Tổng quan nghiên cứu Qua quá trình nghiên cứu cứu và tìm hiểu các tài liệu khác nhau đối với những khía cạnh có liên quan đến luận án mà tác giả dự định nghiên cứu, tác giả nhận thấy đã
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
- -
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG THANH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG YẾU TỐ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TỚI CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
NGOÀI CÔNG LẬP VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KẾ TOÁN
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-
-NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG THANH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG YẾU TỐ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TỚI CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
NGOÀI CÔNG LẬP VIỆT NAM
Chuyên ngành: KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN VÀ PHÂN TÍCH
Mã số: 9340301
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS PHAN TRUNG KIÊN
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM KẾT
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Nguyễn Hoàng Phương Thanh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM KẾT i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BẰNG TIẾNG VIỆT vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BẰNG TIẾNG NƯỚC NGOÀI vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH x
DANH MỤC PHỤ LỤC xi
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.1.1 Giới thiệu đề tài 1
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu 3
1.1.2.1 Nghiên cứu về ảnh hưởng của KSNB tới hoạt động trong đơn vị 3
1.1.2.2 Ảnh hưởng của KSNB tới các hoạt động trong khu vực hoạt động phi lợi nhuận 9
1.1.2.3 Nghiên cứu về KSNB tới các hoạt động của các các tổ chức tại Việt Nam 15
1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của tác giả 17
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 18
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 18
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 18
1.4.3 Dữ liệu khảo sát 23
1.5 Những đóng góp mới của luận án 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 29
2.1 Những vấn đề chung về KSNB trong các tổ chức 29
2.1.1 Bản chất của KSNB 29
2.1.2 Phân loại KSNB 36
2.1.3 Sự thừa nhận đối với Khung KSNB COSO trong các tổ chức 38
Trang 52.1.4 Những yếu tố của KSNB 40
2.1.5 Ảnh hưởng của KSNB tới quản trị tổ chức và quản trị rủi ro 47
2.2 Những vấn đề chung về CLGDĐH 48
2.2.1 BẢn chất của CLGDĐH 48
2.2.2 Đánh giá CLGDĐH 53
2.2.3 Những yếu tố cấu thành CLGDĐH 55
2.3 Ảnh hưởng của KSNB đến CLGDĐH trong các trường ĐH 60
2.3.1 Mục tiêu và đặc điểm của KSNB trong các trường ĐH 60
2.3.2 Lý thuyết giải thích quan hệ KSNB và CLGDĐH 62
2.3.2.1.Lý thuyết đại diện (Agency theory) 62
2.3.2.2 Lý thuyết bất định của các tổ chức (Contingency theory of Organizations) 63
2.3.2.3 Lý thuyết về tâm lý học xã hội của tổ chức (Social psychology of organization theory) 63
2.3.2.4 Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theoryeory) 64
2.3.3 Ảnh hưởng của KSNB đến CLGDĐH 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 68
3.1 Quy trình nghiên cứu 68
3.2 Nguồn dữ liệu nghiên cứu 68
3.3 Phương pháp nghiên cứu định tính 69
3.3.1 Nghiên cứu tài liệu 69
3.3.2 Phỏng vấn sâu 69
3.3.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu định tính 71
3.4 Phương pháp nghiên cứu định lượng 87
3.4.1 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu 87
3.4.1.1 Giả thuyết nghiên cứu 87
3.4.1.2 Mô hình nghiên cứu 89
3.4.1.3 Phương trình hồi quy tổng quát 89
3.4.2 Thang đo các biến 90
3.4.2.1 Biến độc lập 90
3.4.2.2 Biến phụ thuộc 93
3.4.2.3 Kết quả đánh giá thang đo 102
Trang 63.4.2.4 Mẫu nghiên cứu 108
3.4.3 Phân tích dữ liệu 108
3.4.3.1 Phân tích thống kê mô tả 108
3.4.3.2 Phương pháp hồi quy tương quan 108
3.5 Phương pháp nghiên cứu khảo sát 109
3.5.1 Thiết kế phiếu khảo sát 109
3.5.2 Đối tượng gửi phiếu khảo sát 109
3.5.3 Quy trình khảo sát 110
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 111
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 112
4.1 Thực trạng về CLGDĐH và về KSNB trong các trường ĐHNCL ở Việt Nam 112
4.1.1 Tổng quan về các trường ĐHNCL ở Việt Nam 112
4.1.2 Thực trạng về CLGDĐH ngoài công lập ở Việt Nam 114
4.1.3 Thực trạng về KSNB tại các trường ĐHNCL ở Việt Nam 116
4.2 Kết quả nghiên cứu 118
4.2.1 Kiểm định các giả thuyết 118
4.2.2 Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố KSNB đến CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam 125
4.2.2.1 Mức độ ảnh hưởng của MTSK đến CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam 125
4.2.2.2 Mức độ ảnh hưởng của ĐGRR đến CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam 128
4.2.2.3.Mức độ ảnh hưởng của HĐKS đến CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam 130
4.2.2.4 Mức độ ảnh hưởng của TTTT đến CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam 132
4.2.2.5 Mức độ ảnh hưởng của GS đến CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam 134
4.2.3 Kết quả kiểm định giả thuyết các yếu tố của KSNB có ảnh hưởng đến CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam 135
4.2.4 Bàn luận về kết quả nghiên cứu tác động của các yếu tố KSNB đến CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam 136
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 141
Trang 7CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 142
5.1 Kết quả và ý nghĩa của nghiên cứu 142
5.1.1 Kết quả nghiên cứu 142
5.1.2 Ý nghĩa của nghiên cứu 145
5.2 Khuyến nghị cải thiện hiệu lực các yếu tố của KSNB nhằm nâng cao chất lượng GDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam 146
5.2.1 Cải thiện hiệu lực HĐKS 146
5.2.2 Cải thiện hiệu lựcMTKS 148
5.2.3 Cải thiện hiệu lực ĐGRR 150
5.2.4 Cải thiện hiệu lực GS 151
5.2.5 Cải thiện hiệu lực TTTT 152
5.3 Điều kiện để thực hiện các giải pháp 153
5.3.1 Đối với cơ quan quản lý Nhà nước - BGD&ĐT 153
5.3.2 Đối với các trường ĐHNCL ở Việt Nam 153
5.4 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 154
KẾT LUẬN 155
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 156
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 157
PHỤ LỤCPHỤ LỤC 175
PHỤ LỤC 176
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BẰNG TIẾNG VIỆT
BGD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
BGH Ban giám hiệu
CLGDĐH Chất lượng giáo dục đại học
KSNB Kiểm soát nội bộ
MTKS Môi trường kiểm soát
NCL Ngoài công lập
TTTT Thông tin và truyền thông
VSA Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BẰNG TIẾNG NƯỚC NGOÀI
AACSB Association to Advance Collegiate Schools of Business
ABET Accreditation Board for Engineering and Technology
AICPA American Institute of Certified Public Accountant
BASEL The Basel Committee on Banking Supervision
CICA Canadian Institute of Chartered Accountants
COCO Canadian Institute of Chartered Accountants
COSO The Committee of Sponsoring Organizations
CTI Comité des Titres d'Ingénieur
GAO General Accounting Office
HRECES Haut Conseil de l'évaluation de la recherche et de l'enseignement supérieur IFAC International Federation of Accountant
INTOSAI International Organization of Supreme Audit Institutions
INTOSAI GOV INTOSAI Guidance for Good Governance
SAS Statement of accounting standard
SOX Sarbanes Oxley
UK APC United Kingdom Auditing practice Committee
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Danh sách các trường đại học thực hiện khảo sát 24
Bảng 1.2 Số năm kinh nghiệm của chuyên giađược phỏng vấn trong nghiên cứu định tính 25
Bảng 2.1 Bản chất của KSNB theo cách tiếp cận lý thuyết khác nhau 36
Bảng 2.2: Phân loại định nghĩa chất lượng giáo dục đại học 51
Bảng 2.3: Các loại chỉ tiêu chất lượng 52
Bảng 3.1: Tổng hợp các biến quan sát thuộc “MTKS” 72
Bảng 3.2: Tổng hợp các biến quan sát thuộc “ĐGRR” 75
Bảng 3.3: Tổng hợp các biến quan sát thuộc “HĐKS” 77
Bảng 3.4: Tổng hợp các biến quan sát thuộc “TTTT” 79
Bảng 3.5: Tổng hợp các biến quan sát thuộc “GS” 80
Bảng 3.6: Tổng hợp các biến quan sát thuộc “CLGDĐH” 83
Bảng 3.7: Tổng hợp các biến đo lường từ nghiên cứu định tính 87
Bảng 3.8: Thang đo các yếu tố KSNB có ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đại học tại các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam 93
Bảng 3.9: Kiểm định Cronbach Alpha thang đo Môi trường kiểm soát 103
Bảng 3.10: Kiểm định Cronbach Alpha thang đo Đánh giá rủi ro 103
Bảng 3.11: Kiểm định Cronbach Alpha thang đo Hoạt động kiểm soát 105
Bảng 3.12: Kiểm định Cronbach Alpha thang đo Thông tin&truyền thông 106
Bảng 3.13: Kiểm định Cronbach Alpha thang đo Giám sát 106
Bảng 3.14: Kiểm định Cronbach Alpha thang đo CLGDĐH 107
Bảng 3.15 Đặc điểm mẫu khảo sát trong nghiên cứu định lượng 110
Bảng 4.1: Số liệu thống kê Giáo dục Đại học giai đoạn 2013-2017 113
Bảng 4.2: Tỷ lệ sinh viên/giảng viên ở các trường ĐH NCL từ năm 2013 – 2017 114
Bảng 4.3: Kết quả tương quan (Môi trường kiểm soát - MTKS) 118
Bảng 4.4: Kết quả tương quan (Đánh giá rủi ro - ĐGRR) 118
Bảng 4.5: Kết quả tương quan (Hoạt động kiểm soát - HĐKS) 119
Bảng 4.6: Kết quả tương quan (Thông tin và truyền thông - TTTT) 119
Bảng 4.7: Kết quả tương quan (Giám sát - GS) 119
Bảng 4.8: Kết quả tương quan KSNB - CLGDĐH 120
Bảng 4.9: Kiểm định mức độ giải thích của mô hình (Model Summaryb) 121
Bảng 4.10: Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (phương sai – ANOVA) 121
Trang 11Bảng 4.11: Kiểm định tương quan từng phần của các hệ số hồi quy (Coefficientsa) 122
Bảng 4.12: Kiểm định giả thuyết không có mối tương quan giữa các biến độc lập 123
Bảng 4.13: Kiểm định mức độ giải thích của mô hình (Model Summaryb) 126
Bảng 4.14: Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (phương sai – ANOVA) 126
Bảng 4.15: Kiểm định tương quan từng phần của các hệ số hồi quy 127
Bảng 4.16: Kiểm định mức độ giải thích của mô hình (Model Summaryb) 128
Bảng 4.17: Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (phương sai – ANOVA) 128
Bảng 4.18: Kiểm định tương quan từng phần của các hệ số hồi quy 129
Bảng 4.19: Kiểm định mức độ giải thích của mô hình (Model Summaryb) 130
Bảng 4.20: Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (phương sai – ANOVA) 130
Bảng 4.21: Kiểm định tương quan từng phần của các hệ số hồi quy 131
Bảng 4.22: Kiểm định mức độ giải thích của mô hình (Model Summaryb) 132
Bảng 4.23: Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (phương sai – ANOVA) 132
Bảng 4.24: Kiểm định tương quan từng phần của các hệ số hồi quy 133
Bảng 4.25: Kiểm định mức độ giải thích của mô hình (Model Summaryb) 134
Bảng 4.26: Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (phương sai – ANOVA) 134
Bảng 4.27: Kiểm định tương quan từng phần của các hệ số hồi quy 135
Bảng 4.28: Kết quả kiểm định giả thuyết các yếu tố của KSNB có ảnh hưởng đến CLGDĐH của các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam 136
Bảng 4.29 Tầm quan trọng của các yếu tố KSNB ảnh hưởng đến CLGDĐH của các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam 138
Bảng 4.30 Tầm quan trọng của các yếu tố thuộc MTKS ảnh hưởng đến CLGDĐH của các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam 139
Bảng 4.31: Tầm quan trọng của các yếu tố thuộc ĐGRR ảnh hưởng đến CLGDĐH của các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam 139
Bảng 4.32 Tầm quan trọng của các yếu tố thuộc HĐKS ảnh hưởng đến CLGDĐH của các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam 139
Bảng 4.33 Tầm quan trọng của các yếu tố thuộc TTTT ảnh hưởng đến CLGDĐH của các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam 140
Bảng 4.34 Tầm quan trọng của các yếu tố thuộc GS ảnh hưởng đến CLGDĐH của các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam 140
Bảng 5.1: Tầm quan trọng của các yếu tố KSNB ảnh hưởng đến CLGDĐHcủa các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam 145
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Các bước thực hiện nghiên cứu 21Hình 2.1: KSNB theo COSOLiên hệ giữa các yếu tố của KSNB - Mục tiêu - Các đơn vị/hoạt động 41Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 68Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất của luận án 86Hình 3.3: Mô hình nghiên cứu tác động của các yếu tố KSNB đến CLGDĐH của các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam 89Hình 4.1 Đồ thị phân tán của phần dư chuẩn hóa 125
Trang 13DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 01: Tổng hợp các nghiên cứu về Kiểm soát nội bộ trong các trường đại học 176
Phụ lục 02: Danh sách Chuyên gia phỏng vấn 185
Phụ lục 03: Nội dung phỏng vấn sâu chuyên gia 186
Phụ lục 04: Bảng hỏi chuyên gia sau khi thực hiện phỏng vấn 187
Phụ luc 05: Bảng khảo sát chính thức 194
Phụ luc 06: Công cụ đánh giá KSNB theo báo cáo COSO 2013 203
Phụ lục 07: Bộ công cụ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học được ban hành theo Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDDT ngày 01/11/2007 và sửa đổi bổ sung theo Thông tư số 37/2012/TT-BGDDT ngày 30/10/2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo 208
Phụ lục 08: Bộ tiêu chuẩn kiểm định AUN - QA (2015) 215
Phụ lục 09: Danh sách các trường đại học ngoài công lập tại Việt Nam đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá Chất lượng giáo dục đại học 219
Trang 14CHƯƠNG 1:
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1.1 Giới thiệu đề tài
GDĐH là một trong những vấn đề được Đảng, Nhà nước và nhân dân đặc biệt quan tâm Điều này được thể hiện rất rõ trong Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa trong điều kiện nền Kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Nghị quyết đã nêu rõ mục tiêu của giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam là tập trung đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất, nâng cao năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo Mục tiêu đến năm 2020, GDĐH Việt Nam có bước chuyển cơ bản về chất lượng, quy mô, tiếp cận trình độ trong khu vực và trên thế giới Để đạt được các mục tiêu trên, bên cạnh sự cố gắng, nỗ lực của các trường đại học (ĐH) khối công lập thì khối trường đại học ngoài công lập (ĐHNCL) hiện nay cũng đang góp phần nâng cao năng lực giáo dục, đào tạo, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của xã hội
Theo thống kê của BGD&ĐT, tính đến hết năm 2018, Việt Nam có 65 trường ĐHNCL, chiếm 38,2% tổng số các trường ĐH trên toàn quốc Cùng sự phát triển về số lượng trường, số lượng sinh viên (SV) của các trường ĐHNCL cũng có quy mô tăng tương ứng Cụ thể, số SV tuyển mới hệ ĐH của các trường ĐHNCL năm học 2017-
2018 là 84.174 SV, chiếm tỷ lệ 23,85% số SV của cả nước Số lượng giảng viên (GV) trong khối trường này năm học 2017-2018 là 15.759 người, chiếm tỷ lệ 26,6% tổng số
GV cả nước Hằng năm khối trường ĐHNCL cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động trẻ có trình độ, kiến thức nhằm phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa
và xã hội của đất nước
Tuy nhiên chất lượng giáo dục (CLGD) trong các trường ĐHNCL ở Việt Nam
là một vấn đề còn gây nhiều tranh cãi Trong suốt quá trình hình thành và phát triển qua hơn 20 năm, chất lượng GDĐH (CLGDĐH) tại khối trường này còn bộc lộ những dấu hiệu chưa đảm bảo Cụ thể, trong khi quy mô, số lượng SV tăng nhanh chóng nhưng điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo một số trường thì chưa tương xứng Theo báo cáo của GD&ĐT (2017), các trường ĐHNCL có vốn đầu tư ban đầu còn ít, nguồn thu chủ yếu để phục vụ hoạt động của nhà trường là từ học phí Năng lực đào tạo của một số trường chưa đáp ứng được số lượng học viên mà các nhà trường hiện có Cụ thể là các sự đảm bảo về cơ sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm, thực hành, thư viện,
Trang 15đội ngũ GV, công nhân viên,… Chính vì vậy đã dẫn tới thực trang chất lượng đào tạo một số ngành học không đạt tiêu chuẩn theo quy định của BGD&ĐT Đặc điểm đội ngũ GV cơ hữu tại các trường ĐHNCL thường tập trung ở 2 nhóm Thứ nhất là đối tượng cao tuổi là các GV có chức danh giáo sư và phó giáo sư, đã từng giảng dạy ở các trường ĐH khác và chiếm khoảng 5% tổng số GV của hệ thống các trường ngoài công lập Thứ hai là đối tượng GV, cán bộ quản lý trẻ, mới tốt nghiệp các trường ĐH,
do đó trình độ chưa cao, thiếu kinh nghiệm,
Về cơ sở vật chất, tính đến thời điểm năm 2018, hiện có 12 trường ĐHNCL đang phải đi thuê cơ sở đào tạo, trong đó có 05/12 trường là những cơ sở đào tạo đã được thành lập trên 20 năm Một số trường có quá nhiều cơ sở, diện tích của một cơ sở nhỏ do các nhà quản lý chưa có tầm nhìn dài hạn để tạo ra một môi trường học thuật Bên cạnh đó, ở một số ngành thuộc khối ngành kỹ thuật, công nghệ các điều kiện về trang thiết bị, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành còn hạn chế và không được cập nhật liên tục Hệ thống thư viện của một số trường còn yếu, số lượng học liệu không đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu của GV và SV
Về công tác nghiên cứu khoa học, hiện nay có 51/65 trường ĐHNCL chưa thực hiện đề tài khoa học cấp nhà nước, trong đó có 50% số trường chưa tài trợ hay đầu tư cho thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa hoc cấp trường Ngoài ra, việc công bố các
đề tài nghiên cứu khoa học của khối trường này trên hệ thống tạp chí trong và ngoài nước còn nhiều hạn chế, thậm chí một số trường không có bài báo trong nước Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, do chất lượng đầu vào của SV không đồng đều và thường thấp hơn mặt bằng chung, việc đào tạo tại các trường ngooài công lập còn gặp nhiều khó khăn Trong khi đó, chương trình đào tạo theo đánh giá của SV là còn các bất cập về tỷ lệ giữa lý thuyết - thực hành và lộ trình đào tạo
Từ những dấu hiệu không đảm bảo về CLGDĐH tại các trường ĐHNCL nêu trên có thể nhận thấy đây là một vấn đề trọng yếu, ảnh hưởng đến việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước và suy giảm niềm tin ở người dân về CLGD của nước nhà Thực tế trên cũng cho thấy sự yếu kém trong vấn đề quản trị tại các trường
ĐH Có thể nhận thấy rõ ràng tính tuân thủ nguyên tắc, chế độ trong GDĐH ở một số trường ĐHNCL chưa được đảm bảo và đồng thời hiệu quả trong công tác giáo dục đào tạo cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện nay Nâng cao CLGDĐH
là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay không chỉ đối với các trường ĐH công lập mà cả đối với các trường ĐHNCL Vậy yếu tố nào đã ảnh hưởng đến CLGD của các trường ĐHNCL ở Việt Nam?
Trang 16Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng CLGD không chỉ bị ảnh hưởng từ nhiều yếu tố bên ngoài như thể chế chính trị, xã hội, văn hóa, tôn giáo, xu hướng phát triển kinh tế (Dobre, Iuliana, 2015) mà còn chịu ảnh hưởng từ các yếu tố bên trong các trường ĐH Một trong nhiều nguyên nhân được nhắc tới từ khía cạnh nội bộ là KSNB đã không có hiệu lực, mất tác dụng trong việc ngăn ngừa, phát hiện sớm để làm giảm ảnh hưởng của hành vi gian lận hoặc bất tuân thủ Các nghiên cứu của Duh Rong-ruey, Chen Kuo-tay, Lin Ruey-ching, Kuo Li-chun (2014); Popescu, M Dascalu, A Bulletin (2012); Wang, Weixing (2010),… đã chỉ ra rằng kiểm soát nội bộ (KSNB) có quan hệ chặt chẽ với hiệu quả hoạt động và CLGD của các trường ĐH Chính vì vậy việc KSNB trong các trường ĐHNCL ở Việt Nam chưa có hoặc còn thiếu các hoạt động kiểm soát (HĐKS), giám sát (GS) hiệu quả, để vi phạm các quy định về GDĐH, làm cho các trường không đạt CLGDĐH chính là một trong những hạn chế mà KSNB trong khối trường này cần phải khắc phục
Do đó, việc nghiên cứu tìm ra mối quan hệ cũng như đo lường mức độ ảnh hưởng KSNB đến chất CLGDĐH tại các trường ĐHNCL ở Việt Nam để nhằm đảm bảo và nâng cao CLGD là một yêu cầu cấp thiết hiện nay Xuất phát từ tính cấp thiết
này tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của những yếu tố kiểm soát nội
bộ tới chất lượng giáo dục đại học của các trường đại học ngoài Việt Nam” làm luận
án tiến sỹ của mình
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu
Qua quá trình nghiên cứu cứu và tìm hiểu các tài liệu khác nhau đối với những khía cạnh có liên quan đến luận án mà tác giả dự định nghiên cứu, tác giả nhận thấy đã
có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của KSNB đến các hoạt động, hiệu quả hoạt động, quản trị tổ chức, quản trị rủi ro trong đơn vị (gồm các đơn vị
vì lợi nhuận và các đơn vị phi lợi nhuận) Các nghiên cứu này được thực hiện tại nhiều quốc gia trên thế giới ở những giai đoạn thời gian khác nhau, tác giả xin trình bày một
số công trình tiêu biểu như sau:
1.1.2.1 Nghiên cứu về ảnh hưởng của KSNB tới hoạt động trong đơn vị
Nghiên cứu công bố về ảnh hưởng của KSNB tới các hoạt động trong phạm vi đơn vị được thực hiện theo một số hướng sau đây:
i) Ảnh hưởng của KSNB tới quản trị doanh nghiệp
Có nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng tồn tại mối quan hệ theo hướng tích cực giữa KSNB và quản trị doanh nghiệp
Trang 17Figen Canbay và các đồng sự (2018) cho rằng KSNB là yếu tố cơ bản để doanh nghiệp đạt được các mục tiêu trong quản lý Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng
có một mối quan hệ có ý nghĩa tích cực giữa chỉ số quản trị doanh nghiệp và KSNB, đồng thời từng yếu tố thuộc KSNB đều có mối quan hệ tích cực với quản trị doanh nghiệp
Dumitrascu Mihaela và cộng sự (2012) khi thực hiện phân tích hiệu quả của KSNB trong các công ty được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Bucharest ở Romanian đã chứng minh được rằng KSNB hiệu quả dẫn đến việc trình bày báo cáo tài chính một cách minh bạch và chính xác Điều này làm gia tăng sự tin tưởng của các bên liên quan đến báo cáo tài chính của các công ty Nghiên cứu cũng cho rằng quản trị doanh nghiệp và KSNB không nên được xem xét và duy trì một cách độc lập mà phải trên quan điểm song hành nhau Một tổ chức nếu không có những quan điểm dài hạn về quản trị dài hạn, thì cũng không thể có một cơ chế KSNB hiệu quả và bền vững Vì vậy, quản trị doanh nghiệp sẽ hoàn toàn hiệu quả nếu có KSNB tốt
Inaam Al-Zwyalif (2015) thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa KSNB và quản trị doanh nghiệp tại các công ty bảo hiểm tại Jordan Dựa trên kết quả phân tích thống kê, nghiên cứu chỉ ra rằng tất cả các yếu tố của KSNB như môi trường kiểm soát (MTKS), đánh giá rủi ro (ĐGRR), hoạt động giám sát (HĐKS), thông tin truyền thông (TTTT) và giám sát (GS) góp phần củng cố, nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp (bao gồm tính công bằng, trách nhiệm và minh bạch) ở mức độ cao Những kết quả này cho thấy KSNB có một vai trò quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả quản trị tại các công ty bảo hiểm Jordan, và để có sự thành công của quản trị doanh nghiệp đòi hỏi phải tuân thủ tất cả các yếu tố của KSNB
Trên một góc độ khác, các nghiên cứu còn chỉ ra rằng, KSNB có quan hệ chặt chẽ với quá trình quản trị doanh nghiệp Điều này thể hiện trong việc KSNB có ảnh hưởng đến hoạt động phát triển sản phẩm mới của doanh nghiệp và đóng vai trò định hướng thị trường cho sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp Quan điểm này được trình bày trong các nghiên cứu của Merchant, K.A (1985) về “Kiểm soát trong tổ chức kinh doanh”; Anthony, R.N và Dearden, J.Bedford (1989) về “Kiểm soát quản lý” Và được nghiên cứu ở phạm vi hẹp hơn trong các nghiên cứu của Laura F.Spira và Micheal Page (2002) về “Nghiên cứu quản trị rủi ro trong mối quan hệ với KSNB”; Yuan Li,
Yi Liu, Younggbin Zhao (2006) về “Nghiên cứu định hướng thị trường của doanh nghiệp và ảnh hưởng KSNB đến việc phát triển sản phẩm mới”
ii) Ảnh hưởng của KSNB tới quản trị rủi ro
Trên cơ sở báo cáo COSO năm 1992, tổ chức COSO đã tiến hành nghiên cứu về “hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp” (ERM) Trong nghiên cứu này, ERM được xây dựng gồm 8 bộ phận bao gồm: môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, ĐGRR, đối phó rủi ro, các HĐKS,
Trang 18TTTT và GS Vào năm 2004, COSO chính thức ban hành ERM làm nền tảng trong việc quản trị rủi ro doanh nghiệp
Kế thừa các quan điểm của COSO về quản trị rủi ro, Dumitrascu Mihaela và cộng sự (2012) đã khẳng định quan điểm rủi ro kiểm soát là rủi ro mà kiểm toán viên không thể loại bỏ nó, nhưng có thể làm giảm nó thông qua một hệ thống KSNB hiệu quả
Trong một công bố của Rini Lestari (2015), tác giả cho rằng bằng cách thực hiện các nguyên tắc của KSNB đối với quản trị rủi ro trong việc quản lý quỹ hưu trí sẽ làm cải thiện hiệu quả hoạt động của quỹ hưu trí Nghiên cứu này đã kiểm tra tính hiệu quả của KSNB đối với việc thực hiện quản trị rủi ro và ý nghĩa của nó đối với hiệu quả hoạt động của tổ chức Kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng quản trị tổ chức và KSNB
có ảnh hưởng đáng kể đến đến quản lý rủi ro của tổ chức
Danescu cùng cộng sự (2011) cũng cho rằng khi các HĐKS đạt hiệu quả và hiệu lực thì sẽ có tác dụng ngăn ngừa các rủi ro đã được xác định Các nhà nghiên cứu này cũng chỉ ra việc xây dựng và triển khai hoạt động KSNB một cách đầy đủ sẽ đảm bảo kiểm soát rủi ro ở mức hợp lý, điều này sẽ dẫn đến hiệu quả quản trị tốt hơn cho các tổ chức
iii) Ảnh hưởng của KSNB tới hiệu quả hoạt động
Có nghiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng KSNB hiệu lực giúp đơn vị đạt được các mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả hoạt động Điều này được chứng mình bằng các nghiên cứu điển hình như nghiên cứu của Salehi và các cộng sự (2013), Wang, Jun (2015), Srisawangwong và các cộng sự (2015), Qiang Cheng và các cộng
sự (2015)… Các nghiên cứu này được thực hiện ở các quốc gia khác nhau thư Iran, Trung Quốc, Thái Lan, Mỹ,…
Cụ thể, Salehi Mahdi và các cộng sự (2013) khi thực hiện khảo sát tại các ngân hàng tại Iran đã chỉ rõ KSNB đóng một vai trò rất quan trọng và mang lại hiệu quả cho
tổ chức Nghiên cứu này tiến hành điều tra hiệu quả của KSNB trong ngành ngân hàng của Iran trong năm 2011 với tham chiếu đặc biệt cho Ngân hàng Mellat Nghiên cứu
đã chỉ ra rằng, MTKS, ĐGRR và HĐKS kém hiệu quả làm nảy sinh các nhiều hành vi gian lận và sai sót trong hoạt động ngân hàng Chính vì vậy, KSNB tốt sẽ là công cụ
ưu việt trong việc ngăn chặn tỷ lệ gian lận và sai sót, đảm bảo hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Iran
Trang 19Wang, Jun (2015) bằng việc phân tích dữ liệu từ các công ty niêm yết tại Trung Quốc trong cũng khẳng định đối với các công này việc thiết lập hệ thống KSNB tốt hơn nhằm cải thiện hiệu quả của KSNB Đồng thời khi công ty đang ở trong trạng thái tăng trưởng, việc cải thiện KSNB sẽ cho phép đạt được các kết quả hoạt động kinh doanh tốt hơn
Srisawangwong Papapit và cộng sự (2015) cũng thực hiện nghiên cứu về mối liên hệ giữa hệ thống KSNB và việc đạt được mục tiêu hoạt động ở các doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm tiện lợi ở Thái Lan Các kết quả phân tích OLS đã chỉ ra rằng
cơ cấu tổ chức phù hợp với quy mô doanh nghiệp và loại hình kinh doanh sẽ làm cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả Ngoài ra TTTT tốt cũng làm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh Và hơn hết, KSNB giúp doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nguồn lực hiện có, tiết kiệm được chi phí, đạt được mục tiêu trong hoạt động
Qiang Cheng và các cộng sự (2015) trong nghiên cứu của mình, đã kiểm tra mối liên hệ giữa KSNB và hiệu quả hoạt động bằng cách sử dụng mẫu lớn của các công ty (có báo cáo về KSNB theo SOX 404) trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2011 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khi KSNB đạt được tính hiệu lựcsẽ làm cho hiệu quả hoạt động của đơn vị cao hơn Điều này được thể hiện thông qua việc (i) làm giảm khả năng chiếm dụng nguồn lực doanh nghiệp và (ii) nâng cao chất lượng các báo cáo nội bộ, dẫn đến các quyết định hoạt động của đơn vị sẽ tốt hơn Đồng thời nghiên cứu cũng chứng minh được khi KSNB trong các doanh nghiệp nhỏ (đặc biệt là những doanh nghiệp có vốn hóa thị trường khoảng từ 75 triệu $ đến 250 triệu $) hiệu lực thì các doanh nghiệp này càng có lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh Như vậy, nghiên cứu này một lần nữa khẳng định KSNB có ảnh hưởng tích cực đến việc đạt được hiệu quả hoạt động của các đơn vị
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hoạt động tài chính của các đơn vị kinh doanh có hệ thống KSNB vững mạnh là tốt hơn so các đơn vị có hệ thống KSNB yếu Đồng thời các doanh nghiệp có KSNB yếu thì có giá trị thị trường thấp hơn (Tseng, C.Y, 2007; Chirwa, E.W, 2003; Greenley, O.E và cộng sự, 1997) IFAC (2012) khẳng định các tổ chức thành công sẽ biết tận dụng các cơ hội và đối phó được với các rủi ro thông qua việc ứng dụng có hiệu quả của KSNB, và từ đó cải thiện được hiệu quả hoạt động của tổ chức
Trên khía cạnh nghiên cứu về ảnh hưởng của từng yếu tố thuộc KSNB đến hiệu quả hoạt động của đơn vị có các nghiên cứu tiêu biểu như sau:
Trang 20Về MTKS : Theo Ramos (2004), MTKS là yếu tố quan trọng trong KSNB của một
tổ chức bởi nó cấu thành nên môi trường văn hóa của tổ chức đó MTKS có ảnh hưởng đến ý thức của mọi thành viên trong tổ chức và là yếu tố hạt nhân cho các yếu tố khác của KSNB Đồng quan điểm với Ramos, trong nghiên cứu của mình, Rae và Subramaniam (2006) cũng cho rằng con người là nhân tố chính điều khiển mọi hoạt động của tổ chức Tính liêm chính và giá trị đạo đức của mỗi cá nhân là yếu tố làm nên sự thất bại hay thành công của tổ chức Lightle Susan S và các cộng sự (2007) cũng thực hiện nghiên cứu về MTKS tại một công ty tư nhân chuyên về sản xuất và phân phối ở khu vực Bắc Mỹ Kết quả khảo sát khẳng định rằng hầu hết nhân viên nhận thức được các quy tắc ứng xử và đạo đức và tin rằng họ có được sự hướng dẫn đầy đủ để xác định hành vi thích hợp Điều này làm hiệu quả hoạt động của đơn vị tốt hơn
Về ĐGRR : Lannoye (1999) cho rằng mỗi một đơn vị, tổ chức đều có những phương pháp giải quyết vấn đề khác nhau, tuy nhiên các phương pháp đó phải thiết kế phù hợp để có thể quản lý được rủi ro thông qua việc xem xét cân đối giữa chi phí và lợi ích Armour, Mark (2000) trong nghiên cứu mình cũng cho rằng các doanh nghiệp cần xác định và phân loại được các loại rủi ro theo 2 khía cạnh là khả năng xảy ra và ảnh hưởngcủa nó đến mục tiêu của đơn vị Tác giả này cũng cho rằng ĐGRR là một quá trình liên tục mà thông qua đó các nhà quản lý có thể cải thiện được chất lượng của các quá trình hoạt động và việc quản lý doanh nghiệp của họ
Về HĐKS : Trong nghiên cứu của mình, Ramos (2004) cho rằng bằng việc thực hiện đồng thời và hàng loạt các HĐKS thì tình chính xác và đầy đủ của thông tin báo cáo cũng như sự ủy quyền của các giao dịch mới được đảm bảo Jenkinson (2008) đã đề cập HĐKS chính là hệ thống các thủ tục, chính sách mà các nhà quản lý thiết lập ra nhằm đảm bảo việc thực thi các chỉ thị của nhà quản lý Tác giả cũng khẳng định rằng đơn vị đạt được mục tiêu hoạt động một cách hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào việc các HĐKS được thiết lập và thực thi Khi khảo sát ở lĩnh vực tư nhân, Lenghel, Radu Dorin (2015) cũng đã khẳng định các HĐKS được thực hiện trong toàn bộ tổ chức, ở các cấp và ở mọi vị trí sẽ giúp đơn vị đạt được mục tiêu hoạt động
Về TTTT : Hevesi (2005) khi nghiên cứu về yếu tố TTTT đã cho rằng đây là yếu tố quan trọng, ảnh hưởngrất lớn đến tính hữu hiệu của KSNB trong một tổ chức Việc thông tin được truyền đạt trong tổ chức một các thông suốt và việc thu thập, tạo mới hay xử lý thông tin phải được kiểm định về tính tinh cậy và chính xác TTTT giúp các cá nhân trong tổ chức hiểu rõ chức năng và nhiệm vụ của mình Cũng cùng quan điểm trên, Steihoff (2001) cho rằng việc các đơn vị phải xây dựng các bảng mô tả vè công viêc cụ thể cho từng cá nhân và bộ phận Điều này sẽ giúp cung cấp các thông tin
Trang 21cần thiết khi có yêu cầu từ phía các nhà quản lý Ngoài ra tác giả cũng cho rằng các bộ phận thuộc đơn vị phải chuẩn bị các báo cáo tài chính và báo cáo nội bộ đầy đủ để cung cấp thông tin cho các nhà quản lý, phục vụ cho việc ra quyết định một cách kịp thời và chính xác
Về GS : Theo Muhota (2005), GS là hoạt động thường xuyên để xác định các thủ tục kiểm soát đã được thực hiện theo yêu cầu của nhà quản lý Và một hệ thống GS đạt hiệu lực khi nó chỉ ra được những khiếm khuyết của hệ thống KSNB và phản hồi kịp thời cho các nhà quản lý để tiến hành điều chỉnh (Calomiris và Khan,1991) Ionescu, Luminita (2011) trong nghiên cứu của mình cũng cho rằng GS được thiết kế để đảm bảo KSNB tiếp tục hoạt động và hiệu quả, đồng thời hệ thống KSNB cần được theo dõi để đánh giá chất lượng hoạt động theo thời gian Các tác giả cũng cho rằng phạm vi và tần
số của các đánh giá riêng biệt nên phụ thuộc chủ yếu vào việc ĐGRR và hiệu quả của các quy trình GS liên tục GS bao gồm các chính sách và thủ tục nhằm đảm bảo các kết quả của cuộc kiểm toán và các đánh giá khác được đầy đủ và kịp thời giải quyết
iv) Ảnh hưởng của KSNB tới chất lượng dịch vụ của một tổ chức
Ofer Barkai (2013) khi thực hiện nghiên cứu của mình tại các công ty viễn thông cho rằng chất lượng dịch vụ được đo lường thông qua các quy trình KSNB và từ
đó nó được chuyển đến các nhân viên trực tiếp tham gia dịch vụ khách hàng Nghiên cứu này tập trung nghiên cứu việc thực hiện các quy trình kiểm soát và quy trình cung cấp dịch vụ cho khách hàng tại các công ty viễn thông Kết quả nghiên cứu cho thấy KSNB làm gia tăng chất lượng dịch vụ trong các tổ chức này
Barry (2006) trong nghiên cứu của mình đã chứng minh rằng việc doanh thu của các khách sạn đạt được ở mức thấp là kết quả của chất lượng dịch vụ khách sạn kém Mặt khác việc đạt được doanh thu trong các khách sạn lại chịu ảnh hưởng lớn từ KSNB, trong đó HĐKS, TTTT và GS là các nhân tố có tác động tích cực đến việc gia tăng doanh thu của khách sạn (Mesfin Yemer cùng đồng sự, 2017) Vì vây, thể nhận thấy rằng, KSNB cũng có có ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tại các đơn vị này
Qua nghiên cứu các việc nghiên cứu ảnh hưởngcủa KSNB tập trung ở khu vực hoạt động vì lợi nhuận Các nghiên cứu đã làm rõ được mối quan hệ và ảnh hưởngcủa KSNB đến quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro, hiệu quả hoạt động cũng như đến chất lượng dịch vụ của các tổ chức Tuy nhiên các nghiên cứu này mới nghiên cứu ảnh hưởng của KSNB theo từng yếu tố và xem xét ảnh hưởng đơn lẻ đến hiệu lực, đồng thời cũng chưa có nghiên cứu ảnh hưởng của KSNB tới chất lượng dịch vụ trong khu
Trang 22vực công ích Do vậy việc nghiên cứu KSNB trong khu vực công ích sẽ được tác giả tập trung nghiên cứu
1.1.2.2 Ảnh hưởng của KSNB tới các hoạt động trong khu vực hoạt động phi lợi nhuận
i) Ảnh hưởng của KSNB tới quản trị tổ chức
Duncan et al (1999) sử dụng bảng câu hỏi để kiểm tra ảnh hưởng của quy mô
và thứ hạng của giáo hội đối với KSNB ở Hoa Kỳ Họ tìm thấy rằng điểm đánh giá của KSNB khác nhau đáng kể đối với quy mô của nhà thờ và cấu trúc chính trị, phân cấp của giáo hội
Bowrin (2004) kiểm tra các hệ thống KSNB ở các tổ chức tôn giáo Trinidad và Tobago bằng cách phỏng vấn các cán bộ tài chính của mỗi tổ chức tôn giáo Nghiên cứu cho thấy rằng các tổ chức tôn giáo thường có các hệ thống KSNB không đầy đủ,“chắp vá” và tính toàn diện của KSNB trên tất cả các tổ chức tôn giáo là ở mức trung bình
Gallagher và Radcliffe (2002) sử dụng một nghiên cứu điển hình để điều tra
lý do đằng sau 1 vụ gian lận của Bộ phận Ohio - Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ tại Hoa
Kỳ Các nhà nghiên cứu này đã đưa ra các khuyến nghị cho việc thiết kế các hệ thống KSNB với chất lượng cao hơn để phát hiện các gian lận đó càng sớm càng tốt Những khuyến nghị này bao gồm kiểm tra lý lịch của tất cả nhân viên, phân chia nhiệm vụ, hệ thống ủy quyền, thành lập ủy ban kiểm toán, GS hội đồng quản trị và kế hoạch phản hồi gian lận Các khuyến nghị được đề cập có tác dụng trong vệc quản trị tổ chức, giúp hạn chế và kiểm soát được các gian lận có thể xảy ra, gây ảnh hưởngđến hoạt động của tổ chức Mặc dù các đề xuất của nghiên cứu cũng áp dụng cho các tổ chức phi lợi nhuận khác, tuy nhiên KSNB của các trường ĐH không được kiểm tra
ii) Ảnh hưởng của KSNB tới hiệu quả hoạt động của các tổ chức phi lợi nhuận
Petrovits cùng các cộng sự (2011) trong một nghiên cứu cũng đã chỉ ra nguyên nhân và hậu quả của việc thiếu hụt KSNB trong các tổ chức phi lợi nhuận Bằng việc khảo sát 27.495 tổ chức từ thiện công cộng từ năm 1999 đến 2007, các nhà nghiên cứu
đã chứng minh rằng việc KSNB yếu trong các tổ chức này sẽ làm cho các hoạt động liên quan đến công tác tài trợ của cơ quan Chính phủ và các nhà tài trợ đối với các tổ chức này bị suy giảm O'Hare, P (2002) cũng cho rằng các tổ chức phi lợi nhuận cần
Trang 23được khuyến khích tạo ra các biện pháp KSNB hiệu quả để đảm việc lập các báo cáo tài chính được trung thực và chính xác
Kamaruddin cùng các cộng sự (2018) cho rằng việc thực hiện KSNB một cách hiệu quả là một trong những cơ chế để đảm bảo quản lý đúng cách đối với các tổ chức phi lợi nhuận Hồi giáo Dựa trên những phát hiện, có thể nói rằng các hoạt động KSNB rất quan trọng đối với các tổ chức phi lợi nhuận Hồi giáo vì chúng có ảnh hưởngđáng kể đến trách nhiệm tài chính Nghiên cứu cũng chứng minh tồn tại một mối quan hệ tích cực giữa KSNB và trách nhiệm tài chính trong các tổ chức phi lợi nhuận Hồi giáo Công khai tài chính cũng được nêu bật như là một trung gian kết nối giữa KSNB và trách nhiệm tài chính Bằng cách thực hiện đầy đủ các biện pháp KSNB, các tổ chức phi lợi nhuận Hồi giáo có thể giải quyết được các vấn đề về trách nhiệm tài chính đối của họ
Nghiên cứu KSNB trong các nhà thờ ở Lagos (Nigeria), Michael Olusegun Ojua (2016) cũng cho rằng KSNB có tầm quan trọng đối với hoạt động của các tổ chức này Nghiên cứu được thiết kế để điều tra vấn đề về kiểm soát và gian lận bằng cách đánh giá xem các nhà thờ có KSNB hiệu quả hay không và liệu điều đó có thể ngăn chặn gian lận hay không Dựa trên những phát hiện, nghiên cứu kết luận rằng mặc dù có sự hiện diện của KSNB nhưng để ngăn chặn các gian lận có thể xảy ra, các nhà thờ cần vẫn thiết lập các quy định về ủy quyền và kiểm soát nhân sự hiệu quả
iii) Ảnh hưởng của KSNB tới chất lượng dịch vụ của một tổ chức phi lợi nhuận
Norazlina Ilias cùng các cộng sự (2016) thực hiện nghiên cứu về chất lượng dịch vụ tại các cơ quan chính quyền địa phương ở Malaysia Kết quả nghiên cứu cho thấy tại những cơ quan chính quyền địa phương có KSNB hiệu quả sẽ có chất lượng dịch vụ cao hơn so với cơ quan chính quyền địa phương mà KSNB ít hiệu quả
Khalid (2010) phát hiện ra rằng việc KSNB được sử dụng như là chỉ số đo lường mức độ hoàn thành công việc (KPI) sẽ làm cho chất lượng dịch vụ của cơ quan chính quyền địa phương được cải thiện
Quan điểm này được tiếp tục chứng minh bởi Ilias và các cộng sự (2016) Các nhà nghiên cứu đã xác minh có tồn tại mối quan hệ tích cực, có ý nghĩa giữa KSNB và chất lượng dịch vụ trong chính quyền địa phương Malaysia
iv) Ảnh hưởng của KSNB tới CLGD trong các trường ĐH:
CLGDĐH được tạo nên từ nhiều thành phầnnhư chất lượng GV, đặc điểm SV, nhân viên, cơ sở vật chất, dịch vụ hỗ trợ, chương trình đào tạo, chất lượng giảng dạy,
Trang 24đánh giá khóa học, nguồn lực học tập, nghiên cứu khoa học, hợp tác với doanh nghiệp… CLGD không chỉ bị ảnh hưởng từ yếu tố như bên ngoài như thể chế chính trị, xã hội, văn hóa, tôn giáo, xu hướng phát triển kinh tế (Dobre, Iuliana, 2015), mà còn chịu ảnh hưởng từ các yếu tố bên trong các trường ĐH, mà cụ thể ở đây chính là KSNB Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng KSNB có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động, hiệu quả quản lý của các trường ĐH nói chung và ảnh hưởng đến CLGDĐH nói riêng
Khi xem xét dưới góc độ sự cần thiết của việc thiết kế, xây dựng và triển khai KSNB trong các trường ĐH nhằm giúp các trường ĐH đạt được mục tiêu đặt ra, một số nghiên cứu đã bước đầu đã hình thành được nền tảng lý thuyết cũng như dự kiến các nội dung cơ bản để thiết kế một hệ thống KSNB Tiêu biểu là nghiên cứu của Wang, Weixing (2010) Trong nghiên cứu của mình, Wang đã nhấn mạnh KSNB có quan hệ chặt chẽ với hiệu quả hoạt động của các trường ĐH, cao đẳng ở Trung Quốc Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng chìa khóa để thiết lập khung hệ thống KSNB của các trường ĐH
là việc xác định các mục tiêu KSNB và các yếu tố kiểm soát Mục tiêu KSNB được đề cập là tính hiệu lực, hiệu quả; an toàn, toàn vẹn của tài sản; tính có thực, đầy đủ, hữu dụng của thông tin kế toán, thông tin quản lý và việc tuân thủ luật, quy định quốc gia Nghiên cứu này cũng đã cung cấp một thiết kế sơ bộ cho hệ thống KSNB trong các trường cao đẳng nhằm đạt được mục tiêu hoạt động của khối trường này
Trên khía cạnh nghiên cứu các biện pháp để cải thiện KSNB nhằm đạt hiệu quả quản lý chất lượng của các trường ĐH, Popescu và các cộng sự(2012) khi thực hiện nghiên cứu của mình tại các trường ĐH ở Romania đã chỉ ra mối liên hệ giữa KSNB
và quản lý chất lượng ở các trường ĐH ở nước này Nghiên cứu dựa trên cơ sở dữ liệu
từ các tài liệu về tình hình thực hiện KSNB trong các trường ĐH khu vực công Tác giả đã phân tích các yêu cầu của quy định quốc gia về các hệ thống KSNB cho các tổ chức công cộng cũng như các yêu cầu về đảm bảo chất lượng trong GDĐH Từ đó chỉ
ra các giải pháp cải thiện hệ thống KSNB trong các trường ĐH công ở Romania Một trong những giải pháp đó là dựa trên mối liên hệ giữa KSNB và quản lý chất lượng Tác giả khuyến nghị rằng cần xây dựng một khuôn khổ chung để cải thiện cấu trúc và công cụ của KSNB cho các trường ĐH đồng thờicân nhắc về việc tích hợp hệ thống quản lý rủi ro và quản lý chất lượng để đạt hiệu quả quản lý cao nhất
Dorcas Titilayo Adetula và các cộng sự (2016) khi nghiên cứu về KSNB tại 4 trường ĐH tư thục ở Nigeria đã phát hiện ra rằng nhiều thành phần của hệ thống KSNB được đặt đúng vị trí, ngoại trừ đơn vị kiểm toán nội bộ của các tổ chức đó không độc lập Do đó, nghiên cứu khuyến nghị đơn vị kiểm toán nội bộ nên có một bộ phận độc lập và người đứng đầu bộ phận đó nên báo cáo trực tiếp lên cấp quản lý cao
Trang 25nhất trong tổ chức nhằm đảm bảo cho KSNB đạt hiệu lực, giúp các trường ĐH đạt được mục tiêu hoạt động
Tsedal Lemi (2015) thực hiện đánh giá hiệu quả của KSNB tại 5 trường ĐH công lập ở Ethiopia Kết quả nghiên cứu cho thấy, theo các các thống kê mô tả, giá trị trung bình của từng thành phần của KSNB nhỏ hơn 4 Nghiên cứu cũng chỉ ra KSNB trong các trường ĐH không đủ hiệu quả để đạt được các mục tiêu kiểm soát mà các trường ĐH đã đề ra Đặc biệt việc ĐGRR chỉ là lý thuyết và là vấn đề mới đối với các trường ĐH
Tại Trung Quốc, Dan Xia và cộng sự (2017) cũng cho rằng KSNB của các trường cao đẳng và ĐH là các phương pháp, thủ tục và biện pháp phòng ngừa và kiểm soát rủi ro của các hoạt động trong quản lý nội bộ của các trường cao đẳng và ĐH KSNB nhằm đảm bảo hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy và các công việc liên quan khác, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, thúc đẩy tốt hơn sự phát triển lành mạnh và bền vững của các trường cao đẳng và ĐH
Trên khía cạnh tài chính ở các trường ĐH, Francis và cộng sự (2018) trong nghiên cứu của mình đã xem xét hệ thống KSNB như một công cụ để quản lý quỹ hiệu quả của các trường ĐH ở bang Bayelsa (Nigeria) Do sự suy thoái kinh tế đã khiến hoạt động của các trường ĐH bị ảnh hưởng, đội ngũ GV đình công, cơ sở vật chất thiết bị không đảm bảo cho công tác dạy học và nghiên cứu,… Xuất phát từ thực trạng trên, hệ thống KSNB như một cơ chế quản lý quỹ hiệu quả của các trường ĐH ở bang Bayelsa Nghiên cứu đã phân tích ảnh hưởng của hệ thống KSNB đối với hiệu quả quản lý quỹ tại các trường ĐH bang Bayelsa và khuyến nghịmột số biện pháp khắc phục sự rủi ro của việc quản lý quỹ yếu kém,đề xuất phương pháp kiểm toán nội bộ để quản lý nguồn tài chính trong các trường ĐH nhằm đạt được mục tiêu của các tổ chức đó Các nhà nghiên cứu cũng đề nghị GS các quy trình KSNB đã được đặt ra
Cũng nghiên cứu về khía cạnh này Holter và các cộng sự (2014) khi thực hiện nghiên cứu về KSNB ở các trường ĐH và cao đẳng ở Mỹ cho rằng với việc tăng học phí còn nhanh hơn tốc độ lạm phát thì việc kiểm soát chi phí tại các trường ĐH ngày càng được đặc biệt quan tâm Nghiên cứu đề cập đến một số giải pháp điều chỉnh KSNB nhằm đạt được hiệu quả về việc tiết kiệm chi phí Ngoài ra tác giả cũng đề xuất một trình tự để đánh giá các thủ tục hành chính của các trường ĐH.Việc tự đánh giá KSNB nhằm tìm ra các quá trình hoạt động kém hiệu quả, giảm thiểu các rủi ro xảy ra và tìm cách tiết kiệm chi phí
Trang 26Trên khía cạnh mội trường kiểm soát trong các tổ chức GDĐH, Ghita và cộng sự (2009) cho rằng muốn các trường ĐH hoạt động hiệu quả tối ưu thì phải dựa trên một khung KSNB tích hợp, đòi hỏi MTKS thích hợp để phát huy các giá trị đạo đức, minh bạch, các tiêu chuẩn thực hành tốt và thiết lập trách nhiệm theo các chiến lược và chính sách được ban quản lý cấp cao phê duyệt
Trên khía cạnh quản lý rủi ro trong các tổ chức GDĐH, Cenar, Iuliana(2016) đã
đề cập đến vấn đề quản lý KSNB liên quan đến các khoa của trường ĐH, về sự cần thiết của việc quản trị rủi ro liên quan đến các hoạt động khác nhau cũng như sự cần thiết phải kiểm soát chúng bằng cách sử dụng nhiều kỹ thuật quản lý nhằm duy trì rủi
ro ở mức cho phép
Fr Ninik Yudianti và cộng sự (2015) đã đánh giá việc thực hiện KSNB và quản lý rủi ro tại các trường ĐHNCL nhằm tìm ra các giải pháp đảm bảo việc quản trị tốt các trường ĐH để nâng cao chất lượng quản lý đối với GDĐH tư thục Dữ liệu trong nghiên cứu được thu thập từ các nhà lãnh đạo của 117 trường ĐH tư thục tại Yogyakarta, Indonesia Phân tích định tính và hồi quy mô tả được thực hiện để phân tích dữ liệu Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các trường ĐH tư thục đều có đủ thông tin và kiến thức trong việc thực hiện KSNB và quản lý rủi ro nhằm quản trị tốt các trường ĐH Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy KSNB ảnh hưởng tích cực đến việc thực hiện quản trị trường
ĐH
Trên khía cạnh của HĐKS trong các tổ chức giáo dục, Morariu và cộng sự (2004) cho rằng KSNB trong các tổ chức giáo dục bao gồm tất cả các hình thức kiểm soát được thực hiện (trong đó có kiểm toán nội bộ) và thiết lập bởi ban quản lý theo các mục tiêu và quy định pháp lý nhằm quản lý hiệu quả các quỹ công HĐKS bao gồm ít nhất ba yếu tố thiết yếu: kiến thức, sự quan sát và so sánh (Teiusan, 2009)
Trên khía cạnh nghiên cứu mối quan hệ giữa KSNB và hiệu quả hoạt động của các trường ĐH, các nghiên cứu đã chứng minh rằng KSNB có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các trường ĐH nói chung và hiệu quả của từng hoạt động trong các trường ĐH nói riêng Tiêu biểu trong các nghiên cứu này có nghiên cứu của Duh Rong-ruey và các cộng sự (2014) Trong nghiên cứu của mình, Duh, Rong-ruey cùng các đồng sự đã nhấn mạnh nâng cao hiệu quả hoạt động là một trong những mục tiêu của KSNB Các tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa việc thực hiện KSNB và hiệu quả hoạt động (hiệu quả giảng dạy và hiệu quả nghiên cứu) của các trường ĐH Sử dụng dữ liệu từ các câu hỏi khảo sát và thực tế, nghiên cứu này đo lường việc thực hiện KSNB và áp dụng phân tích toàn bộ dữ liệu để ước lượng hiệu quả hoạt động của
99 trường ĐH ở Đài Loan Kết quả hồi quy OLS cho thấy việc KSNB có mối liên hệ
Trang 27tích cực nhưng không đáng kể với hiệu quả hoạt động của các trường ĐH cũng như hiệu quả giảng dạy, nhưng có mối liên hệ tiêu cực và có ý nghĩa với hiệu quả nghiên cứu Đồng thời với việc phân chia mẫu vào các trường ĐH công và tư, nghiên cứu đã chỉ ra rằng đối với các trường ĐH tư, có mối liên hệ tích cực, có ý nghĩa giữa việc triển khai KSNB và hiệu quả giảng dạy nhưng có quan hệ tiêu cực với hiệu quả nghiên cứu
Natalia Kirchner Azevedo và các cộng sự (2010) khi thực hiện khảo sát tại năm
cơ sở của ĐH Liên bang Santa Catarina, bằng phương pháp nghiên cứu định tính và thu thập dữ liệu cơ sở, nghiên cứu đã chỉ ra các nhà quản lý đã nhận thấy tầm quan trọng của KSNB Nghiên cứu cũng nhấn mạnh việc cần quan tâm đến KSNB bởi KSNB nền tảng
để hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu ở các trường ĐH Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đối với các cơ sở của ĐH Liên bang Santa Catarina, chỉ có 3/5 đơn vị được khảo sát
có KSNB và KSNB ít được thực hiện ở bộ phận nghiên cứu
Trên góc độ nghiên cứu mối quan hệ giữa KSNB và CLGDĐH, bằng phương pháp nghiên cứu định tính, một số nghiên cứu đã chứng minh KSNB có ảnh hưởng đến CLGDĐH Tiêu biểu trong những nghiên cứu đó là nghiên cứu của Suwito Eko Pramono và các cộng sự (2018) Nghiên cứu này đã nhận định rằng việc sử dụng bộ tiêu chuẩn đánh giá CLGDĐH của AUN-QA nhằm nâng cao CLGD của các trường
ĐH Và các chiến lược của ĐH Negeri Semarang để đạt được chứng chỉ AUN-QA đó là: (1) thay đổi tư duy và văn hóa làm việc dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế, (2) sắp xếp lại năng lực quản lý và nhân lực theo tiêu chuẩn giáo dục và đào tạo quốc tế, (3) sắp xếp lại quản lý các trường ĐH, (4) tăng cường mối quan hệ với các tổ chức trong khu vực và quốc tế, và (5) tăng cường KSNB Như vậy, trong một khía cạnh của nghiên cứu, nhóm tác giả đã nhấn mạnh tăng cường KSNB là một trong những biện pháp nhằm nâng cao CLGD tại các trường ĐH
Cũng đánh giá KSNB trên góc độ ảnh hưởng đến CLGDĐH, nghiên cứu của Habib Maryam Abdullahi và cộng sự (2016) đã chỉ ra rằng hệ thống KSNB trong các trường ĐH ở Nigeria có tồn tại nhưng vận hành và hoạt động không hiệu quả Sự không hiệu quả này dẫn đến chất lượng của đội ngũ GV không đảm bảo, hiệu quả học tập của
SV không cao và sự yếu kém trong quá trình quản lý các quỹ và nguồn vốn của nhà trường Thông qua việc thu thập và xử lý dữ liệu, nghiên cứu này đảm bảo rằng, KSNB có hiệu quả sẽ là công cụ để nâng cao CLGD tại các trường ĐH ở Nigeria
Như vậy, trên khía cạnh nghiên cứu ảnh hưởng của KSNB tới các hoạt động trong khu vực hoạt động phi lợi nhuận, các nghiên cứu đã nêu được vai trò và yêu cầu cần thiết phải thực hiện KSNB trong các tổ chức phi lợi nhuận nhằm giúp các tổ chức
Trang 28này đạt được mục tiêu hoạt động của mình, đồng thời cũng làm rõ được ảnh hưởng của KSNB tới hiệu quả hoạt động của các tổ chức phi lợi nhuận Tuy nhiên các nghiên cứu vẫn chưa nghiên cứu các bộ phận cấu thành hoàn chỉnh ảnh hưởng tới chất lượng nói chung trong một đơn vị phi lợi nhuận, đồng thời cũng còn tồn tại những quan điểm khác nhau trong đánh giá ảnh hưởng của KSNB đến các hoạt động của tổ chức phi lợi nhuận Trong nghiên cứu về KSNB ở các trường ĐH, các nghiên cứu đã chỉ ra KSNB
là cần thiết cho việc đảm bảo hiệu quả hoạt động cũng như CLGDĐH của các trường
ĐH KSNB có ảnh hưởng đến từng hoạt động của các trường ĐH nói riêng và CLGDĐH nói chung Đặc biệt, đối với các nghiên cứu được thực hiện ở các trường
ĐH cao đẳng đều cho rằng KSNB làm các trường hoạt động hiệu quả hơn và đạt được các mục tiêu của nhà trường Tuy nhiên, trong một số hoạt động của trường thì KSNB lại có ảnh hưởng ngược chiều đến hiệu quả hoạt động đó (như hoạt động nghiên cứu
mà các tác giả Duh, Rong-ruey (2014) hay Natalia Kirchner Azevedo (2010) đã đề cập…) Ngoài ra các nghiên cứu cũng cho rằng KSNB có ảnh hưởng đến việc nâng cao CLGDĐH Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu định tính ảnh hưởng của KSNB đến CLGDĐH hoặc nghiên cứu KSNB ảnh hưởng đến từng thành phần của CLGDĐH, từng hoạt động của các trường ĐH mà chưa có nghiên cứu nào được thực hiện để đánh giá mức độ ảnh hưởng của KSNB đến CLGDĐH một cách tổng thể.Các khảo sát này đa phần được thực hiện ở các quốc gia có nền giáo dục tương đối phát triển và kết quả khảo sát cũng thay đổi khi nó được áp dụng trong điều kiện của từng quốc gia Vì vậy, việc nghiên cứu mối liên hệ giữa KSNB với CLGDĐH
ở Việt Nam cùng cần được quan tâm nghiên cứu
1.1.2.3 Nghiên cứu về KSNB tới các hoạt động của các các tổ chức tại Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu ứng dụng của KSNB trong một số lĩnh vực cụ thể cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trên góc độ hoàn thiện và xây dựng hệ
thống KSNB, Ngô Trí Tuệ và các công sự (2004) trong đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Xây
dựng hệ thống KSNB với việc tăng cường quản lý tài chính tại Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam” đã nghiên cứu đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, từ đó đề xuất thiết kế và cách thức vận hành hệ thống KSNB hiệu quả Hay một số đề tài nghiên cứu KSNB trên góc độ phân tích những đặc điểm của hệ thống KSNB, như Nguyễn Thị
Phương Hoa với “Đặc điểm hệ thống KSNB trong các tập đoàn kinh tế”…
Trong một số nghiên cứu thuộc nhóm đề tại luận án tiến sỹ cũng đã thực hiện khảo sát về KSNB, tuy nhiên không phải trong phạm vi một đơn vị cụ thể mà được mở rộng trong một ngành, một tổng công ty Với việc nghiên cứu này, các tác giả đã lập
Trang 29phiếu khảo sát các đơn vị để đánh giá được thực trạng hệ thống hệ thống KSNB trong các đơn vị thành viên, từ đó nêu giải pháp nhằm hoàn thiện cho cả hệ thống Có thể kể đến luận án Tiến sỹ của tác giả Phạm Bình Ngọ (2011) về “Tổ chức hệ thống KSNB
trong các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ quốc phòng”, luận án Tiến sỹ của tác giả
Nguyễn Thị Lan Anh (2014) về “Hoàn thiện Hệ thống KSNB tại tại Tập đoàn Hoá
chất Việt Nam ”, luận án Tiến sỹ của tác giả Bùi Thị Minh Hải (2012) “Hoàn thiện hệ
thống KSNB trong các doanh nghiệp may mặc Việt Nam”; luận án Tiến sỹ của tác giả Đinh Hoài Nam (2016) về “Hoàn thiện hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp trong
Tổng công ty Đầu tư và phát triển nhà đô thị” Điểm chung của các nghiên cứu trên
là đều kế thừa các nội dung trong Báo cáo COSO 1992 và IFAC về khái niệm, các thành tố cấu thành KSNB, các nguyên tắc để đánh giá KSNB trong các đơn vị… Từ
đó, vận dụng vào điều kiện, đặc điểm, lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện KSNBtrong các đơn vị mà tác giả nghiên cứu Các nghiên cứu này chủ yếu được thực hiện ở các tập đoàn kinh tế như dầu khí, may mặc, hóa chất, bưu chính viễn thông,…Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu nào được thực hiện trong môi trường GDĐH, đặc biệt là nhóm trường ĐHNCL ở Việt Nam Bên cạnh những mặt đạt được, các luận án mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát thực trạng KSNB bằng bảng hỏi, để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện KSNB chứ chưa xây dựng được các thang đo cho KSNB, và cũng chưa chỉ rõ được ảnh hưởng của KSNB đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Ngoài ra có luận án tiến sỹ của tác
giả Nguyễn Tố Tâm (2014) “Hoàn thiện tổ chức kiểm soát đối với tăng cường chất
lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, phân tích dữ liệu bằng phầm mềm Eviews, luận án đã lượng hóa được những ảnh hưởng của KSNB đến chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Tuy nhiên luận án mới chỉ đề cập đến một mục tiêu của KSNB là đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, và các giải pháp được đưa ra chưa có tính toàn diện để đảm bảo các mục tiêu của KSNB Đây cũng chính là một khoảng trống nghiên cứu mà những nghiên cứu sau có thể tiếp tục thực hiện
Đối với lĩnh vực các trường ĐH, cao đẳng ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu
về KSNB Các đề tài nghiên cứu này chủ yếu được thực hiện ở các trường ĐH riêng lẻ, không có tính khái quát cao và chủ yếu ở cấp độ luận văn thạc sỹ.Các nghiên cứu này tập trung đi vào phân tích thực trạng KSNB ở các trường cao đẳng, ĐH Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB trong các trường này Tiêu biểu trong các nghiên cứu
đó có Nguyễn Thị Thanh Thủy (2014) với đề tài “Hoàn thiện hệ thống KSNB tại các trường
Trang 30cao đẳng ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, Nguyễn Thị Thu Hậu (2014)
vời đề tài “Hoàn thiện hệ thống KSNB tại trường ĐH Bạc Liêu”…
Ngoài ra còn có một số bài báo nghiên cứu về hệ thống KSNB trong các trường
ĐH Trong số đó tiêu biểu có nghiên cứu của Đinh Thế Hùng và các cộng sự (2013) thực hiện ở các trường ĐH công lập ở Việt Nam Trong nghiên cứu này các tác giả đề cập đến các quan điểm khác nhau về KSNB, các yếu tố cơ bản cần thiết của hệ thống kiểm soát và nhấn mạnh việc để KSNB hoạt động hiệu quả thì các yếu tố trong hệ thống đó cần phải hoạt động một cách đồng bộ và hữu hiệu
Đặc điểm chung của các công trình nghiên cứu này là tập trung vào những vấn đề liên quan đến KSNB như việc thiết lập mô hình kiểm soát, nghiên cứu KSNB trong từng ngành, từng đơn vị cụ thể, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB để tăng cường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát thực trạng KSNB bằng bảng hỏi, để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện KSNB chứ chưa xây dựng được các thang đo cho KSNB, và cũng chưa chỉ rõ được ảnh hưởng của KSNB đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Và trong lĩnh vực GDĐH ở Việt Nam cũng có rất ít nghiên cứu nào khảo sát về vấn đề này Ngoài ra, các nghiên cứu về KSNB trong các trường ĐH cao đẳng ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở khảo sát thực trạng KSNB, chưa có nghiên cứu nào làm rõ được nội hàm ảnh hưởng của KSNB đến CLGDĐH tại các trường ĐHNCL ở Việt Nam
1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của tác giả
Qua quá trình nghiên cứu và đánh giá các công trình nghiên cứu từ trước đến nay về KSNB, kết hợp với xu hướng phát triển của GDĐH trên thế giới, tác giả nhận thấy việc tăng cường sự hữu hiệu của KSNB mang lại nhiều lợi ích cho CLGDĐH của các trường ĐH Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá ảnh hưởng của KSNB đến các tổ chức (vì lợi nhuận và phi lợi nhuận) trên các góc độ như quản trị tổ chức, quản trị rủi ro, hiệu quả hoạt động, chất lượng dịch vụ của
tổ chức,… Trong các nghiên cứu KSNB trong các trường ĐH, các nghiên cứu cũng chỉ
ra rằng KSNB có vai trò quan trọng trong các tổ chức GDĐH, có ảnh hướng đến từng hoạt động (như hoạt động giảng dạy, hoạt động nghiên cứu) cũng như có tác dụng nâng cao CLGD tại các trường ĐH Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu cụ thể nào đi sâu vào tìm hiểu ảnh hưởng của KSNB đến CLGDĐH trong bối cảnh ở các trường ĐHNCL ở Việt Nam
Như vậy, với việc nghiên cứu tổng thể các công trình trong và ngoài nước và việc xác định khoảng trống trong nghiên cứu, có thể nhận thấy rằng hiện chưa có một
Trang 31công trình nào nghiên cứu trực tiếp ảnh hưởng của KSNB đến CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam
Trên quan điểm kế thừa và tiếp tục phát triển những công trình nghiên cứu trước đây, tác giả dự kiến tiếp tục nghiên cứu về KSNB cũng như các nghiên cứu về mối liên hệ giữa KSNB với CLGDĐH trong các trường ĐH, từ đó chỉ ra mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố kiêm soát nội bộ đến CLGDĐH, nhằm đề xuất những khuyến nghị phù hợp để tăng cường KSNB nhằm đạt CLGDĐH theo tiêu chuẩn hiện hành
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Giải thích ảnh hưởng của các yếu tố thuộc KSNB đến CLGDĐH cũng như đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đó đến CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam Từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện KSNB để nâng cao CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam
- Mục tiêu cụ thể:
(1) Xác định những bộ phận cấu thành CLGDĐH của các trường ĐHNCL theo cách tiếp cận dưới góc độ là các nhà quản lý và những người hoạt động trong lĩnh vực GDĐH
(2) Xác định những bộ phận cấu thành KSNB của các trường ĐHNCL, để xem xét tác động tới CLGDĐH
(3) Xây dựng mô hình đánh giá ảnh hưởng của KSNB đến CLGDĐH của các trường ĐHNCL
(4) Đo lường mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố thuộc KSNB tác động đến CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam
(5) Đề xuất các giải pháp hoàn thiện KSNB để nâng cao CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu cụ thể đã đặt ra, những câu hỏi nghiên cứu sau giúp xác lập quy trình nghiên cứu của luận án:
Câu hỏi số 1: Đánh giá về CLGDĐH của các trường ĐHNCL theo cách tiếp cận dưới góc độ là các nhà quản lý và hoạt động trong lĩnh vực GDĐH?
Câu hỏi số 2: Ảnh hưởng của KSNB đến CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam như thế nào?
Câu hỏi số 3: Những giải pháp nào giúp hoàn thiện KSNB để nâng cao CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam
Trang 321.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của KSNB tới CLGDĐH ở các trường ĐHNCL ở Việt Nam Việc phân chia các yếu tố cấu thành KSNB thành các nhóm yếu tố và thực hiện nghiên cứu dựa trên Khung KSNB theo quan điểm COSO Dựa trên quan điểm này, những yếu tố cấu thành KSNB trong các trường ĐHNCL ở Việt Nam được phân chia thành những nhóm cụ thể sau:(1) MTKS; (2) ĐGRR; (3) HĐKS; (4) TTTT; (5) GS Đối với CLGDĐH, các yếu tố thực hiện nghiên cứu dựa trên khung của AUN-QA (2015) Một số yếu tố cụ thể thuộc đối tượng nghiên cứu được điều chỉnh trên cơ sở đặc thù của các trường ĐHNCL ở Việt Nam và các văn bản của BGD&ĐT Việt Nam (2013)
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Thứ nhất, về phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi
số lớn đối với các trường ĐHNCL ở Việt Nam đang hoạt động Với số lượng các trường ĐHNCL ở Việt Nam có những biến động qua các năm từ 2014 tới 2017 và cập nhật những thông tin liên quan có ảnh hưởng tới nghiên cứu (theo đánh giá của tác giả) của năm 2018, tác giả có xu hướng tập trung vào nghiên cứu ở những đơn vị không có
sự thay đổi về tổ chức và hoạt động lớn Tính đến thời điểm thực hiện và công bố các công trình nghiên cứu liên quan, có 26 trường ĐHNCL ở Việt Nam được thực hiện khảo sát
Thứ hai, về phạm vi thời gian:Trong quá trình thực hiện, một số kết quả khảo
sát cho quá trình nghiên cứu được thực hiện từ năm 2014 tới năm 2018 Tuy nhiên, khoảng thời gian nghiên cứu chủ yếu mà tác giả thực hiện liên quan tới đánh giá các yếu tố của KSNB ảnh hưởng đến CLGDĐH là trong năm 2017
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu
Hiện nay, trong nghiên cứu khoa học, có 3 phương pháp nghiên cứu được sử dụng là nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng và nghiên cứu hỗn hợp (Creswell
và cộng sự, 2003) Trong nghiên cứu của mình, Creswell và Clark (2007) cho rằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp là phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở hệ nhận thức thực dụng kết hợp với việc ứng dụng các sản phẩm khoa học nhằm giải quyết các vấn đề trong hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là loại hình nghiên cứu sử dụng các
kỹ thuật, phương pháp của cả hai trường phái nghiên cứu định lượng và nghiên cứu
Trang 33định tính Có bốn dạng thiết kế trong phương pháp hỗn hợp: thiết kế hỗn hợp đa phương pháp; thiết kế hỗn hợp gắn kết; thiết kế hỗn hợp giải thích và thiết kế hỗn hợp khám phá Thiết kế hỗn hợp khám phá được tiến hành hai hay nhiều bước trong đó định tính là phương pháp sử dụng để khám phá các hiện tượng khoa học cần nghiên cứu, từ đó dùng định lượng để chứng minh và khẳng định kết quả định tính Trong nghiên cứu này, người nghiên cứu sử dụng mô hình thiết kế hỗn hợp khám phá
Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa KSNB và CLGDĐH, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính bằng cách thực hiện phỏng vấn sâu các chuyên gia nhằm xác định lại một lần nữa những yếu tố nào trong KSNB mà Báo cáo COSO đề cập đang được sử dụng để đo lường KSNB trong các trường ĐHNCL ở Việt Nam, yếu tố nào không phù hợp với bối cảnh Việt Nam đồng thời khám phá thêm các yếu tố mới chỉ xuất hiện trong các trường ĐHNCL ở Việt Nam mà không có trong báo cáo Tương tự với cách làm như vậy để xác định các yếu
tố đo lường CLGDĐH trong các trường ĐHNCL ở Việt Nam
Từ kết quả nghiên cứu định tính, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu Tiếp theo, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để
xử lý dữ liệu và kiểm định các giải quyết đã đề ra Việc kết hợp 2 phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng sẽ giúp tác giả nhìn nhận rõ ràng, tổng thể và
có tính logic hơn vấn đề đang nghiên cứu hơn là việc áp dụng từng phương pháp riêng
lẻ Vì vậy, theo tác giả, phương pháp nghiên cứu thiết kế hỗn hợp khám phá là phương pháp nghiên cứu phù hợp để thực hiện luận án này
1.4.2 Thiết kế nghiên cứu và thu thập dữ liệu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp nên quy trình nghiên cứu của luận án cũng bao gồm các bước có sự kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính Các bước nghiên cứu được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 34Hình 1.1: Các bước thực hiện nghiên cứu
Nguồn: Tác giả tự xây dựng
Bước 1: Nghiên cứu tổng quan
Để xây dựng tổng quan nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm nhằm tái hiện lại toàn cảnh bức tranh nghiên cứu về vấn đề mà luận án đang giải quyết: phân tích và tổng hợp thông tin thứ cấp từ các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu trong nước và quốc tế Tác giả tiến hành thu thập, phân tích, so sánh và đánh giá các nghiên cứu về KSNB, các yếu tố cấu của KSNB và mối liên hệ giữa KSNB với CLGDĐH Các nghiên cứu trước sẽ được phân loại theo quan điểm và khuynh hướng của các tác giả, xác định những vấn đề đã được thống nhất, những vấn
đề còn có sự khác biệt trong quan điểm và các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu thêm nhằm xác định khoảng trống để thực hiện nghiên cứu
Bước 2: Dữ liệu sơ cấp được thu thập chủ yếu qua phỏng vấn trực tiếp là chủ
yếu Nghiên cứu định tính theo phương thức phỏng vấn sâu với các chuyên gia có trình
Vấn đề nghiên cứu
Bước 1: Nghiên cứu tổng quan và cơ sở lý thuyết nhằm xác định
mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Xây dựng bảng hỏi định tính
Điều chỉnh mô hình
Bước 2:
Nghiên cứu định tính
Phỏng vấn chuyên gia
Kiểm định kết quả khảo sát
định tính
Bước 3:
Nghiên cứu định lượng
Xây dựng bảng câu hỏi
Xử lý dữ liệu định lượng Thực hiện khảo sát
Bước 4: Xây dựng và kiểm định mô hình hồi quy
Bước 5: Phân tích - Bàn luận kết quả - Khuyến nghị
Trang 35độ và nhiều kinh nghiệm, đã làm việc, họat động lâu năm trong lĩnh vực giáo dục bao gồm: (1) Ban giám hiệu, (2) Các trưởng phòng ban trong các trường ĐHNCL ở Việt Nam; (3) Các chuyên gia thuộc Bộ giáo dục; (4) Các chuyên gia thuộc Hiệp hội các trường ĐHNCL ở Việt Nam Các câu hỏi khảo sát chủ yếu được thiết kế hướng việc đánh giá về CLGDĐH của các trường ĐHNCL theo cách tiếp cận dưới góc độ là các nhà quản lý và hoạt động trong lĩnh vực GDĐH và xem xét ảnh hưởng của KSNB đến CLGDĐH của các trường ĐHNCL như thế nào Nội dung phỏng vấn sẽ đề cập tới những vấn đề theo các yếu tố cấu thành KSNB và CLGDĐH Nội dung câu hỏi và trả lời cụ thể được trình bày trong các Chương 4 của luận án
Bước 3: Từ kết quả của bước 2, tác giả tiến hành kiểm định kết quả khảo sát
định tính, xây dựng phiếu khảo sát sơ bộ Từ đó tiến hành điều chỉnh mô hình, các biến trong mô hình, xây dựng bảng hỏi phù hợp để tiến hành khảo sát trên phạm vi rộng và số lượng lớn và tiến hành xử lý dữ liệu định lượng Đối tượng khảo sát thực hiện ở bước này bao gồm: (1) Chuyên gia quản lý Nhà nước về GDĐH; (2) Chuyên gia thuộc Hiệp hội các trường ĐH - Cao đẳng Việt Nam; (3) Ban giám hiệu; (4) Trưởng/phó phòng chức năng, trung tâm; (5) Trưởng/phó khoa chuyên ngành; (6) GV; (7) Nhân viên
Bảng hỏi được thiết kế chia thành 2 phần: Phần đầu được xây dựng để thu thập những thông tin về vị trí công việc của đối tượng được hỏi, về trường ĐH đang được khảo sát gắn với đối tượng được phỏng vấn cụ thể; Phần thứ hai được phân chia theo 5 thành phần cấu thành KSNB theo Khung kiểm soát của COSO và các yếu
tố cấu thành CLGDĐH Kết quả khảo sát được tập hợp và đưa vào bảng Excel 2010
để xử lý số liệu và tính toán
Bước 4: Xây dựng và kiểm định mô hình hồi quy: Ở bước này, bằng phương
pháp phân tích mô hình hồi quy bội (Multiple regression) luận án sẽ xác định được những yếu tố thực sự ảnh hưởng đến CLGDĐH, đo lường ảnh hưởng của các yếu tố đó đến CLGDĐH ở các trường ĐHNCL ở Việt Nam Kết quả bước 5 sẽ trả lời câu hỏi
nghiên cứu: Ảnh hưởng của KSNB đến CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam
như thế nào?
Bước 5: Phân tích - Bàn luận kết quả - Khuyến nghị: Là bước cuối cùng
của quá trình nghiên cứu Với kết quả thu được ở bước 4, tác giả tiến hành thảo luận về kết quả, từ đó đề xuất các khuyến nghị và giải pháp hoàn thiện các yếu tố của KSNB nhằm nâng cao CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam Kết
Trang 36quả bước 5 sẽ trả lời câu hỏi nghiên cứu: Những giải pháp nào giúp hoàn thiện
KSNB để nâng cao CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam
1.4.3 Dữ liệu khảo sát
Như đã đề cập trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của KSNB đến CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam và thời gian nghiên cứu thực hiện từ năm 2014-2018 Hiện nay các trường
ĐH ở Việt Nam được phân thành 2 nhóm bao gồm các trường ĐH công lập và các trường ĐHNCL Trong nghiên cứu của mình, tác giả giới hạn nghiên cứu trong phạm vi các trường ĐHNCL Tính đến thời điểm năm 2018, khi tiến hành khảo sát đại trà, Luận án xác định khảo sát gồm 26 trường ĐHNCL thuộc 3 miền trên
cả nước gồm miền Bắc, Trung và Nam Đây là các trường đã thực hiện việc tự kiểm định CLGDĐH theo các tiêu chuẩn của BGD&ĐT Một số trường đã đạt
“Tiêu chuẩn CLGD” của Hội đồng Kiểm định CLGD Việt Nam
Trang 37Bảng 1.1 Danh sách các trường ĐH thực hiện khảo sát
25 ĐH Ngoại ngữ Tin học thành phố Hồ Chí Minh
26 ĐH Kinh tế Tài chính thành phố Hồ Chí Minh
Nguồn: Tác giả thống kê
Trang 38Về đối tượng khảo sát trong nghiên cứu định tính
Phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia được dùng để thu thập các thông tin phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở tìm hiểu và đánh giá mức độ chuyên sâu của các chuyên gia trong lĩnh vực GDĐH, tác giả thiết lập một danh sách các chuyên gia dự kiến sẽ được lựa chọn để tham gia phỏng vấn Từ đó tiến hành trao đổi
về mục đích nghiên cứu và kế hoạch phỏng vấn với các chuyên gia nhằm xác định danh sách các chuyên gia đồng ý tham gia phỏng vấn (Danh sách gồm 10 chuyên gia)
Để tăng tính khoa học và khách quan của kết quả nghiên cứu, các đối tượng được khảo sát phải đảm bảo các tiêu chí về trình độ chuyên môn và thâm niên hoạt động trong lĩnh vực GDĐH, có nhiều nghiên cứu và am hiểu sâu về KSNB trong các trường ĐHNCL ở Việt Nam
● Cơ cấu chuyên gia được lựa chọn để phỏng vấn:
(i) Ban giám hiệu, các lãnh đạo khoa phòng tại các trường ĐHNCL ở Việt Nam (ii) Hiệp hội nghề nghiệp: Chuyên gia của Hiệp hội các trường ĐH, cao đẳng Việt Nam
● Tiêu chuẩn về kinh nghiệm: các chuyên gia được lựa chọn phỏng vấn người
đã thực tế công tác trong lĩnh vực GDĐH hoặc tham gia lãnh đạo, nghiên cứu trong lĩnh vực GDĐH từ 10 năm trở lên và đã có nhiều nghiên cứu đã công bố trong về hoạt động GDĐH
● Tiêu chuẩn về trình độ: Có trình độ từ thạc sĩ trở lên, trong đó chú trọng đến
các chuyên gia có trình độ cao như: Tiến sĩ, Phó Giáo sư, Giáo sư
Bảng 1.2 Số năm kinh nghiệm của chuyên giađược phỏng vấn
trong nghiên cứu định tính
TT Số năm kinh nghiệm Số lượng phản hồi Tỉ lệ %
Trang 39Về đối tượng khảo sát trong nghiên cứu định lượng
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu định tính, bảng câu hỏi khảo sát định lượng được thiết kế và triển triển khai đến các đối tượng khảo sát, cụ thể như sau:
● Đối tượng khảo sát:
(i) Ban giám hiệu, Trưởng phó phòng chức năng, trưởng phó khoa chuyên môn, cán bộ GV, nhân viên trong các trường ĐHNCL
(ii) Các đơn vị quản lý nhà nước về trường ĐH: Chuyên gia của BGD&ĐT (iii) Hiệp hội nghề nghiệp: Chuyên gia của Hiệp hội các trường ĐH, cao đẳng Việt Nam
● Tiêu chuẩn về kinh nghiệm: đã làm việc trong ngành GDĐH tối thiểu 5 năm
● Tiêu chuẩn về trình độ: Đối tượng khảo sát phải có trình độ từ cử nhân trở lên,
có công tác liên quan đến lĩnh vực GDĐH thuộc nhiều địa phương, khu vực trong cả nước
Bảng 1.3 Đặc điểm mẫu khảo sát trong nghiên cứu định lượng
Từ 5-10 năm
Từ
10-15 năm
Trên 15 năm
Nguồn: Tác giả tổng hợp và tính toán từ kết quả điều tra
1.5 Những đóng góp mới của luận án
a Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận
i) Luận án đã sử dụng khung kiểm soát nội bộ (KSNB) của COSO với 5 bộ phận cấu thành để phát triển khung nghiên cứu về KSNB của các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam, trong đó chỉ ra những yếu tố cấu thành chi tiết đặc thù ở khối trường này;
ii) Đưa ra mô hình xem xét tác động hiệu lực từng thành phần của KSNB tới chất lượng giáo dục đại học trong các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam;
Trang 40iii) Kết quả nghiên cứu của luận án đã chỉ ra tác động của KSNB đến chất lượng
giáo dục đại học của các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam
b Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án
i) Qua nghiên cứu định tính, kết hợp với các yếu tố của báo cáo COSO, luận án đã xây dựng được bộ thang đo các yếu tố của KSNB tác động đến chất lượng giáo dục đại học của các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam;
ii) Qua kiểm định, luận án đã phát hiện được 5 nhân tố của KSNB có tác động đến chất lượng giáo dục đại học của các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam Dựa trên kết quả này, luận án đã xây dựng mô hình về các yếu tố đặc thù của KSNB có chất lượng giáo dục đại học của các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam;
iii) Kết quả nghiên cứu đã chỉ rõ 5 yếu tố của KSNB có tác động ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đại học của các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam và thứ
tự tầm quan trọng của KSNB đến chất lượng giáo dục đại học theo thứ tự giảm dần lần lượt là “Hoạt động kiểm soát”, “Môi trường kiểm soát”, “Đánh giá rủi ro”, “Giám sát” và “Thông tin và truyền thông” Trên cơ sở đó, kết quả nghiên cứu đã giúp cho hội đồng quản trị, ban giám hiệu cũng như các nhà quản lý các trường đại học ngoài công lập có thể xây dựng các định hướng, nhiệm vụ, hành động cụ thể để điều chỉnh các khiếm khuyết của KSNB nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học tại đơn vị mình
1.6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được kết cấu thành 5 chương:
- Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết của KSNB và CLGDĐH
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
- Chương 5: Kết luận và khuyến nghị hoàn thiện KSNB nhằm nâng cao CLGDĐH của các trường ĐHNCL ở Việt Nam