TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Với mục đích: Trên cơ sở đánh giá thực trạng nguồn lực và thu nhậpcủa hộ gia đình nông thôn tại thành phố Bắc Kạn tỉnh Bắc Kạn, đề tài tậptrung phân tích yếu tố ảnh hư
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN DUY DIỆP
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG THU NHẬP CHO NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI
THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN DUY DIỆP
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG THU NHẬP CHO NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI
THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số ngành: 8.62.01.18 LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luậnvăn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nàokhác Mọi trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng chấm luận văn, trước Nhà trường
và phòng Đào tạo về các thông tin, số liệu trong đề tài luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Duy Diệp
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian tập trung nghiên cứu tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh BắcKạn, tôi đã hoàn thành xong đề tài luận văn cao học này của mình Để có đượckết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ chuđáo, tận tình của cơ quan, đơn vị, nhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia đình
và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Đàotạo cùng toàn thể các thầy, cô đã tận tụy giúp đỡ tôi trong suốt thời gian họctập cũng như thời gian hoàn thành luận văn tốt nghiệp Đặc biệt, tôi xin bày tỏlòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫn, PGS.TS Nguyễn NgọcNông đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện, thiết kếnghiên cứu, phân tích số liệu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND thành phố Bắc Kạn;Phòng Kinh tế thành phố Bắc Kạn; Chi cục Thống kế thành phố Bắc Kạn; các
xã nghiên cứu,… đã tạo mọi điều kiện thuận lợi có thể để tôi hoàn thành đề tàiluận văn này
Với trình độ và thời gian có hạn, do đó bản luận văn của tôi không thểtránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiếncủa các thầy cô để bản đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2019
Học viên
Nguyễn Duy Diệp
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG, HÌNH vi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5
1.1.1 Một số khái niệm liên quan 5
1.1.2 Nội dung xây dựng nông thôn mới 14
1.1.3 Phân loại hộ gia đình nông thôn 17
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 19
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn ở một số nước trên thế giới 19
1.2.2 Thực tiễn nâng cao thu nhập gắn với xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương nước ta 21
1.2.3 Một số nghiên cứu có liên quan 26
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 35
2.2 Nội dung nghiên cứu 35
Trang 62.3 Phương pháp nghiên cứu 36
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin số liệu 36
2.3.2 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin số liệu 39
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài 40
2.4.1 Nhóm chỉ tiêu về đặc điểm danh tính của hộ gia đình nông thôn 40
2.4.2 Nhóm chỉ tiêu về nguồn lực của hộ gia đình nông thôn 40
2.4.3 Nhóm chỉ tiêu về sinh kế và thu nhập hộ gia đình nông thôn 41
2.4.4 Nhóm chỉ tiêu về kinh tế của hộ gia đình nông thôn 41
2.4.5 Nhóm các biến số trong mô hình hồi quy đa biến 41
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 Thực trạng nguồn lực và thu nhập của hộ gia đình nông thôn thành phố Bắc Kạn 43
3.1.1 Một số văn bản quản lý nhà nước liên quan đến thu nhập 43
3.1.2 Nguồn lực chủ yếu của hộ gia đình nông thôn thành phố Bắc Kạn 44
3.1.3 Thu nhập của hộ gia đình nông thôn thành phố Bắc Kạn 48
3.2 Yếu tố ảnh hưởng, khó khăn, thách thức tác động đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn thành phố Bắc Kạn 57
3.2.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn thành phố Bắc Kạn 57
3.2.2 Khó khăn, thách thức ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn thành phố Bắc Kạn 64
3.3 Mục tiêu và giải pháp chủ yếu góp phần tăng thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 66
3.3.1 Mục tiêu 66
3.3.2 Một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới thành phố Bắc Kạn 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Kiến nghị 80
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCH TW Ban chấp hành Trung ương
CNH - HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CN-TTCN Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
FAO Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốcNĐ-CP Nghị định của Chính phủ
NDT Nhân dân tệ - Tiền Trung Quốc
NQ-CP Nghị quyết của Chính phủ
NQ-TW Nghị quyết Trung ương
OCOP Chương trình quốc gia mỗi xã một sản phẩm
PTNT Phát triển nông thôn
QĐ-TTg Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
QTKD Quản trị kinh doanh
THPT Trung học phổ thông
TT-NNPTNT Thông tư Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
XHCN Xã hội Chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC BẢNG, HÌNH Bảng:
Bảng 2.1 Số hộ điều tra tại các thôn trong 3 xã, phường 37Bảng 3.1 Nguồn nhân lực của hộ gia đình nông thôn thành phố Bắc Kạn 45
Bảng 3.2 Nguồn vốn của hộ gia đình nông thôn thành phố Bắc Kạn 46Bảng 3.3 Nguồn lực đất đai của hộ gia đình nông thôn thành phố Bắc Kạn 47
Bảng 3.4 Các nguồn thu nhập của hộ gia đình nông thôn thành phố
Bắc Kạn phân theo nghề nghiệp 50Bảng 3.5 Các nguồn thu nhập của hộ gia đình nông thôn thành phố
Bắc Kạn phân theo dân tộc 52Bảng 3.6 Nguồn thu nhập tỉnh Bắc Kạn, nông thôn cả nước và vùng 54Bảng 3.7 Thu nhập bình quân hộ và bình quân đầu người thành phố
Bắc Kạn phân theo nghề nghiệp 55Bảng 3.8 Thu nhập bình quân hộ và bình quân đầu người thành phố
Bắc Kạn phân theo dân tộc 56Bảng 3.9 Diễn giải các biến số trong mô hình hồi quy đa biến 58Bảng 3.10 Tóm tắt mô hình hồi quy đa biến ảnh hưởng đến thu nhập
nông nghiệp của hộ gia đình nông thôn thành phố Bắc Kạn 59Bảng 3.11 Tóm tắt mô hình hồi quy đa biến ảnh hưởng đến thu nhập
hỗn hợp của hộ gia đình nông thôn thành phố Bắc Kạn 61
Hình:
Hình 3.1 Thu nhập (nghìn đồng/người/tháng) nông thôn cả nước và
Trung du miền núi phía Bắc 49Hình 3.2 Tỷ lệ (%) nguồn thu nhập hộ gia đình tỉnh Bắc Kạn năm 2016 53
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Với mục đích: Trên cơ sở đánh giá thực trạng nguồn lực và thu nhậpcủa hộ gia đình nông thôn tại thành phố Bắc Kạn (tỉnh Bắc Kạn), đề tài tậptrung phân tích yếu tố ảnh hưởng, khó khăn, bất cập tác động đến thu nhậpcủa hộ gia đình nông thôn tại địa phương, để từ đó đề xuất một số giải phápchủ yếu nhằm góp phần nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình nông thôntrong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Bắc Kạn, tỉnhBắc Kạn
Cùng với phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc và quan sát trực tiếp, đềtài đã sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu điều tra để thu thập thông tin
từ 105 hộ gia đình nông thôn tại 7 thôn khác nhau thuộc 3 đơn vị hành chínhcấp cơ sở trên địa bàn thành phố Bắc Kạn Số liệu điều tra được tổng hợp, xử
lý, phân tích theo các phương pháp thống kê thông dụng và phân tích mô hìnhhồi quy đa biến ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Thu nhập hiện nay ở vùng nông thôn
ở thành phố Bắc Kạn mới chỉ đạt bình quân 22,7 triệu đồng/người/năm, nếutính theo tháng mới chỉ đạt bình quân 1,9 triệu đồng/người/tháng, còn thấphơn rất nhiều so với tiêu chí thu nhập quy định của UBND tỉnh Bắc Kạn về bộtiêu chí xây dựng nông thôn mới cũng như mục tiêu phấn đấu của UBNDthành phố Bắc Kạn Trong đó, nhóm cộng đồng người Dao chỉ đạt 8,4 triệuđồng/người/năm, tức 0,7 triệu đồng/người/tháng, thấp hơn 3 lần so với nhómdân tộc Tày
Có mối tương quan giữa nguồn lực của hộ gia đình với thu nhập nôngnghiệp cũng như tổng thu nhập (thu nhập hỗn hợp) của hộ gia đình nông thôn
Để gia tăng thu nhập về nông nghiệp, bao gồm cả các khoản thu về trồng trọt,chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản cũng như tổng thu nhập (thu nhập hỗn hợp)của hộ gia đình nông thôn cần chú ý đầu tư về vốn đầu tư sản xuất, mở rộngdiện tích canh tác cũng như gia tăng số nhân khẩu, số lao động trong hộ giađình nông thôn Việc gia tăng vốn đầu tư sản xuất cũng như mở rộng diện tíchcanh tác là điều rất cần thiết, những trên thực tế, điều này nhiều khi lại nằmngoài khả năng của hộ gia đình do các khó khăn về quỹ đất canh tác hạn hẹp,
Trang 10tiếp cận vay vốn khó khăn Mặt khác, vai trò lao động nông thôn hiện naykhông có nhiều ý nghĩa trong việc tạo thu nhập về nông nghiệp cho chínhvùng nông thôn, mà thay vào đó, họ là nguồn nhân lực để đóng góp cho sựphát triển ở khu vực đô thị, vì vậy cần có chiến lược bồi dưỡng, đào tạo cholao động nông thôn Để nâng cao thu nhập cho hộ gia đình nông thôn cầnchuyển dịch cơ cấu thu nhập của nông hộ theo hướng chuyển dịch dần từ hộthuần nông nghiệp sang trở thành nhóm hộ hỗn hợp kiêm cả nông nghiệp vàphi nông nghiệp Do vậy, tăng thu nhập nông nghiệp cũng như thu nhập hỗnhợp của hộ gia đình nông thôn cần chú ý tăng cường đầu tư vốn sản xuất, mởrộng thêm diện tích đất canh tác, đồng thời cần chuyển dịch cơ cấu thu nhậpcủa nông hộ theo hướng chuyển dịch dần từ hộ thuần nông nghiệp sang trởthành nhóm hộ hồn hợp kiêm cả nông nghiệp và phi nông nghiệp
Để tăng thu nhập cho hộ gia đình nông thôn, góp phần xây dựng nôngthôn mới ở thành phố Bắc Kạn cần thực hiện đồng bộ một số nhóm giải phápchủ yếu như: Nhóm giải pháp về đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệptheo hướng nông nghiệp đô thị; Nhóm giải pháp về đổi mới các hình thức tổchức sản xuất; Nhóm giải pháp về phát triển công nghiệp chế biến, tiểu thủcông nghiệp để tăng thu nhập về phi nông lâm nghiệp thủy sản; Nhóm giải
pháp về Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm”, nâng cao thu nhập cho người
dân nông thôn; Nhóm giải pháp về nâng cao thu nhập cho người dân bằnglàng nghề, ngành nghề truyền thống; Nhóm giải pháp về phát triển du lịchnông thôn, nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp; Nhóm giải pháp về nâng caochất lượng kinh tế trang trại, tổ chức sản xuất theo hướng liên kết; Nhóm giảipháp về mô hình cánh đồng mẫu lớn; Nhóm giải pháp về kết nối doanhnghiệp với nông thôn mới và tăng thu nhập người dân và nhóm giải pháp vềđào tạo nghề cho lao động nông thôn
Trang 11đã nêu quan điểm: Cần có bước phát triển mới về nông nghiệp, nông dân vànông thôn, trong đó chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cư dânnông thôn; xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại hóa, bềnvững; xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội hiện đại; cơ cấukinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội nông thôn ổn định; xâydựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ trí thức thànhnền tảng bền vững, bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH theođịnh hướng XHCN.
Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp (với 48%dân số lấy nông nghiệp làm sinh kế, theo đại diện FAO), nằm trong nhóm cácnước đang phát triển và thuộc trong số các nước nghèo trên thế giới Với gần70% dân số sống ở khu vực nông thôn Vì vậy, xây dựng và phát triển nông thôn
về mọi mặt là yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đấtnước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủnghĩa, là vấn đề bức thiết và quan trọng Trong những năm qua đời sống củangười dân nông thôn trên cả nước nói chung và đời sống của người dân tại thànhphố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn nói riêng đã có phần được cải thiện bởi đã có nhiềuchương trình, dự án được triển khai và thực hiện như: Chương trình xóa đóigiảm nghèo, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Tuy nhiên, những dự
án và chương trình này mới chỉ giải quyết được một số khía cạnh của đời sốngnông thôn (như về cơ sở hạ tầng), chưa giải quyết một cách toàn diện về mọimặt của nông thôn Cho nên có thể nói ổn định cuộc sống nông thôn, tăng thunhập cho nông dân có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của đất nước Chính
vì lẽ đó mà chủ trương nâng cao thu nhập cho người dân là một trong những vấn
đề luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, đặc biệt trong giai đoạn hiện naynhằm từng bước cải thiện bộ mặt nông thôn Việt Nam trong tiến trình thực hiệncông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 12Tại Đại hội Đảng lần thứ X khi định hướng phát triển kinh tế - xã hội đếnnăm 2020 của Đảng ta, tại Nghị quyết số 26/NQ-TW Hội nghị lần thứ bảy Banchấp hành trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn đã khẳng
định “hiện nay và nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng”, trong đó “chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo
vệ môi trường sinh thái của Đất nước” Để làm được điều đó thì phải có một
chương trình, dự án mang tính toàn diện, do vậy Chính phủ đã ra quyết định số800/QĐ- TTg ngày 04/06/2010 phê duyệt Chương trình Mục tiêu Quốc gia vềxây dựng NTM giai đoạn 2010-2020, nay được thay thể bằng Quyết định số1600/QĐ-TTg ngày 16 /8/ 2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chươngtrình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020
Xây dựng NTM đang là một trong những vấn đề thời sự được quan tâmhàng đầu Trong thời gian qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộcthành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã đoàn kết chung tay xây dựng NTM, bướcđầu đã thu được những kết quả đáng kể, góp phần quan trọng trong việc cải thiện
và phát triển nông thôn Bên cạnh những kết quả đạt được cũng còn tồn tại khánhiều khó khăn, thách thức trong quá trình triển khai xây dựng NTM Trong đóvấn đề đặt ra là cùng với quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa thì một nhóm cộngđồng lại có vẻ đang trở nên ngày càng tụt hậu so quá trình phát triển Vì vậy,tăng thu nhập cho hộ gia đình nông thôn ở khu vực ngoại thị là mối quan tâmhàng đầu Để góp phần công sức vào quá trình xây dựng NTM ở địa phương, tôi
chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng và giải pháp tăng thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn” là rất
cần thiết.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng một số nguồn lực chủ yếu của hộ gia đình và thu nhậpcủa hộ gia đình nông thôn tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn
- Phân tích yếu tố ảnh hưởng, khó khăn, bất cập tác động đến thu nhập của hộgia đình nông thôn tại địa phương
Trang 13- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao thu nhập chocác hộ gia đình nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bànthành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những liên quan đến thu nhập của hộ giađình trong xây dựng nông thôn mới Đối tượng điều tra khảo sát là hộ gia đìnhnông thôn tại các xã, phường trên địa bàn thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài luận văn được thực hiện trên địa bàn thành phốBắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Số liệu sơ cấp điều tra hộ gia đình được thực hiện tại 7thôn thuộc 2 xã (Nông Thượng ở phía Nam, Dương Quang ở phía Tây Bắc) vàphường Huyền Tụng ở phía Đông Bắc thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Lý dotại sao lại chọn cả đơn vị hành chính là phường bởi vì trên thực tế trên địa bànphường Huyền Tụng có một tổ dân phố (còn gọi là thôn) nông nghiệp, đó là tổdân phố Khuổi Pái, là thôn thuộc Chương trình 135 duy nhất của thành phố BắcKạn và hiện nay đang thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập trong 3 năm 2015 - 2017
Số liệu sơ cấp được tiến hành điều tra vào năm 2018
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về nguồn lựcchủ yếu của hộ gia đình và các nguồn thu nhập nông nghiệp; thu từ tiền công,tiền lương, tiền phụ cấp; thu từ hoạt động phi nông nghiệp cũng như thu nhậphỗn hợp (hay còn gọi tổng thu nhập) của hộ gia đình nông thôn tại các thônnghiên cứu đã xác định trên đây Các nhóm hộ gia đình khác nhau về nghềnghiệp chính của gia đình, bao gồm hộ thuần nông nghiệp, hộ hỗn hợp kiêm cảnông nghiệp và phi nông nghiệp; cũng như có sự khác nhau về dân tộc, gồmcộng đồng người dân tộc Tày, cộng đồng người Dao Mặt khác, đề tài lựa chọn 1thôn (Khuổi Pái), 1 thôn đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135 ở phườngHuyền Tụng để điều tra được sử dụng như là đối chứng khu vực đô thị so vớikhu vực nông thôn
4 Đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Đóng góp mới của đề tài luận văn
Đề tài luận văn đã chỉ ra thực tế thu nhập hiện nay ở vùng nông thôn ởthành phố Bắc Kạn mới chỉ đạt bình quân 22,7 triệu đồng/người/năm, tức 1,9triệu đồng/người/tháng, còn thấp hơn rất nhiều so với tiêu chí thu nhập quy địnhcủa tỉnh Bắc Kạn về Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới cũng như mục tiêuphấn đấu
Trang 14của thành phố Bắc Kạn Trong đó, nhóm cộng đồng người Dao chỉ đạt 8,4 triệuđồng/người/năm, tức 0,7 triệu đồng/người/tháng, thấp hơn 3 lần so với nhóm dântộc Tày.
Đề tài cũng chỉ ra rằng: Để gia tăng thu nhập về nông nghiệp, bao gồm cảcác khoản thu về trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản cũng như tổng thunhập (thu nhập hỗn hợp) của hộ gia đình nông thôn cần chú ý đầu tư về vốn đầu
tư sản xuất, mở rộng diện tích canh tác cũng như gia tăng số nhân khẩu, số laođộng trong hộ gia đình nông thôn Việc gia tăng vốn đầu tư sản xuất cũng như
mở rộng diện tích canh tác là điều rất cần thiết, những trên thực tế, điều nàynhiều khi lại nằm ngoài khả năng của hộ gia đình do các khó khăn về quỹ đấtcanh tác hạn hẹp, tiếp cận vay vốn khó khăn Mặt khác, vai trò lao động nôngthôn hiện nay không có nhiều ý nghĩa trong việc tạo thu nhập về nông nghiệpcho chính vùng nông thôn, mà thay vào đó, họ là nguồn nhân lực để đóng gópcho sự phát triển ở khu vực đô thị, vì vậy cần có chiến lược bồi dưỡng, đào tạocho lao động nông thôn Để nâng cao thu nhập cho hộ gia đình nông thôn cầnchuyển dịch cơ cấu thu nhập của nông hộ theo hướng chuyển dịch dần từ hộthuần nông nghiệp sang trở thành nhóm hộ hỗn hợp kiêm cả nông nghiệp và phinông nghiệp Do vậy, tăng thu nhập nông nghiệp cũng như thu nhập hỗn hợpcủa hộ gia đình nông thôn cần chú ý tăng cường đầu tư vốn sản xuất, mở rộngthêm diện tích đất canh tác, đồng thời cần chuyển dịch cơ cấu thu nhập của nông
hộ theo hướng chuyển dịch dần từ hộ thuần nông nghiệp sang trở thành nhóm hộhồn hợp kiêm cả nông nghiệp và phi nông nghiệp
4.2 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Cập nhật và hệ thống hóa được cơ sở lý luận, lý thuyết và thực tiễn về thunhập của hộ gia đình nông thôn trong xây dựng nông thôn mới, nhất là đối vớikhu vực ngoại thị của một thành phố miền núi phía Bắc nước ta
4.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Tác giả hy vọng rằng những giải pháp mà đề tài đã đề xuất sẽ được chínhquyền địa phương thành phố Bắc Kạn và các địa phương khác có điều kiệntương tự có thể tham khảo, vận dụng vào thực tiễn để chỉ đạo, góp phần nângcao thu nhập cho các hộ dân trên địa bàn trong quá trình xây dựng nôngthôn mới tại địa
phương
Chương 1
Trang 15CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Một số khái niệm liên quan
C1: Khấu hao tài sản cố định
- Thu nhập ổn định: Là khả năng tạo thu nhập một cách ổn định, lâu dàiqua các năm, đảm bảo ổn định cuộc sống lâu dài thông qua các hoạt động sảnxuất, kinh doanh của hộ
- Phân loại thu nhập: theo mức độ, thì thu nhập bao gồm: Thu nhập thườngxuyên và thu nhập không thường xuyên
+ Thu nhập thường xuyên: Là các khoản thu nhập có tính chất lặp đi lặplại và ổn định như: tiền lương, tiền trợ cấp, các khoản thu nhập do các tổ chức cánhân chi trả,…
Trang 16+ Thu nhập không thường xuyên: Là các khoản thu nhập không ổn định,đột xuất như: quà biếu tặng, thu nhập từ các hoạt động khoa học,…
Cơ cấu là cách tổ chức các thành phần nhằm thực hiện chức năng củachỉnh thể Như vậy có thể hiểu cơ cấu thu nhập trên bình diện theo các loại tổchức thành phần Tuy nhiên ở đây xét chủ thể của thu nhập là các hộ gia đình,các nhóm xã hội tạo nên thu nhập Vậy cơ cấu của nhóm xã hội đó là các yếu tố
xã hội như nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác, học vấn
Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thunhập trong năm của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng
Thu nhập bình quân đầu người/năm là tổng các nguồn thu nhập củahộ/năm chia đều cho số thành viên trong gia đình Thu nhập của hộ nông dânbao gồm toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ nhậnđược trong thời gian một năm, bao gồm các khoản thu sau đây:
- Thu từ tiền công, tiền lương, tiền phụ cấp, tiền làm thuê,…
- Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí sảnxuất vật chất và thuế sản xuất);
- Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản(không tính tiền rút tiết kiệm, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyểnnhượng vốn nhận được)
Văn bản quản lý nhà nước có liên quan đến thu nhập của người dân đangđược áp dụng hiện nay được thể hiện quan hai Chương trình Mục tiêu quốc gia
là Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững và Chương trình mụctiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới Sau đây, chúng ta lần lượt đi tìm hiểunhững nội dung liên quan đến thu nhập được thể hiện ở cả hai Chương trìnhMục tiêu quốc gia này:
Đối với Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững, theoQuyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướngChính phủ về việc ban hành Chuẩn nghèo theo tiếp cận đa chiều áp dụng chogiai đoạn 2016-
Trang 172020, thì các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều gồm các tiêu chí về thunhập và tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, cụ thể như sau:
Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản gồm:
- Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch
và vệ sinh; thông tin
- Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉsố): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tìnhtrạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người;nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tàisản phục vụ tiếp cận thông tin
Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng chogiai đoạn 2016-2020 ở nước ta như sau:
a) Đối với hộ nghèo
- Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến
1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận cácdịch vụ xã hội cơ bản trở lên
- Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến
1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận cácdịch vụ xã hội cơ bản trở lên
b) Đối với hộ cận nghèo
Trang 18- Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độthiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
- Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độthiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
c) Đối với hộ có mức sống trung bình
- Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng
- Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng
Cần lưu ý rằng: rất có thể không có xã, xóm vùng ngoại thị của thành phốBắc Kạn thuộc diện điều chỉnh của Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèobền vững, nhưng các tiêu chí và chuẩn nghèo trên đây cần được sử dụng như mộtthước đo để đối chiếu so sánh khi khảo sát thu nhập của hộ gia đình trong nghiêncứu này
Còn đối với Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới, ngày
17/10/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1980/QĐ-TTg quyđịnh Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 Trong đó,tiêu chí về thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đến năm 2020, chỉtiêu chung là từ 45 triệu đồng/người trở lên; còn đối với vùng Trung du miền núiphía Bắc, vùng Bắc Trung bộ là từ 36 triệu đồng/người trở lên; vùng Đồng bằngsông Hồng là từ 50 triệu đồng/người trở lên; vùng Duyên hải Nam Trung Bộ,Tây Nguyên là từ 41 triệu đồng/người trở lên; vùng Đông Nam Bộ là từ 59 triệuđồng/người trở lên; Đồng bằng sông Cửu Long là từ 50 triệu đồng/người trở lên
Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020, chỉ tiêu chung là từ 6% trở xuống.Chỉ tiêu theo vùng đối với vùng Trung du miền núi phía Bắc là từ 12% trởxuống; vùng Đồng bằng sông Hồng từ 2% trở xuống; vùng Bắc Trung Bộ,Duyên hải Nam Trung Bộ từ 5%
Trang 19trở xuống; Tây Nguyên từ 7% trở xuống; vùng Đông Nam Bộ từ 1% trở xuống vàĐồng bằng sông Cửu Long từ 4% trở xuống.
Cũng nằm trong Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thônmới, tại Quyết định số 691/QĐ-TTg ngày 5/6/2018 của Thủ tướng Chính phủviệc ban hành tiêu chí xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2018-2020 có quyđịnh rõ Tiêu chí Sản xuất - Thu nhập - Hộ nghèo như sau:
- Tổ chức sản xuất: Có vùng sản xuất hàng hóa tập trung đối với các sảnphẩm chủ lực của xã, đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm, kinh doanh hiệuquả, thích ứng với biến đổi khí hậu; có ít nhất 02 hợp tác xã kiểu mới liên kếtlàm ăn có hiệu quả;
- Thu nhập bình quân đầu người của xã tại thời điểm xét, công nhận xãnông thôn mới kiểu mẫu phải cao hơn từ 1,5 lần trở lên so với thu nhập bìnhquân đầu người tại thời điểm được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới;
- Không có hộ nghèo (trừ các trường hợp thuộc diện bảo trợ xã hội theoquy định, hoặc do tai nạn rủi ro bất khả kháng, hoặc do bệnh hiểm nghèo)
Như vậy, cả ba văn bản quản lý nhà nước quy định trên đây có liên quanđến thu nhập cũng sẽ được đề cập trong đề tài luận văn này và sẽ được sử dụngnhư một thang chuẩn để đối chiếu so sánh với thu nhập thực tế của người dân tạiđịa phương khi khảo sát
1.1.1.2 Nông thôn
Khi nói về nông thôn có rất nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn Cóquan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, cónghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị Quanđiểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường phát triểnhàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường của nông thôn so với đô thị là thấp hơn.Cũng có ý kiến cho rằng nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân cưtrong vùng để xác định Một số quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng
có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức nguồn sinh kế chính của cư dân trongvùng là
Trang 20từ sản xuất nông nghiệp Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụthể của từng nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế ápdụng cho từng nền kinh tế Đối với những nước đang thực hiện công nghiệp hóa,
đô thị hóa, chuyển sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp vàdịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ rải rác ở các vùng nôngthôn thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác so với khái niệm trước đây(Lê Anh Vũ và Nguyễn Đức Đồng, 2017)
Như vậy, có thể nói khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thayđổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc giatrên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản
lý, có thể hiểu “nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”.
Ngoài ra, theo thông tư số 54/2009/ TT - BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp
và PTNT ban hành ngày 21/8/2009, khái niệm nông thôn được hiểu như sau:
“Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị
xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã”.
Đặc trưng cơ bản của nông thôn: Nông thôn bao gồm những tụ điểm quần
cư thường có mật độ dân số ít; nông thôn có kết cấu hạ tầng chậm phát triển hơn,mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn; trình độ sản xuất hàng hoá và tiếp cận thịtrường thấp hơn; nông thôn có thu nhập và đời sống thấp hơn, trình độ v ă n h ó a , khoa học c ô n g n g h ệ t hấp hơn đô thị; nông thôn có một lối sống đặc thù lối sốngcủa các cộng đồng xã hội được hình thành chủ yếu trên cơ sở của một hoạt độnglao động nông nghiệp; nông thôn có mật độ dân cư thấp nhưng giàu tiềm năng vềtài nguyên thiên nhiên như đất đai, nguồn nước, khí hậu, rừng, biển, ở nông thôn
có một môi trường tự nhiên ưu trội, con người gần gũi với thiên nhiên hơn
1.1.1.3 Nông thôn mới
Trang 21Tính đến thời điểm này chưa có một định nghĩa chính thức về nông thônmới Theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Trung ương, nông thôn mới
là khu vực có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hìnhthức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp,dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội - nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóadân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tựđược giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng đượcnâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Như vậy nông thôn trước tiên nó phải là nông thôn, không phải thị tứ, thịtrấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể kháiquát theo
5 nội dung cơ bản: Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phảiphát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống vật chất và tinh thầncủa người dân nông thôn ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộcđược giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ
Nông thôn mới chính là nông thôn tiến bộ, cơ sở hạ tầng đồng bộ, đờisống văn hóa phong phú Song, có điều không bao giờ thay đổi là nông thôn mớicũng phải giữ được tính truyền thống, những nét đặc trưng nhất, bản sắc từngvùng, từng dân tộc và nâng cao giá trị đoàn kết của cộng đồng, mức sống củangười dân
Trước hết nông thôn mới phải là nơi sản xuất nông nghiệp, tạo ra các sảnphẩm có năng suất, chất lượng cao theo hướng sản xuất hàng hóa Bên cạnh đónông thôn mới phải đảm nhận được vai trò giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc.Nếu quá trình xây dựng nông thôn mới phá vỡ chức năng này là đi ngược vớilòng dân và làm xóa nhòa truyền thống văn hóa muôn đời của người dân ViệtNam Nông thôn mới phải giữ được môi trường sinh thái hài hòa
Về cơ bản, nông thôn mới có các đặc trưng: Kinh tế phát triển, đời sốngvật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao; nông thôn phát triểntheo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng, kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh tháiđược bảo vệ; dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn vàphát huy; an
Trang 22ninh tốt, quản lý dân chủ và chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao Tómlại, nông thôn mới có các đặc trưng chủ yếu sau đây:
- Nông thôn mới là lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố,thị xã, thị trấn được quản lý bởi các cấp hành chính cơ sở là UBND xã
- Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại
- Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệpvới phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch
- Xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc
- Dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chínhtrị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường
Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân nông dân tri thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Viêt Nam xãhội chủ
-nghĩa
Ngày 17/10/2016 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành gồm 19 tiêu chí ápdụng riêng cho từng vùng của Việt Nam Bộ tiêu chí cụ thể hóa đặc tính của xâydựng NTM thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH
Bộ tiêu chí cũng là căn cứ để xây dựng nội dung chương trình mục tiêuquốc gia về xây dựng nông thôn mới, là chuẩn mực để xác lập kế hoạch phấnđấu đạt 19 tiêu chí nông thôn mới Ngoài ra nó còn là căn cứ chỉ đạo và đánh giákết quả thực hiện xây dựng NTM của các địa phương trong từng thời kỳ; đánhgiá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới
Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêuquốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đangtriển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết có
cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư các thành phần kinh tế, huyđộng đóng góp của các tầng lớp dân cư Chương trình được thực hiện gắn vớicác quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốcphòng của mỗi địa
Trang 23phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các Bộ chuyên ngànhban
hành)
Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương vừa mang tính tổng hợp, baoquát nhiều lĩnh vực, vừa tập trung giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giảiquyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tínhtoán, cân đối mang tính tổng thể Xây dựng nông thôn mới đòi hỏi phải đáp ứngyêu cầu phát triển, đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt của đời sống xã hội
so với mô hình trước đó, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước
1.1.1.4 Hộ và hộ nông dân
Mặc dù hộ (hộ gia đình) đã tồn tại từ rất lâu nhưng đến nay vẫn còn nhiềucách hiểu khác nhau về hộ Trên thực tế, việc phân tích hộ gia đình - và nhữngkhó khăn về khái niệm vốn có của nó trong việc xác định cấu trúc và chức năngcủa hộ gia đình - là những lĩnh vực được quan tâm ở tất cả các ngành khoa học
xã hội Theo quan điểm của nhiều người thì hộ là một tập hợp những người cóquan hệ với nhau bởi huyết tộc hoặc hôn nhân, hộ là đơn vị cơ bản có liên quanđến sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác Thực tế, hộ và giađình có những tiêu thức chung như cơ sở kinh tế, quan hệ huyết thống và hônnhân, tình trạng cư
trú
Hộ gia đình ở nông thôn chủ yếu là nông dân Nói đến sự tồn tại của hộnông dân trong nền kinh tế trước hết cần thấy rằng, hộ nông dân không chỉ có ởnước ta mà còn có ở tất các các nước có nền sản xuất nông nghiệp trên thế giới
Hộ nông dân đã tồn tại qua nhiều phương thức và vẫn đang tiếp tục phát triển
Do đó có nhiều quan niệm khác nhau về hộ nông dân
Theo Đào Thế Tuấn (1997): Hộ nông dân là các nông hộ, thu hoạch cácphương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuấtnông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng
Trang 24bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoànchỉnh không cao (trích theo Mông Thị Huyền, 2016).
Như vậy, hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sảnxuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghềnông Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt độngphi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, ) ở các mức
độ khác nhau Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sảnxuất vừa là một đơn vị tiêu dùng Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vịkinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thốngkinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân Khi trình độ phát triển lên mức cao củacông nghiệp hóa, hiện đại hóa, thị trường, xã hội càng mở rộng và đi vào chiềusâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộnglớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước Điều này càng có ý nghĩa đốivới các hộ nông dân nước ta hiện nay
1.1.2 Nội dung xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới không phải chỉ nhằm xây dựng con đường, kênhmương, trường học, hội trường,… mà cái chính là qua cách làm này sẽ tạo chongười nông dân hiểu rõ được nội dung, ý nghĩa và thúc đẩy họ tự tin, tự quyết,đưa ra sáng kiến, tham gia tích cực để tạo ra một nông thôn mới năng động hơn.Phải xác định rằng, đây không phải là đề án đầu tư của Nhà nước mà là việcngười dân cần làm, để cuộc sống tốt hơn, Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần
Căn cứ vào điều kiện thực tế của từng thôn về tiềm năng, lợi thế, năng lựccủa cán bộ, khả năng đóng góp của nhân dân,… hướng dẫn để người dân bàn bạc
đề xuất các nhu cầu và nội dung hoạt động của đề án Xét trên khía cạnh tổngthể, những nội dung sau đây cần được xem xét trong xây dựng mô hình nôngthôn mới
a) Đào tạo nâng cao năng lực phát triển cộng đồng
Trang 25- Nâng cao năng lực cộng đồng trong việc quy hoạch, thiết kế, triển khaithực hiện, quản lý, điều hành các chương trình, dự án trên địa bàn thôn.
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở và đội ngũ cán bộ các cấp vềphát triển nông thôn bền vững
- Nâng cao trình độ dân trí của người dân
- Phát triển mô hình câu lạc bộ khuyến nông thôn để giúp nhau ứng dụngtiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, phát triển ngành nghề, dịch vụ để giảm lao độngnông nghiệp
b) Tăng cường và nâng cao mức sống cho người dân
- Quy hoạch lại các khu dân cư nông thôn, với phương châm: Giữ gìn tínhtruyền thống, bản sắc của thôn, đồng thời đảm bảo tính văn minh, hiện đại, đảmbảo môi trường bền vững
- Cải thiện điều kiện sinh hoạt của khu dân cư: Ưu tiên những nhu cầu cấpthiết nhất của cộng đồng dân cư để triển khai thực hiện xây dựng: Đường làng,nhà văn hoá, hệ thống tiêu thoát nước,…
- Cải thiện nhà ở cho các hộ nông dân: Tăng cường thực hiện xoá nhà tạm,nhà tranh tre nứa, hỗ trợ người dân cải thiện nhà ở, nhà vệ sinh, chuồng trại chănnuôi, hầm biogas cho khu chăn nuôi,…
c) Hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hàng hoá, dịch vụ nâng cao thu nhập
Căn cứ vào các điều kiện cụ thể của mỗi thôn để xác định một cơ cấu kinh
tế hợp lý, có hiệu quả, trong đó:
- Sản xuất nông nghiệp: Lựa chọn tập trung phát triển cây trồng, vật nuôi
là lợi thế, có khối lượng hàng hoá lớn và có thị trường, đồng thời đa dạng hoásản xuất nông nghiệp trên cơ sở phát huy khả năng về đất đai, nguồn nước vànhân lực tại địa phương
- Cung ứng các dịch vụ sản xuất và đời sống như: Cung ứng vật tư, hànghoá, nước sạch cho sinh hoạt, nước cho sản xuất, điện, tư vấn kỹ thuật chuyểngiao tiến bộ khoa học, tín dụng,…
Trang 26- Hỗ trợ trang bị kiến thức và kỹ năng bố trí sản xuất, thay đổi cơ cấu câytrồng, vật nuôi hợp lý.
- Củng cố, tăng cường quan hệ sản xuất, tư vấn hỗ trợ việc hình thành vàhoạt động của các tổ chức: Tổ hợp tác, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư,
… tạo mối liên kết bốn nhà trong sản xuất, chế biến, và tiêu thụ sản phẩm
d) Xây dựng nông thôn gắn với phát triển ngành nghề nông thôn tạo việc làm phi nông nghiệp
- Đối với những thôn chưa có nghề phi nông nghiệp: Để phát triển đượcngành nghề nông thôn cần tiến hành “cấy nghề” cho những địa phương còn
“trắng” nghề
- Đối với những thôn đã có nghề: Củng cố tăng cường kỹ năng tay nghềcho lao động, hỗ trợ công nghệ mới, quảng bá và mở rộng nghề, hỗ trợ xử lý môitrường, hỗ trợ tư vấn thị trường để phát triển bền vững
e) Hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ sản xuất
- Tư vấn hỗ trợ quy hoạch giao thông, thuỷ lợi nội đồng, chuyển đổi ruộngđất, khuyến khích tích tụ ruộng đất để phát triển kinh tế trang trại với nhiều loạihình thích hợp
- Hỗ trợ xây dựng mặt bằng cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làngnghề, chế biến sau thu hoạch, giao thông, thuỷ lợi nội đồng
g) Xây dựng nông thôn gắn với quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường ở nông thôn
Vấn đề bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường từ việc quản lý nguồn cấpnước, thoát nước đến quản lý thu gom rác thải ở nông thôn cũng đã trở nên đángbáo động Đã đến lúc cơ quan địa phương cần có những biện pháp quản lý môitrường địa phương mình như: Xây dựng hệ thống xử lý rác thải, tuyên truyềnnâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân, xây dựng hệ thống quản lýmôi trường ở khu vực mình một cách chặt chẽ
Trang 27h) Phát triển cơ sở vật chất cho hoạt động văn hoá, phát huy bản sắc văn hoá dân
tộc ở nông thôn
Thông qua các hoạt động ở nhà văn hoá làng, những giá trị mang đậm nétquê đã được lưu truyền qua các thế hệ, tạo nên những phong trào đặc sắc manghồn quê Việt Nam riêng biệt, mộc mạc - chân chất - thắm đượm tình quê hương
Xã hội hoá các hoạt động văn hoá ở nông thôn, trước hết xuất phát từ xâydựng làng văn hoá, nhà văn hoá làng và các hoạt động trong nhà văn hoá làng.Phong trào này phải được phát triển trên diện rộng và chiều sâu
Căn cứ vào từng điều kiện cụ thể mà vai trò của từng nội dung đối với mỗiđịa phương là khác nhau, tuy nhiên những nội dung trên cần được song songthực hiện, tạo điều kiện cho sự phát triển đồng bộ, toàn diện trong một mô hìnhnông thôn mới
1.1.3 Phân loại hộ gia đình nông thôn
Hộ nông thôn hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế hàng hoá phụ thuộcrất nhiều vào trình độ sản xuất kinh doanh, khả năng kỹ thuật, quyền làm chủnhững tư liệu sản xuất và mức độ vốn đầu tư của mỗi hộ gia đình Việc phân loại
hộ nông dân có căn cứ khoa học sẽ tạo điều kiện để xây dựng chính sách tíndụng phù hợp nhằm đầu tư đem lại hiệu quả
Có thể chia hộ nông thôn theo các tiêu chí sau đây:
a) Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động
- Hộ nông thôn hoàn toàn tự cấp không có phản ứng với thị trường Loại
hộ này có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích, đó là việc sản xuất các sản phẩm cầnthiết để tiêu dùng trong gia đình Để có đủ sản phẩm, lao động trong nông hộphải hoạt động cật lực và đó cũng được coi như một lợi ích, để có thể tự cấp tựtúc cho sinh hoạt, sự hoạt động của họ phụ thuộc vào: Khả năng mở rộng diệntích đất đai; Có thị trường lao động để họ mua nhằm lấy lãi; Có thị trường laođộng để họ bán sức lao động để có thu nhập; Có thị trường sản phẩm để trao đổinhằm đáp ứng nhu cầu của mình
Trang 28- Hộ nông dân sản xuất hàng hóa chủ yếu: loại hộ này có mục tiêu là tối đahóa lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có phản ứng gay gắt với thị trườngvốn, ruộng đất, lao động.
b) Theo tính chất của ngành sản xuất tức là ngành nghề của hộ
Theo ngành nghề, tức là theo nghề nghiệp, hộ gia đình nông thôn đượcchia thành các nhóm hộ:
- Hộ thuần nông nghiệp: là loại hộ chỉ thuần túy sản xuất nông nghiệp,sinh kế dựa hoàn toàn vào nông nghiệp Trên thực tế hiện nay, nhóm hộ thuầnnông nghiệp vẫn có thể có thành viên hộ gia đình không tham gia hoạt độngnông nghiệp
- Hộ phi nông nghiệp: là loại hộ mà sinh kế hoàn toàn dựa vào các hoạtđộng phi nông nghiệp như chuyên làm các ngành nghề như cơ khí, mộc, rèn, sảnxuất nguyên vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ nghệ, dệt, may, làm dịch vụ
kỹ thuật cho nông nghiệp, thương mại dịch vụ,
- Hộ hỗn hợp kiêm cả nông nghiệp và phi nông nghiệp: là loại hộ vừa làmnông nghiệp vừa làm nghề phi nông nghiệp, sinh kế dựa cả vào các hoạt độngnông nghiệp và phi nông nghiệp
Cần chú ý là các loại hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điềukiện cho phép Vì vậy sản xuất công nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầngsản xuất và xã hội ở nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại và dịch vụ,chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn để chuyển hộ độc canh thuầnnông sang đa ngành hoặc chuyên môn hóa Từ đó làm cho lao động nông nghiệpgiảm, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn hoặc làm cho đối tượng phi nôngnghiệp tăng lên
c) Căn cứ vào mức thu nhập của nông hộ
Hộ gia đình nông thôn được chia thành các nhóm hộ khác nhau về thunhập hay kinh tế như: Hộ giàu, hộ khá, hộ trung bình, hộ cận nghèo và nghèo
Trang 291.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn ở một số nước trên thế giới
1.2.1.1 Trung Quốc
Trung Quốc là nước đông dân, chủ yếu dân cư sống ở nông thôn, thu nhậpthấp và hiện tượng thiếu việc làm gay gắt Trước tình hình đó Trung Quốc đãquan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng trong nông thôn, đặc biệt là hệ thống giaothông, thuỷ lợi, hệ thống thị trấn, thị tứ,… tạo điều kiện cho sản xuất và tiêu thụsản phẩm thuận lợi Trung Quốc còn hết sức quan tâm phát triển nền nôngnghiệp thâm canh với trình độ kỹ thuật cao, đặc biệt quan tâm nghiên cứu sảnxuất các loại giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất và chất lượng cao cùngvới kỹ thuật canh tác tiên tiến
Đặc biệt đáng chú ý là việc xây dựng các xí nghiệp Hương Trấn Xínghiệp Hương Trấn là loại hình xí nghiệp kinh tế do nông dân tự nguyện thànhlập ngay trên quê hương mình trên cơ sở những lợi thế về nguồn tài nguyên, laođộng và các nguồn lực kinh tế khác dưới sự quản lý của chính quyền các cấp, sựlãnh đạo của Đảng và quan tâm giúp đỡ của nhà nước Hệ thống xí nghiệpHương Trấn chủ yếu sản xuất các hàng hoá tiêu dùng nhằm thay đổi cơ cấu kinh
tế nông thôn, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho nông dân Việc pháttriển xí nghiệp Hương Trấn có ý nghĩa rất to lớn Xí nghiệp Hương Trấn đã thuhút 120 triệu lao động (chiếm 26,9% lực lượng lao động cả nước) với mức thunhập 2500 NDT/lao động/tháng Đây là thành quả to lớn mà xí nghiệp HươngTrấn mang lại, vì vậy cần nghiên cứu để có thể áp dụng một cách phù hợp vớiđiều kiện nước ta (trích theo Nguyễn Việt Dũng, 2015)
1.2.1.2 Nhật Bản
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đã
hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát
triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển
Trang 30chung của cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển,Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ.
Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiềuđịa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trênthế giới Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đãthu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước
mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được những người sáng
lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khu vực vàquốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triểnnông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình (trích theo NguyễnViệt Dũng, 2015)
1.2.1.3 Hàn Quốc
Nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến khu vực kinh tế nông thôn khithực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ I (1962-1966) và thứ II (1966-1971) với chủtrương công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu, tháng 4 năm 1970, Chính phủHàn Quốc phát động phong trào Saemaul Undong Mục tiêu của phong trào là
“nhằm biến đổi cộng đồng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới; mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp hơn
và giàu hơn Cuối cùng là để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn”.
Theo đó, Chính Phủ vừa tăng đầu tư vào nông thôn vừa đặt mục tiêu thayđổi suy nghĩ ỷ lại, thụ động vốn tồn tại trong đại bộ phận dân cư nông thôn.Điểm đặc biệt của phong trào NTM của Hàn Quốc là Nhà nước chỉ hỗ trợ mộtphần nguyên, vật liệu còn nông dân mới chính là đối tượng ra quyết định và thựcthi mọi việc Saemaul Undong cũng rất chú trọng đến phát huy dân chủ trongxây dựng NTM với việc bầu ra một nam và một nữ lãnh đạo phong trào Ngoài
ra, Tổng thống còn định kỳ mời 2 lãnh đạo phong trào ở cấp xã tham dự cuộchọp của Hội đồng Chính phủ để trực tiếp lắng nghe ý kiến từ các đại biểu này.Nhằm tăng thu nhập cho nông dân, Chính phủ Hàn Quốc áp dụng chính sáchmiễn thuế
Trang 31xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông sản Ngân hàngNông nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư về nông thôn với lãi xuất 2% sovới đầu tư vào ngành nghề khác,…
Năm 2005, Nhà nước ban hành đạo luật quy định mọi hoạt động của các
bộ, ngành, chính quyền phải hướng về nông dân Nhờ hiệu quả của phong tràoSaemaul Undong mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trởthành một quốc gia giàu có, hiện đại bậc nhất Châu Á
1.2.2 Thực tiễn nâng cao thu nhập gắn với xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương nước ta
1.2.2.1 Huyện Xuân Lộc và thị xã Long Khánh (tỉnh Đồng Nai)
Đây là hai huyện đầu tiên của cả nước vinh dự đón nhận danh hiệu này sauhơn 4 năm cùng cả nước thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựngnông thôn mới
Chương trình do Ban Chỉ đạo Quốc gia về xây dựng NTM và tỉnh ĐồngNai tổ chức Giá trị sản xuất và thu nhập người dân đều tăng
Ông Đinh Quốc Thái, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai cho biết Xuân Lộc
và Long Khánh là vùng đất mà lợi thế chỉ có đất đai Từ khi triển khai thực hiệnxây dựng NTM, tỉnh và các cấp của hai huyện đã tập trung tuyên truyền, vậnđộng người dân xây dựng NTM, đào tạo cán bộ cùng với dân thực hiện phongtrào Đặc biệt, Xuân Lộc và Long Khánh đã hoàn thành quy hoạch phát triển sảnxuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xác định được sảnphẩm chủ lực, hỗ trợ mô hình sản xuất hiệu quả và vùng sản xuất tập trung
Để trở thành huyện NTM, Xuân Lộc và Long Khánh đã vượt chỉ tiêu 75%
số xã phải đạt chuẩn NTM, theo đó Long Khánh có 100% số xã đạt chuẩn NTM
và với Xuân Lộc hiện có 12/14 xã hoàn thành 19 tiêu chí NTM (chiếm 85,7%, 2
xã còn lại chỉ còn tiêu chí giao thông là chưa đạt) Huyện Xuân Lộc đã hìnhthành các vùng chuyên canh như xoài, tiêu, ngô, cây ăn trái đặc sản, nhân rộng
mô hình trồng trọt và chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao giúp giá trị sản xuấttrên 1 ha diện
Trang 32tích trồng trọt và chăn nuôi đạt bình quân 115,5 triệu đồng/ha Tỷ lệ lao động cóviệc làm qua đào tạo đạt 75%, trong đó có 90,9% số lao động có việc làm thườngxuyên Thu nhập bình quân của người dân đạt 37,6 triệu đồng/người/năm, tănggấp 3 lần so với năm 2008 Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 7% xuống hiện nay chỉ còn1%.
Trong khi đó ở thị xã Long Khánh, sản xuất nông nghiệp phát triển toàndiện theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, chú trọng chuyển giao tiến bộ kỹthuật Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 6,1%/năm, giá trị sản xuất bình quântrên
1 ha diện tích trồng trọt, chăn nuôi thủy sản đạt 170 triệu đồng/ha - mức cao nhấttrên toàn tỉnh Đồng Nai Nhờ đó, thu nhập bình quân của người dân nông thônđạt
38,6 triệu đồng/người/năm, tăng 2,13 lần so với năm 2009, tỷ lệ hộ nghèo giảmmạnh hiện còn dưới 1% Ở cả 2 huyện, kết cấu hạ tầng được tập trung đầu tư xâydựng đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của người dân trên địabàn; hệ thống chính trị được xây dựng ngày càng vững mạnh, dân tin tưởng vào
sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội luônđược giữ vững
Theo ông Đinh Quốc Thái, xây dựng NTM ở Xuân Lộc và Long Khánhkhông chỉ đơn thuần là hoàn thành các tiêu chí đề ra mà còn tạo ra người nôngdân mới có cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao, có nhiều điềukiện tiếp cận thông tin Thực tế người nông dân ở hai nơi này đã thực hiện được
“4 xóa”: xóa tư tưởng trông chờ, ỷ lại, xóa vườn tạp, độc canh, xóa tư tưởng lạc
hậu và xóa nghèo Đồng thời từ phong trào cũng hình thành đội ngũ cán bộ đápứng yêu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn, bám sát thực tiễn và nguyệnvọng của nông dân Không chỉ có 2 huyện đầu tiên của cả nước đạt chuẩn huyệnNTM, mà Chương trình xây dựng NTM ở Đồng Nai cũng đạt được những thànhtựu to lớn Hiện toàn tỉnh có 52/138 xã đạt chuẩn NTM, chiếm tỷ lệ 32,8%, gấpgần 4 lần tỷ lệ chung cả nước Có được kết quả này là nhờ vào sự chủ độngtrong chỉ đạo và thực hiện chương trình ngay từ ngày đầu thực hiện Theo đó,
Bộ 15 Tiêu
Trang 33chí của tỉnh không chỉ gồm 39 chỉ tiêu (thuộc 19 tiêu chí NTM) mà Đồng Naicòn cụ thể hóa, phát triển thành 54 tiêu chí Đồng Nai đạt mục tiêu tới năm 2020
sẽ có
100% số xã đạt chuẩn NTM
1.2.2.2 Huyện Hải Hậu (tỉnh Nam Định)
Hải Hậu là huyện đồng bằng ven biển phía Nam tỉnh Nam Định có 32 xã
và 3 thị trấn, dân số gần 30 vạn người, diện tích đất tự nhiên 230 km2 (bình quân1.260 người/km2) Diện tích đất canh tác 25.440 ha, trong đó đất sản xuất nôngnghiệp 22.720 ha, diêm nghiệp 320 ha, nuôi trồng thuỷ sản 2.350 ha, bình quân
21863 m2/người Huyện đã 3 lần được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệuAnh hùng; từ năm 1978 đến nay, liên tục là điển hình Văn hóa Thông tin cấphuyện của cả nước Là một trong 5 huyện của cả nước được Chính phủ thí điểmthực hiện Chương trình xây dựng NTM Trước khi triển khai xây dựng chươngtrình NTM, bình quân toàn huyện mới đạt 7/19 tiêu chí xây dựng NTM, cơ sở hạtầng chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thunhập bình quân còn thấp (năm 2010 thu nhập bình quân là 10,2 triệuđồng/người/năm), đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn
Sau khi được chọn là huyện điểm xây dựng NTM, lãnh đạo huyện HảiHậu đã chỉ đạo quyết liệt nhằm huy động mọi nguồn lực để triển khai thực hiện;Ban Thường vụ Huyện uỷ đã ban hành Chỉ thị số 04 về “Đẩy mạnh xây dựngnông thôn mới huyện Hải Hậu giai đoạn 2010-2015” BCH Đảng bộ, UBND,Ban Chỉ đạo xây dựng NTM của huyện tập trung chỉ đạo công tác tuyên truyền,vận động nhân dân thực hiện chương trình bằng nhiều hình thức, phát huy quyềnlàm chủ của dân trong việc quản lý và kiểm tra, giám sát về thực hiện đầu tư xây
dựng các công trình trên địa bàn.Với phương châm: “Làm từ nhà ra xóm, từ thôn xóm lên xã”, “Làm từ đồng về làng, từ làng lên xã”, “Mỗi gia đình có thêm một nghề” nên chính quyền luôn lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để kịp
thời điều chỉnh, bổ sung phù hợp Chính vì vậy mọi chủ trương, kế hoạch đề rađều được nhân dân đồng thuận và triển khai thuận lợi Năm 2011, toàn huyện đãthực hiện
Trang 34xong việc dồn điền đổi thửa Các tổ chức đoàn thể đã lựa chọn các nội dung làmchủ đề vận động xây dựng NTM trong tổ chức của mình.Sau hơn 3 năm triểnkhai xây dựng nông thôn mới, đến hết năm 2014: có 546/546 xóm và 35/35 xã,thị trấn đạt tiêu chí nông thôn mới theo phát động phong trào thi đua của huyện.
Có thêm
35 xóm đạt tiêu chuẩn nếp sống văn hóa, nâng tổng số xóm đạt tiêu chuẩn là373/546 xóm, bằng 68,3% (theo tiêu chí của huyện) Hoàn thành thẩm định, phêduyệt hương ước xóm, đến nay 100% hương ước được treo công khai tại nhà vănhóa xóm, có 8/35 xã, thị trấn hương ước được phát tới từng hộ gia đình Đếnngày
30/11/2014, toàn huyện đã huy động trên 1.500 tỷ đồng xây dựng nông thôn mới(Trong đó: nhân dân đóng góp và con em ủng hộ 586,355 tỷ đồng (bằng 39,2%);vốn cấp trên và ngân sách địa phương 663.1657 triệu đồng (bằng 44,2%); nguồnvốn khác 259,964 triệu đồng bằng 16,7%), đã có 971/974 km đường giao thôngkhu dân cư đạt chuẩn (bằng 99,7%) và 346/396km đường giao thông trục chínhnội đồng đạt chu chuẩn (bằng 87,3%) Có 536/546 xóm có nhà văn hóa (bằng98,2%) 535/546 xóm đạt tiêu chí xóm, gia đình nông thôn mới (bằng 97,9%)
Nhân dân đã tự nguyện hiến trên 345 ha đất nông nghiệp, 25 ha đất ở vàtrên 150.000 ngày công lao động tháo, dỡ hàng ngàn công trình để xây dựng cáccông trình đường giao thông, phúc lợi công cộng trên địa bàn.Như vậy sau 4 nămxây dựng nông thôn mới, đến nay, huyện Hải Hậu đã hoàn thành chương trìnhxây dựng Nông thôn mới, có 100% số xã, thị trấn (35 đơn vị) đạt 19/19 tiêu chíNTM, được UBND tỉnh Nam Định công nhận "xã đạt chuẩn nông thôn mới", làmột trong số những huyện đầu tiên của cả nước được công nhận huyện nôngthôn mới; những năm tiếp theo, huyện Hải Hậu tập trung chỉ đạo các xã, thị trấnđẩy mạnh phát triển sản xuất, giải quyết việc làm gắn với tái cơ cấu ngành nôngnghiệp trên địa bàn huyện; ưu tiên thu hút đầu tư phát triển vùng kinh tế biển,các dự án giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho dân cư nông thôn
1.2.2.3 Xã Phú Tân (huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng)
Trang 35Theo ông Huỳnh Tấn Nguyên, chủ tịch UBND huyện Châu Thành chobiết: Phú Tân là xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn của huyện Châu Thành, códiện tích tự nhiên 2.767,68 ha, trong đó diện tích sản xuất là 2.435,98 ha Toàn
xã có 3.461 hộ với 14.649 khẩu, trong đó đồng bào Khmer chiếm 78,77% dân sốtoàn xã Lao động trong độ tuổi là 9.442 người, chiếm 64,45% tổng số nhânkhẩu Bên cạnh những thuận lợi như có Quốc lộ 60 và Tỉnh lộ 932 đi qua, đượchưởng đầu tư từ nhiều công trình hạ tầng,… Phú Tân vẫn còn nhiều khó khăn: hệthống sông ngòi chằng chịt, hàng năm phải gia cố đê bao, bờ bao xuống cấp;trình độ dân trí thấp nên việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật chưa cao, sản xuất cònmang tính tự phát, chưa phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương
Khi Phú Tân được tỉnh Sóc Trăng lựa chọn là một trong 22 xã điểm chỉđạo xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2015, bà con rất vui và đoàn kếtcùng nhau thực hiện với quyết tâm cao Đây là niềm vinh dự nhưng cũng là tráchnhiệm nặng nề của Đảng bộ và nhân dân địa phương Tuy còn không ít khó khănnhưng phát huy truyền thống của quê hương, Đảng bộ và nhân dân Phú Tân đãđồng lòng, chung sức xây dựng nông thôn mới Đến nay, Phú Tân đã đạt 19/19tiêu chí nông thôn mới, trở thành xã đầu tiên của huyện cán đích chương trình.Theo ông Trương Đắt Pháp, bí thư Đảng ủy xã Phú Tân, ngay từ khi bắt tay vàoxây dựng nông thôn mới, Đảng ủy xã đã ban hành Nghị quyết về mục tiêu xâydựng nông thôn mới gắn với cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đờisống văn hóa ở khu dân cư Phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên,tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về mục đích, ý nghĩa,nội dung của chương trình
Ban chỉ đạo xã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tận dụng tiêu chí nào dongười dân cùng làm thì tranh thủ làm trước, tiêu chí nào cần nguồn vốn đầu tưcủa nhà nước thì có kế hoạch hằng năm để sớm đạt được chỉ tiêu đề ra Ngườidân ở đây rất nhiệt tình đóng góp cả về vật chất và ngày công lao động Nhờ tạođược
Trang 36lòng tin, tuyên truyền sâu rộng, người dân hiểu rõ, nên trong tổng kinh phí thựchiện xây dựng nông thôn mới của xã là 255,905 tỷ đồng thì nhân dân đóng góptrên 54,6 tỉ đồng Đến nay, tỷ lệ đường trục xã, liên xã được nhựa hóa theo tiêuchuẩn đạt 100%, có trên 56,34% đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩntheo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải và 100% đường ngõ, xóm được lót
đá (bê tông) sạch đẹp, thuận tiện đi lại cả 2 mùa mưa nắng Tỷ lệ đường trụcchính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận lợi đạt 60,86% Tổng kinhphí thực hiện trên 48 tỷ đồng, trong đó dân đóng góp hơn 11,6 tỷ đồng
Từ chủ trương đúng đắn và cách làm phù hợp, đến nay, hệ thống thủy lợiđáp ứng yêu cầu của sản xuất và dân sinh; toàn xã có 99,2% số hộ có điện sửdụng; xã có 5 trường học, trong đó có trường đạt chuẩn quốc gia; 73% nhà ở đạttiêu chuẩn của Bộ Xây dựng, không còn nhà tạm, dột nát; tỷ lệ hộ nghèo giảmcòn
6,9% Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên đạt 95,07%, thu nhập bình quântrên 25,3 triệu đồng/người/năm Toàn xã có 90,6% người dân tham gia bảo hiểm
y tế; 1 trạm y tế đạt 10 tiêu chí quốc gia về y tế, Theo ông Pháp, kể từ khi triểnkhai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, nhận thức của người dân ởđịa phương đã chuyển biến tích cực từ nề nếp sinh hoạt tới tư duy, cách làm ăn,nhất là bà con người Khmer Cụ thể, người dân tự nguyện đóng tiền, công laođộng, đất đai để làm thủy lợi nội 17 đồng, xây cầu, đắp đường trong xã,… vớitổng trị giá lên đến nhiều tỷ đồng Cũng từ đó, đời sống kinh tế-văn hóa của bàcon được nâng lên rõ rệt
Chủ tịch UBND huyện Châu Thành Huỳnh Tấn Nguyên phấn khởi nói:
“Phú Tân đạt chuẩn xã nông thôn mới là thành tích rất đáng ghi nhận của Đảng
bộ, nhân dân huyện Châu Thành nói chung, Đảng bộ và nhân dân xã Phú Tân nói riêng Phát huy thành tích này, trong thời gian tới, Châu Thành sẽ tiếp tục phấn đấu để nhiều xã cán đích nông thôn mới”.
1.2.3 Một số nghiên cứu có liên quan
Trang 371.2.3.1 Một số nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới
Với gần 9 năm kinh nghiệm trong thực tiễn xây dựng nông thôn mới trênphạm vi cả nước, cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quanđến xây dựng nông thôn mới Sau đây là một số ví dụ:
Nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới, theo tác giả Nguyễn Việt Dũng(2015) trong một đề tài nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới tại huyện YênSơn (tỉnh Tuyên Quang) cho biết: Về cơ bản, các cán bộ cấp cơ sở của các xãtrên địa bàn huyện Yên Sơn đã nhận thức cơ bản về chủ trương, đường lối, chínhsách, kế hoạch xây dựng nông thôn mới giai 2011 - 2015, định hướng đến năm
2020 Trong quá trình tổ chức triển khai, chỉ đạo thực hiện cả hệ thống chính trịcủa các xã đã đồng loạt vào cuộc dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng các xã chínhquyền các xã thực hiện điều hành các chương trình, mục tiêu, dự án xây dựngnông thôn, phối hợp với ủy ban mặt trận tổ quốc các đoàn thể chính trị, xã hộivận động nhân dân chung tay, chung sức xây dựng nông thôn mới, trên quanđiểm nhà nước và nhân dân cùng làm, gắn với việc lồng ghép các chương trình
dự án, các nguồn vốn vay từ hệ thống ngân hàng, tạo công ăn việc làm, xóa đóigiảm nghèo, nâng cao thu nhập cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho nhândân, đóng góp vốn ngày công lao động xây dựng cơ sở hạ tầng các thiết chế vănhóa hương ước, quy ước của cơ sở, xây dựng nông thôn mới cho quê hương vănminh, giàu đẹp
Cũng nghiên cứu về nông thôn mới tại huyện miền núi Bảo Lạc (tỉnh CaoBằng), tác giả Mông Thị Huyền (2016) cho biết: Việc triên khai xây dựng nôngthôn mới trên địa bàn huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng có nhiều thuận lợi, nhưngcũng gặp nhiều khó khăn Những thuận lợi cơ bản như Nhà nước có nhiều chínhsách; nhân dân có truyền thống đoàn kết, luôn nhận được sự quan tâm, lãnh đạo,chỉ đạo, sát sao điều hành, tổ chức thực hiện của các cấp ủy Đảng, chính quyềnđịa phương và sự đầu tư của Đảng và Nhà nước Những khó khăn chính như địabàn rộng, phức tạp; điểm xuất phát thấp trong khi nguôn lực của địa phương cóhạn Để đẩy mạnh xây dựng Nông thôn mới, trong thời gian tới địa phương cân
Trang 38áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp, từ công tác tuyên truyền, đào tạo, bồi dưỡngđội ngũ cán bộ, xây dựng các tổ chức trong hệ thống chính trị vững mạnh banhành một số chính sách, Vận động nhân dân chuyển đổi ruộng đất, hiến đất,đồng thời quy hoạch, phát triển nhanh các thị trấn, thị tứ và xây dựng một sốcông trình liên xã Xây dựng nông thôn mới là công cuộc lâu dài và cần có sựvào cuộc của các hệ thống chính trị và tham gia của toàn dân Địa phương cầnquán triệt đầy đủ các chủ trương chính sách của đảng và Nhà nước, đồng thờivận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của từng đơn vị.
Như vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu về xây dựng nông thôn mớiđều đề cập đến sự cần thiết, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nhất là sựtham gia của cộng đồng và người dân trong xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên,điểm yếu là chưa giải quyết tận gốc sự tụt hậu về kinh tế ngày càng hiện rõ đốivới nhóm cộng đồng nông thôn
1.2.3.2 Một số nghiên cứu về thu nhập của hộ gia đình nông thôn
Trong bối cảnh hiện nay cả nước chỉ còn thực hiện 2 Chương trình Mụctiêu quốc gia là Xây dựng nông thôn mới và Giảm nghèo bền vững, do đó xâydựng nông thôn mới gắn với giảm nghèo bền vững đang trở thành nội dung quantrọng trong triển khai hai Chương trình Mục tiêu quốc gia của Chính phủ ViệtNam Bởi vậy, hơn lúc nào hết thu nhập của hộ gia đình nông thôn, nhất là nôngdân đang trở nên một vấn đề đã và đang được nhiều công trình nghiên cứu đềcập Sau đây là một số vị dụ điển hình:
Tác giả Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Văn Trịnh và Phan Thuận (2014) đã tiếnhành nghiên cứu một đề tài nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhậpcủa người nông dân trồng lúa ở Cần Thơ Đề tài đã tiến hành khảo sát 190 hộ giađình trồng lúa thuộc các huyện Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ và Thới Lai thuộc thành phốCần Thơ để phân tích mức độ ảnh hưởng của ngành trồng lúa đến thu nhập củanông hộ Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu này là thống kê mô
tả và hồi quy đa biến Kết quả cho thấy, thu nhập của người trồng lúa vẫn cònthấp
Trang 39Nghiên cứu cũng xác định các yếu tố như diện tích canh tác, chi tiêu sản xuất,giá lúa, sản lượng lúa và giới tính ảnh hưởng khá mạnh mẽ đến thu nhập củangười trồng lúa ở Cần Thơ Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Nhìn chung, thunhập của bà con nông dân trồng lúa ở Cần Thơ vẫn còn thấp so với thu nhập bìnhquân của thành phố Nghiên cứu còn cho thấy các yếu tố quan trọng ảnh hưởngđến thu nhập của người trồng lúa như diện tích đất canh tác, chi tiêu cho sảnxuất, giá lúa, sản lượng lúa và giới tính chủ hộ Phát hiện này không chỉ có sựthống nhất với các nghiên cứu trước đó mà còn bổ sung thêm các yếu tố đầu raảnh hưởng đến thu nhập của bà con nông dân trồng lúa Điều này cho thấy,những phát hiện của nghiên cứu cung cấp thêm bằng chứng thuyết phục về cácyếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người trồng lúa ở Cần Thơ hiện nay Đồngthời, qua phân tích kết quả khảo sát, nghiên cứu đã cho thấy rằng, người nôngdân trồng lúa vẫn chưa thật sự an tâm để làm giàu cho bản thân trên mảnh ruộngquê hương bởi vì giá lúa luôn bấp bênh và năng suất lúa thường không ổn định.Trong điều kiện hiện nay, quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng nhanh cũngkhiến cho người nông dân mất đất màu mỡ để sản xuất nông nghiệp, diện tíchđất canh tác bị thu hẹp đã làm giảm năng suất lúa Kết quả là thu nhập của ngườitrồng lúa giảm.
Còn tác giả Nguyễn Lan Duyên (2014) đã sử dụng phương pháp bìnhphương bé nhất (OLS) để ước lượng mô hình hồi quy nhằm xác định các yếu tốảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở tỉnh An Giang trên cơ sở hệ thống dữ liệu
sơ cấp thu thập từ 598 nông hộ được chọn ngẫu nhiên Kết quả ước lượng chothấy các yếu tố như trình độ học vấn, diện tích đất, thời gian sống tại địa phương,khoảng cách từ nơi ở đến đô thị, lượng vốn vay, lãi suất và số lao động có ảnhhưởng đến thu nhập của nông hộ ở An Giang Kết quả cũng cho thấy nhiều laođộng trong độ tuổi vẫn còn sống phụ thuộc, làm giảm thu nhập bình quân đầungười của hộ Bên cạnh đó, nông hộ sống càng gần đô thị thì sẽ có cơ hội cảithiện thu nhập bởi có thể bán được sản phẩm trực tiếp với giá cao hơn trong khichi phí vận chuyển, bảo quản thấp hơn, đồng thời có thể tham gia các hoạt độngphi nông
Trang 40nghiệp để làm tăng thu nhập Từ kết quả nghiên cứu và thực tế ở An Giang,nghiên cứu có một số khuyến nghị nhằm nâng cao thu nhập của nông hộ nhưsau: Nhà nước cần phát triển hệ thống trường lớp ở nông thôn với nhiều hìnhthức (thường xuyên, không thường xuyên, ngắn hạn,…) và có chính sách hỗ trợ,khuyến khích bà con nông dân (đặc biệt là các chủ hộ trẻ tuổi) đến học để nângcao trình độ Cần tạo việc làm cho họ thông qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngthôn theo hướng sản xuất hàng hóa, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, chú trọngnhững sản phẩm có giá trị cao và có tiềm năng xuất khẩu Tạo điều kiện khôiphục và phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống ở nông thôn,phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các thị tứ, thị trấn hay các cụm tuyếndân cư (vượt lũ) Cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức của mọingười trong việc mỗi người cố gắng học lấy một nghề Bên cạnh đó, cần đầu tưphát triển mạng lưới giao thông nông thôn, kết nối trung tâm hành chính xã, thịtrấn, thị xã với nông hộ nhằm phục vụ cho việc vận chuyển sản phẩm dễ dàng
và nhanh chóng đưa sản phẩm trực tiếp đến tay người tiêu dùng Triển khai cácbiện pháp để hỗ trợ, tạo mối liên kết giữa nông hộ với doanh nghiệp, hợp tác xã,
tổ chức khoa học, hiệp hội ngành nghề,… trong việc sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm Tạo điều kiện để tổ hợp tác, hợp tác xã đổi mới nội dung hoạt động, mởrộng quy mô, ngành nghề sản xuất kinh doanh Xây dựng các khu chợ nông thôn
và chợ đầu mối ở các vùng và tiểu vùng sản xuất nông sản tập trung Đồng thời,nhà nước cần hỗ trợ các tổ chức tín dụng có sự tham gia của nông dân (Quỹ tíndụng nhân dân, Hợp tác xã tín dụng, nhóm tiết kiệm của nông dân và các hìnhthức hỗ trợ vốn do các tổ chức đoàn thể lập ra, ) để hỗ trợ nông dân Ngân hàngNhà nước cần triển khai thực hiện tốt Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12tháng 4 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụphát triển nông nghiệp, nông thôn và các hướng dẫn thực hiện của ngân hàngNhà nước Việt Nam về các hình thức cho vay tín chấp đối với nông nghiệp,nông thôn Trong đó, cần quan tâm đến chính sách cho vay với kỳ hạn linh độnghơn và thủ tục đơn giản hơn Chính