Không phải thuyết minh cho đốitượng, đó là kiểu tiếp cận của Hoài Thanh Hoài Chân trong cuốn Thi nhânViệt Nam với lối tiếp cận ấn tượng chủ quan, các nhà nghiên cứu đã dựa vào ấn tượng c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN -
NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
DẤU ẤN CHỦ NGHĨA TƯỢNG
TRƯNG TRONG THƠ HÀN
MẶC TỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI
HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Người hướng dẫn khoa học
Th.S MAI THỊ HỒNG TUYẾT
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn cô ThS Mai Thị Hồng Tuyết
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ cho em trong suốt quá trình xây dựng vàhoàn thành các yêu cầu của bài khóa luận
Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong khoa Ngữ văn đã giảng dạy,cung cấp những kiến thức quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho emtrong suốt quá trình học tập vừa qua
Xuân Hòa, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Tuyết Mai
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận này là kết quả của bản thân em trong quá trình học tập vànghiên cứu Bên cạnh đó em được sự quan tâm của các thầy, cô giáo trongkhoa Ngữ văn, đặc biệt là sự quan tâm hướng dẫn tận tình của cô ThS MaiThị Hồng Tuyết
Trong khi nghiên cứu hoàn thành bài khóa luận này em đã tham khảomột số tài liệu trong phần tài liệu tham khảo
Em xin khẳng định kết quả của đề tài Dấu ấn chủ nghĩa tượng trưngtrong thơ Hàn Mặc Tử không trùng lặp với kết quả của đề tài khác Nếu sai
em hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng phản biện
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Tuyết Mai
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Nhiệm vụ và ý nghĩa của khoá luận 4
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu
5 6 Cấu trúc khóa luận 5
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN PHONG TRÀO THƠ MỚI GIAI ĐOẠN CUỐI 6
1.1 Khái quát chủ nghĩa tượng trưng 6
1.1.1 Khái niệm tương trưng 6
1.1.2 Sự hình thành của chủ nghĩa tượng trưng .7
1.1.3 Tuyên ngôn và đặc trưng thẩm mỹ của chủ nghĩa tượng trưng 9
1.2 Ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng đến phong trào Thơ mới giai đoạn cuối 12
1.2.1 Khái quát về Thơ mới giai đoạn cuối 12
1.2.2 Dấu ấn của chủ nghĩa tượng trưng trong phong trào Thơ mới giai đoạn cuối 14
CHƯƠNG 2 BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ 18
2.1 Trực giác và vô thức trong thơ Hàn Mặc Tử 18
2.1.1 Trực giác trong thơ Hàn Mặc Tử 18
2.1.2 Vô thức trong thơ Hàn Mặc Tử 23
2.2 Biểu tượng trong thơ Hàn Mặc Tử 37
2.2.1 Khái niệm biểu tượng 37
Trang 52.2.2 Biểu tượng trong thơ Hàn Mặc Tử 38
2.3 Cấu trúc hình ảnh như một sự tương giao giữa các giác quan 49
2.4 Nhạc tính trong thơ Hàn Mặc Tử 51
2.4.1 Nhạc tính được tạo từ “thanh” và "vần” 52
2.4.2 Nhạc tính được tạo ra từ những cấu trúc đặc biệt 55
KẾT LUẬN 57
Trang 61.2 Hàn Mặc Tử chính thức gia nhập phong trào Thơ mới năm 1936 vớitập thơ Gái quê, ông được xem là nhà thơ lạ nhất trong phong trào Thơ mới(1932-1945), người “cai trị Trường thơ Loạn của các nhà thơ Bình Định”.Hàn Mặc Tử là cây bút để lại dấu ấn độc đáo Ông được coi là người vượtthời gian bằng những giấc mơ đậm hiện thực Thế giới thơ Hàn Mặc Tử làđiểm gặp gỡ của Mơ Ước, Huyền Diệu, Sáng Láng và nhiều khi vượt ra khỏi
Hư Linh Ông đã đi qua bầu trời Thơ như “một ngôi sao chổi xoẹt qua bầutrời” (Chế Lan Viên) và sẽ tỏa tới muôn đời sau Không còn nghi ngờ gì nữa,Hàn Mặc Tử chính là một hiện tượng văn học có sức sống mãnh liệt, đã, đang
và sẽ luôn đòi hỏi được khám phá, chiếm lĩnh, nghiên cứu
Hiếm có một nhà Thơ mới nào như Hàn Mặc Tử mà lại có sức hút ghêgớm đến thế, và cũng là nhà thơ khiến cho những nhà nghiên cứu lại tốnnhiều giấy mực nhiều đến thế Nhưng đến nay những công trình nghiên cứu
về Hàn Mặc Tử nhiều như thế nhưng mà người đời vẫn chưa khám phá hếtnhững cái gì gọi là tinh túy nhất trong thơ ông
1.3 Do đó, thơ Hàn Mặc Tử đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục khám phá đểngày càng sáng tỏ hiện tượng rất đỗi phức tạp này Việc đi sâu khám pháchẳng những góp phần tháo gỡ, khai thông những khúc mắc còn tồn đọng trên
Trang 7con đường tiếp cận đối tượng, mà còn giúp vào việc làm chủ một di sản thi caquý giá, cũng như góp phần khẳng định vị trí văn học xứng đáng của thi sĩnày Và với việc chúng tôi chọn đề tài Dấu ấn chủ nghĩa tượng trưng trongthơ Hàn Mặc Tử, với một cái nhìn chỉnh thể, và tổng quan chúng hy vọng sẽgóp phần nhận diện thơ Hàn Mặc Tử sâu hơn, rộng hơn Với kết quả, vàthông qua quá trình nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi sẽ nâng cao đượctrình độ học tập và giảng dạy sau này.
2 Lịch sử vấn đề
Để trả lời cho câu hỏi “Hàn Mặc Tử anh là ai?” người ta đã huy độngrất nhiều các lối tiếp cận mà khoa nghiên cứu văn chương để khám phá vănchương Trên thực tế ít có công trình nào chỉ dùng riêng một phương pháp,một phép đọc Phối hợp liên phương pháp có lẽ là ý muốn của tất cả nhữngngười nghiên cứu lẫn đối tượng tiếp cận Tuy nhiên, vẫn có thể thấy rằngtrong khi phối hợp nhiều kiểu tiếp cận, thì từng công trình vẫn dành ưu thếcho một kiểu chủ đạo nổi trội nào đó Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập tới một sốkiểu tiếp cận chủ đạo mà thôi
2.1 Kiểu tiếp cận ấn tượng chủ quan Không phải thuyết minh cho đốitượng, đó là kiểu tiếp cận của Hoài Thanh Hoài Chân trong cuốn Thi nhânViệt Nam với lối tiếp cận ấn tượng chủ quan, các nhà nghiên cứu đã dựa vào
ấn tượng chủ quan của cá nhân mình “lấy hồn tôi để hiểu hồn người” các tácgiả đã sắp xếp các tập thơ của Hàn Mặc Tử theo trật tự thời gian và ghi lại ấntượng chủ quan của riêng mình trước từng tập kế tiếp ấy “Bây giờ đã ra khỏicái thế giới kì dị ấy và đã trở về với cuộc đời tầm thường mà ý nhị, tôi thử sắpxếp những cảm tưởng hỗn độn của riêng tôi” [20, tr.203] vì lấy thước do làkinh nghiệm cá nhân mình để đối chiếu với kinh nghiệm của thi sĩ rồi lại quy
tụ vào những câu đặc sắc nhất, nên lối tiếp cận này đã giúp hai nhà phê bìnhlấy ra được những câu thơ hay “đọc lên như bước vào hồn người những sáng
Trang 8lạng” [20, tr.205] bởi ở đó chứa đựng “những cảm giác mà ta có thể có” [20,tr.205].
2.2 Tiếp cận theo phương pháp tiểu sử phân tâm học Đó là lối tiếpcận và những thao tác phổ biến trong các công trình của Nguyễn Mộng Giác(Hàn Mặc Tử và sự sáng tạo cuồng nộ), Đào Trường Phúc (Hàn Mặc Tử,trăng và thơ)… Song người đầu tiên vận dụng lối tiếp cận này phải kể đếnTrần Thanh Mại Trong công trình Hàn Mặc Tử thân thế và thi văn Nhànghiên cứu đã gắn những tác phẩm của nhà thơ với những quãng đời của HànMặc Tử Nhờ đó mà Trần Thanh Mại là người đầu tiên phát hiện ra ảnhhưởng của chiêm bao trong thơ Hàn Mặc Tử “Một phần nửa trong thi ca HànMặc Tử là chịu ảnh hưởng của chiêm bao” [10, tr.64] và Trần Thanh Mạicũng là người đầu tiên phát hiện ra biểu tượng Trăng, Hồn đó là những biểutượng có sức ảnh hưởng lớn với Hàn Mặc Tử
2.3 Kiểu tiếp cận xã hội học Mác xít Đáng kể nhất là những chuyênluận của tác giả Phan Cự Đệ Trong cuốn Phong trào Thơ mới 1932 - 1945,Phan Cự Đệ không nghiên cứu riêng về Hàn Mặc Tử, mà đã xem nhà thơtrong trào lưu phong trào Thơ mới Nhà nghiên cứu cũng muốn tìm ra mộttrục tư tưởng xuyên suốt sự nghiệp thơ ca của thi sĩ Nhưng tiếc rằng, do bịchi phối bởi quan điểm chính trị mà Phan Cự Đệ xem Hàn Mặc Tử như mộthiện tượng suy đồi “Cuối thời kì thứ nhất đã thấy những dấu hiệu của suy đồicủa thời kì thứ 2: 1937 Đau thương (Hàn Mặc Tử), Xác Thu (Hoàng Diệp)1939: Tinh Huyết (Bích Khê), Xuân như ý (Hàn Mặc Tử)”, “ Hàn Mặc Tử làdấu nối giữa thời kì thứ nhất và thời kì thứ 2) [3, tr.51] Điều đáng nói, sauthời kì đổi mới, Phan Cự Đệ vẫn trung thành với lối tiếp cận Mác xít, nhưngnhà nghiên cứu đã có nhìn nhận mới về thơ Hàn Mặc Tử Tuy nhiên, ông vẫncho rằng thơ Hàn Mặc Tử “nghệ thuật vị nghệ thuật”
Trang 92.4 Lối tiếp cận triết học Điển hình nhất là của Nguyễn Xuân Hoàngvới tiểu luận Nỗi khắc khoải siêu hình trong thơ Hàn Mặc Tử và Huỳnh PhanAnh với công trình Văn chương và kinh nghiệm hư vô Cả hai công trình cácnhà nghiên cứu đã vận dụng triết học hiện đại, nhất là tư tưởng của Heideger
và nguồn gốc nghệ thuật và lý thuyết tiếp nhận để nghiên cứu Hàn Mặc Tử Ởđây Huỳnh Phan Anh đã nhìn sâu vào biểu tượng nổi bật trong thơ Hàn Mặc
Tử là Trăng và nhận định “Thi sĩ nói nhiều tới Trăng, nhắc nhiều tới Trăng.Trăng lấp đầy thi hứng Trăng biểu hiện niềm cô đơn tuyệt đối” [1, tr.125].Tiếp tục theo hướng này, một vài tác giả đã cụ thể hóa hơn Chẳng hạn, ĐặngTiến “Ở đây ta bắt gặp ba hình tượng Trăng, Hồn, Máu dồn dập lại trongtương quan rất chặt chẽ: nhà thơ khạc hồn ta khỏi miệng, hay điên cuồng mửamáu ra, hay ngậm cả miệng trăng là trăng, cả ba hình ảnh điều thấy rõ từ thânxác Đau thương” [20, tr.23]
Ngoài các lối tiếp cận này, để trả lời cho câu hỏi “Hàn Mặc Tử anh làai?” còn có những lối tiếp cận khác mà chúng tôi chưa kịp bao quát Đó lànhững tiền đề quan trọng giúp chúng tôi có cơ sở để triển khai một cách sâurộng, cụ thể hơn khi nghiên cứu đề tài Chủ nghĩa tượng trưng trong thơHàn Mặc Tử trong công trình tương đối dài hơi và đầy đủ này
3 Nhiệm vụ và ý nghĩa của khoá luận
- Nhiệm vụ của khoá luận
Nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận này, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểudấu ấn chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Hàn Mặc Tử, trong tương quan củachủ nghĩa tượng trưng tiếp nhận và ảnh hưởng của nó tới thơ Hàn Mặc Tử Để
từ đó thấy được giá trị độc đáo trong Hàn Mặc Tử, vị trí xứng đáng của ôngtrong phong trào Thơ mới
- Ý nghĩa của khoá luận
Trang 10Thực hiện đề tài: Dấu ấn chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Hàn Mặc
Tử, chúng tôi hi vọng đóng góp: Khái quát chủ nghĩa tượng trưng trong quátrình hình thành và phát triển, và ảnh hưởng của nó trong phong trào Thơ mớimột cách toàn diện hơn, sâu sắc hơn Đặc biệt, với những đặc trưng cơ bảncủa chủ nghĩa tượng trưng được in dấu trong thơ Hàn Mặc Tử thông quanhững luận điểm nhất định
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là tập trung tìm hiểu Dấu ấn chủnghĩa tượng trưng trong thơ hàn Mặc Tử
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khoá luận này chúng tôi tập trung đi sâu vào việc tìm hiểu dấu
ấn chủ nghĩa tượng trưng thơ Hàn Mặc Tử qua tập thơ Gái quê, Đau Thương
5 Phương pháp nghiên cứu
Để viết được đề tài Dấu ấn chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Hàn Mặc
Tử khóa luận này kết hợp, vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thống kê
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dungđược chúng tôi triển khai thành hai chương:
Chương 1 Khái quát về chủ nghĩa tượng trưng và ảnh hưởng của nó
đến phong trào Thơ mới giai đoạn cuối
Chương 2 Biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Hàn Mặc Tử
Trang 11NỘI DUNGCHƯƠNG 1KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG VÀ ẢNH HƯỞNGCỦA NÓ ĐẾN PHONG TRÀO THƠ MỚI GIAI ĐOẠN CUỐI
1.1 Khái quát chủ nghĩa tượng trưng
1.1.1 Khái niệm tượng trưng
Về khái niệm tượng trưng Heghen trong cuốn Mỹ học có nêu: “Tượngtrưng là một sự vật bên ngoài, một dẫn liệu trực tiếp và nối thẳng với trực giáccủa chúng ta: tuy vậy sự việc này không phải được lựa chọn và chấp nhận như
nó tồn tại trong thực tế và bản thân nó, trái lại nó được chấp nhận với một ýnghĩa rộng lớn hơn nhiều và khái quát hơn nhiều” [7, tr.7]
Các tác giả cuốn Từ điển tiếng Việt đã nêu nên ba nghĩa của từ tượngtrưng Nghĩa thứ nhất “tượng trưng là cho liên tưởng đến một cái trừu tượngnào đó bằng một sự vật cụ thể: chim bồ câu tượng trưng cho hòa bình” [14,tr.1743] Nghĩa thứ hai “tượng trưng là dùng một vật cụ thể để tượng trưngcho cái trừu tượng nào đó: xiềng xích tượng trưng cho sự nô lệ” [14,tr.1743].Nghĩa thứ ba “mang tính chất tượng trưng” [14, tr.1743]
Tác giả Luc Benoist trong cuốn Dấu hiệu, biểu trưng và thần thoại, lýgiải nguồn gốc của từ tượng trưng “Biểu trưng (symbole) bắt nguồn từ từ HyLạp sumballein có nghĩa là nối lại với nhau, từ symbole dùng để chỉ dấu hiệu
để nhận biết, một vật được cắt làm đôi và khi ghép lại có thể giúp cho nhữngngười mang hai nửa đó nhận ra họ là anh em, mặc dù trước đó họ chưa gặpnhau” [10, tr.3-4]
Các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã làm rõ hơn về thuật ngữtượng trưng Theo nghĩa rộng, “tượng trưng là hình tượng được biểu hiện ởbình diện kí hiệu, là kí hiệu chứa tính đa nghĩa của hình tượng” [5, tr.390] Có
Trang 12nghĩa là, mọi tượng trưng đều là hình tượng, nhưng phạm trù tượng trưngnhằm chỉ cái phần mà hình tượng vượt khỏi chính nó, chỉ sự thể hiện của mộtnghĩa nào đó vừa hòa hợp với hình tượng, vừa không đồng nhất hoàn toàn vớihình tượng.
Theo nghĩa hẹp “tượng trưng là một dạng chuyển nghĩa Khi kết hợphai bình diện: nội dung “vật thể” và nghĩa bóng của nó sẽ tạo thành một đốisánh tượng trưng” [5, tr.391]
Như vậy, tượng trưng là phạm trù phổ quát của mỹ học, được xác lậpthông qua đối chiếu với hai phạm trù kế cận: một phía là kí hiệu, một phía làhình tượng nghệ thuật
1.1.2 Sự hình thành của chủ nghĩa tượng trưng
Chủ nghĩa tượng trưng là một trào lưu nghệ thuật và một quan điểmtriết học - mỹ học ở cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX Nó nảy sinh như mộtkhuynh hướng văn học ở Pháp những năm 60 - 70
Với hoàn cảnh xã hội, chủ nghĩa tượng trưng ra đời trong bối cảnh tìnhtrạng khủng hoảng của chế độ tư bản bước sang chế độ chủ nghĩa đế quốc độctài Nửa cuối thế kỉ XIX, Napoleon đệ tam đã mở những cuộc chinh chiến quatận châu Phi và châu Á Những cuộc chinh chiến đó đã gây ảnh hưởng khôngnhỏ đến bầu không khí xã hội Chiến tranh Pháp - Đức vào năm 1870 - 1871,tai họa Sedan năm 1871, cuộc khởi nghĩa Công xã Pari năm 1871, đã làm chonước Pháp có nhiều biến động Trong một xã hội, rối ren và khủng hoảng ấy,con người trở nên bi quan, mất niềm tin vào tương lai Con người không còntin vào sự tiến bộ của lịch sử, thậm chí con người còn không tin vào khả năng
lý trí của chính họ, hoài nghi chính bản thân mình
Cơ sở lý thuyết của chủ nghĩa tượng trưng bắt nguồn từ triết học duytâm của Schopenhauer và Hecmann với tư tưởng chính là quan niệm thần bícủa thuyết nhị nguyên Các nhà văn, nhà thơ thời kì này đã bộc lộ những tưtưởng mới mẻ trong quan niệm của mình về thi ca Nhà văn Huygo cho rằng:
Trang 13Thi ca, đó là những gì sâu kín trong tất cả và theo ông, dưới thế giới thực tại
có một thế giới lý tưởng đẹp đẽ Trong khi đó, Nerval nêu nên sự thể nghiệm
về cái siêu thực và sự tràn ngập những giấc mơ trong đời sống con người Vànếu như Baudelaire nêu nên sự tương ứng kì bí giữa các giác quan, tình cảmthì Verlaine cho rằng thơ ca là thứ âm nhạc gợi cảm, qua sắc thái và nhữngbiểu tượng tế nhị dẫn đến những tình cảm bán ý thức Chính những quan niệmmới mẻ đó đã dần đưa các nhà thơ đến với thế giới của riêng mình, thế giớicủa thơ tượng trưng
Không chỉ vậy, chủ nghĩa tượng trưng ra đời còn là do cuộc tổng khủnghoảng của văn hóa nhân văn tư sản dẫn đến sự chống lại các nguyên tắc Thựcchứng luận của nhóm Thi sơn và chủ nghĩa tự nhiên Chủ nghĩa tự nhiên tồntại vào khoảng những năm 1860 - 1880 với những đại diện tiêu biểu như haianh em: Edmond, Goncourt, Zola… Họ yêu cầu mô tả cuộc sống bằngphương pháp khoa học tự nhiên, sử dụng các dữ liệu mới do khoa học tự nhiêmđem lại để đưa vào văn học Do đó, trong sáng tác văn học, các nhà tự nhiênchủ nghĩa coi trọng việc quan sát, sưu tầm tư liệu hơn là sử dụng trí tượngtượng Còn nhóm Thi sơn là nhóm các nhà thơ trẻ xuất hiện vào những năm
60 của thế kỉ XIX với tuyển tập Thi sơn đương đại xuất bản lần đầu năm
1866 Họ rất chú trọng đến dáng vẻ, đường nét, âm thanh của thế giới bênngoài
Tuy nhiên, cho đến cuối thế kỉ XIX, các nhà thơ tượng trưng vẫn tránh
né danh xưng “chủ nghĩa tượng trưng” Mặc dù vậy, chúng ta cũng không thểphủ nhận các sáng tác của nhiều nhà thơ lớn của chủ nghĩa tượng trưng như:P.Verlaine (1844 - 1869), A Rimbaud (1854 - 1891), Lautréamont (1846 -1870) vừa là những người sáng lập vừa là những đại biểu xuất sắc của trườngphái này Những tác phẩm của những nhà thơ không chỉ có ý nghĩa xã hội màcòn có giá trị nhân văn rộng lớn, nói về nỗi đau khổ về tinh thần; sự chán ghétnhững hình thức tư hữu của xã hội đang tàn phá tâm hồn con người, niềm tinvào những giá trị văn hóa lâu đời
Trang 141.1.3 Tuyên ngôn và đặc trưng thẩm mĩ của chủ nghĩa tượng trưng
Khi một trường phái ra đời thường có những tuyên ngôn và đặc trưngriêng của nó Chủ nghĩa tượng trưng cũng vậy Nó cũng có tuyên ngôn riêng.Tuyên ngôn của chủ nghĩa tượng trưng được đánh dấu và thể hiện rõ nét nhấttrong bài thơ Tương ứng của Baudelaire được in trong cuốn Tuyển tập thơ vănxuôi (Việt Nam và nước ngoài), Quỳnh Như Nhiên dịch và Đông Hoài hiệuđính:
“Thiên nhiên là một ngôi đền trong đó những cột sinh linhThỉnh thoảng phát ra những ngôn ngữ mơ hồ:
Con người đi trong Thiên Nhiên qua những rừng biểu tượngChúng quan sát con người với những cái nhìn thân quen
Như những phán hướng dài hỗn độn từ xa Trong một thể thống nhất tối tăm và sâu thẳm
Mênh mông như đêm tối và như ánh sáng
Hương thơm, mầu sắc và âm thanh tương ứng
Có những hương thơm tươi mát như da thịt trẻ thơ
Ngọt ngào như kèn bấm, xanh tươi như đồng cỏ,
- Và những loại khác: đồi bại, phong phú và ưu thẳngHãy khuếch trương những sự vật vô tận,
Như hồ phách, xạ hương, an tức hương và trần hươngChúng hát ca những nhiệt hứng của tâm hồn và giác quan”
[4, tr.445 – 446]
Chủ nghĩa tượng trưng thể hiện thế giới mơ hồ huyền bí Chủ nghĩatượng trưng cho rằng, bản thân thế giới là “không rõ ràng”, người nghệ sĩ phảibiết tìm thấy trong cuộc phiêu lưu của thơ ca cách thức khám phá ra cái điềuchưa được biết tới Người nghệ sĩ không chỉ cảm thấu thế giới bên ngoài, mà
Trang 15còn nhận biết thế giới bên trong; không chỉ nắm bắt cái hiện hữu, mà cònnghe thấy, cảm thấy cái vô hình, cái bí ẩn, mơ hồ nằm trong một màn sươngdày đặc Để tìm ra một sợi dây liên hệ giữa thế giới vô thức và thế giới hữuthức, người nghệ sĩ phải có một cái nhìn “thấu thị” xuyên suốt các sự vật để
có thể “chọc thủng” màn sương bí ẩn, mơ hồ đó, nhằm tìm ra chân lý đíchthực của nghệ thuật Nói như nhà thơ tượng trưng Bỉ: “Tượng trưng là sựthăng hoa của tri giác và cảm giác, nó không chứng minh gì, mà làm nảy sinhmột trạng thái ý thức, nó phá vỡ mọi ngẫu nhiên, nó là biểu hiện cao nhất tinhthần mà nghệ thuật có thể được” Các nhà tượng trưng cho rằng, tính chất cảmxúc, trữ tình của chủ nghĩa lãng mạn không thể giúp họ hoàn thành thiên chứccủa người nghệ sĩ, họ phải cần đến “sự tổng hòa các giác quan” Phát huy tối
đa sự cộng hưởng giữa các giác quan ấy, nó có thể mang lại cho chúng ta mộtbản nhạc huyền diệu trong sự giao thoa giữa các âm thanh, màu sắc, ánh sáng
và hương thơm
Đây là một đặc điểm vượt xa thi pháp lãng mạn, tiến đến một phươngpháp mới trong nhận thức thực tại: không giãi bày tình cảm một cách trựctiếp, không miêu tả, giải thích sự vật một cách lồ lộ, rõ nghĩa Ở đây, “ý nghĩađược gợi nên bởi sự tượng trưng hoàn toàn không tồn tại trong chính ý tưởngđó; nó được nảy sinh từ sự xích lại gần nhau của những cảm giác và nhữngthực tế cụ thể thường là tách biệt với nhau”
Sự tương hợp giữa các giác quan là một đặc điểm nữa của chủ nghĩatượng trưng Baudelaire quan niệm vũ trụ và con người có mối quan hệ bímật mà giác quan bình thường không thể nhìn thấy được Baudelaire chorằng: vì vũ trụ có những tương quan bí ẩn nên các hương thơm, màu sắc và
âm thanh tương hợp với nhau Mà muốn tìm hiểu được thì chúng ta phải tìmhiểu biểu tượng Mỗi biểu tượng, người ta có thể ngửi thấy một màu sắc,nghe thấy một hương thơm Đây là sự nhất quán của các giác quan Quan
Trang 16niệm này đã trở thành một nguyên tắc thẩm mỹ trong sáng tạo thơ ca của chủnghĩa tượng trưng Valery đưa ra một định nghĩa về thơ gắn với nguyên tắctương hợp: “Thơ là sự giao động giữa âm thanh và ý nghĩa” Rimbaud lại chorằng, người nghệ sĩ phải đến với thơ ca bằng con đường thấu thị của một kẻ
Mênh mông như đêm tối và như ánh sáng
Hương thơm, mầu sắc và âm thanh tương ứng
(Tương ứng)Quả thật, bằng “cảm quan về cuộc sống sâu xa của tinh thần”Baudelaire đã đánh thức vùng vô thức ngủ yên trong con người trở nên linhđộng, tỏa sáng soi rọi vào cái đẹp huyền diệu, tiềm ẩn đằng sau sự vật, hiệntượng Nhà thơ tượng trưng không chỉ miêu tả hiện thực khách quan, khôngdiễn giải, phơi bày tình cảm mà khám phá, nắm bắt lòng người, tạo vật thôngqua biểu tượng bằng phép loại suy Đây là một nguyên tắc mĩ học của thơtượng trưng vượt qua thi pháp lãng mạn, làm nảy sinh ra một lối tư duy mớitrong nhận thức thế giới
Để mở cánh cửa của một cõi vô tận đó, Baudelaire đã phát huy tối đaphương thức kết hợp tượng trưng: Ông táo bạo kết hợp những hình ảnh cụ thểhay những cảm giác, chăm chút những phép tỉnh lược và tạo ra những câu có
Trang 17chất nhạc và ngữ nghĩa mới Từ đó nảy sinh một quan hệ mới với thế giới màtrong đó có cảm giác lẫn lộn với nhau và những mâu thuẫn đớn đau biến mất.Tâm hồn có thể uống ừng ực hương thơm, âm thanh và mầu sắc.
Yếu tố âm nhạc là một đặc điểm quan trọng của thơ tượng trưng, cácnhà thơ tượng trưng cho rằng, để thể hiện thế giới tiên nghiệm cần phải đemtinh thần âm nhạc vào thế giới thơ ca Câu thơ phải có nhạc điệu và âm hưởng
để đi vào trực giác của con người Verlaine quan niệm: Nhạc điệu là trước hết.Thơ phải “gợi cảm” chứ không kể lể miêu tả Để đạt được hiệu quả “gợi cảm”thì thơ phải có nhạc điệu Schopenhauer chỉ ra rằng âm nhạc có khả năng đisâu vào bản chất thuần túy của sự vật và thể hiện nó bằng những giai điệuhuyền bí nhất Khi nghe nhạc người ta cảm nhận và rung động được trước khihiểu bằng lý trí Có người ví âm nhạc như tiếng nói của thánh thần, có khảnăng đi vào tiềm thức của tâm hồn, bất chấp rào cản lý trí Âm nhạc đã thoát rakhỏi sự nô lệ trong việc bắt chước cái vỏ vật chất của sự vật cần thể hiện Âmnhạc có “ngôn ngữ” riêng của nó, có sức mạnh sở trường trong việc thể hiệnnhững gì mơ hồ huyền bí nhất Cũng như âm nhạc, thơ tượng trưng đã mang
âm điệu quyến rũ tâm hồn, có giá trị như một câu “thần chú” say đắm, mê hoặccon người
Như vậy, với sự tiếp thu những tinh hoa của văn học nước ngoài thìthơ tượng trưng đã mang lại một nhãn quan mới cho các thi sĩ thuộc phongtrào Thơ mới giai đoạn cuối, góp phần vào việc đa đạng hóa các thể loại thơ
ca Việt Nam
1.2 Ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng đến phong trào Thơ mới giaiđoạn cuối
1.2.1 Khái quát về Thơ mới giai đoạn cuối
Chủ nghĩa tư bản thâm nhập vào Việt Nam sau thế chiến thứ nhất, cùngvới việc người Pháp đẩy mạnh phong trào khai phá thuộc địa đã đẩy nhanhlàn gió văn hóa của phương Tây vào Việt Nam nhanh hơn Giới trí thức nhanhchóng tiếp thu văn hóa Pháp và dần nhận ra những vần luật, niêm luật của đạo
Trang 18Nho đã quá gò bó trong việc thể hiện tiếng thơ của mình Thơ mới được thainghén từ trước 1932 và thi sĩ Tản Đà chính là người dạo bản nhạc đầu tiêntrong bản hòa tấu của phong trào Thơ mới phát triển Và đến ngày 10-3-1932khi Phan Khôi đăng bài thơ Tình già trên Phụ nữ tân văn số 22 cùng với lời tựgiới thiệu “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” thì phát súng lệnh củaphong trào Thơ mới chính thức được bắt đầu.
Vào cuối giai đoạn của phong trào Thơ mới xuất hiện sự phân hóa vàhình thành một số khuynh hướng sáng tác khác nhau Sau năm 1940 trở đixuất hiện nhiều khuynh hướng, tiêu biểu là nhóm Dạ Đài gồm: Vũ HoàngChương, Trần Dần, Đinh Hùng…, nhóm Xuân Thu Nhã Tập gồm: NguyễnXuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đỗ Cung …, nhóm Trường thơ Loạn gồm:Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê,…
Có thể nói các khuynh hướng thoát ly ở giai đoạn này đã chi phối sâusắc cảm hứng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật trong sáng tác của các nhà Thơmới Với thân phận của người dân mất nước và bị chế độ xã hội thực dân o ép,
họ như kẻ đứng ngã ba đường, họ sẵn sàng đón nhận những luồng gió khácnhau thổi tới Bên cạnh đó, một số bộ phận các nhà Thơ mới như Huy Cận,Chế Lan Viên… mất phương hướng, rơi vào bế tắc, không lối thoát
Do một thời gian rất dài, do có những quan điểm dung tục, độc giả chỉthấy đó là phong trào thơ ca tư sản, tiểu tư sản tiêu cực, đồi trụy, có hại chocách mạng vô sản, cần phải thay thế bằng một nền thơ ca bắt nguồn từ côngnông binh Năm 1951, trong công trình Nói chuyện thơ kháng chiến, HoàiThanh đã chì chiết những tàn dư của Thơ mới trong thơ ca kháng chiến vớinhững từ “một dớt”, “đạo dớt”… đầy ý vị khinh miệt và mỉa mai Khi giảiphóng miền Nam được 6 năm, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ trong cuốn Phongtrào Thơ mới 1932 -1945 còn tiếp tục chỉ trích về tác hại của Thơ mới Nhưng
Trang 19đến ngày nay thì các nhà nghiên cứu phê bình cũng đã có những cái nhìn, và đánh giá lại Thơ mới một cách công bằng hơn.
Có thể nói, Thơ mới để lại cho nền văn học nước nhà nhiều đỉnh cao
mà cho đến ngày nay ta vẫn phải ngưỡng vọng Nếu không có sự ảnh hưởngcủa chủ nghĩa tượng trưng ở phương Tây vào Việt Nam thì có lẽ cho đến bâygiờ, thi ca Việt Nam vẫn ngủ quên trong thung lũng khuất nẻo nào đó, vàđương nhiên vẫn sinh sôi nảy nở trong cái ao hồ phẳng lặng suốt mấy ngànnăm của văn học phương Đông
1.2.2 Dấu ấn của chủ nghĩa tượng trưng trong phong trào Thơ mới giaiđoạn cuối
Nằm trong dòng chảy của quá trình hiện đại hóa văn học trong nửa đầuthế kỉ XX, thơ ca Việt Nam không ngừng vận động và phát triển tạo nên những
cú nhảy ngoại mục, đem đến nhiều biến chuyển sâu sắc, rộng lớn cả về chấtlượng đến số lượng Đặc biệt, phong trào Thơ mới đã làm nên cuộc cách mạngtrong lịch sử thơ ca dân tộc Thơ mới quy tụ một lực lượng trí thức Tây học trẻ,táo bạo, có tâm huyết muốn cách tân đem lại những cấu trúc hiện đại phươngTây vào thi ca Việt Nam
Phong trào Thơ mới là gặp gỡ, kết tinh văn hóa Đông - Tây Các nhàThơ mới thông qua trường học sách báo, dịch thuật đã tiếp xúc, làm quen vớicác trào lưu văn học hiện vốn đã phát triển hoàn chỉnh ở phương Tây Vì thế,trong lúc phôi thai cho đến khi những đứa con tinh thần của họ chào đời, mầmmống ấy được nuôi dưỡng bằng nhiều nguồn dưỡng chất Với chỉ hơn mộtthập kỉ, Thơ mới đã đi trọn con đường hơn một trăm năm thơ Pháp
Đến với Việt Nam, thơ tượng trưng nhanh chóng được tầng lớp trí thứctrẻ tiếp thu Hầu hết họ bị ám ảnh bởi tính chất hiện đại của thơ Baudelaire.Xuân Diệu, Huy Cận, Đoàn Phú Tứ học được ở Baudelaire “nghệ thuật tinhvi”, các sáng tạo những bản nhạc huyền diệu bằng sự liên tưởng tinh tế, sự
Trang 20hòa hợp tương giao giữa âm thanh, màu sắc hương vị Hàn Mặc Tử, Chế LanViên, cặp song sinh của trường thơ Loạn đã viết lên những vần thơ kì lạ, kinh
dị, ma quái từ cái siêu thăng của tâm hồn Lưu Trọng Lư, Bích Khê tìm thấygiai điệu dịu dàng, trong sáng, mênh mông, hư ảo, huyền hồ trong Verlane.Đặc biệt là nhóm Xuân Thu nhã tập, đã nâng lên thành Đạo thiêng liêng, caoquý
Nhà thơ Xuân Diệu, một trong những nhà thơ sớm ảnh hưởng của thơtượng trưng Baudelaire Trong bài diễn thuyết tại trường Sorbonne, ông nói:
“Với Baudelaire, tôi đi toàn vẹn vào tính chất hiện đại của thơ” Trong quanniệm sống và yêu Xuân Diệu hăng hái, say mê đi tìm ảo ảnh trong mộng đến
an ủi hồn mình, muốn điên và hoan lạc thân xác cho lịm đi những khắc khoảigiữa đời thường:
“Trăng vú mộng muôn đời thi sĩGiơ hai tay mơn trớn vẻ tròn đầy”
(Ca tụng)Trong lời tựa tập Đau thương, Hàn Mặc Tử viết: “Tôi làm thơ? Nghĩa
là tôi yếu đuối quá! Tôi bị cám dỗ, tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi,máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật Và cũng có nghĩa là tôi đã mất trí, tôiphát điên” [23, tr.10] Trong Mùa thu đã tới, ông còn khẳng định: “Nhà nghệ
sĩ bao giờ cũng điên” và tự hoạ bức chân dung “người thơ” ấy:
“Tôi điên tôi nói như người dạiVan lạy không gian xoá những ngày…”
(Lưu luyến)Nói đến dấu ấn của chủ nghĩa tượng trưng trong Thơ mới, chúng takhông thể bỏ qua quan niệm “tương ứng cảm quan” của Baudelaire Các nhàThơ mới đã phối ứng lại thế giới tự nhiên theo những chiều kích thước khácnhau
Trang 21Trong đau thương, Hàn Mặc Tử chết lịm, mê man với hồn, với máu,với trăng Chúng bao bọc, vắt kiệt tinh lực của nhà thơ vì ở đâu cũng đầytrăng, đầy máu, đầy hồn nhưng chúng cũng là nguồn sáng tạo vô biên:
“Không gian dày đặc toàn trăng cảTôi cũng trăng mà nàng cũng trăng”
(Huyền ảo)Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử không đem lại cảm giác thanh bình, tĩnhlặng Đọc thơ Hàn Mặc Tử chúng ta bắt gặp một thế giới tràn ngập ánh sángcủa trăng, một niềm ác mộng của hồn, một niềm đau thương, nhuộn màu củamáu và ẩn sau đó là lòng yêu cuộc đời Lòng yêu ấy lại ẩn dấu trong những ýthơ lạ ngỡ như là điên rồ
Bích Khê cũng tìm đến với sọ người nhưng sọ người trong thơ BíchKhê không mang đến cảm giác ghê rợn, chết chóc điên cuồng như Chế LanViên Mà lúc này, nhà thơ không chỉ nhìn thế giới ở hữu thức mà cả vô thức.Cho nên, hình ảnh sọ người trong thơ Bích Khê liên tục chuyển kênh tạo ranhững hình ảnh kì ảo, lạ lẫm:
“Ôi khối mộng của hồn thơ chếch choáng!
Ôi buồn xuân hơ hớ cánh đào sương!
Ôi bình vàng! Ôi chén ngọc đầy hương!
Ôi thân tình! Người chứa một trời thương”
(Sọ người)Một đặc điểm nữa là Thơ mới in dấu ấn chủ nghĩa tượng trưng “là đểthể nghiệm thế giới tiên nghiệm, thế giới chiêm bao và tiềm thức” cần phải
“mang tinh thần âm nhạc” vào thơ ca Thơ mới đã nhấn mạnh thêm một bướctrên con đường chinh phục âm nhạc hiện đại cho thơ Đó cũng là nguyên nhândẫn dến sự bùng nổ và thắng thế của Thơ mới Nói như thế không có nghĩa làthơ cổ điển không chú ý đến nhạc điệu Trái lại, các nhà thơ xưa có hẳn mộttiêu chí “thi trung hữu nhạc” nhưng tính nhạc của thơ được tạo ra bằng âm
Trang 22thanh những từ được lựa chọn, sắp đặt cốt sao không theo những thi điệu,nhịp điệu có sẵn (miễn là đúng niêm luật), thành ra trong thơ cũ, âm thanh và
ý nghĩa bị tách ra, mỗi thứ một đường
Âm nhạc đã mê hoặc, dẫn dắt thi sĩ bước đi như người mộng du vào thếgiới thực hư, huyền ảo của miền quá khứ trong cảm xúc bồng bềnh, chơi vơi:
“Sương nương theo trăng ngừng lưng trờiTương tư nâng lòng lên chơi vơi”
(Nhị hồ)Nếu Xuân Diệu học tập thơ tượng trưng Pháp cách tạo nhạc cho thơ ởbước thể nghiệm thì đến Bích Khê, Xuân Thu nhã tập được triển khai trên bìnhdiện rộng với những phá cách táo bạo… Bích Khê có hẳn một bản nhạc đànđược phối kết từ nhiều thanh âm: Mộng cầm ca, Tỳ bà, Tiếng đàn mưa Vớinhạc thi sĩ thể hiện cách thẩm âm độc đáo, lạ lẫm, không bằng thính giác màbằng cõi lòng, bằng tâm hồn siêu thăng trong trạng thái ngưng đặc biệt:
“Thơ bay! Thơ bay vô bàn tay ngà
Thơ ngà ngà say! Thơ ngà ngà say!
Nàng ơi! Đừng động… có nhạc trong giây!
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây Nhạc vô cung hường, nhạc vô đào động
Ôi nàng tiên nương! Hớp nhạc đầy sương…”
(Nhạc)Như vậy, Thơ mới có những cuộc bứt phá ngoạn mục, nhanh chóng bắtkịp nhịp độ phát triển và hòa vào dòng chảy của thi ca hiện đại thế giới Sựgặp gỡ thơ tượng trưng Pháp là tâm điểm thu hút các nhà thơ trẻ, giúp họ tiếnnhanh trên con đường hiện đại hóa thơ ca dân tộc Tuy nhiên, theo nhiều nhànghiên cứu: Thơ mới Việt Nam chưa thể hình thành một chủ nghĩa tượngtrưng như ở phương Tây Song không thể phủ nhận chủ nghĩa tượng trưng đã
in dấu ấn rõ nét và góp phần làm nên giá trị của Thơ mới
Trang 23CHƯƠNG 2BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG
TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ
Có những tai nạn bất ngờ hay những bất hạnh định đoạt cả chí hướng,công cuộc và sự nghiệp của một con người: Blaise Pascal suýt bị ô tô cán,Lord Byron với cái chân què, Marcel Proust với bệnh suyễn kinh niên, JohnKeats và A Camus với chứng lao… Chính hoàn cảnh đó, tài năng của họđược bộc lộ và đã để lại cho đời những kiệt tác kinh điển
Còn Hàn Mặc Tử?
Chúng tôi muốn làm sáng tỏ một nét trong tiểu sử của Hàn Mặc Tử đó
là thời điểm nhà thơ bị mắc bệnh phong Nhà nghiên cứu Võ Long Tê nhậnxét: Một chứng bệnh nan y, một tuổi thanh xuân bị tước đoạt đến hết hy vọngtươi đẹp nhất, viễn tưởng một cái chết gần kề, đó là những yếu tố của mộtthực tại nghiệt ngã cấu thành một chất liệu dồi dào cho trí tưởng tượng sángtạo của nhà thơ Do vậy, mà trong thơ Hàn Mặc Tử có hai thế giới luôn luôntách biệt: thế giới bên trong (thế giới tâm hồn nhà thơ) và thế giới bên ngoài(cuộc sống hiện thực) Chính cuộc sống bệnh tật đã làm cho Hàn Mặc Tử trởthành một hiện tượng kì lạ, để cho các nhà nghiên cứu phải băn khoăn trăn trởgiải mã hiện tượng thơ ca này
2.1 Trực giác và vô thức trong thơ Hàn Mặc Tử
2.1.1 Trực giác trong thơ Hàn Mặc Tử
Người nghệ sỹ khác với người bình thường ở khả năng quan sát, táihiện và sáng tạo Mọi thăng hoa từ cảm xúc thẩm mỹ của họ tuy khó lý giải,nhưng nó không phải là cái gì thần bí, kín mít mà là một quá trình tích tụ, sảnsinh đặc biệt Trong đó, sự cảm thụ, rung động, nắm bắt để đi đến sáng tạonghệ thuật của người nghệ sỹ là một sự thai nghén, cất giấu âm thầm để đến
Trang 24một lúc nào đó bừng tỉnh Nhưng bên cạnh đó, nó cũng có thể đạt tới mộtnhận thức bất chợt mà không cần hoạt động nào của lý trí về đối tượng Đâychính là yếu tố trực giác.
2.1.1.1 Khái niệm “trực giác”
Con người sống trong cuộc sống, mọi phán đoán và hành động mộtphần dựa vào lí trí nhưng phần nữa là dựa vào trực giác Có một thời kì, đặcbiệt là thế kỉ XVII, XVIII ở phương Tây, người ta đã quá nhấn mạnh vào lí trí
“Tôi tư duy là tôi tồn tại” cho nên họ đã quên mất trực giác Đến cuối thế kỉXIX, đầu thế kỉ XX, vai trò của trực giác mới được khôi phục và khẳng định.Nhưng trực giác là gì?
Nhà tâm lý học nổi tiếng của Hoa Kỳ I Brunơ thì lại cho rằng: “Trựcgiác là một loại hành vi, thông qua loại hành vi này, con người rõ ràng khôngcòn phải dựa vào kĩ xảo phân tích cơ cấu, ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đềhoặc tình huống Trực giác chính xác hay sai lầm không quyết định bởi bảnthân trực giác, mà là ở phép chứng minh thông thường Tuy nhiên, hình thứctrực giác có thể sinh ra rất nhanh những giả thiết; trước khi biết được giá trịcủa những quan niệm được tổ hợp, thì đã phát hiện sự cấu thành của nhữngquan niệm ấy Cuối cùng, bản thân trực giác có thể sản sinh một cơ cấu mnagtính chất thí nghiệm của một loại thức, đồng thời có thể tạo ra một cảm giác,làm cho chúng ta cảm thấy những sự thực này được cấu thành như vậy màkhông cần phải giảng giải dài dòng Nó giúp chúng ta chủ yếu ở chỗ nêu raquá trình kiểm nghiệm thực tế” [8, tr.280 - 281]
Theo Henri Bergson trực giác là: “sự thông cảm nhờ đó ta đem chínhmình vào trong lòng sự vật để đồng hóa ta với cái duy nhất nhưng không thểnói lên lời của sự vật đó” [24, tr.144]
Trong cuốn Lý luận văn học (tập 1) Văn học, nhà văn, bạn đọcPhương Lựu có nêu: “Trực giác là thấy được nhận biết được một cách trực
Trang 25tiếp, không cần phải gián tiếp thông qua phân tích chứng minh của lý trí” [8,
tr 280]
Như vậy, theo chúng tôi hiểu trực giác: là sự trực tiếp tác động vào nãocủa con người mà không cần thông qua bất kỳ một sự sàng lọc của lý trí nào.Vậy về bản chất, chúng ta cảm thấy, hoặc đột nhiên nhận ra vấn đề nào đó,
nó đến từ bên trong, không phải là tư duy logic, nó là nguồn của mọi sáng tạo,cảm xúc: đó là trực giác, mà mức độ thấp nhất của trực giác là khả năng cảmnhận, linh cảm
2.1.1.2 Biểu hiện “trực giác” trong thơ Hàn Mặc Tử
Không ít nhà nghiên cứu cảm nhận thấy một điều là: Thơ Hàn Mặc Tử,nhất là trong Đau thương có một liên kết kì cục cứ như là “đầu Ngô mìnhSở” Vũ Quần Phương và Lê Quang Hưng gọi đó là kiểu “Cóc nhảy” Đóchính là “Mạch liên kết siêu logic của dòng tâm tư bất định” [17, tr.163].Nghĩa là, liên kết trong thơ Hàn Mặc Tử cứ muốn tuột ra khỏi tầm kiểm soátcủa lý trí, các mảng thơ dính với nhau không phải do áp lực của tính hợp lýthông thường Những sản phẩm thơ ca Hàn Mặc Tử ra đời trong các trạng tháitâm lý đặc biệt nên không thể tuân theo logic thông thường Có nghĩa làchúng chỉ là những dòng nội tâm bất định được tốc kí một cách trung thành.Liên kết trong thơ Hàn Mặc Tử là một liên kết siêu logic Siêu logic ởthơ Hàn Mặc Tử có một màu sắc rất riêng Mỗi bài thơ của thi sĩ hiện ra nhưmột dòng tâm tư bất định: tình điệu liên tục chuyển vần, hình tượng liên tụcchuyển kênh Tất cả cứ như một thể lỏng trôi chảy vô định, như một mạchliên tưởng tuỳ tiện, đứt đoạn nhảy cóc Nếu có thể tách bạch, một cách giảđịnh, một bài thơ chia làm hai văn bản: mạch hình tượng và mạch cảm xúc,thì mạch hình tượng ở bề mặt có vẻ hỗn loạn, trong khi đó văn bản cảm xúclại nguyên phiến, liền khối dù nó trải qua nhiều cung bậc Như thế, về liênkết, có thể ví Đau thương như một khối vuông ru bích: Các ô vuông màu thìhỗn loạn trên bề mặt, nhưng tất cả lại châu tuần xung quanh các trục bí mậtnáu trong lòng ru bích Nhưng hình ảnh tán loạn như những mảnh vỡ văng rất
Trang 26xa nhau bởi một nỗi đau thương lớn lại châu tuần xung quanh chính nỗi đau thương kia Đó chính là bản chất siêu logic trong thơ Hàn Mặc Tử.
Biểu hiện đó dễ thấy nhất có lẽ là ở kết hợp hết sức tự do bởi “những ôvuông màu” Những hình ảnh vốn rất xa nhau, khó có thể tìm được một sợidây liên hệ nào theo cách cảm cách nghĩ quen thuộc, ấy thế mà nó bật lênnhững ý nghĩa mới, những khía cạnh lý thú mới: “trăng tử tự”, “vũng trăng”,
“trăng tái mặt”, “trăng sờ sẫm”, “trăng quỳ”, “trăng nằm sõng soài”, “xác
cô thơm quá thơm như ngọc”, “ Đức tin thơm hơn ngọc”, “tình ái của ni cô”,
“anh cắn lời thơ”,… Nói riêng hai chữ ấy đã thấy cách kết hợp kì dị
Không chỉ vậy, các mối liên kết giữa các câu, các mảng trong một bàithơ của Hàn Mặc Tử chúng ta không thể dùng lý trí để giải thích Bước vàomỗi bài thơ của Hàn Mặc Tử, người đọc không khỏi có cảm giác phân tâm: trídường như ngơ ngác không theo mạch vận động bất định của hình ảnh nhưnglập tức bị xâm chiếm, bị cuốn đi bởi cùng một cảm xúc đau thương với nhữngsắc điệu cung bậc khác nhau, khi thì tràn trề khi thì ẩn kín đằng sau nhữnghình ảnh ấy Dòng tâm tư ngầm ẩn dưới mỗi bài thơ cuốn theo lớp hình ảnhken dày trên bề mặt của thi phẩm
Chúng tôi xin chọn trường hợp Đây thôn Vĩ Dạ để khảo sát sự liên kếtcủa nó:
"Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lênVườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc chen ngang mặt chữ điềnGió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp layThuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa khách đường xa
Trang 27Áo em trắng quá nhìn không ra… Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”
Cả Vũ Quần Phương, Lê Quang Hưng, Nguyễn Hữu Tuyển đều nhận ramạch thơ nhảy cóc, “đầu Ngô mình Sở” với bề ngoài câu chữ tưởng chừng nhưrất lỏng lẻo chẳng ăn nhập gì với nhau Mạch liên kết toàn bài có vẻ như đãkhước từ của vai trò của lý trí Có thể thấy rõ mạch liên tưởng bất định, đứtđoạn, nhảy cóc trong chuỗi hình ảnh của ba khổ: ngoại cảnh (phần đầu) vớitâm cảnh (phần sau); tươi sáng (vườn thôn Vĩ) với âm u (cảnh sông trăng vàsương khói); hy vọng (có chở trăng về kịp…) rồi lại thất vọng (Ai biết tìnhai…) vv… Những mảng thơ tương phản trái ngược nhau lại đã liên kết vàonhau ngỡ như chẳng có cái lý gì! Vậy mà vẫn liền khối, liền mạch Hàn Mặc
Tử có tự họa mình bằng hình ảnh nghịch lí “Mắt mờ lệ ở sau hàng chữ gấm”.Hàng chữ gấm là vẻ đẹp bề mặt, mắt mờ lệ là nỗi đau bề sâu Đó là cấu trúcnghịch lý của phần lớn trong thơ Hàn Mặc Tử Với một góc nhìn khác trongtừng khổ thơ đã thấy những chuyển điệu gấp khúc riêng, nghĩa là có phầnsáng và phần tối riêng Khổ đầu: một ước ao thầm kín ngấn ngầm bên tronglại cất lên như một lời mời mọc, nỗi hoài niệm âm u mang gương mặt sáng sủacủa khát khao rực rỡ Khổ hai: Một ước mong khẩn thiết dâng lên thoắt hoáthành một hoài vọng chới với nghẹn ngào Khổ ba: một niềm mong ngóng vừa
ló rạng hướng ra thế giới bên ngoài đã vội biến thành mối hoài nghi hướng vàonơi dương gian mà thi sĩ đang tồn tại
Logic có được là do sự kiểm soát của lý trí, nhưng ở trong tác phẩm sựphi logic được thể hiện trong sự chuyển kênh quá ư bất ngờ, đột ngột mà vẫn
cứ tự nhiên như không của các miền không gian trong bài thơ Kể từ khi tậpĐau thương trở đi, trong thơ Hàn Mặc Tử bắt đầu có sự phân định nghiệt ngãgiữa hai dòng không gian: Ngoài kia và Trong này Nó là hai thế giới hoàntoàn tương phản Trong bài thơ này, có thể thấy tương quan không gian ấy ởhai địa
Trang 28danh “thôn Vĩ” (ngoài kia) và “ở đây” (trong này) Thi sĩ hiện ra như mộtngười ở đây, ở trong này mà khắc khoải ngóng trông hoài vọng về thôn Vĩ, vềNgoài kia Vì thế trong bài thơ có một sự chuyển tiếp không gian tinh vi, kínmạch khó thấy Trong phần sâu của nội dung có thể thấy ba cảnh chính, ba đốitượng chính: Vườn xa, thuyền xa, khách đường xa, chúng kết hợp thành thếgiới Ngoài kia, để đối lập với Ở đây Lối liên tưởng bất định tạo ra sự chuyểnlàm các cảnh sắc không gian đột ngột, gấp khúc đến phi lý, thì âm điệu tựnhiên nhuần nhuyễn cùng một lối thơ chia thành các khổ chỉnh tề vuông vức,tròn trịa lại lấp đầy, san bằng nhưng gấp nếp, vết ghép, khiến cho người đọc cứmặc tiếp nhận bài thơ chỉ như là sự nới rộng cùng một không gian Vĩ Dạ, màkhông thấy đó là sự ghép nối giữa các miền không gian rất xa nhau Cái trục bímật của rubich - Thơ Hàn Mặc Tử chính là ở giọt lệ đau thương nằm saunhững hàng chữ ngầm đó Vì thế vào cõi thơ Hàn Mặc Tử, không chỉ chú mụcvào phần lộ thiên mà cần đào sâu vào hầm trầm tích nữa.
2.1.2 Vô thức trong thơ Hàn Mặc Tử
Trong lời tựa tập Đau thương, Hàn Mặc Tử viết:
“Tôi làm thơ?
- Nghĩa là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một lànánh sáng (…)
Tôi làm thơ?
- Nghĩa là tôi yếu đuối quá Tôi bị cám dỗ Tôi phản lại tất cả những gì
mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật
Và cũng nghĩa là tôi mất trí, tôi phát điên Nàng đánh tôi đau quá, tôibật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú… Có ai ngăn cản được tiếng lòng tôi?Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu,bằng lệ, bằng hồn Tôi đã phát triển hết cảm giác của Tình yêu Tôi đã vui,giận, hờn đến gần đứt cả sự sống
(…)” [23, tr.9 - 10]
Trang 29Có thể thấy, trong quan niệm của Hàn Mặc Tử Thơ là một niềm tuyệtvọng cao đẹp Hay nói một cách khác, Thơ là tiếng kêu của một linh hồn đãsống đến gần đứt của sự sống Cả hai đều là dạng thức của “Tột cùng” [17, tr.38] Tinh thần ấy được toát ra từ hệ thống, và đòi hỏi phải được cắt nghĩa theo những mã riêng của nó.
Có thể nói rằng, Hàn Mặc Tử là một trong những người đầu tiêntrong lịch sử thơ ca Việt Nam khám phá những trạng thái phức tạp của conngười Nói một cách khác, vô thức là một trong những đối tượng thơ ca củaHàn Mặc Tử
2.1.2.1 Âm vang sự sống và ám ảnh về cái chết trong thơ Hàn Mặc Tử
Phong trào Thơ mới với sự trỗi dậy của ý thức cá nhân, của khát vọngđược thành thực, được nói rõ những điều kín nhiệm u uất, được công khaixem cái tôi cá nhân như một khách thể nhìn đời hợp pháp, các nhà Thơ mớixem thơ ca là phương tiện biểu hiện sự sống của con người - một sự sống dồidào, mãnh liệt nhất.
Cũng quan niệm thơ biểu hiện sự sống của con người, nhưng Hàn Mặc
Tử lại thể hiện quan niệm đó một cách khác thường, khác thường như chínhcuộc đời và hồn thơ ông vậy khi khẳng định:
“Người thơ phong vận như thơ ấy”
(Xuân đầu tiên)Nếu như với Xuân Diệu, thơ là sự biểu cho niềm khát sống mãnh liệtcủa ông, thì với Hàn Mặc Tử niềm “khát sống” đó cũng không kém phầnmãnh liệt, thậm chí là khốc liệt, bởi sống đối với Hàn Mặc Tử là “một cuộcchạy đua bạt vía tuyệt vọng đối với tử thần” [12, tr.230] Thơ Hàn Mặc Tử vìthế như tiếng kêu rỏ máu của con chim đỗ quyên, là tiếng nói của những hụthẫng tan hoang, là tiếng nói của một con người bị dồn đẩy đến miệng vực củacái chết; chới với bên miệng vực ấy mà ngoái nhìn đời, mà nuối đời, níu đời
Trang 30Sự đau thương về bệnh tật đã đày đọa nhà thơ lên đến tột đỉnh, tưởngnhư tất cả nỗi khổ của thế gian hội tụ đầy đủ để trút ngập lên một thi mệnhthiên tài mỏng manh yếu ớt và yểu mệnh, nhưng cũng để từ đó chói sángnhững vần thơ quằn quại đớn đau để luôn khao khát ước mơ được sống củamình.
a Âm vang sự sống
Trong tác phẩm của Hàn Mặc Tử, âm vang của sự sống được biểu hiệnthông qua chuỗi các hình ảnh được biểu hiện đi biểu hiện lại là: biểu tượngMáu và biểu tượng Hồn
Trong ý nghĩa về sự sống, Hồn trong thơ Hàn Mặc Tử là một sinh thểsinh ra từ chính tâm tưởng của thi sĩ:
“Hồn là ai?Là ai? Tôi chẳng biếtHồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi”
Hay:
“Tôi dìm hồn xuống vũng trăng êmCho trăng ngập, trăng dồn lên tới ngựcHai chúng tôi lặng yên thổn thứcRồi bay lên tới một hành tinh”
(Hồn là ai)
“Sinh thể” ấy là một con người thực thụ với những cảm xúc rất thực
Và đó là một người bạn quen mà lạ, một người bạn tri âm, tri kỉ của Hàn Mặc
Tử, là một “vũ trụ” còn nhiều bí ẩn
Không bó hẹp trong quan niệm Hồn là cốt lõi sự sống của con người,với Hàn Mặc Tử, Hồn còn là sự sống của cỏ cây, vũ trụ, thời gian và thơ canghệ thuật:
“Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bútMỗi hồn thơ đều dính não cân ta”
(Rướm máu)
Trang 31Thơ là đời mà đời cũng chính là thơ, cho nên thơ cũng có linh hồn Đó
là cảm xúc riêng tư, là tâm thức của người viết Cũng như con người, một bàithơ không có hồn là bài thơ chết, chết trong lòng người đọc
“Đừng tưởng ngàn xưa còn phảng phấtNơi làn gió nhẹ lúc ban đêm
Hồn xưa từ ấy không về nữa
Ở cõi hư vô dấu đã chìm”
(Thời gian)
Ở trường hợp này, Hồn là thời gian, là sự trường tồn của thiên nhiên vũtrụ, là sự tồn tại của những kí ức xa vời đã chìm vào quá khứ mà con ngườikhông thể tìm lại được bản sao ở hiện tại Hồn trở thành hồn thiêng đất trời,sông núi ngàn xưa mênh mông ảo diệu Âm hưởng, hình ảnh thơ làm chongười đọc có cảm giác sống lại và đang đứng trên đất nước Chiêm Thành cổkính với những tháp chàm rêu phong của thành Bồ Đàn xưa Một cảm giácvừa thực vừa mộng ảo diệu kì Ảnh hưởng từ cái nôi văn hóa Á Đông, HànMặc Tử cũng quan niệm mọi vật cũng như con người, đều có linh hồn, có sựsống Chính vì vậy, Hồn trong thơ Hàn Mặc Tử còn là linh hồn, sự sống, sứcsống của thơ ca nghệ thuật, của muôn loài trong vũ trụ
Sự sống ấy, linh hồn ấy vô hình vô ảnh và là phần thiêng liêng của conngười Đây cũng là một đặc điểm của Hồn trong thơ Hàn Mặc Tử:
“Ôi hồn thiêng liêng không hề chết đặngLàm sao hồn chẳng hiểu nghĩa vô biên”
(Hồn lìa khỏi xác)Hồn thiêng liêng, trường tồn và bất tử Hồn không lệ thuộc vào thânxác, Hồn biết hết mọi suy tư ý niệm của thân xác nó Hồn cũng như chiếccamera vô hình ghi lại tất cả mọi hoạt động, mọi tâm lí trạng thái của thân xác
nó mặc lấy và những người xung quanh Sự thiêng liêng của linh hồn vốn đã
ăn sâu vào tâm thức của nhân loại nhưng khi bước vào thơ Hàn Mặc Tử nó lại
Trang 32biến hóa muôn hình vạn trạng và mang nhiều ý nghĩa có chiều kích riêng tưcủa thi nhân Cho nên, người ta còn thấy được màu sắc tôn giáo trong thế giớiHồn của thơ Hàn Mặc Tử.
Bước vào thơ Hàn Mặc Tử như một sự ngẫu nhiên, nhưng chính hìnhảnh Máu đã đem lại cho thơ ông một sức hút kì lạ Máu trong thơ Hàn Mặc
Tử là nguồn sinh lực dẫn truyền sự sống Đọc thơ ông, người ta cảm nhậnđược dòng máu tuôn trào đầy sinh lực:
“Anh đã ngâm và ngâm đã thuộc làu
Cả người rung động bởi thương đauBởi vì mê mẩn vì khoan khoái
Anh cắn lời thơ để máu trào”
(Lưu luyến)Tác giả viết “cắn lời thơ để máu trào” nhưng có lẽ đó chỉ là một cáchviết, một cách nói, một cách ngụy trang đầy nghệ thuật Bởi thơ là sản phẩm
do con người tạo nên thì làm sao có thể có máu Máu ở đây chính là nguồnsinh lực của con người, mà cụ thể là thi nhân “Máu trào” là hình ảnh biểu thịcho một nguồn sinh lực dồi dào Chính nguồn sinh lực ấy tạo nên những dòngthơ huyết lệ, hay khôn tả Cũng có khi đó là sức sống tươi nguyên của ngườicon gái đang tuổi xuân thì:
“Xuân trẻ, xuân non, xuân lịch sựTôi đều nhận thấy trên môiem
Làn môi mong mỏng tươi như máu
Đã khiến môi tôi mấp máy thèm”
(Gái quê)Máu là thơ, là ngọn bút vẫy vùng trên trang giấy Thi nhân muốn Máucủa mình quay cuồng theo lời thơ để ông cũng được chìm vào cảm giác “mêman chết điếng” Có lẽ thế nên Hàn Mặc Tử muốn được thấy Máu của mìnhchảy ra Bởi chính lúc Máu chảy ra nhiều là lúc thơ của thi nhân dào dạt Máu
ở đây cũng là những cảm hứng để cho những vần thơ tuôn chảy
Trang 33“Lời thơ ngậm cứng không rền rĩ
Mà máu tim anh chảy láng lai Thơ ở trong lòng reo chẳng ngớtTiếng vang tha thiết dội khắp nơi”
(Lưu luyến)Bài thơ có hai từ “máu” thì cả hai đều thể hiện một sự sống mãnh liệt:
“máu trào”, “máu láng lai” Thêm một lần nữa, Hàn Mặc Tử diễn tả sức dồidào của thơ ca “Máu tim vọt láng lai” cũng chính là thơ ca đang tràn trề sứcsống Nói đúng hơn là tâm tình, cảm xúc của tác giả đang dâng trào Cảm xúc
đó, tâm tình đó được tác giả xây đắp nên những lâu đài thơ kì diệu
Máu trong thơ Hàn Mặc Tử không chỉ là sự sống, nguồn sống, Máutrong thơ ông là biểu tượng của sự đam mê, nhiệt huyết, của sự khát khao mãnhliệt, cũng biểu hiện một phần nào đó của sự khát khao cống hiến của thi sĩ
“Hương cho thơm, ứ đầy hơi khoái lạcMáu cho cuồng run giận đến miên man”
(Ngoài vũ trụ)Người trai trẻ đang khao khát một sức sống mãnh liệt, đó là nhiệthuyết “Máu cho cuồng” hay đúng hơn là nhiệt huyết đang sôi sục trong tráitim của thi nhân Và cũng chỉ với hình ảnh “máu cuồng” xuất hiện duy nhấtmột lần trong bài thơ cũng đã nói lên điều đó Ngoài ra, hình ảnh trên còn làhình ảnh của niềm đam mê vươn lên cái đẹp
“Xin dâng này máu đang tươiNày đây nước mắt giọng cười theo nhau”
(Bến Hàn Giang)
Cả cuộc đời thi sĩ là những chuỗi ngày đau đớn bởi bệnh tật, một cuộcđời bất hạnh, không có một tuổi trẻ với những ước vọng cho tương lai Tâm