heo, gà giảm mạnh nên không phát sinh thuế TNDN phải nộp; mặt khác trong năm không có phát sinh thuế nhà thầu, thuế GTGT từ chuyển nhượng bất động sản

Một câu hỏi được đặt ra là liệu thông tin trên BCTC được công bố có phản ánh đầy đủ và chính xác các chỉ tiêu của các doanh nghiệp hay không? Trong thực

tế việc công bố thông tin của các doanh nghiệp đã xem nhẹ, báo cáo tài chính thiếu trung thực, chưa đầy đủ và kịp thời theo quy định của pháp luật Điều đáng nói hiện nay là số liệu tài chính sau khi được kiểm toán là một con số hoàn toàn khác với số liệu trước khi kiểm toán Hiện nay chưa có nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin trong BTCT của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoại tại Bình Phước

Xuất phát từ thực trạng trên, mà tôi chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình Phước”

Trang 17

1.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Nghiên cứu trên thế giới:

- Antti, J Kanto và Hannu J Schadewitz (1997) cũng đã kiểm tra các nhân

tố ảnh hưởng đến chính sách công bố thông tin tự nguyện và các công khai bắt buộc thông qua các công ty tài chính và phi tài chính tại sở giao dịch chứng khoán Helsinki của Phần Lan từ năm 1985 đến năm 1993 Kết quả cho thấy rằng các nhân

tố ảnh hưởng đến công bố thông tin của doanh nghiệp không chỉ là kích thước doanh nghiệp, mà còn là cơ cấu vốn, và sự tăng trưởng của doanh nghiệp

- Ferdy van Beest, Geert Braam & Suzanne Boelens (2009) phát triển và thử nghiệm công cụ đo lường chất lượng báo cáo tài chính về các đặc điểm định tính cơ bản tiềm ẩn (tức là Sự liên quan và sự trung thành) và các đặc tính định tính nâng cao (tức làTính dễ hiểu, tính so sánh, khả năng kiểm chứng và kịp thời) như được định nghĩa trong phần Khung khái niệm về Báo cáo Tài chính 'của FASB và IASB (2008) Mẫu nghiên cứu được lấy từ 231 báo cáo hàng năm của các công ty được trích dẫn trên thị trường chứng khoán Hoa Kỳ, Anh Quốc và Hà Lan từ năm 2005 đến 2007 Để đánh giá độ tin cậy của chỉ mục 21 mục, chúng tôi kiểm tra kết quả của chúng tôi cho cả hai độ tin cậy lẫn nhau (sử dụng alpha của Krippendorff) và độ tin cậy nội bộ (sử dụng alpha của Cronbach) Cả hai kết quả đều đủ cao để đảm bảo kết quả đáng tin cậy

- Daniel A Cohen (2003) thực hiện cuộc nghiên cứu chất lượng lựa chọn báo cáo tài chính về các yếu tố quyết định và hậu quả kinh tế Bài viết này cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự cân bằng giữa lợi ích định giá thị trường vốn và chi phí sở hữu ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các doanh nghiệp Từ đó cho thấy

sự khác biệt trong BCTC của doanh nghiệp không chỉ do đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư về thông tin cụ thể về doanh nghiệp mà còn đặc điểm của thị trường sản phẩm của công ty Tác giả sử dụng mô hình hồi quy đối với 2 mô hình Barnow et

al [1980], Maddala [1983, p.121], và Wooldridge [2002] cho việc xác định giá trị lợi ích định giá thị trường vốn đối với các đặc tính của công ty và chất lượng báo cáo sẽ dẫn đến các hệ số không nhất quán Sau khi tính toán sự không đồng nhất liên quan đến việc lựa chọn chất lượng báo cáo, tác giả không tìm thấy bằng chứng

Trang 18

đáng kể nào cho thấy các công ty chọn cung cấp thông tin tài chính có chất lượng cao hơn sẽ được hưởng chi phí vốn thấp hơn Nhưng những phát hiện của nghiên cứu này cho thấy tầm quan trọng của kế toán không chỉ đối với những lợi ích liên quan đến các chính sách báo cáo tài chính mà còn cho các chi phí liên quan

Đánh giá chung về những nghiên cứu đã thực hiện ở nước ngoài: Theo

thời gian các nghiên cứu trên thế giới nhờ kế thừa các nghiên cứu trước nên ngày càng hoàn thiện hơn, các kết luận đưa ra có giá trị và cơ sở minh chứng hơn: (1) Gắn liền với nền kinh tế phát triển, hiện xuyên qua không gian từ những nghiên cứu theo mức độ đa quốc gia đến các nghiên cứu của từng nhóm nước (2) Càng về sau, các nghiên cứu tiếp theo đã xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT của doanh nghiệp với cách nhìn có tính hệ thống và toàn diện hơn (3) Phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng trong các nghiên cứu đã thực hiện là phương pháp

nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam:

- Do Huu Hai (2015) xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính Kiểm toán tại các doanh nghiệp Việt Nam Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính kiểm toán trong doanh nghiệp Các phương pháp phân tích được sử dụng trong nghiên cứu này là: phương pháp phân tích nhân tố để khám phá và kiểm tra hệ số alpha của Cronbach để xây dựng và thử nghiệm các cân đo Hơn nữa, phương pháp mô hình hóa tuyến tính (Structural Equation Modeling SEM) được sử dụng để kiểm tra độ tin cậy và giá trị của sự phân biệt, hội tụ, đơn nhất của khái niệm và quy mô nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ nghề nghiệp là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán trong việc lập báo cáo tài chính doanh nghiệp và các yếu tố môi trường pháp lý, yếu tố kinh doanh, yếu tố độc lập, yếu tố kiểm soát chất lượng của công ty kiểm toán

- Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính đo lường thông qua chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK tại Việt Nam Khác với các nghiên cứu trước đây có liên quan đều sử dụng phương pháp định lượng, trong khi nghiên cứu này lại sử dụng phương

Trang 19

pháp hỗn hợp nghĩa là cũng sử dụng phương pháp chính là phương pháp định lượng nhưng có thêm phương pháp định tính vì nghiên cứu này có đưa thêm một số nhân

tố mới Tác giả sử dụng mô hình hồi quy đối với 2 mô hình Đối với mô hình 1, biến phụ thuộc chất lượng BCTC đo lường theo mô hình của Jones điều chỉnh Mô hình 2, biến phụ thuộc chất lượng BCTC đo lường theo mô hình EBO điều chỉnh Chất lượng BCTC được đo lường thông qua chỉ tiêu chất lượng lợi nhuận dựa trên

cả 2 cơ sở đó là dựa trên cơ sở kế toán và dựa trên cơ ở thị trường của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam còn thấp so với một số quốc gia khác trên thế giới Ngoài ra, một trong những nội dung khá quan trọng thực hiện mục tiêu chính của luận án này là kiểm định mô hình các nhân tố tác động đến chất lượng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam Kết quả nghiên cứu của luận

án cho thấy, có hơn một nửa số nhân tố trong 23 nhân tố được kiểm định có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, trong

đó có 17 nhân tố tác động và 6 nhân tố không tác động đến chất lượng BCTC và có nhân tố ảnh hưởng thuận chiều, có nhân tố ảnh hưởng ngược chiều và có nhân tố kết quả cho thấy không ảnh hưởng đến chất lượng BCTC

- Phạm Quốc Thuần (2016) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp tại Việt Nam Kết quả cho thấy 10 nhân tố rút ra từ nghiên cứu định tính được tiếp tục khẳng định qua mối quan hệ có ý nghĩa thống kê đến chất lượng BCTC Kết quả kiểm định hồi qui cho thấy có 8 nhân tố tác động ở mức có ý nghĩa thống kê Trong các nhân tố tác động đến chất lượng BCTC, có hai nhân tố được xem là đặc thù riêng của nghiên cứu này (Áp lực từ thuế và CL PMKT) Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng khẳng định hai nhân

tố Niêm yết và Quy mô doanh nghiệp thực sự đóng vai trò là biến điều tiết của mô hình, có tác dụng làm thay đổi mức độ tác động của các nhân tố lên chất lượng BCTC

Đánh giá chung về những nghiên cứu đã thực hiện trong nước: Các

nghiên cứu đã thực hiện có những đặc điểm như sau: (1) Đưa ra bức tranh tổng quát

về tình hình chất lượng CBTT trong BCTC của các công ty niêm yết (2) Đưa ra các đánh giá về mức độ và tính minh bạch trong CBTT hiện nay của các công ty niêm

Trang 20

yết (3) Đề ra một số giải pháp cho sự phát triển trong hệ thống CBTT của các công

ty niêm yết

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến CL CBTT BCTC của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình Phước Các nhân tố quan trọng sẽ được xác định Dựa vào đó một số giải pháp được kiến nghị nhằm vào việc cải thiện các nhân tố quan trọng để từ đó nâng cao CL CBTT BCTC của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình Phước

Câu hỏi nghiên cứu tương ứng với từng mục tiêu cụ thể được xác định như sau:

Mục tiêu nghiên cứu 1: Các nhân tố nào có tác động đến chất lượng công

bố thông tin trong BCTC và mức độ tác động của các nhân tố đó như thế nào?

Mục tiêu nghiên cứu 2: Thực trạng chất lượng CBTT trong BCTC trong các

doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình Phước như thế nào? Một số kiến nghị liên quan đến chất lượng công bố thông tin trong BCTC

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động đến CL CBTT BCTC trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài

Phạm vi nghiên cứu: tập hợp dữ liệu nghiên cứu từ năm 2014 – 2016 của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình Phước Dữ liệu nghiên cứu tổng hợp

từ BCTC được lưu từ trữ hằng năm tại Cục Thuế Bình Phước Theo Thông tư 200/2014/TT-BTC hoặc báo cáo tài chính theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC thì báo cáo tài chính phải gửi cho các cơ quan chức năng chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính Thông thường, ngày kết thúc năm tài chính của các doanh nghiệp là ngày 31/12 hàng năm nên thời hạn nộp BCTC năm cho các các cơ quan nhà nước có thẩm quyền là ngày 31/3 năm tới Vì vậy, chưa đủ dữ liệu năm

2017 nên tác giả chỉ tập hợp dữ liệu nghiên cứu từ năm 2014 – 2016

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, trong đó phương pháp chính là phương pháp nghiên cứu định lượng, cụ thể là nghiên cứu này được

Trang 21

thực hiện dựa vào các lý thuyết nền tảng phổ biến trong lĩnh vực kinh tế như lý thuyết đại diện, lý thuyết dấu hiệu, lý thuyết chi phí chính trị, lý thuyết chi phí sở hữu… và các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam liên quan đến chất lượng CBTT trong BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng CBTT trong BCTC, đồng thời sử dụng phương pháp định tính thảo luận với các chuyên gia làm cơ sở đưa thêm nhân tố mới vào mô hình nghiên cứu và kiểm định mô hình nghiên cứu này tại Việt Nam

Thu thập thông tin: Trên cơ sở các BCTC từ năm 2014 đến năm 2016 của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình Phước, tác giả thu thập số liệu của các chi tiêu cần thiết phục vụ nghiên cứu

Xử lý và phân tích thông tin: Đề tài sẽ dựa trên hệ thống phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm kiểm định tác động của các nhân tố đến chất lượng CBTT trong BCTC thông qua các phép kiểm định thích hợp; kiểm định các nhân tố tác động đến chất lượng CBTT trong BCTC bằng mô hình hồi qui qua sử dụng phần mềm máy tính như Excel, SPSS để đưa ra kết quả cuối cùng

1.6 Đóng góp mới của luận văn

Để thực hiện xác định các nhân tố ảnh hưởng đến CL CBTT BCTC, luận văn

sẽ thực hiện đánh giá tác động của thông tin trên BCTC đã được kiểm toán của tất

cả doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình Phước trong giai đoạn 2014-2016

Đề tài được thừa hưởng kết quả từ các nghiên cứu trước đó để xác định các nhân tố tác động đến CL CBTT BCTC Kết quả của luận án này có một số đóng góp

về mặt lý luận và thực tiễn, cụ thể:

- Về khía cạnh lý thuyết: Dựa vào kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu, trong đó các nhân tố ảnh hưởng được tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu trước và 2 nhân tố mới được tác giả đưa thêm vào, luận án hoàn thành sẽ bổ sung thêm lý thuyết mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Bình Phước, làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu có liên quan

- Về mặt thực tiễn: nghiên cứu là một căn cứ có giá trị để giúp đánh giá thực trạng CL CBTT BCTC trong các DN Việt Nam hiện nay bằng những con số định

Trang 22

lượng Bên cạnh đó, thông qua kết quả từ kiểm định và mô hình hồi qui, nghiên cứu còn giúp xác định và điều tiết các nhân tố góp phần làm gia tăng CL CBTT BCTC Dựa trên kết quả về đánh giá thực trạng chất lượng CBTT BCTC trong giai đoạn

2014 - 2016, chi tiết theo từng năm và thậm chí chi tiết theo từng ngành, kết quả về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng CBTT BCTC của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Bình Phước, những kết quả này là cơ sở khoa học khá hữu ích cho các đối tượng quan tâm như các nhà quản trị công ty, KTV, các nhà đầu tư, cơ quan ban hành chính sách, ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước, Cục Thuế Bình Phước tham khảo để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công bố thông tin trên BCTC các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Bình Phước cũng như tham khảo trong việc sử dụng thông tin trên BCTC nhằm đưa ra các quyết định có liên quan một cách hiệu quả

1.7 Hạn chế của luận văn

Thứ hết, mẫu nghiên cứu là các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình Phước nơi mà các doanh nghiệp đang bắt đầu hình thành để nền kinh tế Bình Phước phát triển hơn Chính vì thế, số lượng mẫu là 90 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Tỉnh Bình Phước trong giai đoạn từ năm 2014 -2016

Thứ hai, luận văn mới chỉ dừng lại ở mức tìm kiếm xem các nhân tố nào ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin trong BCTC của doanh nghiệp và kiểm định xem các nhân tố đó ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng BCTC

Cuối cùng, luận văn cũng chỉ mới thu thập dữ liệu trên một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình Phước chứ chưa thu thập dữ liệu rộng rãi cho mô hình các doanh nghiệp nói chung nên nó không đại diện chính xác cho các đặc tính của toàn bộ các doanh nghiệp

1.8 Kết cấu của luận văn

Luận văn sẽ được trình bày gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương này tổng quan lại đề tài nghiên cứu Từ đó đưa ra các mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, giới han và đóng góp của nghiên cứu

Trang 23

Chương 2: Cơ sở lý luận Chương này tác giả hệ thống hóa một cách đầy đủ

về các lý thuyết liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến CL CBTT BCTC và tác giả tổng hợp, đúc kết các nghiên cứu trước đây liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng chất lượng CBTT trên BCTC, đề xuất mô hình nghiên cứu và phát triển giả thuyết nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này tác giả đưa ra các phương phương pháp, mô hình nghiên cứu của đề tài nhằm thu thập dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu định lượng

Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này tác giả phân tích thực trang chất lượng CBTT BCTC, đưa ra kết quả nghiên cứu và kiểm định giả thuyết của luận văn

Chương 5: Kết luận Chương này tác giả nhận xét, đưa ra hạn chế của luận văn và đề xuất một số kiến nghị liên quan đến đề tài

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Mục tiêu của BCTC là cung cấp các thông tin hữu ích cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng ở bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp Do đó, nếu thông tin trên BCTC thực sự hữu ích sẽ cung cấp cho các đối tượng này một cơ sở vững chắc để đưa ra các quyết định của mình

Để tìm hiểu về thông tin trên BCTC, luận văn sẽ thực hiện 2 mục tiêu sau: Một: Kiểm định các nhân tố tác động đến chất lượng công bố thông tin trong BCTC của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình Phước

Hai: Nhận xét về các nhân tố tác động đến chất lượng BCTC để đưa ra một

số giải pháp

Chương kế tiếp sẽ phân tích các lý thuyết nền tảng để trên cơ sở kết hợp với kết quả của chương này, tác giả sẽ xây dựng mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thuyết nghiên cứu của luận án

Trang 25

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 Giới thiệu các khái niệm

2.1.1 Khái niệm công bố thông tin

Theo quan điểm của Bộ Tài Chính, được thể hiện trong Sổ tay công bố thông tin dành cho các công ty niêm yết thì “công bố thông tin được hiểu là phương thức

để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng” nhằm bảo đảm các cổ đông và công chúng có thể tiếp cận thông tin Công bố thông tin kế toán (Accounting Disclosures) là toàn bộ thông tin được cung cấp thông qua hệ thống các báo cáo tài chính của một công ty trong thời kỳ nhất định (bao gồm cả các báo cáo giữa niên độ và báo cáo thường niên

Dưới đây là bảng tóm lược một số khái niệm về minh bạch thông tin và minh bạch TTTC trong những nghiên cứu trước đây (Bảng 1)

Bảng 1: Tổng hợp các khái niệm về CBTT

(Nguồn: Tổng hợp từ các kết quả nghiên cứu trước đây)

1 Basle (1998) CBTT là việc công bố ra công chúng

thông tin kịp thời, tin cậy nhằm đảm bảo người sử dụng thông tin đó có thể đánh giá chính xác về tình hình và kết quả tài chính của ngân hàng, hoạt động kinh doanh và các rủi ro liên quan

Trong hoạt động ngân hàng

Dưới góc

độ công ty

Trang 26

4 Blanchet và

Prickett (2002)

CBTT là việc cung cấp thông tin phải đảm bảo các đặc điểm: thông tin phải chính xác, nhất quán, thích hợp, đầy đủ, rõ ràng, kịp thời và thuận tiện

Người sử dụng thông tin

5 Nguyên tắc quản

trị của OECD

(2004)

Liên quan đến vấn đề công bố thông tin và

tính minh bạch cho rằng: “Công bố thông tin phải kịp thời và chính xác về mọi vấn

đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và quản trị công ty”

Quản trị công ty

6 Zarb, Bert J

(2006)

CBTT là việc cung cấp TTTC hữu ích và

kịp thời, đồng thời thông tin phải được công bố phải đáng tin cậy, so sánh được và nhất quát

Dưới góc

độ nghề nghiệp kế toán viên công

chứng Trong nghiên cứu này, khi khái niệm công bố thông tin, tác giả đứng trên khía cạnh của người sử dụng thông tin Từ đó, tác giả sử dụng khái niệm công bố thông tin trên góc độ người sử dụng thông tin của Blanchet và Prickett (2002)

2.1.2 Khái niệm chất lượng

Khái niệm CL thay đổi tùy thuộc lĩnh vực và đối tượng nghiên cứu (Sower & Fair, 2005; Crosby 2006; Mouzhi Ge, 2009)

Theo Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa (International Organization for Standardization) CL được khái niệm là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có (ISO 9000:2005), đây cũng là quan điểm được thừa nhận ở phạm vi quốc tế (Martin Burgi & Benedikt Brandmeier, 2014)

Dựa trên đối tượng nghiên cứu là sản phẩm, Garvin (1988) cho rằng CL được xác định bằng số lượng hoặc mức độ của một hoặc nhiều thuộc tính sở hữu bởi sản phẩm đó

Trang 27

Dựa trên đối tượng nghiên cứu là người sử dụng, Deming (1986) cho rằng

CL nên được nhằm vào nhu cầu của người tiêu dùng hiện tại và trong tương lai Sahney & ctg (2004) cho rằng CL là sự đáp ứng sự mong đợi của khách hàng và sự cần thiết để tạo ra sự hài lòng về hàng hóa và dịch vụ sản xuất

Trong lĩnh vực KT, CLTT được xem là khả năng đáp ứng các yêu cầu của nhà quản lý nhằm đạt được sự hiểu biết sâu sắc về tình hình hoạt động của tổ chức giúp họ đưa ra quyết định, giám sát, thưc hiện các mục tiêu chiến lược (Noor & Ibrahim, 2013); đối với CLTT BCTC, FASB cho rằng người sử dụng thông tin được coi là người đưa ra quyết định tổng thể về lợi ích của bất kỳ thông tin mà họ nhận được (FASB, 1993) Theo quan điểm hòa hợp giữa IASB & FASB thì mục tiêu chung của việc lập BCTC là nhằm cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho những nhà đầu tư, người cho vay, các chủ nợ khác hiện hữu và tiềm năng trong việc

ra quyết định về việc cung cấp nguồn lực cho một thực thể (IASB, 2010)

Trong nghiên cứu của mình, tác giả khái niệm CL dựa trên quan điểm của Sahney & ctg (2004)

2.1.3 Khái niệm chất lượng công bố thông tin

Mouzhi Ge (2009) cho rằng CL CBTT được khái niệm dựa trên hai khía cạnh chủ yếu: đặc điểm thông tin và người sử dụng thông tin

Về khía cạnh đặc điểm thông tin, CL CBTT được định nghĩa như là sự đáp ứng những đặc điểm kỹ thuật hay yêu cầu (Kahn & Strong, 1988); theo CobiT, CLTT được đánh giá 31 qua bảy tiêu chuẩn: hữu hiệu, hiệu quả, bảo mật, toàn vẹn, sẵn sàng, tuân thủ, đáng tin cậy (IT Governance Institute, 2007; theo Eppler 2006)

Đối với người sử dụng, CL CBTT được định nghĩa là sự phù hợp để sử dụng đối với người sử dụng (Wang & Strong, 1996) Theo Baltzan (2012), thông tin có

CL tốt nếu nó được xem là phù hợp với các yêu cầu của người sử dụng thông tin bao gồm: Chính xác (Accuracy), Đầy đủ, Phù hợp, Kịp thời và Nhất quán Gelinas

& ctg (2012) cho rằng CLTT đạt được khi mang lại lợi ích cho người ra quyết định Người sử dụng phải có tiêu chí cụ thể cho CL của thông tin thông thường bao gồm: Thích hợp, Kịp thời, Chính xác và Đầy đủ,…

Trang 28

Trong nghiên cứu của mình, tác giả kết hợp cả hai quan điểm: đặc điểm thông tin lẫn người sử dụng thông tin để khái niệm CL CBTT, theo đó, CL CBTT được khái niệm bao gồm một tập hợp các tiêu chuẩn theo quy định nhằm thỏa mãn yêu cầu của người sử dụng

2.1.4 Khái niệm chất lượng công bố thông tin báo cáo tài chính

Trong lĩnh vực KT, CL CBTT được đề cập cụ thể trong các báo cáo của các

tổ chức nghề nghiệp KT quốc tế như AAA, FASB, IASB; các quy định của Nhà Nước (Luật KT Việt Nam; Luật Thương mại Pháp, ); và trong nghiên cứu cơ bản

về CL CBTT KT

Về phía các tổ chức nghề nghiệp, theo FASB (1993), CL CBTT được xác định bao gồm các thuộc tính Thích hợp, Đáng tin cậy và Có thể hiểu được cho người dùng; IASB cho rằng CL được hiểu như là những thuộc tính làm cho những thông tin trình bày trên các BCTC trở nên hữu ích đối với những người sử dụng thông tin, bao gồm: Có thể hiểu được; Thích hợp; Đáng tin cậy; Có khả năng so sánh (IASB, 2001)

Về phía quy định Nhà Nước, Luật Thương mại Pháp yêu cầu BCTC phải mang tính Hợp thức (Régularité), Trung thực (Sincérité) và Cung cấp một hình ảnh đúng sự thật (Image fidèle) về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của DN (Odile Barbe & ctg, 2008); Luật KT Việt Nam quy định các thuộc tính như: Trung thực, Khách quan, Đầy đủ, Kịp thời, Có thể hiểu được, Có khả năng so sánh (Luật

KT, 2003; 2015)

Dựa trên khuôn mẫu khái niệm về các thuộc tính CL CBTT BCTC được ban hành bởi IASB và FASB, các nhà nghiên cứu theo hướng cơ bản đã đưa ra những khái niệm đa dạng về CL CBTT BCTC Jonas và Blanchet (2000), cho rằng CL thể hiện ở việc BCTC cung cấp đầy đủ và rõ ràng các thông tin tài chính, và mục đích cung cấp thông tin không hướng đến việc gây nhầm lẫn hoặc thay đổi quyết định của người sử dụng Tang & ctg (2008) cho rằng CL CBTT BCTC được hiểu như là khả năng mà BCTC cung cấp một cách trung thực và thực tế những thông tin liên quan đến hiệu quả hoạt động và tình hình tài chính của một thực thể

Trang 29

Trong nghiên cứu này, tác giả khái niệm CL CBTT BCTC là khả năng mà BCTC cung cấp thông tin tài chính hữu ích của một thực thể cho người sử dụng thông tin trong việc ra quyết định

2.2 Lý thuyết nền tảng có liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin BCTC

2.2.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory)

Lý thuyết đại diện có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế, được phát triển bởi Alchian và Demsetz năm 1972, sau đó được Jensen và Meckling phát triển thêm vào năm 1976 Theo lý thuyết đại diện, Quản trị công ty được định nghĩa là “mối quan hệ giữa những người đứng đầu, chẳng hạn như các cổ đông và các đại diện như các giám đốc điều hành công ty hay quản lý công ty” (Mallin, 2004) Trong lý thuyết này, các cổ đông là các chủ sở hữu hoặc là người đứng đầu công ty, thuê những người khác thực hiện công việc Những người đứng đầu ủy quyền hoạt động của công ty cho các giám đốc hoặc những người quản lý, họ là các đại diện cho các

cổ đông

Các cổ đông lý thuyết đại diện kỳ vọng các đại diện hành động và ra các quyết định vì lợi ích của những người đứng đầu Ngược lại, các đại diện không nhất thiết phải ra quyết định vì các lợi ích lớn nhất của cổ đông (Padilla, 2000) Vấn đề hay chính sự xung đột lợi ích này lần đầu được Adam Smith nhấn mạnh trong thế

kỷ XVIII và sau đó được khám phá bởi Ross năm 1973, còn sự mô tả chi tiết lý thuyết đại diện lần đầu được trình bày bởi Jensen và Meckling năm 1976 Khái niệm về vấn đề phát sinh từ việc tách quyền sở hữu và kiểm soát trong lý thuyết đại diện đã được xác nhận bởi Davis, Schoorman và Donaldson năm 1997 Xung đột lợi ích cũng có thể tồn tại ngay trong mỗi bộ phận quản trị, chẳng hạn giữa các cổ đông (đa số và thiểu số, kiểm soát và không kiểm soát, cá nhân và tổ chức) và các thành viên HĐQT (điều hành và không điều hành, bên trong và bên ngoài, độc lập và phụ thuộc) (IFC, 2010)

Lý thuyết đại diện cho rằng một doanh nghiệp không phải là thực thể thống nhất, duy nhất Theo quan điểm trong lý thuyết vấn đề đại diện, sự phân tách giữa chủ sở hữu và quản lý có thể dẫn tới việc nhà quản lý hành động không nhằm mục

Trang 30

tiêu tối đa hóa giá trị của cổ đông, mà có thể vì lợi ích của chính bản thân họ, do đó một cơ chế kiểm soát cần được thiết kế để bảo vệ lợi ích của các cổ đông (Jensen và Meckling, 1976) Nghiên cứu này hệ thống hóa lại những vấn đề cơ bản của quản trị công ty và lý thuyết đại diện, cũng như chỉ ra được mối quan hệ doanh nghiệp cổ đông, nhà quản lý và các chủ nợ Có mục tiêu chung đó là lợi ích Nhưng không phải lúc nào lợi ích cũng giống nhau Nếu cả hai bên tối đa hóa lợi ích thì nhà quản lý có thể điều hành quản lý dưới sự giám sát của cổ đông Theo lý thuyết này, quy

mô, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời, vấn đề niêm yết và cơ cấu quản lý ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin

Khi áp dụng vào công trình nghiên cứu của tác giả, theo lý giải của lý thuyết này, tác giả sẽ kỳ vọng rằng các có công ty đòn bẩy tài chính càng cao, có quy mô càng lớn thì thường báo cáo lợi nhuận cao hơn sự thật nhằm tạo uy tín cho các đối tượng quan tâm để thu hút dòng vốn từ họ, vì vậy, chất lượng CBTT BCTC càng thấp Ngoài ra, công ty được kiểm toán bởi công ty kiểm toán Big 4 thì BCTC sẽ chất lượng công bố thông tin cao hơn

2.2.2 Lý thuyết dấu hiệu (Signalling theory)

Stephen Ross (1977) trình bày một lý thuyết cấu trúc vốn dựa trên nền tảng thông tin bất đối xứng Theo đó, khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán mới, sự kiện này có thể được xem là cung cấp một tín hiệu cho thị trường tài chính về viễn cảnh tương lai của doanh nghiệp hay các hoạt động tương lai do giám đốc của doanh nghiệp hoạch định Lý thuyết tín hiệu cũng được lập luận rằng, những tín hiệu do các thay đổi cấu trúc vốn là đáng tin cậy, vì nếu dòng tiền tương lai không xảy ra, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với chi phí phá sản có thể có

Lý thuyết dấu hiệu được giả định là thông tin không bằng nhau có sẵn cho các bên cùng một lúc và thông tin không đối xứng có thể dẫn đến giá thị thấp cho một chính sách đầu tư tối ưu khác Lý thuyết dấu hiệu cho rằng các quyết định tài chính của công ty là các dấu hiệu được gửi đi bởi các nhà quản lý cho các nhà đầu

tư để xem xét những thông tin phản hồi và dấu hiệu này là nền tảng cho chính sách truyền thông tài chính Lý thuyết tín hiệu giả định rằng các công ty có kết quả hoạt động tốt thường sử dụng thông tin tài chính như là một công cụ truyền tín hiệu đến

Trang 31

thị trường (Ross, 1997) Lý thuyết dấu hiệu chỉ ra rằng các công ty với mức sinh lời cao hơn sẽ có xu hướng chất lượng CBTT cao hơn đến thị trường

Khi áp dụng vào công trình nghiên cứu của tác giả, theo lý giải của lý thuyết này, tác giả sẽ kỳ vọng các công ty có khả năng thanh toán hiện hành càng cao, có lợi nhuận càng cao, triển vọng phát triển càng cao thì chất lượng CBTT BCTC càng cao và các công ty được kiểm toán bởi công ty kiểm toán Big 4 thì chất lượng CBTT BCTC cũng sẽ cao hơn Đối với công ty có vốn đầu tư bởi nước ngoài, có quy mô càng lớn đáng lẽ các công ty cần cung cấp BCTC chất lượng, tuy nhiên, theo lý thuyết này, nhằm tạo tín hiệu tốt về hiệu quả của công ty, thu hút dòng vốn đầu tư có khả năng công ty sẽ báo cáo chất lượng lợi nhuận không cao, tương tự, các công ty đòn bẩy tài chính càng cao nghĩa là tình trạng nợ nần lớn, để tạo tín hiệu tốt đối với bên cho vay, các công ty này có khả báo cáo lợi nhuận cao hơn số thực,

vì vậy chất lượng lợi nhuận báo cáo sẽ không cao Ngoài ra, theo lý giải của lý thuyết này, tác giả cũng kỳ vọng các công ty có thời gian hoạt động càng dài, họ muốn tạo dựng uy tín nên sẽ lập và trình bày BCTC trung thực hợp lý hơn để khẳng định uy tín của họ Các công ty có tính trì hoãn việc công bố BCTC càng dài thì thường sẽ bị các đối tượng quan tâm đến thông tin ngờ vực chất lượng CBTT BCTC sẽ thấp, vì bị chú ý như vậy các công ty này sẽ lập và trình bày BCTC chất lượng hơn

2.2.3 Lý thuyết hợp đồng (Contractual theory)

Lý thuyết hợp đồng đầu tiên được nêu ra bởi Jensen và Meckling (1976) Lý thuyết này nhấn mạnh rằng kế toán là một phần không thể thiếu trong các hợp đồng trong doanh nghiệp Các chỉ tiêu kế toán thường xuyên được sử dụng trong các hợp đồng, do đó mà các chỉ tiêu này có xu hướng bị “điều chỉnh” để phù hợp với các hợp đồng Trong các nghiên cứu về lý thuyết kế toán, hai loại hợp đồng đặc biệt được quan tâm và nghiên cứu là hợp đồng giữa các cổ đông – nhà quản trị và hợp đồng giữa doanh nghiệp – ngân hàng Các quan hệ hợp đồng này phát sinh thêm các chi phí ủy nhiệm, các chi phí này đã được trình bày chi tiết trong nội dung của lý thuyết ủy nhiệm

Trang 32

Khi áp dụng vào công trình nghiên cứu của tác giả, theo lý giải của lý thuyết này, tác giả sẽ kỳ vọng rằng các có công ty đòn bẩy tài chính càng cao, có quy mô càng lớn thì thường báo cáo lợi nhuận cao hơn sự thật nhằm tạo uy tín cho các đối tượng quan tâm để thu hút dòng vốn từ họ, vì vậy, chất lượng CBTT BCTC càng thấp

2.2.4 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary cost theory)

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã tìm thấy những bằng chứng thực nghiệm

về chi phí sở hữu như là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến mức độ công bố các thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên (Verecchina 1983)

Các chi phí sở hữu được xem xét như một hạn chế quan trọng của việc CBTT Một công ty cũng sẽ phải chịu chi phí sở hữu hay chi phí cạnh tranh bất lợi khi các bên liên quan, như đối thủ cạnh tranh, các nhà cung cấp, có thể dựa trên các thông tin được công bố mà có tác động tiêu cực đến công ty báo cáo chỉ vì các lợi ích riêng của họ Những bất lợi của cạnh tranh ảnh hưởng đến quyết định cung cấp các thông tin riêng tư Chính vì thế, CBTT nhiều hơn đến nhà đầu tư có thể làm tổn hại đến vị thế cạnh tranh của công ty trên thị trường (Singhvi và Desai, 1971; Giner, 1995)

Khi áp dụng vào công trình nghiên cứu của tác giả, theo lý giải của lý thuyết này tác giả kỳ vọng rằng các công ty thuộc ngành sản xuất chất lượng BCTC thấp hơn các ngành khác vì ngành sản xuất cạnh tranh khốc liệt hơn nên phải đưa ra các báo cáo với mức độ tương đương với đối thủ của mình để tránh bị thị trường đánh giá thấp nên có thể sẽ thổi phồng lợi nhuận dẫn đến chất lượng lợi nhuận sẽ thấp (chất lượng BCTC thấp)

2.3 Đo lường chất lượng công bố thông tin BCTC

2.3.1 Một số lý thuyết về đo lường chất lượng công bố thông tin BCTC

Bảng tóm lược các lý thuyết về các tiêu chí đo lường chất lượng công bố thông tin BCTC trong những nghiên cứu trước đây (Bảng 2)

Bảng 2: Tổng hợp chỉ tiêu đo lường chất lượng CBTT BCTC

(Nguồn: Tổng hợp từ các kết quả nghiên cứu trước đây)

Trang 33

STT Nghiên cứu Đo lường chất lượng CBTT BCTC

cơ cấu sở hữu, quyền của cổ đông và thông tin tài chính, hoạt động của công ty

2 Marston và

Shrives (1991)

Một cách đo lường thông tin là đếm tất cả các mục dữ liệu, như số lượng hoặc các từ hoặc câu trong BCTC hàng năm Số lượng câu tiết lộ thông tin nhiều hơn, không nhất thiết ngụ ý mức độ CBTT có chất lượng hơn

3 Vishwanath &

Kaufmann (1999)

Sử dụng các tiêu chí trong khái niệm chất lượng CBTT gồm các thuộc tính như: khả năng tiếp cận, tính toàn diện, tính liên quan, chất lượng và sự đáng tin cậy của thông tin

5 Beattie, McInnes

Fearnley (2004)

Hai loại: xếp hạng chủ quan hoặc nghiên cứu bán mục tiêu Trong đó, xếp hạng chủ quan cho rằng điểm của các nhà công bố được xếp hạng theo số lượng CBTT, còn nghiên cứu bán mục tiêu bao gồm phân tích nội dung chuyên đề, khả năng đọc, chỉ số tiết lộ

6 Cheung và công

sự (2005)

Xây dựng bảng hỏi dựa trên nguyên tắc quản trị của OECD để đo lường chất lượng CBTT BCTC

Trang 34

7 Yu-Chih Lin và

cộng sự (2007)

Sử dụng chỉ số “hệ thống xếp hạng về công bố thông tin ITDRS” Đây là chỉ số đánh giá xếp hạng về sự minh bạch và công bố thông tin của các công ty niêm yết được xây dựng ở Đài Loan Chỉ số này bao gồm 88 khoản mục công bố

Có nhiều cách thức khác nhau để đo lường chất lượng CBTT BCTC trong các nghiên cứu trước đây, phụ thuộc vào mục tiêu và cách tiếp cận của từng nghiên cứu Hầu hết các nghiên cứu trước đây về chất lượng CBTT BCTC đều đưa ra một

hệ thống các chỉ mục thông tin công bố để dựa vào đó để đo lường Trong luận văn này, cách tiếp cận của luận án là nhằm đo lường chất lượng CBTT BCTC dựa theo Marston và Shrives (1991) có nghĩa là tác giả cũng chọn các mục thông tin công bố trong báo cáo tài chính để đánh giá là chi tiết các khoản mục trong BCTC Đó là các văn bản pháp luật làm nền tảng bắt buộc cho việc công bố thông tin của các công ty niêm yết như là: Luật Kế toán, Thông tư số 52/2012/TT-BTC – Hướng dẫn về việc CBTT trên thị trường chứng khoán; Luật chứng khoán Đây là những văn bản pháp luật cao nhất chỉ đạo việc công bố Đo lường chất lượng công bố thông tin trong luận văn chỉ đề cập đến sự đầy đủ theo quy định biểu mẫu của QĐ 15/2006/QĐ-BTC của Bộ tài chính

2.3.2 Các chỉ số đo lường chất lượng công bố thông tin BCTC

Theo Urquiza, F.B., Navarro, M.C.A and Trombetta, M (2009), chưa có sự đồng thuận về việc thiết kế tốt nhất các chỉ số để đo lường chất lượng CBTT BCTC Tác giả cho rằng, có ba chỉ số để đo lường chất lượng CBTT BCTC như: "chỉ số chất lượng" có tính chất đa chiều dùng để đo lường chất lượng của thông tin, "chỉ số

Trang 35

phạm vi" dùng để đo lường phạm vi của thông tin và "chỉ số số lượng" dùng để đo lường số lượng thông tin được công bố

pij là số thông tin được công bố trong chủ đề j (số câu) chia cho tổng số công

bố của công ty i (tổng số câu mang thông tin hiện hành), st là số chủ đề (9 chủ đề)

Giá trị của chỉ số độ rộng là chỉ số trung bình cộng của giá trị độ bao phủ và

Trang 36

+ idi là tổng số công bố (số câu) trong báo cáo của công ty i

+ MSRij có giá trị là 1 nếu việc đo lường của j thông tin hiện hành (định lượng hay định tính) được công bố trong báo cáo hằng năm của công ty i hoặc 0 nếu ngược lại

+ ESij có giá trị là 1 nếu thông tin tài chính j được công bố trong báo cáo thường niên của công ty i hoặc 0 nếu là trường hợp khác

Thứ hai, chỉ số quan điểm trích lược (OTL) được tính:

Với:

+ OTLi là chỉ số về quan điểm trích lược của công ty i

+ ACPij có giá trị là 1 nếu j thông tin hiện hành được công bố bởi công ty i liên quan đến việc ra quyết định, hành vi hoặc các chương trình hoặc 0 nếu là trường hợp khác

+ Flij mang giá trị là 1 nếu j thông tin hiện hành được công bố bởi công ty i được coi là hữu ích cho dự đoán của nhà đầu tư (doanh thu, thu nhập, và dữ liệu tài chính khác)

Độ sâu được tính trung bình của dấu hiệu kinh tế, chỉ số đo lường và chỉ số quan điểm trích lược

Tiếp đến, độ giàu thông tin là trung bình của độ rộng và độ sâu Do vậy, chỉ

số này được đưa ra ở nhiều phương diện liên quan đến chất lượng thông tin

Cuối cùng, chỉ số chất lượng (OLI) là trung bình giữa chỉ số số lượng và chỉ

số về độ giàu thông tin

Trang 37

Chỉ số phạm vi

Chỉ số phạm vi (SCI) là một chỉ số tự xây dựng, nó tương tự với các chỉ số

đã được chấp nhận trong các tài liệu trước đó Công thức tính tổng quát là:

Chỉ số số lượng

Chỉ số số lượng (QNI) được thiết kế để đo lường số lượng thông tin được công bố bởi các công ty, có tính đến chỉ số của các đơn vị (số câu) thông tin hiện hành và được tính như sau:

Với:

- fli là số câu thông tin được công bố bởi công ty i

- max là số lượng câu tối đa của thông tin hiện hành được công bố trong mẫu bởi công ty

- min là số lượng câu tối thiểu của thông tin hiện hành được công bố trong mẫu bởi công ty

- Chỉ số số lượng cũng dao động từ 0 đến 1

Theo cách tiếp cận của các nghiên cứu trước, chỉ số đo lường chất lượng CBTT BCTC của mỗi công ty được tính như sau:

Trong đó:

Ij là chỉ số CBTT của công ty j

nj là số lượng thông tin được công bố bởi công ty j

dij nhận giá trị là 1 nếu thông tin i được công bố và nhận giá trị là 0 nếu thông tin không được công bố

Trang 38

2.4 Mô hình nghiên cứu

2.3.1 Mô hình nghiên cứu của luận án

Về các nhân tố ảnh hưởng, tổng hợp từ các nghiên cứu trước có liên quan và thực tiễn chất lượng công bố thông tin trên BCTC tại Việt Nam, bởi vì thông tin công bố có 2 loại: thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện, vì vậy, các nhân tố thuộc thông tin công bố tự nguyện thì việc thu thập dữ liệu không thể đầy đủ vì có công ty không công bố những thông tin này như thông tin sự phân tán cổ đông, quyền sở hữu của cổ đông gia đình đầu tiên tác giả dựa vào các công trình nghiên cứu trước đây 6 nhân tố được tác giả dự kiến đưa vào mô hình gồm quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, đòn bẩy nợ, khả năng thanh toán, tài sản cố định và chủ thể kiểm toán

Dựa vào thực tiễn công bố thông tin tại Việt Nam, tác giả dự kiến đưa thêm 3 các nhân tố vào mô hình bao gồm tính trì hoãn của BCTC vì thường dư luận cho rằng một khi BCTC của công ty nào đó công bố chậm, họ cho rằng công ty này đang cần nhiều thời gian để thực hiện việc điều chỉnh các phương pháp kế toán và các ước tính kế toán nhằm điều chỉnh mức lợi nhuận mong muốn vì vậy chất lượng BCTC sẽ giảm chất lượng Ngoài ra, 2 nhân tố cũng được tác giả dự kiến đưa thêm vào mô hình là quy mô hội đồng quản trị và giới tính của các thành viên trong hội đồng quản trị xem xét chúng có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC hay không Nhằm

có cơ sở để tác giả quyết định có đưa biến này vào mô hình và cần thêm biến nào vào mô hình Đầu tiên, tác giả đã sử dụng phương pháp thảo luận với các chuyên gia gồm 12 chuyên gia (Phụ lục 1) xem xét có nên đưa nó vào mô hình hay không

và ngoài 3 nhân tố này các chuyên gia có đề nghị thêm nhân tố nào hay không (Phụ lục 2)

Kết quả thảo luận của 12 chuyên gia đều đã ủng hộ việc nên đưa nhân tố tính trì hoãn của BCTC vào mô hình và không ủng hộ việc đưa 2 nhân tố quy mô hội đồng quản trị và giới tính của các thành viên trong hội đồng quản vào mô hình, bên cạnh đó các chuyên gia đề xuất thêm 1 nhân tố thời gian hoạt động vào mô hình Theo ý kiến của họ, họ cho rằng các nhân tố trên là các nhân tố chủ yếu có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC, còn có một vài nhân tố khác ảnh hưởng đến chất

Trang 39

lượng CBTT của BCTC nhưng việc thu nhập dữ liệu các nhân tố này sẽ gặp rất nhiều khó khăn, ngoài ra, còn một số nhân tố thì việc đo lường chúng khó thực hiện được và có thể nói là không thực hiện được Có thể nói rằng, qua kết quả trao đổi với các chuyên gia, các ý kiến thống nhất giữa các chuyên gia đã tạo thêm cơ sở cho tác giả về việc đưa thêm 2 nhân tố mà theo quan điểm của tác giả là khá cần thiết có ảnh hưởng đến chất lượng CBTT trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Bình Phước

Kết quả nghiên cứu định tính sẽ là cơ sở cho việc xây dựng các biến, thu thập

dữ liệu và kiểm định các giả thuyết đặt ra

Bảng 3: Kết quả thảo luận tóm tắt

3 Giới tính của các thành viên trong hội đồng quản trị 4 8

Nhân tố được các chuyên gia đưa ý kiến thêm vào mô hình

Trên cơ sở phân tích ở trên, tác giả đã đưa tổng cộng 8 nhân tố (biến độc lập) vào mô hình và chia làm 3 nhóm nhân tố, bao gồm: (1) nhóm nhân tố liên quan cơ cấu vốn gồm đòn bẩy nợ, khả năng thanh toán, (2) nhóm nhân tố liên quan đến đặc điểm thị trường gồm quy mô doanh nghiệp, tài sản cố đinh, thời gian hoạt động, chủ thể kiểm toán, tính trì hoãn của BCTC và (3) nhóm nhân tố liên quan hiệu quả công

ty gồm khả năng sinh lời

Mô hình nghiên cứu chính thức như sau:

Trang 40

Hình 1: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng CBTT BCTC của các

doanh nghiệp ĐTNN tại Bình Phước

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

2.3.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu

Căn cứ vào mô hình nghiên cứu, kết quả của các nghiên cứu có liên quan trong bảng tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng CBTT BCTC từ các nghiên cứu trước và nội dung phân tích mối liên hệ giữa các nhân tố với chất lượng CBTT BCTC của các lý thuyết nền tảng ở trên, tác giả xây dựng 8 giả thuyết như sau:

Công bố thông tin BCTC

Nhóm nhân tố liên quan hiệu quả công ty Đòn bẩy

nợ

Khả năng thanh toán

Quy mô doanh nghiệp

Thời gian hoạt động

Chủ thể kiểm toán

Tính trì hoãn của BCTC

Tài sản cố đinh

Khả năng sinh lời

Ngày đăng: 03/10/2019, 15:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w