Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cho thấy toàn diện và cập nhật hơn về đặc điểm sinh vật học của loài; thực trạng phân bố tự nhiên, hoạt động gây trồng; các kỹ thuật được áp dụng.. Ý ng
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN CÔNG ĐỊNH
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC NHẰM ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
CÂY ĐẢNG SÂM (CODONOPSIS JAVANICA (BLUME) HOOK F.)
TẠI HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP
HUẾ – NĂM 2019
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN CÔNG ĐỊNH
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC NHẰM ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
CÂY ĐẢNG SÂM (CODONOPSIS JAVANICA (BLUME) HOOK F.)
TẠI HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Lâm sinh
Mã số: 9.62.02.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS TS NGUYỄN VĂN LỢI
2 TS TRẦN MINH ĐỨC
HUẾ – NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Trần Công Định, nghiên cứu sinh niên khóa 2015 - 2018 ngành Lâm sinh, Trường Đại học Nông lâm, Đại học Huế
Tôi xin cam đoan:
Đây là công trình nghiên cứu của riêng bản thân tôi
Các số liệu được sử dụng trong luận án có nguồn gốc rõ ràng
Kết quả nghiên cứu của luận án trung thực, khách quan và chưa có ai công bố trong các tài liệu khác
Thừa Thiên Huế, tháng 6 năm 2019
Người cam đoan
NCS Trần Công Định
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận án này được hoàn thành là kết quả của sự phấn đấu học tập, nghiên cứu của bản thân, cùng với sự giúp đỡ tận tình của thầy hướng dẫn khoa học, tập thể quý thầy cô giáo khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông lâm, Đại học Huế và đồng nghiệp
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Văn Lợi, TS Trần Minh Đức đã tận tình hướng dẫn khoa học trong suốt quá trình thực hiện luận án
Sự giúp đỡ của lãnh đạo các xã, các cơ quan đoàn thể, chính quyền và nhân dân huyện Tây Giang
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, động viên về vật chất và tinh thần từ gia đình và Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Quảng Nam để tác giả có điều kiện hoàn thành luận án này
Đây là lần đầu tiên bản thân được nghiên cứu khoa học trong phạm vi rộng, tiếp xúc với thực tiễn sản xuất của đồng bào vùng cao, đồng thời do thời gian và kiến thức bản thân còn có hạn nên khó tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý chỉ bảo của quý thầy cô giáo và đồng nghiệp để bản thân rút kinh nghiệm
Tôi xin chân thành cảm ơn
Thừa Thiên Huế, tháng 6 năm 2019
NCS Trần Công Định
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
BNN Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
4 Những đóng góp mới của luận án 2
5 Bố cục của luận án 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Tổng quan về lâm sản ngoài gỗ 4
1.1.2 Tổng quan về kiến thức bản địa 6
1.1.3 Tổng quan về cây dược liệu 8
1.2 Tình hình nghiên cứu cây đảng sâm trong nước 14
1.2.1 Phân loại đảng sâm 14
1.2.2 Đặc điểm phân bố, tái sinh 17
1.2.3 Đặc điểm sinh thái 19
1.2.4 Đặc điểm hình thái 19
1.2.5 Thành phần hóa học 21
Trang 71.2.6 Tác dụng dược lý, công dụng 23
1.2.7 Nghiên cứu về nhân giống và gây trồng 24
1.2.8 Thu hái và chế biến 28
1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu cây đảng sâm ngoài nước 28
1.3.1 Tác dụng dược lý 28
1.3.2 Thành phần hóa học 29
1.3.3 Công dụng 30
1.3.4 Nhân giống, gây trồng 31
1.3.5 Bệnh hại 32
1.4 Một số đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam 33
1.4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, tài nguyên 33
1.4.2 Thực trạng phát triển kinh tế 38
1.4.3 Thực trạng phát triển xã hội 40
1.4.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 41
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 43
2.1.1 Phạm vi nghiên cứu 43
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 43
2.2 Nội dung nghiên cứu 43
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố và tái sinh loài đảng sâm tại huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam 43
2.2.2 Nghiên cứu thực trạng gây trồng và kiến thức bản địa của người dân về loài đảng sâm 43
2.2.3 Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng cây đảng sâm 44
2.2.4 Đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển bền vững cây đảng sâm dựa trên kết quả nghiên cứu 44
2.3 Phương pháp nghiên cứu 44
2.3.1 Cách tiếp cận 44
2.3.2 Phương pháp kế thừa tài liệu 46
Trang 82.3.3 Phương pháp điều tra kiến thức bản địa của người dân về loài đảng sâm 46
2.3.4 Phương pháp điều tra và xây dựng bản đồ phân bố tự nhiên loài đảng sâm dựa trên cơ sở GIS 46
2.3.5 Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây đảng sâm 52
2.3.6 Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật trồng cây đảng sâm 54
2.3.7 Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh của mô hình trồng đảng sâm 55
2.3.8 Phương pháp xử lý số liệu 57
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 58
3.1 Đặc điểm sinh học, sinh thái học và lâm học của loài đảng sâm tại huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam 58
3.1.1 Đặc điểm hình thái của loài đảng sâm 58
3.1.2 Đặc điểm sinh thái của loài đảng sâm 58
3.1.3 Đặc điểm phân bố, tái sinh 59
3.1.4 Ảnh hưởng của một số nhân tố lập địa đến phân bố tự nhiên đảng sâm ở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam 64
3.2 Thực trạng gây trồng và kiến thức bản địa của người dân địa phương về loài đảng sâm 73
3.2.1 Thực trạng gây trồng loài đảng sâm 73
3.2.2 Kênh thị trường tiêu thụ và giá trị sản phẩm đảng sâm 76
3.2.3 Kiến thức bản địa của người dân về loài đảng sâm 77
3.3 Kỹ thuật gây trồng cây đảng sâm 83
3.3.1 Kỹ thuật nhân giống 83
3.3.2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 97
3.4 Đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển bền vững cây đảng sâm dựa trên kết quả nghiên cứu 117
3.4.1 Kết quả phân tích SWOT 117
3.4.2 Tiềm năng của địa phương để phát triển mô hình trồng đảng sâm 118
3.4.3 Các giải pháp quản lý và phát triển bền vững cây đảng sâm 120
Trang 9KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 127
1 Kết luận 127
2 Tồn tại 129
3 Kiến nghị 129
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 130
TÀI LIỆU THAM KHẢO 131
PHỤ LỤC 138
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Danh mục mẫu vật và địa điểm lấy mẫu đảng sâm 16
Bảng 1.2 Hàm lượng acid amin toàn phần trong rễ đảng sâm 22
Bảng 2.1 Ma trận so sánh cặp đôi tương quan giữa các nhân tố ảnh hưởng 49
Bảng 2.2 Chỉ số ngẫu nhiên RI của Saaty 50
Bảng 3.1 Phân bố của đảng sâm trên các tuyến điều tra 59
Bảng 3.2 Phân bố đảng sâm theo độ cao 60
Bảng 3.3 Phân bố đảng sâm theo vị trí tương đối của địa hình 61
Bảng 3.4 Phân bố của đảng sâm theo các dạng sinh cảnh 62
Bảng 3.5 Đặc điểm sinh trưởng và tái sinh của đảng sâm 63
Bảng 3.6 Phân hạng phân bố đảng sâm tự nhiên tại huyện Tây Giang 65
Bảng 3.7 Trọng số của một số nhân tố lập địa ảnh hưởng đến phân bố loài đảng sâm66 Bảng 3.8 Các tham số của AHP 67
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của sinh cảnh rừng đến phân bố loài đảng sâm 68
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của địa hình đến phân bố loài đảng sâm 69
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của đất đến phân bố loài đảng sâm 71
Bảng 3.12 Tổng hợp diện tích phân cấp thích hợp phân bố loài đảng sâm 72
Bảng 3.13 Thống kê diện tích trồng đảng sâm từ 2011 đến 2016 tại huyện Tây Giang 74
Bảng 3.14 Lịch mùa vụ sinh trưởng và phát triển của loài đảng sâm 77
Bảng 3.15 Đặc điểm khác nhau giữa đảng sâm mọc hoang và đảng sâm gây trồng 79
Bảng 3.16 Một số chỉ tiêu về khối lượng và số hạt của quả đảng sâm 84
Bảng 3.17 Ảnh hưởng của nhiệt độ nước xử lý hạt giống đến tỷ lệ nẩy mầm 85
Bảng 3.18 Ảnh hưởng của thời gian cất trữ đến tỷ lệ nẩy mầm của hạt đảng sâm 86
Bảng 3.19 Tỷ lệ nẩy mầm theo các loại giá thể gieo hạt 87
Bảng 3.20 Ảnh hưởng của hỗn hợp giá thể ruột bầu đến tỷ lệ sống cây đảng sâm 88
Bảng 3.21 Chiều cao trung bình của cây đảng sâm ở các giá thể ruột bầu khác nhau 89 Bảng 3.22 Số lá trung bình của cây đảng sâm ở các giá thể ruột bầu khác nhau 90
Trang 11Bảng 3.23 Ảnh hưởng của độ che sáng đến tỷ lệ sống cây đảng sâm 90
Bảng 3.24 Chiều cao trung bình của cây đảng sâm ở các độ che sáng khác nhau 91
Bảng 3.25 Số lá của cây đảng sâm ở các độ che sáng khác nhau 92
Bảng 3.26 Tỷ lệ sống của đảng sâm ở các công thức IBA 93
Bảng 3.27 Ảnh hưởng của phương thức trồng đến tỷ lệ sống của đảng sâm ở các thời điểm theo dõi 97
Bảng 3.28 Sinh trưởng chiều cao cây đảng sâm 99
Bảng 3.29 Sinh trưởng số nhánh của cây đảng sâm 100
Bảng 3.30 Sinh trưởng đường kính đầu củ đảng sâm 101
Bảng 3.31 Tỷ lệ cây ra hoa, đậu quả của cây đảng sâm 103
Bảng 3.32 Cấu trúc sản phẩm đảng sâm được phân theo cấp kính 104
Bảng 3.33 Khối lượng trung bình củ tươi theo cấp đường kính 107
Bảng 3.34 Phân bố tổng sinh khối theo cấp kính (đơn vị tính: gam) 108
Bảng 3.35 Phân bố tổng sinh khối theo độ tuổi (đơn vị tính: gam) 108
Bảng 3.36 Năng suất củ tươi của các mô hình trồng đảng sâm 110
Bảng 3.37 Chi phí trồng và chăm sóc các mô hình trồng đảng sâm tính cho 1 ha 111
Bảng 3.38 Giá trị kinh tế của các mô hình trồng đảng sâm 112
Bảng 3.39 Điểm mạnh, điểm yếu, thách thức và cơ hội của việc phát triển các mô hình trồng cây đảng sâm 117
Bảng 3.40 Tổng hợp các nhân tố sinh thái phù hợp bảo tồn và phát triển đảng sâm 123 Bảng 3.41 Các phương án khai thác và sử dụng mô hình trồng đảng sâm 124
Trang 12DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Qui trình xây dựng bản đồ phân bố loài đảng sâm trong tự nhiên ở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam 52
Hình 3.1 Bản đồ dự báo khu vực có phân bố đảng sâm (theo nhân tố sinh cảnh rừng) 68
Hình 3.2 Bản đồ dự báo khu vực có phân bố đảng sâm (theo nhân tố địa hình) 70
Hình 3.3 Bản đồ dự báo có phân bố đảng sâm (theo nhân tố đất) 71
Hình 3.4 Bản đồ dự báo các khu vực có đảng sâm phân bố tự nhiên ở huyện Tây Giang, Quảng Nam 73
Hình 3.5 Hình thái cây đảng sâm mọc hoang và đảng sâm gây trồng 80
Hình 3.6 Các mô hình trồng đảng sâm 81
Hình 3.7 Đường tương quan tuyến tính giữa thời gian cất trữ và tỷ lệ nẩy mầm của hạt đảng sâm 87
Hình 3.8 Tỷ lệ sống của đảng sâm theo các phương thức trồng khác nhau 98
Hình 3.9 Biến đổi khối lượng trung bình củ tươi theo cấp đường kính đầu củ 107
Hình 3.10 Phân bố tổng sinh khối củ tươi theo độ tuổi 109
Sơ đồ 3.1 Kênh thị trường tiêu thụ sản phẩm đảng sâm 76
Sơ đồ 3.2 Giá trị sản phẩm đảng sâm (củ tươi) 76
Sơ đồ 3.3 Kỹ thuật nhân giống đảng sâm từ hạt 94
Sơ đồ 3.4 Kỹ thuật trồng và chăm sóc đảng sâm 113
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Tây Giang là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Quảng Nam, có tổng diện tích tự nhiên là 91.368,05 ha với 74,50 % là đất lâm nghiệp Địa hình đồi núi, độ dốc lớn và chia cắt mạnh chiếm trên 95 % diện tích tự nhiên Tây Giang là địa phương được nghi nhận có cây đảng sâm phân bố tự nhiên và đi đầu trong khu vực miền Trung trong việc gây trồng và phát triển theo hướng hàng hóa
Kết quả nghiên cứu về đảng sâm trên thế giới cho thấy chi Codonopsis có
khoảng 42 loài đặc hữu, phân bố chủ yếu ở Trung, Đông và Nam Á, từ Kamchatka và Nhật Bản đến Afghanistan, Pakistan, Himalayas, phía Nam Trung Quốc và Đài Loan Châu Á có khoảng 11 loài, Trung Quốc có 6 - 7 loài, Đông Dương có 3 loài, riêng Việt
Nam có 2 - 3 loài là Codonopsis javanica, Codonopsis celebica và Codonopsis
lancifolia Ở Việt Nam, đảng sâm có các tên gọi là Sâm leo, Phòng đảng sâm, Đùi gà,
Mằn rày cáy (Tày), Cang hô (H’Mông) phân bố nhiều ở các tỉnh Lai Châu, Lào Cai,
Hà Giang, Sơn La, Yên Bái, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Kon Tum, Lâm Đồng, Quảng Nam
Hiện nay, nhu cầu sử dụng cây đảng sâm để làm dược liệu, chăm sóc sức khỏe trong và ngoài nước rất cao Trong tất cả các bài thuốc điều trị bệnh trong Đông y đều
có tên đảng sâm với vai trò là vị thuốc bổ, nâng cao sức đề kháng, tăng cường sức
khỏe cho người bệnh Đảng sâm trong tự nhiên đang được xem là đối tượng ‘‘săn
lùng’’ của người dân Trong những năm qua, nguồn cung cấp cây dược liệu quý đảng
sâm phụ thuộc vào khai thác từ tự nhiên và trồng tự phát của người dân địa phương Việc khai thác bừa bãi, sử dụng đất rừng và canh tác không hợp lý đã làm giảm nhanh
về số lượng và chất lượng Nếu không có giải pháp quản lý và phát triển loài loài này hợp lý thì trong tương lai không xa, loài cây thuốc quý này có nguy cơ bị đe doạ cao, thậm chí tuyệt chủng trong thiên nhiên
Để dược liệu đảng sâm trở thành cây chủ lực trong phát triển kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng tạo nguồn thu nhập và chăm lo sức khỏe cho người dân ở các xã miền núi, ngoài ra còn là nguyên liệu đầu vào cho ngành dược liệu, ủy ban nhân dân
tỉnh Quảng Nam đã phê duyệt Nghị quyết số 202/2016/NQ - HĐND “Cơ chế khuyến
khích bảo tồn và phát triển một số cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2016 - 2020”, trong đó chỉ rõ “Diện tích tối đa hỗ trợ cho hộ gia đình trồng đảng sâm dưới tán rừng là 0,7 ha/hộ và trồng thuần loài đảng sâm trên đất trống và nương rẫy là 0,5 ha/hộ” Điều này đã mở ra cơ hội phát triển bền vững loài đảng sâm
ở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
Trang 14Trước yêu cầu cần thiết phải bảo vệ và phát triển cây đảng sâm bền vững, nâng
cao đời sống của người dân địa phương, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu cơ sở
khoa học nhằm đề xuất giải pháp quản lý và phát triển bền vững cây đảng sâm
(Codonopsis javanica (Blume) Hook f ) tại huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam”
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cho thấy toàn diện và cập nhật hơn về đặc điểm sinh vật học của loài; thực trạng phân bố tự nhiên, hoạt động gây trồng; các kỹ thuật được áp dụng Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đạt được để đề xuất các giải pháp
quản lý và phát triển loài trong tương lai tại địa phương
- Xác định được đặc điểm hình thái, sinh thái và ảnh hưởng của một số yếu tố
lập địa đến phân bố tự nhiên loài đảng sâm tại huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
- Xây dựng được hướng dẫn kỹ thuật nhân giống bằng hạt và gây trồng loài đảng sâm
- Đề xuất được các giải pháp quản lý và phát triển bền vững cây đảng sâm ở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Cung cấp các dữ liệu khoa học về đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, tái sinh
và ảnh hưởng của các nhân tố lập địa đến phân bố tự nhiên của loài đảng sâm
- Cung cấp các thông tin khoa học về kỹ thuật nhân giống và gây trồng loài đảng sâm
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp quản lý và
phát triển loài đảng sâm tại huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
4 Những đóng góp mới của luận án
- Đã xác định được một số đặc điểm sinh học, sinh thái và phân bố của loài đảng sâm
- Đã xác định được và bổ sung một số biện pháp kỹ thuật nhân giống, gây trồng loài đảng sâm
- Đề xuất được một số giải pháp cụ thể, có căn cứ khoa học và tính khả thi nhằm gây trồng, phát triển bền vững loài đảng sâm trong vùng nghiên cứu
Trang 15Chương 1 Tổng quan tài liệu
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết luận và khuyến nghị
Danh mục các công trình khoa học đã công bố
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Tổng quan về lâm sản ngoài gỗ
1.1.1.1 Khái niệm
Theo De Beer và Mc Dermott (1996) [77], lâm sản ngoài gỗ là “Tất cả các vật
liệu sinh học khác gỗ mà chúng được khai thác từ rừng tự nhiên để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của loài người Lâm sản ngoài gỗ bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa cây, keo dán, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhộm, cây cảnh, động vật hoang
dã (các sản phẩm và động vật sống), chất đốt và các nguyên liệu thô, song mây, tre nứa, trúc, gỗ nhỏ và gỗ cho sợi” Rõ ràng là quan niệm của De Beer về lâm sản ngoài
gỗ chỉ bao gồm các sản phẩm hữu hình mà chưa đề cập đầy đủ đến các giá trị khác, vô hình của rừng, của hệ thống nông lâm kết hợp
Theo Mendelsohn(1994) [80], lâm sản ngoài gỗ ở vùng nhiệt đới đóng vai trò quan trọng cho sự bảo tồn, duy trì tính bền vững của rừng và có giá trị kinh tế Chúng quan trọng cho việc bảo tồn vì khai thác lâm sản ngoài gỗ rất có giá trị Tác giả đã khẳng định việc khai thác lâm sản ngoài gỗ nên được thúc đẩy như một hứa hẹn giữa bảo tồn và phát triển rừng nhiệt đới Một ưu điểm nữa là rừng tự nhiên có thể được giữ nguyên vẹn, trong khi người dân vẫn có thể thu được lợi ích từ các khu rừng này Để bảo tồn có khai thác và đạt hiệu quả bền vững Mendelsohn đề nghị 3 vấn đề: cần phải khuyến khích quản lý tài nguyên dài hạn, phải xác định vùng đất dành cho khai thác và cần phải xác định rõ các thành phần đầy đủ của sản phẩm được khai thác từ rừng
Hội nghị lâm nghiệp do tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc triệu tập tháng 6
năm 1999 đã đưa ra và thông qua một định nghĩa khác về lâm sản ngoài gỗ “lâm sản
ngoài gỗ (Non timber forest product) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có cây rừng (wooded lands) và cây ở ngoài rừng” Thuật ngữ này phải dịch sang Tiếng Việt là “lâm sản ngoài gỗ cây”, nhưng để
đơn giản vẫn dùng thuật ngữ lâm sản ngoài gỗ Với định nghĩa này, lâm sản ngoài gỗ bao gồm cả động vật, gỗ nhỏ và củi và rộng hơn so với định nghĩa trước
Ngày nay, trong lâm nghiệp thuật ngữ lâm sản ngoài gỗ được dùng phổ biến, chính thức thay cho thuật ngữ lâm sản phụ (minor forest product/ secondary forest product) Định nghĩa của thuật ngữ này được thông qua trong hội nghị tư vấn lâm
nghiệp Châu Á - Thái Bình Dương tại Băng Cốc, ngày 5 tháng 8 năm 1991: “lâm sản
ngoài gỗ (Non-wood forest product) bao gồm những sản phẩm tái tạo được ngoài gỗ, củi và than gỗ Lâm sản ngoài gỗ được lấy từ rừng, đất rừng hoặc từ những cây thân gỗ” Do đó, không được coi là lâm sản ngoài gỗ những sản phẩm như cát, đá, nước,
dịch vụ du lich sinh thái
Trang 171.1.1.2 Thực vật cho lâm sản ngoài gỗ
Theo tác giả Lê Mộng Chân, Vũ Văn Dũng (1992) [19], “Thực vật rừng gồm tất
cả các loài cây, loài cỏ, dây leo bậc cao và bậc thấp phân bố trong rừng Những loài cây không cho gỗ hoặc ngoài gỗ còn cho các sản phẩm khác quý như nhựa thông, quả hồi, vỏ quế hoặc sợi song mây là thực vật đặc sản rừng” Theo nghĩa hẹp, những thực
vật cho sản phẩm không phải gỗ hoặc ngoài việc cung cấp gỗ chúng còn cho nhiều sản phẩm có giá trị khác gọi chung là thực vật cho lâm sản ngoài gỗ Theo nghĩa rộng, thực vật cho lâm sản ngoài gỗ gồm mọi thực vật của hệ sinh thái rừng hoặc của hệ thống sử dụng đất tương tự có khả năng cung cấp lâm sản ngoài gỗ
Như vậy, thực vật cho lâm sản ngoài gỗ nhất thiết phải là thành viên tham gia cấu trúc hệ sinh thái rừng hoặc của hệ sinh thái hay hệ thống sử dụng đất tương tự rừng: trảng cây bụi, rừng của thôn bản, đồn điền cao su, rừng trang trại, rừng trồng và các hệ thống nông lâm kết hợp Một loài thực vật nào đó dù cung cấp các sản phẩm như nấm, tinh dầu, nhựa, quả, hạt … nhưng chúng được gây trồng trong vườn hộ, trên đất trống, đồi trọc, trong công viên, trường học, ven đường, ngoài cánh đồng thì không phải là thực vật cho lâm sản ngoài gỗ và các sản phẩm do những loài thực vật này tạo
ra cũng không phải là lâm sản ngoài gỗ
1.1.1.3 Phân loại thực vật cho lâm sản ngoài gỗ
Do mục đích, đối tượng sử dụng lâm sản ngoài gỗ đa dạng và phong phú nên việc phân loại chúng có nhiều quan điểm khác nhau Hiện nay, các phương pháp phân loại lâm sản ngoài gỗ được áp dụng chủ yếu là:
- Phương pháp phân loại theo hệ thống sinh học Đây là cách phân loại theo hệ thống tiến hóa của sinh giới, được sắp xếp một cách khách quan vào hệ thống các bậc phân loại từ lớn đến nhỏ: Giới/ngành/lớp/bộ/họ/chi/loài
- Phương pháp phân loại theo hình thái và dạng sống Đây là phương pháp phân loại dựa vào đặc điểm hình thái bên ngoài của các loài cây Các thực vật cho lâm sản ngoài gỗ được phân loại thành: cây gỗ lớn/cây gỗ nhỏ/cây thân thảo/cây dây leo/ cây thân đốt/cây bụi và các loài cỏ
- Phương pháp phân loại theo nhóm giá trị sử dụng Theo phương pháp này, các lâm sản ngoài gỗ dù có nguồn gốc khác nhau nhưng có cùng giá trị sử dụng thì được xếp vào một nhóm Ưu điểm nổi bậc của phương pháp này là đơn giản, dễ áp dụng, sử dụng nhiều kiến thức bản địa của người dân nên có ý nghĩa thực tiễn lớn, được người dân, người kinh doanh và nhà nghiên cứu quan tâm
Việc phân loại lâm sản ngoài gỗ theo giá trị sử dụng còn có nhiều quan điểm khác nhau, theo FAO (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc, 1984) thì các loại lâm sản ngoài gỗ được phân thành các nhóm như sau: 1) Làm lương thực, thực phẩm; 2) Làm vật liệu xây dựng; 3) Làm hàng thủ công mỹ nghệ; 4) Làm dược liệu, hương liệu; 5) Làm cảnh
Trang 181.1.2 Tổng quan về kiến thức bản địa
1.1.2.1 Khái niệm
Theo Katherine Warner (1991) [44], tri thức bản địa là tri thức địa phương -
dạng kiến thức duy nhất cho một nền văn hóa hay một xã hội nhất định Đây là kiến thức cơ bản cho việc ra quyết định ở mức địa phương về nông nghiệp, chăm sóc sức khỏe, chế biến thức ăn, giáo dục, quản lý tài nguyên thiên nhiên và các hoạt động chủ yếu của cộng đồng nông thôn Khác với tri thức bản địa, hệ thống tri thức hàn lâm
thường được xây dựng từ các trường đại học, viện nghiên cứu
Theo Trung tâm Quốc tế tái thiết nông thôn (International Institure of Rural
Reconst ductoin) gọi tắt là “IIRR” (1999), tri thức bản địa là tri thức của cộng đồng
cư dân trong một cộng đồng nhất định phát triển vượt thời gian và liên tục phát triển Tri thức bản địa được hình thành dựa vào kinh nghiệm, thường xuyên kiểm nghiệm trong quá trình sử dụng, thích hợp với văn hóa và môi trường địa phương, năng động
và biến đổi
Tóm lại, tri thức bản địa là những nhận thức, những hiểu biết về môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường lao động và môi trường sinh sống Kiến thức bản địa được hình thành từ cộng đồng dân cư ở một nơi cư trú nhất định trong lịch sử tồn tại và phát triển của cộng đồng ấy Kiến thức bản địa có những đặc trưng sau:
- Kiến thức bản địa được hình thành và biến đổi liên tục qua các thế hệ trong một cộng đồng địa phương nhất định
- Kiến thức bản địa có khả năng thích ứng cao với môi trường riêng của từng địa phương nơi đã hình thành và phát triển tri thức đó
- Kiến thức bản địa rất đơn giản, chi phí thấp và bền vững đối với điều kiện tự nhiên địa phương
- Kiến thức bản địa do toàn thể cộng đồng trực tiếp sáng tạo ra qua lao động trực tiếp
- Kiến thức bản địa không được ghi chép bằng văn bản cụ thể mà được lưu giữ bằng trí nhớ và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, thơ ca,
hò vè, tế lễ và nhiều tập tục khác nhau (thông qua các hình thức văn hóa đặc trưng mang tính địa phương)
- Kiến thức bản địa luôn gắn liền và hòa hợp với nền văn hóa, tập tục địa phương
- Kiến thức bản địa có giá trị cao trong việc xây dựng các mô hình phát triển nông thôn bền vững
- Tính đa dạng của tri thức bản địa rất cao
Trang 19Kiến thức bản địa được phân chia theo các loại hình khác nhau Theo IIRR,
1999, tri thức bản địa có thể phân ra các loại hình như sau:
- Thông tin: Hệ thống thông tin về cây cỏ, thực vật, trồng trọt hay canh tác tốt cùng tồn tại với nhau trên cùng một diện tích canh tác nhất định hay những chỉ số về thực vật Các câu chuyện, thông điệp được truyền lại bằng các vết đục, chạm khắc hay viết trên các thẻ trúc (Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan ), các dạng lưu truyền dân gian, hệ thống trao đổi thông tin truyền thống
- Kỹ thuật công nghệ: Kiến thức bản địa bao gồm kỹ thuật về trồng trọt và chăn nuôi, phương pháp lưu trữ giống, chế biến thức ăn, kỹ năng chữa bệnh cho người và gia súc, gia cầm
- Tín ngưỡng: Tín ngưỡng có thể đóng vai trò cơ bản trong sinh kế, chăm sóc sức khỏe và quản lý môi trường của con người Những cánh rừng thiêng (rừng ma) được bảo vệ với những lý do tôn giáo Những lý do này có thể duy trì những lưu vực rộng lớn đầy sức sống Những lễ hội tôn giáo có thể là cơ hội bổ sung thực phẩm, dinh dưỡng cho những cư dân địa phương khi mà khẩu phần thường nhật của họ là rất ít ỏi
- Công cụ: Kiến thức bản địa được thể hiện ở những công cụ lao động trang bị cho canh tác và thu hoạch mùa màng Công cụ nấu nướng cũng như sự thực hiện các hoạt động đi kèm
- Vật liệu: Kiến thức bản địa được thể hiện với vật liệu xây dựng, vật liệu làm
đồ gia dụng cũng như tiểu thủ công nghiệp truyền thống
- Kinh nghiệm: Người nông dân thường tích lũy kinh nghiệm trong quá trình canh tác, giới thiệu các nguyên liệu giống mới cho hệ thống canh tác đặc hữu Nhiều kết quả chữa bệnh đặc biệt được tích lũy qua kinh nghiệm sử dụng nguồn thực vật địa phương
- Tài nguyên sinh học: Kiến thức bản địa được thể hiện thông qua quá trình chọn giống vật nuôi và các loại cây trồng
- Tài nguyên nhân lực: Nhiều chuyên gia có chuyên môn cao như thầy lang, thợ rèn có thể coi như đại diện của dạng tri thức bản địa Kiến thức bản địa trong dạng này có thể thấy ở các tổ chức địa phương như nhóm họ tộc, hội đồng già làng, trưởng tộc, các nhóm tổ chia sẻ hoặc đổi công
- Giáo dục: Phương pháp truyền thụ kiến thức truyền thống, cách truyền nghề cho các thợ học việc, học hỏi thông qua sự quan sát và những thực nghiệm, thực hành tại chỗ
Trang 201.1.2.2 Kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên rừng
Quản lý lâm nghiệp bản địa gần đây đã trở thành mối quan tâm của cả khoa học lâm nghiệp và sự hợp tác phát triển lâm nghiệp Trước đây lâm nghiệp xã hội và lâm nghiệp tập quán không được đề cập tới, đặc biệt lâm nghiệp cộng đồng đã bị bỏ qua trong rất nhiều trường hợp, trong khi đó những sáng kiến và quản lý rừng bản địa lại rất có giá trị Ngày nay, lâm nghiệp chuyên nghiệp đã quan tâm rất nhiều đến sự thành công của lâm nghiệp bản địa và quá trình truyền thông và tổng hợp đã được mở ra
Nhiều nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng mô hình kết hợp để quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên (dựa trên cơ sở của các hệ thống kiến thức bản địa) đã được sử dụng có kết quả trong các ứng dụng khác nhau như các trang trại với quy mô nhỏ, nông lâm kết hợp và nghề nuôi trồng thủy sản
1.1.3 Tổng quan về cây dược liệu
1.1.3.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, sử dụng cây dược liệu trên thế giới
Rừng mưa nhiệt đới là nơi sinh sống của hơn 60 % số loài thực vật bậc cao đã biết trên trái đất Rừng đáp ứng phần lớn nhu cầu đòi hỏi của loài người trong đó có nhu cầu làm dược liệu để chữa bệnh Nền công nghiệp sản xuất thuốc chữa bệnh gần đây đã phát hiện ra rằng: các khu rừng mưa nhiệt đới như là nguồn vật chất hóa học đầy đủ nhất mà không hệ sinh thái nào có thể sánh nổi, đó là lợi thế quan trọng để phát triển các loại thuốc chữa bệnh và góp phần tăng thu nhập quốc gia
Từ thời xa xưa, thực vật dùng làm thuốc đóng vai trò quan trọng đối với đời sống loài người và ngày nay vai trò đó vẫn được giữ lại đối với các nước châu Á Trung Quốc,
Ấn Độ, Indonesia và Nepal không những người dân trồng cây dược liệu để phục vụ trong gia đình mà còn trồng để phục vụ cho mục đích thương mại
Theo số liệu của Tổ chức y học thế giới (WHO) đến năm 1995 đã có gần 20.000 loài thực vật (trong 250.000 loài được biết) được sử dụng làm thuốc hay cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc Trong đó, Ấn Độ có khoảng 6.000 loài, Trung Quốc có khoảng 5.000 loài Các nước có mức sử dụng thực vật làm thuốc ngày càng cao như Trung Quốc tiêu thụ 700.000 tấn dược liệu, sản phẩm thuốc y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,7 tỷ USD vào năm 1986 Tại Nhật Bản, năm 1979 đã nhập 21.000 tấn, đến năm
1980 tăng lên 22.640 tấn dược liệu, tương đương với 50 triệu USD Điều này chứng tỏ
ở các nước phát triển thì cây thuốc phục vụ cho y học cổ truyền phát triển mạnh Cây thuốc là loại cây kinh tế, cung cấp nhiều loại thuốc dân tộc và hiện đại trong việc bảo
vệ, chăm sóc sức khỏe con người
Trên thế giới có rất nhiều loài thực vật quý hiếm nhưng do các hoạt động khai thác bừa bãi của con người nên chúng đã dần cạn kiệt và có nhiều loài đã bị tuyệt chủng Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1989), trong vòng 100 năm trở lại đây có
Trang 21khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, có đến 60.000 loài có thể gặp rủi ro hoặc
sự tồn tại của chúng là rất mong manh vào giữa thế kỷ tới, nếu chiều hướng này cứ tiếp tục thì các loài thực vật ngày càng có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng, trong số này
có rất nhiều cây dùng để làm thuốc Ví dụ như ở Banglades có loài Tylopora cindica
(Blum.F.) Mer Dùng để chữa bệnh hen, loài Zanonia indica L dùng để tẩy xổ trước
đây có nhiều nhưng do khai thác quá mức nên hiện nay có nguy cơ bị tuyệt chủng
Loài Ba gạc (Rauvolfia serpentina (L.) Benth Ex Kus) hàng chục năm liền bị khai thác
ở Ấn Độ, Srilanka, Banglades, Thái Lan … với khối lượng 400 -1.000 tấn vỏ, rễ/năm
để xuất khẩu sang thị trường châu Âu, châu Mỹ, hiện nay đã trở nên cạn kiệt, thậm chí
ở một số bang của Ấn Độ chính quyền địa phương đã đình chỉ khai thác cây này Một
số cây thuốc khác có ở vùng Đông Bắc Ấn Độ là Coptis teeta trước kia thường khai
thác để bán cho các nước Đông Á, song với mức khai thác quá mức nên loài này ở tình trạng hết sức nguy hiểm Vì vậy, song song với việc nghiên cứu sử dụng cây thuốc thì một vấn đề đặt ra là phải bảo tồn cây thuốc Tại hội nghị về bảo tồn quỹ gen cây thuốc họp tại Thái Lan từ ngày 21 đến 27 tháng 3 năm 1993, hàng loạt các công trình nghiên cứu về tính đa dạng và việc bảo tồn cây thuốc được đặt ra một cách cấp thiết
Thực vật làm thuốc có tính đa dạng rất cao và có nhiều loài trong chúng phát triển rất tốt trong tự nhiên Đã có nhiều nghiên cứu tập trung vào việc khai thác, bảo tồn
và phát triển chúng trong tự nhiên cũng như trong điều kiện thí nghiệm Tuy nhiên, các
nổ lực trong các chương trình bảo tồn cây thuốc còn rất khiêm tốn trong việc tìm ra điều kiện tối ưu cho khả năng sinh tồn của chúng ngoài tự nhiên, các yêu cầu cả về sinh lý và sinh thái học của các loài thực vật này cần phải được xác định trước khi gây trồng và phát triển chúng Chính vì vậy các hoạt động bảo tồn tại chỗ cần được áp dụng nhiều hơn với các ưu tiên về chính sách sử dụng đất nhằm giúp cho việc bảo tồn các loài thực vật dùng để làm thuốc thực sự có hiệu quả
1.1.3.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu, sử dụng cây dược liệu tại Việt Nam
Rừng nhiệt đới Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật rất đa dạng và phong phú Việt Nam hiện nay có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao, 600 loài nấm, 800 loài rêu và hàng trăm các loài tảo lớn: trong đó có hơn 3.200 loài thực vật bậc cao và bậc thấp được dùng làm thuốc bảo vệ sức khỏe và chữa bệnh cho người được phân bố khắp các điều kiện lập địa khác nhau ở nước ta Theo thống kê chưa đầy đủ ở Gia Lai - Kon tum có khoảng 921 loài cây người dân dùng làm thuốc; Phú Khánh có 782 loài; Đăk Lăk có 777 loài; Quảng Nam - Đà Nẵng có 735 loài; trong đó có nhiều loài cây
thuốc quý như sâm Ngọc linh (Panax vietnamensis), cẩu tích (Cibotium azomets) ở Kon Tum, An Khê, Trà My có vàng đắng (Coscintum usitatum), sa nhân (Anoinum
xanthioides), ngũ gia bì chân chim (Schefflera octophylla, (dẫn từ Nguyễn Tập)
Trang 22Bên cạnh đó, Việt Nam có nhiều dân tộc gắn với nhiều nền văn hóa, mỗi dân tộc có kiến thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc khác nhau Tổng hợp các yếu tố trên dẫn đến sự đa dạng về sử dụng cây thuốc của Việt Nam Qua quá trình phát triển của mỗi dân tộc, những kiến thức quý báu đó dần được đúc kết và được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân
Theo Đại Việt sử ký ngoại ký, Lĩnh nam chính quái liệt truyện, Long úy bí thư thì ngay thời vua Hùng đã biết dùng các loài cây cỏ để kích thích ăn uống và
chữa bệnh như Ý dĩ (Coix lachryma - jobi L.), Hoắc hương (Pogostemon cablin
(Blanco) Benth)…
Đời nhà Lý (1010 - 1224) nhà sư Nguyễn Minh Không tức Nguyễn Chí Thành
đã dùng nhiều loài cây cỏ chữa bệnh cho vua và nhân dân nên được tấn phong là
‘‘Quốc sư” triều Lý
Đời nhà Trần (1225-1399) có sự kiện Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, thu thập và trồng một vườn thuốc lớn để chữa bệnh cho quân
sỹ trên núi gọi là “Sơn dược” hiện vẫn còn di tích để lại một quả đồi thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng Chu Tiên biên soạn cuốn sách “Bản thảo cương
mục toàn yếu” là cuốn sách đầu tiên xuất bản năm 1429 Ngoài ra, có 2 danh y nổi
tiếng là Phạm Công Bân và Tuệ Tĩnh Sự nghiệp của Tuệ Tĩnh để lại cho đời sau 2 tác
phẩm chính “Hồng nghĩa giác tư y thư” và “Nam dược thần hiệu” Đó là kết quả của
quá trình nghiên cứu công phu, sử dụng nhiều cây thuốc nam để điều trị cho người Nam Ông còn nghiên cứu, sưu tầm các bài thuốc trong dân gian, thu thập các kinh nghiệm chữa bệnh của Trung y, từ đó tạo dựng sự nghiệp y dược mang tính dân tộc, đại chúng và sáng tạo, làm nền móng cho y học cổ truyền Việt Nam Ngay cả Hải Thượng Lãn Ông một bậc đại y Việt Nam thế kỷ 18 cũng chịu ảnh hưởng của Tuệ
Tĩnh trong biên soạn cuốn “Lĩnh nam bản thảo”, một công trình nghiên cứu về thuốc
nam đến nay vẫn còn nguyên giá trị Hải Thượng Lãn Ông được xem như ông tổ của nghề thuốc Việt Nam
Vào thời kỳ Tây Sơn và nhà Nguyễn (1788 - 1883) Nguyễn Quang Tuân đã xuất
bản cuốn sách “Nam dược”, “Nam dược chỉ danh truyền”, “La khê phương dược” đã
ghi chép 500 vị thuốc nam trong dân gian dùng để chữa bệnh
Trong thời kỳ 1884 - 1945 thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân đối với Việt Nam, chúng đã loại y học dân tộc ra khỏi chính sách bảo hộ Tuy nhiên, vẫn có những nhà thực vật học, dược học nghiên cứu với mục đích khai thác tài nguyên và có nhiều công trình nói về cây thuốc và vị thuốc Đông Dương của tác giả người Pháp ra đời Vào năm 1907, nhà thực vật học người Pháp Henri Lecomte và một số tác giả đã
khảo sát hệ thực vật ở Đông Dương và đã biên soạn cuốn “Floregénérale de L’
Indochine” (thực vật chí Đông Dương) trong đó đề cập đến nhiều cây thuốc Việt Nam
Trang 23Cùng trong thời gian này, EM Prot và Hurrier cho xuất bản cuốn “Matière mesdicale
et pharmacopéc simoan namite” (Dược liệu học và dược điển Trung - Việt) Tổng kết
chương trình nghiên cứu cây thuốc ở khu vực Trung bộ, Việt Nam Ch Crevost và A
Petelot đã xuất bản bộ “Catalogue desprociuits de l’ Indochine" (Danh lục những sản
phẩm ở Đông Dương) (1928 - 1935) Trong đó ở tập V (Produils médicinaux 1928) (Phần cây thuốc) đã mô tả 368 loài cây thuốc và vị thuốc là các loài thực vật có hoa Đến
năm 1952, Alfred Petelol bổ sung và xâv dựng thành bộ "Les plantes m'edicinales du
Cambodge, du Laos et du - Việt Nam'' (Những cây thuốc ở Campuchia, Lào và Việt Nam)
gồm 4 tập đã thống kê 1.482 vị thuốc thảo mộc trên 3 nước Đông Dương, trong đó có chừng 1.281 loài cây thuốc phân bố ở Việt Nam Năm 1945, André Foueaud đã cho xuất
bản tập sách "Contribution àl' etsucie des plantes médicinales du Nord Vietnam" (Góp
phần nghiên cứu cây thuốc ở miền Bắc Việt Nam), trong đó ông đã nêu lên danh lục tổng quan về cây thuốc ở miền Bắc Việt Nam
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với phương châm của Đảng đề ra
là tự lực cánh sinh, tự cung tự cấp, ngành y tế đã đưa được thuốc Nam vào và phát huy
vai trò to lớn của nó xây dựng nên “Tòa căn bản", nêu các phương pháp chữa bệnh
bằng 10 vị thuốc thông thường
Kể từ năm 1954, sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, được sự quan tâm của Nhà nước nhiều công trình nghiên cứu có giá trị của các tác giả trong nước đã ra đời
Năm 1963, Phó Đức Thành và một số tác giả cho xuất bản cuốn “450 cây thuốc nam
có tên trong bản dược thảo Trung Quốc" Từ năm 1962 đến năm 1965, Giáo sư - Tiến
sĩ Đỗ Tất Lợi sau nhiều năm nghiên cứu và sưu tầm các tài liệu về thuốc nam đã cho
xuất bản bộ "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" gồm có 6 tập Đến năm 1969 tái
bản thành 2 tập, trong đó giới thiệu trên 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật
và khoáng vật Ông đã kiên trì nghiên cứu, bổ sung về cây thuốc liên tục trong các công trình của mình Và lần tái bản thứ 7 vào năm 1995 thì số cây thuốc mà ông nghiên cứu đã lên đến 702 loài Trong đó ông đã mô tả tỉ mĩ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hóa học, chia tất cả các cây thuốc theo các nhóm bệnh khác nhau Đây là một bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, kết hợp giữa khoa học dân gian và khoa học hiện đại
Sau khi miền Nam hoàn toàn được giải phóng, cả nước độc lập tạo điều kiện cho nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu dược liệu Năm 1978, Đảng và Chính phủ đã có
nhiều chủ trương phát triển y học dân tộc với phương châm: “Thừa kế, phát huy, phát
triển y học dân tộc cổ truyền và kết hợp Đông y với y học hiện đại để xây dựng nên y học Việt Nam" Nền y học dân tộc phát triển nên đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu
và cho ra đời nhiều bộ sách quý Chẳng hạn như cuốn "Sổ tay cây thuốc Việt Nam" do
ông Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Chương xuất bản năm 1976 đã mô tả 460 cây thuốc;
hay cuốn Sổ tay y học gồm "500 bài thuốc gia truyền" của Vũ Văn Kính xuất bản vào
Trang 24năm 1979 Cùng trong thời gian này, Viện Dược liệu cùng tập thể các nhà khoa học
cũng đã xuất bản cuốn "Dược liệu Việt Nam" tập I và tập II, trong đó tổng kết các công
trình nghiên cứu về cây thuốc trong thời gian qua
Nhằm góp phần đẩy mạnh việc phát triển dược liệu phục vụ đời sống và xuất khẩu theo tinh thần nghị quyết V của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào năm 1985 Lương
y Trần Như Đức ở Viện Y học dân tộc đã biên soạn và cho xuất bản cuốn "Trồng hái
và dùng cây thuốc" gồm có 2 tập giới thiệu nhiều kinh nghiệm thực tiễn về chế biến và
sử dụng dược liệu trong y học dân tộc
Năm 1993, trong chương trình đào tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc, các tác giả:
Đỗ Huy Bích, Nguyễn Tập, Trần Toàn, Vũ Ngọc Lệ, Đoàn Thị Nhu, Phạm Duy Mai và
Bùi Xuân Chương đã cho xuất bản cuốn "Tài nguyên cây thuốc Việt Nam", trong đó đã
sắp xếp tên Việt Nam của các cây thuốc theo thứ tự abc Ngoài ra, cuốn sách còn có bảng tra cứu các cây thuốc theo tên khoa học và bảng các tên cây đồng nghĩa
Năm 1996, Võ Văn Chi xuất bản cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam" đã mô tả
3.200 cây thuốc Việt Nam trong 3.100 đề mục xếp theo vần tiếng Việt Trong mỗi đề mục bao gồm tên cây, mô tả, bộ phận dùng, nơi sống, thu hái, đơn thuốc đơn giản và ghi chú Đây là một công trình có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn phục vụ cho ngành Dược và thực vật học Ngoài ra còn nhiều bài báo đăng trong tạp chí trung ương, địa phương đều giới thiệu về cây thuốc, bài thuốc và tác dụng làm thuốc của cây cỏ quanh
ta Như vậy, có thể nói nguồn thực vật được sử dụng làm thuốc là hết sức phong phú Theo Hồ Huy Bích Nguyễn Tập, Lê Tùng Châu, hàng năm, nước ta đã khai thác và sử dụng hơn 300 loài cây thuốc ở các mức độ khác nhau Thật khó mà thống kê một cách đầy đủ khối lượng dược liệu tự nhiên được khai thác bởi lẽ hàng năm ngoài cơ sở sản xuất của nhà nước còn có những cơ sở sản xuất của tư nhân, của những ông lang, bà mế
và người dân địa phương tự thu hái về chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian
Thuốc được đưa vào sản xuất thuốc đại trà như: thanh hao (Artemtsia unnita I.),
vàng đắng (Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colehr), sừng dê (Strophanthus divergens A Graham), ba gạc (Rauvolfia verticillata (Lour) Baill) Ngoài ra, vấn đề
tìm kiếm các nguồn thuốc mới từ cây cỏ ở Việt Nam cũng đầy triển vọng Theo công
bố của Trần Ngọc Ninh (1994) và Lê Trần Đức (1995), các nhà khoa học Việt Nam
bước đầu đã chiết xuất được hợp chất Taxol từ các loài Thông đỏ (Taxus spp.) có tác
Trang 25thống kê thực vật có giá trị làm thuốc, tác giả tập trung mô tả về công dụng và nơi mọc của các loài thực vật này
Lê Quý Ngưu, Trần Như Đức (1998), đã tập trung mô tả đặc điểm hình thái, công dụng, nơi mọc, kỹ thuật thu hái, chế biến và các bài thuốc làm từ các loài thực vật, trong đó có thực vật cho lâm sản ngoài gỗ
Huỳnh Văn Kéo, Trần Thiên Ân, Trần Khắc Bảo, năm 2001 đã nghiên cứu về
đa dạng sinh học cây thuốc vườn quốc gia Bạch Mã, đã đề cập đến vấn đề bảo tồn, sử dụng và phát triển bền vững nguồn gốc cây thuốc Sau một thời gian nghiên cứu, bổ sung thì cuốn sách đã được tái bản vào năm 2006 Đây là một nghiên cứu quan trọng đóng góp vào việc bảo tồn tài nguyên cây thuốc tại địa bàn nghiên cứu
Công trình nghiên cứu bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc của Lê Sỹ Trung, Trần Thị Lan tại San Thàng thuộc thị xã Lai Châu, đã thống kê các loại cây thuốc đang được khai thác và sử dụng: công tác quản lý bảo vệ và hướng phát triển nguồn cây thuốc hợp lý tại địa phương
Nhu cầu sử dụng thuốc thảo mộc và dược liệu ở nước ta hiện nay rất lớn Theo
số liệu của Tổng công ty dược Việt Nam (1997) và Viện Dược liệu (1998) là vào khoảng 50.000 tấn/năm Lượng dược liệu sử dụng trong y học dân tộc hàng năm vào
khoảng 30.000 tấn (chưa kể nhu cầu sử dụng trong công nghiệp dược phẩm khoảng
20.000 tấn) Năm 1998 Tổng công ty Dược Việt Nam xuất khẩu dược 13 triệu USD
Trong đó dựợc liệu, tinh dầu và các hoạt chất chiết từ cây thuốc chiếm 74 % Dược liệu còn là nguồn hàng xuất khẩu quan trọng của nước ta, nhu cầu của thị trường các nước hàng năm cần khoảng 500 tấn sa nhân, 5.000 - 6.000 tấn vỏ quế, hàng ngàn tấn long nhãn Nguồn dược liệu của chúng ta hàng năm có thể cung cấp đạt doanh thu từ 500 - 800 tỷ đồng, trong đó dược liệu tham gia xuất khẩu có thể từ 20 - 50 triệu USD, với khối lượng 5.000 - 10.000 tấn
Tuy nhiên, tình trạng phá rừng bừa bãi và khai thác tận thu trong nhiều năm qua
đã khiến những loài cây dược liệu cạn kiệt và hiện nay ngành dược liệu phải nhập khẩu nguồn nguyên liệu này từ nước ngoài
Theo Đỗ Nguyên Phương (1997) [57], do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân chủ yếu là cơ chế thị trường, thiếu chính sách đối với cây và con, tập quán trồng cây thuốc đang bị lãng quên, nạn du canh, du cư, tu bổ trồng lại rừng của nhân dân mà không chú ý đến bảo vệ, tái sinh nên nhiều loài cây, con làm thuốc trong
tự nhiên trở nên khang hiếm hoặc có nguy cơ trở nên khang hiếm như vàng đắng
(Coscinium usitatum), đảng sâm (Codonopsis javanica), … , Có đến 80 loài cây, con
làm thuốc quý hiếm đang đứng trước nguy cơ diệt chủng, sẽ mất đi vĩnh viễn
Trang 261.2 Tình hình nghiên cứu cây đảng sâm trong nước
1.2.1 Phân loại đảng sâm
Chi Codonopsis có đặc điểm phân loại học như sau:
- Liên giới: Eukaryyota (Sinh vật nhân thực
- Giới: Plantae (Thực vật)
- Phân giới: Viridaeplantae (Thực vật xanh)
- Ngành: Magnoliophyta (Thực vật có hoa; Mộc lan; Hạt kín)
Theo Phạm Hoàng Hộ (2003) [28], đảng sâm Việt Nam có tên khoa học là
Codonopsis javanica (Blume) Hook f & Thomax; tên đồng nghĩa là Campanumoea javanica Blume; tên địa phương là đùi gà, mằn rày cáy (Tày), cang hô (Mèo), sâm leo,
sâm dây Việt Nam hiện có 2 loài thuộc chi Codonopsis là ngân đằng đứng
(Codonopsis celebica Blume) và đảng sâm Việt Nam (Codonopsis javanica (Blume)
(Hook f ) Một số loài Codonopsis được dùng phổ biến trong y học cổ truyền các
nước gồm có:
- Đảng sâm Bắc (Codonopsis pilosula), cây thảo lâu năm, thân mọc bò hay leo
Rễ hình trụ dài, đường kính có thể tới 1 - 1,7 cm Lá mọc đối có khi mọc cách hay hơi vòng Hoa mọc đơn độc ở nách lá Đài 5, Tràng hình chuông màu vàng nhạt, chia 5 thùy, nhị 5 Bầu 5 ô, quả nang, phía trên có một núm nhỏ hình nón, khi chín có màu tím đỏ
- Đảng sâm Nam (Codonopsis javanica (Blume) Hook f ) còn có tên là cây đùi
gà, mằn rày cáy (Tày), cang hô (Mèo); đó là cây cỏ lâu năm, thân leo Rễ hình trụ, phân nhánh Lá mọc đối, ít khi mọc so le hình tim, nhẵn hoặc có ít lông, đầu lá nhọn, mép lá nguyên hoặc có khía răng nhỏ, bấm vào lá có nhựa mủ Phiến lá dài 3 - 8 cm, rộng 2 - 4 cm
- Đảng sâm đứng (ngân đằng đứng), (Codonopsis celebica Blume) Cây cao 0,5
- 1,0 m, có rễ củ, phân cành nhiều, cành thường có màu nâu tím nhạt, nhẵn Lá có cuống ngắn, mọc đối; phiến lá hình thuôn dài, nhọn 2 đầu, đặc biệt phần chóp lá nhọn
Trang 27dài và hơi cong xuống; kích thước 4,5 - 10 x 2 - 3 cm; mép lá khía răng cưa nhọn; gân phụ 5 - 6 đôi, lõm ở mặt trên và nổi rõ ở mặt dưới Hoa màu phớt hồng, mọc ở kẽ lá;
có cuống dài 1,5 - 2,5 cm, màu nâu tím nhạt Lá bắc 2, hình chỉ Lá đài 5 hình dải, mép khía răng sâu, dài 0,7 - 1 cm Tràng chia thành 5 (hoặc 6) thuỳ hình tam giác, dài 0,7 –
1 cm; đường kính hoa 1,2 - 1,5 cm Nhị 5, dính, gồm 5 ô (hoặc 6) Đầu nhụy 5 (hoặc 6) Quả gần hình cầu, mang đài và núm nhụy tồn tại; đường kính 1 - 1,5 cm; màu xanh, khi chín màu tím đen, ăn được Hạt nhỏ, nhiều
- Xuyên đảng sâm (Codonopsis tangshen Oliv), hình thái cơ bản giống loài
Codonopsis pilosula (Franch) Nannf nhưng lá hình trứng hay hình trứng đuôi nhọn,
mặt lá không có lông, chỉ rìa lá có lông nhung Sau khi ra hoa thì có quả đuôi màu trắng tím, trong hoa có sọc nhỏ màu tím, cuống dài, hình dẹt, to hơn loại trên, ở nơi núi cao mưa nhiều, về mùa thu quả chín không nứt
Theo Lê Quý Ngưu và Trần Thị Như Đức (1999) [56], đảng sâm là phần rễ khô
của cây đảng sâm (Codonopsis pilosula (Franch.) Nannf ), họ Hoa chuông (Campanulaceae) Ở Trung Quốc có khi người ta dùng rễ cây Xuyên đảng sâm (Codonopsis tangshen Oliv) để thay thế cho cây đảng sâm ở trên Được di thực vào
miền Bắc nước ta đang phát triển
Theo Dược điển Việt Nam (2009) [2], đảng sâm Việt Nam hiện sử dụng các loài sau: phòng đảng sâm, thượng đảng sâm, đảng sâm Bắc, đảng sâm, ngân đằng lá mác, ngân đằng đứng
Theo Đỗ Tất Lợi (2006) [45], đảng sâm còn gọi là phòng đảng sâm, lộ đảng sâm, xuyên đảng sâm, đông đảng sâm, rần cáy (Lạng Sơn), mần cáy Tên khoa học là
Codonopsis sp Thuộc họ hoa chuông Campanulaceae Đảng sâm (Radix Codonopsis)
là bộ phận phơi khô của nhiều loài Codonopsis như Codonopsis pilosola (Franch) Nannf, Codonopsis tangshen Oliv (xuyên đảng sâm) và một số Codonopsis khác, đều
thuộc họ Hoa chuông
Theo Lê Thị Diên và cộng sự (2013) [24], trong nghiên cứu “Xây dựng khóa
định loại một số loài trong chi đảng sâm (Codonopsis)” đã xây dựng được khóa định
loại 9 loài trong chi đảng sâm, trong đó có loài Codonopsis javanica Khóa định loại
dựa vào đặc điểm thân, lá, hoa, quả, hạt và rễ Cùng với khóa định loại, nghiên cứu mô
tả chi tiết đặc điểm hình thái cũng như phân bố của các loài này
Theo Nguyễn Thị Thanh Nga (2012) [52], lần đầu tiên đánh giá đa dạng di
truyền một số loài cây dược liệu Việt Nam thuộc chi đảng sâm (Codonopsis sp.) bằng
kỹ thuật ADN mã vạch
Các mẫu thực vật được sử dụng trong nghiên cứu do Khoa Tài nguyên Dược liệu (Viện Dược liệu, Bộ Y tế) cung cấp
Trang 28Bảng 1.1 Danh mục mẫu vật và địa điểm lấy mẫu đảng sâm
Chi thực vật Nhóm mẫu Địa điểm thu mẫu Kí hiệu mẫu
Codonopsis
Đảng sâm vỏ trắng
Xã Hòa Bình, thành phố KonTum C11, C12
Lạc Dương, Lâm Đồng C13, C14, C15
Dương, Lâm Đồng C16, C17, C18
huyện Thuận Châu, Sơn La C20, C21
(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Nga, 2012)
Bằng kỹ thuật AND mã vạch, tác giả đưa ra những kết luận như sau: Từ kết quả
so sánh và phân tích trình tự ADN vùng gen ITS có thể xác định các mẫu nghiên cứu
C2, C11, C12, C13, C14, C15, C16, C17, C18, C20, C21 thuộc loài Codonopsis
javanica và mẫu C4 thuộc loài Codonopsis tangshen
Với sự tương đồng 100 % trong trình tự, vùng gen ITS là rất bảo thủ ở loài
Codonopsis javanica và Codonopsis tangshen, rất có ý nghĩa trong kiểm định dược liệu
Xây dựng cây phát sinh chủng loại dựa trên phương pháp tiết kiệm tối đa (Maximum Parsimony) và Bayesian dựa trên khung đọc riêng rẽ từng gen ITS và matK cho kết quả tương đồng, cho thấy độ đáng tin cậy của cây thu được cũng như của 2 phương pháp MP và Bayesian sử dụng để xây dựng cây chủng loại phát sinh
trong chi Codonopsis Các cây phân loại xây dựng được một lần nữa cho kết luận xác định các mẫu nghiên cứu thuộc hai loài Codonopsis javanica (đối với mẫu C2 và C11,
C12 thu được ở Kon Tum, mẫu C13, C14, C15, C16, C17, C18 thu được ở Lạc Dương, Lâm Đồng và các mẫu C20, C21 thu được ở xã Long Hẹ, Sơn La) và
Codonopsis tangshen (đối với các mẫu C4 thu được ở Sa Pa, Lào Cai)
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Nga đã một lần nữa khẳng định ở
Việt Nam hiện nay chi Codonopsis có 2 loài: Codonopsis tangshen được nhập từ Trung Quốc vào năm 1961 bởi Viện dược liệu và Codonopsis javanica mọc hoang Kỹ
Trang 29thuật AND mã vạch cho phép nhận diện loài và dưới loài phục vụ cho công tác nghiên cứu bảo tồn nguồn gen dược liệu quý của Việt Nam
Từ những thông tin trên, chúng tôi khẳng định ở Việt Nam hiện nay có 3 loài đảng sâm, trong đó có 1 loài được nhập từ Trung Quốc có tên gọi là đảng sâm Bắc
(Codonopsis pilosola (Franch) Nannf.), 2 loài mọc hoang, hiện đang gây trồng là đảng sâm Việt Nam (Codonopsis javanica (Blume) Hook f.) với các tên địa phương gọi là
sâm leo, đùi gà, mằn cáy, rày cáy (Tày), cang hô (H’Mông) và ngân đằng đứng hoặc
đảng sâm đứng (Codonopsis celebica Blume)
1.2.2 Đặc điểm phân bố, tái sinh
Theo Võ Văn Chi và Trần Hợp (2002) [15], trên thế giới, chi Codonopsis
Blume có 44 loài, phân bố chủ yếu ở vùng cận nhiệt đới và ôn đới ẩm châu Á và châu
Âu Đảng sâm là cây của vùng cận nhiệt đới, được ghi nhận ở Trung Quốc, Mianma,
Ấn Độ, Lào, Việt Nam và Nhật Bản Cây mọc hoang ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, phân bố tập trung nhất ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Gia Lai, Kon Tum
và Lâm Đồng Ở Việt Nam, đảng sâm có các tên gọi là sâm leo, phòng đảng sâm, đùi
gà, mằn rày cáy (Tày), cang hô (H’Mông) phân bố nhiều ở các tỉnh Lai Châu, Lào Cai,
Hà Giang, Sơn La, Yên Bái, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn vào tới các tỉnh Kon Tum, Lâm Đồng, Quảng Nam
Osbon và cộng sự (2004) [83], khi nghiên cứu khảo sát về cây thuốc trong đồng bào các dân tộc thiểu số người Dao ở xã Tả Phìn, Sa Pa đã xác định được 208 loài thực
vật làm thuốc, có 13 loài có nguy cơ đe dọa, trong đó có loài đảng sâm (Codonopsis
javanica (Blume) Hook f.)
Cây đảng sâm Việt Nam đã được sử dụng rộng rãi với nhiều mục đích khác nhau bởi các cộng đồng dân cư người dân tộc thiểu số ở vùng cao từ rất lâu đời Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu một cách có khoa học về đặc điểm sinh thái, phân bố, tái sinh của cây đảng sâm phải kể đến các nghiên cứu sau đây:
Nghiên cứu về đặc điểm phân bố và tái sinh loài đảng sâm lần đầu tiên được công bố tại Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 5 diễn ra từ ngày 21 - 22/10/2003 tại Hà Nội Theo Đinh Thị Hoa và Đoàn Thị Thùy Linh (2003) [29], khi nghiên cứu đặc điểm phân bố loài đảng sâm tại khu bảo tồn thiên nhiên Copia, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đạt được những kết quả như sau:
- Đặc điểm phân bố theo đai cao: Khu bảo tồn thiên nhiên có độ cao phổ biến từ
600 - 1.500 m Đảng sâm phân bố ở tất cả các đai cao nhưng chủ yếu phân bố ở độ cao
< 1.000 m (685 - 1.000 m), có 48/71 cây chiếm tỷ lệ 67,61 % Đai cao > 1.000 m có tỷ
lệ phân bố đảng sâm chỉ chiếm 32,39 %
Trang 30- Đặc điểm phân bố đảng sâm tại các dạng sinh cảnh: Khu bảo tồn Copia được chia thành 6 dạng sinh cảnh là rừng trồng, nương rẫy, rừng phục hồi, rừng nguyên sinh trên núi đất, rừng núi đá và trảng cỏ Kết quả nghiên cứu cho thấy đảng sâm phân bố rất đa dạng trên các dạng sinh cảnh Tuy nhiên, số lượng phân bố tại các sinh cảnh là khác nhau Đảng sâm phân bố nhiều ở khu vực ven nương rẫy của người dân (23,94
%), tiếp đến là rừng trồng và rừng phục hồi (21,13 %), trảng cỏ (16,90 %), rừng nguyên sinh trên núi đất (12,67 %) và ít nhất là rừng núi đá (4,23 %)
- Đặc điểm phân bố đảng sâm theo vị trí (chân - sườn - đỉnh): Số lượng đảng sâm phân bố ở các vị trí khác nhau, tập trung chủ yếu ở sườn núi (46,48 %), chân núi (38,03 %) và đỉnh núi (15,49 %)
- Đặc điểm tái sinh:
+ Về mật độ: Tỷ lệ giữa cây tái sinh và cây trưởng thành là 13/29 (45 %) cho thấy số lượng cây tái sinh và cây trưởng thành xấp xỉ nhau, cây tái sinh có số nhánh trung bình là 1,69 nhánh/cây
+ Phân cấp chiều cao cây tái sinh: Số cây tái sinh có chiều cao < 0,5 m chiếm tỷ
lệ chủ yếu (61,54 %), cây có chiều cao từ 0,5 - 1 m chiếm tỷ lệ 38,46 %
+ Nguồn gốc tái sinh: Đảng sâm tái sinh từ hạt hoặc từ phần thân, củ Tỷ lệ cây tái sinh từ hạt 53,85 %, còn tái sinh từ thân dây và củ chiếm 46,15 %
+ Chất lượng cây tái sinh: 70 % số cây tái sinh đạt loại tốt, loại trung bình chiếm 28,08 %, loại xấu chiếm 7,69 %
Đây là nghiên cứu đặc điểm phân bố và tái sinh có đóng góp rất lớn về mặt khoa học và thực tiễn Kết quả nghiên cứu chỉ rõ đặc điểm phân bố của loài này tập trung chủ yếu ở sườn và chân núi, tất cả các dạng sinh cảnh đều có đảng sâm nhưng chủ yếu ở nương rẫy Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra được đặc điểm tái sinh của loài này: hạt, thân và củ đều phát triển thành cây con Kết luận này rất có ý nghĩa trong việc nghiên cứu nhân giống phục vụ cho sản xuất, kinh doanh đảng sâm
Hạn chế của nghiên cứu này là phạm vi nghiên cứu hẹp, độ cao chỉ từ 600 1.000 m, vấn đề đặt ra ở đây là giới hạn dưới và giới hạn trên của độ cao có đảng sâm phân bố là bao nhiêu ? Nhân tố sinh thái nào là chủ yếu ảnh hưởng đến phân bố của đảng sâm ? Có thể di thực loài này đến các độ cao thấp hơn để trồng hay không ? Những vấn đề trên sẽ được làm rõ qua các nội dung nghiên cứu của luận án
-Theo Nguyễn Thành Mến và Hoàng Thanh Trường (2017) [49], kết quả nghiên cứu đặc điểm phân bố cho thấy: Đảng sâm có phân bố tại thành phố Đà Lạt và các huyện Đức Trọng, Đơn Dương, Lạc Dương; chủ yếu trên đất đen và đất xám; đất có tầng thảm mục dày trung bình 2,82 ± 0,12 cm và tầng mùn dày 12,93 ± 1,13 cm; pH: 5,8 - 6,4; cây mọc tập trung ở độ cao 1.400 - 1.800 m trên mực nước biển Cây thường
Trang 31hiện diện trong 3 kiểu thảm thực vật I.A.9.b: Rừng cây lá kim thường xanh núi trung bình và núi cao; kiểu IV.A.1.b: Rừng cây bụi thấp và bụi trườn trên mặt đất và kiểu IV.C.1.3: Thảm cỏ với ưu thế Guột (Pteridium aquilinum) Mật độ trung bình của đảng sâm khoảng 341,00 cây/ha (I.A.9.b) và 665,00 cây/ha (IV.A.1.b ; IV.C.1.3) Chỉ số giá trị quan trọng của các loài cây gỗ trong khu vực phân bố đảng sâm cũng được xác định Qua điều tra đã ghi nhận được 20 loài cây gỗ thuộc 15 họ thực vật và 12 loài cây bụi, thảm tươi thường gặp thuộc 11 họ thực vật Các ghi nhận về đặc điểm sinh thái của đảng sâm cho thấy có thể gây trồng và phát triển loài này dưới tán rừng Thông ba
lá tại Lâm Đồng
1.2.3 Đặc điểm sinh thái
Theo Võ Văn Chi và Trần Hợp (2002) [15], đảng sâm thường mọc ở ven rừng, nương rẫy bỏ hoang lâu ngày, các trảng cỏ tranh ở độ cao 900 - 2.200 m Cây ưa ẩm,
ưa sáng và có thể chịu bóng, ưa mọc nơi đất tốt nhiều mùn Cây được trồng để lấy củ làm thuốc, gieo trồng bằng hạt vào mùa xuân Sau 3 năm đã cho thu hoạch Ra hoa kết quả tháng 12 - 1
Theo Sách đỏ Việt Nam (2007) [3], đảng sâm mọc ở ven rừng, nương rẫy bỏ hoang lâu ngày, trảng cỏ tranh ở độ cao khoảng 700 m trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và 1.300 m ở các tỉnh phía Nam Cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể chịu bóng, ưa mọc nơi đất tốt nhiều mùn Cây thường leo lên các loài cây cỏ khác Có một số nơi mọc tương đối tập trung nhưng không trở thành cây ưu thế
1.2.4 Đặc điểm hình thái
Theo Võ Văn Chi và Trần Hợp (2002) [15], đảng sâm là cây thảo sống nhiều năm; thân leo dài độ 2 - 3 m, phân nhánh nhiều; rễ phình thành củ hình trụ dài, phía dưới phân nhánh, màu vàng nhạt Thân và củ có mủ trắng Lá đơn, mọc đối; phiến hình bầu dục, dài 3 - 6 cm, rộng 2,5 - 4,5 cm, mềm, mỏng, màu xanh lá mạ, mặt dưới
có lông nhung trắng, mép lá có răng cưa tù, cuống lá dài 3,5 - 7 cm Hoa hình chuông, mọc đơn độc ở nách lá; đài có 5 thùy, gốc hơi dính; tràng hoa có màu xanh lá mạ; đỉnh
có 5 thùy Quả mọng có 5 cạnh, khi chín màu tím mang đài hoa tồn tại Hạt tròn nhỏ, màu nâu
Theo Đỗ Tất Lợi (2006) [45], đảng sâm là một loại cỏ sống lâu năm Rễ hình trụ dài, đường kính có thể đạt tới 1 - 1,7 cm Đầu rễ phát triển to, nên có nhiều vết sẹo của thân cũ, phía dưới có khi phân nhánh, mặt ngoài màu vàng nhạt, trên có các vết nhăn dọc và ngang Thân mọc bò hay leo, phân nhánh nhiều, phía dưới hơi có lông, phía ngọn nhẵn, lá mọc đối (ở Việt Nam lá phần nhiều mọc đối), so le hoặc có khi gần như mọc vòng Cuống lá dài 0,5 - 4 cm, phiến lá hình tim hoặc hình trứng dài 1 - 7 cm, rộng 0,8 - 5,5 cm, đầu tù hoặc nhọn, đáy lá hình tim mép nguyên hoặc hơi gợn sóng, hoặc có răng cưa (Việt Nam) mặt trên lá màu xanh nhạt, mặt dưới trắng Hoa mọc đơn
Trang 32độc ở kẽ lá Có 5 lá dài, tràng hoa hình chuông, mù vàng nhạt chia 5 thùy, 5 nhị, bầu
có 5 ngăn Qủa nang, phía trên có một núm nhỏ hình nón, khi chín có màu tím đỏ
Mùa hoa nở: tháng 7 - 8 Mùa quả tháng 9 - 10 Loài Codonopsis pilosula có lá gần
như lá đảng sâm của ta mô tả ở trên, nhưng mép lá nguyên, hoa cũng như vậy, bầu chỉ
có 3 ngăn Loài Codonopsis tangshen Oliv có lá dài hơn, cuống lá cũng dài hơn Bầu
cũng 3 ngăn
Nghiên cứu đặc điểm hình thái cây đảng sâm của nhóm tác giả Hoàng Minh Chung, Phạm Xuân Sinh (2003) [21], đã dựa vào các khóa phân loại hiện có tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã khẳng định loài đảng sâm mọc hoang ở Sa Pa, Lào Cai
thuộc loài Codonopsis javanica (Blume) Hook f
Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả đã mô tả đặc điểm hình thái của đảng sâm
và phân thành 2 loài như sau:
a) Đảng sâm mọc hoang
Cây cỏ, sống nhiều năm, leo bằng thân quấn, phân cành, dài 1,5 - 2,5 m, có rễ
củ nạc Toàn thân có nhựa màu trắng như sữa, ngọn và lá non thường có lông mịn, khi già nhẵn
Lá mỏng, mọc đối hoặc so le (ở phần ngọn khi có hoa), hình tim thuôn dài 3 - 6
cm, rộng 2,5 - 5 cm, gốc xẻ thành 2 thùy tròn sâu, đầu nhọn hoặc tù, mặt dưới nhạt, có lông nhỏ, gân nổi rõ, mép nguyên, hơi lượn sóng; cuống lá dài 1 - 3 cm Khi vò nát, lá không có mùi hôi
Hoa mọc riêng lẻ ở kẻ lá, có cuống dài 1,2 - 2 cm, đài có 5 phiến hẹp, dài 1 - 1,5
cm, dính nhau ở gốc; tràng hình chuông, đường kính 1 - 2 cm; 5 cánh hoa màu trắng ngà hoặc hơi vàng; nhị 5, chỉ nhị hơi dẹt, bao phấn dính gốc; bầu trên, 5 ô, noãn đính giữa, nhụy có đầu dạng đĩa
Quả mọng, gần hình cầu, có 5 cạnh mờ, đường kính 1 - 1,5 cm, đầu hơi dẹt, hình ngũ giác do vết tích của 5 cánh hoa để lại, ở giữa có núm nhọn nhỏ, khi chín màu tím hoặc tím đen, đài tồn tại; hạt nhỏ, nhiều, nhẵn, màu vàng nâu hoặc hơi tím Mùa hoa: tháng 8 - 9, mùa quả: tháng 10 - 11
Rễ hình trụ, mọc thẳng trong đất, phía dưới thường phân nhánh, kích thước thay đổi theo tuổi cây và nơi mọc Rễ nạc, màu trắng ngà, giữa có lõi gỗ, có nhựa trắng như sữa, khi khô dễ bẻ, màu vàng nâu nhạt, mùi thơm, vị hơi ngọt
b) Đảng sâm nhập trồng
Cây cỏ, sống nhiều năm leo bằng thân quấn dài 1 - 1,5 m Thân màu xanh lục điểm những đốm tím, có nhiều lông và nhựa mũ trắng như sữa Lá mọc đối hình trứng, rộng hay hẹp, dài 1,5 - 3 cm, rộng 1 - 2,5 cm, gốc hình tim, mép lượn sóng, có một lớp lông
Trang 33trắng, mặt trên màu xanh sẫm có lông thưa, mặt dưới nhạt như có phấn trắng và lông ngắn dày, vò ra có mùi hôi Hoa mọc ở kẻ lá hay đầu cành; đài rất phát triển, dài 1,2 - 1,5 cm; tràng hình chuông, dài 1 - 1,5 cm, đường kính 0,8 - 1,2 cm, có 5 cánh màu vàng nhạt có điểm chỉ; nhị 5, chỉ nhị dài gắn dưới bầu, 2 bao phấn; bầu trên có 3 ngăn, đầu nhị chia 3 Quả hình chùy, mặt trên có hình ngũ giác rất rõ, ở giữa có chóp nón nhọn; hạt nhiều, hình kim, màu đen bóng Mùa hoa: tháng 10 - 11; mùa quả: tháng 11 - 12
Rễ hình trụ, dài 8 - 15 cm, màu vàng xám, bề mặt nhẵn hoặc sù sì, có vân ngang, phía dưới có thể phân nhánh, đầu rễ củ còn sót lại nhiều vết thân, có nhựa mũ trắng như sữa; khi khô dẻo hơn loài mọc hoang, mùi thơm nhẹ, vị hơi ngọt
Dựa vào các đặc điểm nêu trên nhóm tác giả khẳng định đảng sâm nhập trồng
có đặc điểm của loài Codonopsis Wall
Nghiên cứu trên đã mô tả rất tỷ mĩ đặc điểm thực vật học của cây đảng sâm và
đã phân thành 2 loài: Đảng sâm mọc hoang (Codonopsis javanica (Blume) Hook.f )
và đảng sâm nhập trồng (Codonopsis Wall)
Đây là kết quả nghiên cứu đầu tiên trong nước về đặc điểm thực vật của loài đảng sâm, đã góp phần rất quan trọng trong việc nhận biết và phân loại cây đảng sâm phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng giữa 2 loài đảng sâm vừa có những đặc điểm chung rất giống nhau nhưng cũng có những đặc điểm riêng rất khác biệt mà chỉ những người có kinh nghiệm mới phân biệt được Vấn đề chúng tôi nêu lên ở đây là mùi hôi
và lượng nhựa mũ trắng như sữa đã được mô tả ở hai loài này Theo quan điểm của chúng tôi, loài mọc hoang sống ở môi trường tự nhiên phải cạnh tranh sinh tồn với rất nhiều loài khác nên mùi hôi của lá bao giờ cũng nặng hơn và lượng nhựa mũ cũng nhiều hơn Vấn đề này sẽ được nghiên cứu trong luận án thông qua khảo sát, điều tra thực địa, tham vấn chuyên gia và điều tra kiến thức bản địa của người dân
1.2.5 Thành phần hóa học
Theo tác giả Đào Kim Long và cộng sự (2012) [47], các chất β - sitosterrol, daucosterrol, hesperidin, kaemferol 3 - O - β - D - sophoroside, lobetyol lần đầu tiên
được phát hiện trong rễ của loài đảng sâm (Codonopsis javanica) Trong đó, lobetyol
có thể trong quá trình chiết xuất, lobetyolin đã bị cắt 1 phân tử glucoza trở thành
lobetyol Lobetyolin là chất chỉ thị, dùng để định tính đảng sâm Trung Quốc
Theo Hoàng Minh Chung và cộng sự (2002) [22], đã nghiên cứu thành phần hóa học trong rễ đảng sâm và có được những kết quả bước đầu:
- Trong rễ đảng sâm Việt Nam (Codonopsis javanica (Blume) Hook f.) sống và
chế biến có đường, saponin, acid amin và chất béo
Trang 34- Bằng sắc ký lớp mỏng bước đầu đã xác định 5 vết trong saponin của đảng sâm sống và chưng 2 giờ Hàm lượng saponin trong mẫu chế (1,47 %) thấp hơn trong mẫu sống (2,17 %)
- Rễ đảng sâm có 17 loại acid amin, tuy hàm lượng không cao nhưng có đầy đủ các axit amin cần thiết cho cơ thể
Bảng 1.2 Hàm lượng acid amin toàn phần trong rễ đảng sâm
STT Acid
amin
Mẫu đảng sâm Việt Nam
STT Acid amin
Mẫu đảng sâm Việt Nam Mẫu
sống
Mẫu chế
Mẫu sống
Mẫu chế
(Nguồn: Hoàng Minh Chung và cộng sự, 2002)
Kết quả nghiên cứu cho thấy đường khử trong mẫu đảng sâm sống là 14,6 ± 11,2 %, mẫu chưng trong 2 giờ là 29,5 ± 0,9 % Dịch chiết của mẫu chưng trong 2 giờ làm cho chuột có thời gian bơi (319,3 ± 9,21 %) dài hơn so với mẫu đảng sâm sống (235 ± 99,7 %) một cách có ý nghĩa thống kê
Cũng chính nhóm tác giả đã công bố đảng sâm có thành phần Saponin Triterpenoid Nghiên cứu cho thấy chỉ số tạo bột của Đảng sâm sống là 8, chỉ số phá huyết là 5,7, hàm lượng Saponin là 3,12 ± 0,08 %
Kết quả nghiên cứu của Hoàng Minh Chung và Phạm Xuân Sinh đã chứng minh thành phần hóa học có liên hệ với tác dụng bổ khí của đảng sâm Nghiên cứu chỉ
Trang 35xác định hàm lượng Saponin tổng mà chưa xác định được các loại saponin cụ thể nào Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này khẳng định một điều đảng sâm là cây thuốc quý, căn cứ vào hàm lượng saponin là thành phần chính khẳng định chất lượng của sâm thì đảng sâm Việt Nam có giá trị dược liệu thậm chí tốt hơn so với các loại sâm cùng loại của một số nước trên thế giới
1.2.6 Tác dụng dược lý, công dụng
Theo Nguyễn Văn Thuấn (1969) [82], đảng sâm là vị thuốc bổ khí đã được dùng từ rất lâu trong y học cổ truyền ở châu Á Bộ phận dùng làm thuốc là rễ củ của
một số loài thuộc chi Codonopsis Wall và Campanumoea Blume
Theo Đỗ Tất Lợi (2006) [45], trong Đông y coi đảng sâm có thể dùng thay thế Nhân sâm trong các bệnh thiếu máu, da vàng, bệnh bạch huyết, viêm thượng thận, nước tiểu có albumin, chân phù đau Còn dùng làm thuốc bổ dạ dày, chữa ho, tiêu
đờm, lợi tiểu tiện Người ta còn gọi đảng sâm là “nhân sâm của người nghèo” vì có
mọi công dụng của nhân sâm nhưng lại rẻ tiền hơn
Ngày dùng 6 - 12 gam, có thể tăng tới 30 gam, dùng dưới dạng thuốc sắc Uống luôn 7 đến 14 ngày Theo tài liệu cổ, đảng sâm có vị ngọt, tính bình Vào 2 kinh phế và
tỳ có tác dụng bổ trung ích khí, sinh tân, chỉ khát Dùng chữa tỳ hư, ăn không tiêu, chân tay yếu mỏi, phế hư sinh ho, phiền khát Công dụng gần như nhân sâm nhưng hơi thiên về bổ trung Người thực tà không dùng được
Đơn thuốc của Diệp Quyết Tuyền dùng chữa bệnh lao mới nhiễm, bệnh ho: đảng sâm 16 gam, hoài sơn 15 gam, ý dĩ nhân 10 gam, mạch môn 10 gam,cam thảo 3 gam, hạnh nhân 10 gam, khoản đông hoa 10 gam, xa tiền tử 10 gam, nước 600 ml sắc còn 200 ml Chia 3 lần uống trong ngày
Ngọn và lá non có thể dùng xào hay nấu canh ăn Quả ăn được Rễ củ có thể dùng ăn sống Trong Y học cổ truyền, củ được dùng làm thuốc chữa cơ thể suy nhược, mỏi mệt, ăn không ngon, đại tiện lỏng, chữa ho, vàng da do thiếu máu, viêm thượng thận, nước tiểu có albumin, chân phù đau Liều dùng 6 - 12 g hoặc hơn, dạng thuốc sắc, viên hoàn hay bột
Theo Nguyễn Thị Thu Hương và cộng sự (2015) [38], đảng sâm có tác dụng tăng cường miễn dịch trên cơ thể chuột suy giảm miễn dịch bằng Cyclophosphamide
Vì thế, đảng sâm Việt Nam có thể được sử dụng hỗ trợ tăng cường miễn dịch cơ thể
Theo Trần Thị Thùy An và cộng sự (2015) [1], cao chiết và chế phẩm viên nang đảng sâm Việt Nam thể hiện tác dụng tăng lực sau 7 - 14 ngày uống Cao chiết cồn đảng sâm thể hiện tác dụng tăng lực ở liều 1,45 - 2,9 g/kg, cao chiết nước đảng sâm thể hiện tác dụng tăng lực ở liều 1,3 - 2,6 g/kg, viên nang đảng sâm thể hiện tăng lực ở liều 3 viên/kg thể trọng chuột
Trang 36Hiện nay, đảng sâm đã được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực thực phẩm Củ tươi dùng nấu với thịt gà, thịt ba ba, … , là món ăn dùng để bồi bổ cho người bị suy nhược
cơ thể, mới khỏi bệnh, bà mẹ sau sinh
Rượu ngâm củ đảng sâm là loại đặc sản nổi tiếng của huyện Tây Giang và cả tỉnh Quảng Nam
Bột đảng sâm khô là nguyên liệu chính dùng trong công nghệ chế biến nước giải khát, thực phẩm chức năng và các loại trà túi lọc
1.2.7 Nghiên cứu về nhân giống và gây trồng
Theo Đỗ Tất Lợi (2001) [45], đã hướng dẫn cách gieo trồng bằng hạt Chọn quả giống ở những cây đã trồng được 3 - 5 năm trở lên Hái những quả có vỏ vàng nhạt, hạt màu đen đem về phơi khô cho nứt vỏ mà lấy hạt Hạt lấy được phải gieo trồng ngay năm tới, nếu để chậm sẽ mất khả năng mọc, hoặc khả năng mọc sẽ giảm Đảng sâm ưa những nơi đất cát nhiều mùn Vốn cây đảng sâm đã mọc nơi có bóng râm, hoặc
ở nơi thung lũng rậm rạp, cho nên cần trồng đảng sâm ở những nơi có bóng râm che mát, hoặc gieo cùng những cây khác như đậu tương, ngô, lanh mán, cho mọc cao độ
10 - 20 cm rồi mới trồng Thường gieo hạt vào tháng 3 - 5 hoặc tháng 9 - 10 Muốn cho cây mọc tốt cần phải làm dàn cho cây leo Giàn cao độ 2 m
Theo Phạm Thanh Huyền và cộng sự (2012) [35], đã tiến hành nghiên cứu nhân giống đảng sâm bằng phương pháp gieo hạt, giâm hom và mầm củ Hạt làm sạch, ngâm trong nước 8 giờ sau đó đem gieo ủ trong túi vải 12 giờ đem gieo cho thấy: thời gian nảy mầm sau khi gieo của hạt giống từ 10 đến 15 ngày và đạt tỷ lệ nảy mầm (87,00 %)
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng đến tỷ
lệ sống của hom thân cho thấy nồng độ thích hợp nhất để giâm hom thân đảng sâm là IBA 1.000 ppm và NAA 1.500 ppm Nồng độ chất kích thích sinh trưởng thích hợp nhất để nhân giống đầu củ đảng sâm là IBA 500 ppm và NAA 1.000 ppm
Kết quả nghiên cứu đã tìm ra được giải pháp thích hợp để nhân giống đảng sâm hiệu quả là dùng chất kích thích sinh trưởng IBA hoặc NAA với các nồng độ khác nhau trên các loại vật liệu khác nhau Nghiên cứu này đã giải quyết vấn đề cấp bách hiện nay là nhân nhanh giống đảng sâm để đáp ứng nhu cầu cây giống cho sản xuất Tuy nhiên, tỷ lệ ra chồi và ra rễ của hom thân đạt khá cao (30,02 % và 87,67 %) Vấn
đề là tác giả chưa xác định được tỷ lệ sống của hom thân và quan trọng hơn là tỷ lệ cây con xuất vườn để cung ứng cho sản xuất Theo chúng tôi, thân cây đảng sâm có rất nhiều nhựa mũ nên tỷ lệ sống của cây giâm hom sẽ thấp Vấn đề đặt ra là nên hay không nên khuyến cáo áp dụng kỹ thuật giâm hom thân đối với cây đảng sâm
Trang 37Kỹ thuật nhân giống bằng hạt, tác giả đã đưa ra được phương pháp xử lý hạt giống đơn giản, dễ làm, dễ áp dụng là ngâm trong nước 8 giờ và ủ tiếp 12 giờ đem gieo đạt tỷ lệ nẩy mầm 87,00 % Nhiệt độ và thời gian bảo quản là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nẩy mầm của hạt giống, nên chúng tôi tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ nước xử lý hạt giống và thời gian bảo quản đến tỷ lệ nẩy mầm của hạt giống
Theo Đoàn Trọng Đức (2014) [26], đã nghiên cứu và hoàn thiện quy trình kỹ thuật nuôi cấy mô đảng sâm với các bước như sau :
a) Nuôi cấy tạo nguồn nguyên liệu ban đầu
- Khử trùng mẫu
Mẫu sau khi được xử lý xong ta cho mẫu vào bình tam giác dung tích 250 ml đã
vô trùng và tiếp tục khử trùng với cồn 70 % trong 30 giây, sau đó mẫu được rửa sạch bằng nước cất vô trùng 4 - 5 lần Tiếp tục khử trùng kép với dung dịch HgCl2 trong khoảng thời gian khác nhau Khử trùng lần 1 với HgCl2 0,1 % trong thời gian 4 phút sau đó mẫu được rửa lại bằng nước cất vô trùng từ 4 - 5 lần và tiếp tục khử lần 2 với HgCl2 0,1 % trong 1 phút và mẫu được rửa lại với nước cất vô trùng 5 lần Khi này mẫu cấy đã được khử trùng xong, dùng dao cấy vô trùng cắt thành đoạn dài 1 - 2 cm, cắt dọc theo đoạn thân và đặt lên môi trường vô trùng đã chuẩn bị sẵn
- Môi trường nuôi cấy khởi động
Môi trường MS (Murashigan Skoog, 1962) có bổ sung TDZ: 0,1 mg/lit; 2,4D: 2 mg/lit; Agar: 8 g/lit; đường: 30 g/lit (pH 5,7 - 5,8)
Điều kiện nuôi cấy: nhiệt độ phòng: 25 ± 2 0C; Cường độ ánh sáng: 2.000 - 2.500 lux; thời gian chiếu sáng: 10 giờ/ngày
b) Nhân nhanh callus
Mẫu callus được cấy vào môi trường MS1/2 có bổ sung TDZ: 0,1 mg/lit; 2,4D:
2 mg/lit; Agar: 9,5 g/lit; than hoạt tính: 1 g/lit; đường: 30 g/lit Sau 8 tuần ta tiếp tục chuyển sang môi trường tương tự để nhân callus đến khi đủ số lượng theo yêu cầu
Trang 38c) Nuôi cấy tạo chồi
Các callus được cắt thành từng mẫu có đường kính 5 mm, được cấy vào môi trường MS có bổ sung BA: 2 mg/lit; NAA: 0,5 mg/lit; Agar: 9,5 g/lit; Đường: 30 g/lit (pH 5,7 - 5,8)
d) Nhân cụm chồi
Các cụm cấy lên môi trường MS có bổ sung BA: 2 mg/lit; NAA: 0,5 mg/lit; Agar: 9,5 g/lit; đường: 30 g/lit; than hoạt tính: 1 g/lit (pH: 5,7 - 5,8)
e) Tạo cây Sâm dây in vitro
Các chồi được cấy vào môi trường MS có bổ sung BA: 0,5 mg/lit; IBA: 0,7 mg/lit; Agar: 9,5 g/lit; đường: 15 g/lit; than hoạt tính: 1 g/lit (pH: 5,7 - 5,8)
f) Chăm sóc cây vườn ươm
+ Chuẩn bị giá thể, chuyển cây
Cây sâm nuôi cấy mô được lấy ra khỏi bình, rửa sạch agar trong chậu nước, vớt
ra để ráo (các thao tác phải thật nhẹ nhàng) Rồi trồng lên giá thể chuẩn bị sẵn Giá thể gồm 2 loại:
- Giá thể 1: Dùng cho giai đoạn đầu từ khi bắt đầu chuyển cây từ bình cấy mô Giá thể là cát rửa sạch, cho vào các khay
- Giá thể 2: Dùng cho giai đoạn sau khi cây cấy mô đã trồng trên giá thể 1 Thành phần giá thể bao gồm đất thịt nhẹ: xơ dừa đã xử lý: phân chuồng hoai theo tỷ lệ
2 : 2 : 1, bổ sung 5 % NPK (16 : 16 : 8) và 2 % vôi bột Giá thể phải được ủ và đảo trước khi gieo trồng ít nhất là 3 tháng Sau đó ta đóng giá thể vào bầu hoặc các vỉ xốp
+ Chăm sóc
Định kỳ mỗi ngày tưới phun sương một lần, sau 10 ngày chăm sóc cây đã phát triển ta có thể phun dung dịch NPK (20 : 20 : 15) với nồng độ 0,5 g/lít mỗi tuần tưới một lần Sau 8 tuần lúc đó cây Sâm dây có khoảng 5 - 6 cặp lá, chiều cao 18 - 20 cm ta
có thể đưa cây ra trồng ngoài thực địa
Đoàn Trọng Đức, Trần Văn Minh (2015) [27], đã nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn gốc giống, phương thức trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây đảng sâm Việt Nam tại Kon Tum đã đi đến các kết luận sau:
Trong thử nghiệm trồng thuần, sau 30 ngày trồng, tỷ lệ sống của cây đảng sâm đạt cao nhất là cây nhân từ củ với tỷ lệ sống là 96,10 % và thấp nhất là cây nhân từ mầm củ (67,40 %) Sau 90 ngày, tỷ lệ sống của cây đảng sâm giảm dần, tỷ lệ sống đạt cao nhất ở nghiệm thức sử dụng cây nhân từ củ đạt 89,80 %, thấp nhất ở nghiệm thức
Trang 39sử dụng cây nhân từ mầm củ (29,30 %) Với các nguồn gốc giống khác nhau, cây đảng sâm trồng xen bao giờ cũng có tỷ lệ sống cao hơn so với trồng thuần
Đa số các chỉ tiêu sinh trưởng của cây đảng sâm trồng thuần năm sau đều vượt hơn hẳn so với năm trước Trong đó, cây nhân giống từ củ có khả năng sinh trưởng vượt trội hơn so với cây nhân giống từ hạt, từ mầm củ và từ nuôi cấy mô
Sau mùa sinh trưởng năm thứ 3, cây nhân giống từ củ vẫn tỏ ra ưu thế hơn so với cây nhân giống từ các nguồn còn lại Chiều dài thân cây nhân giống từ củ lớn nhất
là 1,83 m và thấp nhất là cây nhân giống từ mầm củ chỉ đạt 1,18 m Số nhánh phụ trên thân thấp nhất là cây nhân giống bằng hạt là 12,77 nhánh/thân, cây nhân từ các nguồn giống khác không có sự sai khác nhiều trong khoảng 13,85 - 14,18 nhánh/thân Tỷ lệ cây ra hoa đạt từ 46,40 - 67,90 %, cao nhất là cây nhân giống từ củ và thấp nhất là cây nhân giống từ nuôi cấy mô Tương ứng, tỷ lệ cây có quả cũng tăng lên từ 28,60 - 39,30
% Cây nhân giống từ củ có tỷ lệ cây có quả đạt cao nhất và thấp nhất là cây giống nhân bằng nuôi cấy mô Số cây mới phát sinh cao nhất là của cây nhân giống từ củ đạt 3,50 cây/bụi Các cây nhân giống từ nuôi cấy mô, từ mầm củ và từ hạt không có sự sai khác về số cây mới phát sinh lần lượt là 2,61 cây/bụi, 2,57 cây/bụi và 2,55 cây/bụi
Năng suất lý thuyết của vườn trồng cây giống đảng sâm nhân giống từ củ đạt cao nhất là 4.805,40 kg/ha và năng suất thực thu đạt 4.180,30 kg/ha; vườn trồng cây nhân giống từ mầm củ cho năng suất lý thuyết tương đối cao là 4.256,10 kg/ha, song năng suất thực thu lại đạt thấp nhất là 1.765,70 kg/ha do số củ trên bụi ít và chiều dài
củ ngắn Mặc dù cho số củ trung bình trên bụi là lớn nhất 3,1 củ/bụi, nhưng vườn trồng cây đảng sâm nhân giống từ nuôi cấy mô cho năng suất thực thu đạt khá cao (2.932,50 kg/ha) là do chiều dài củ và đường kính củ thấp nhất chỉ đạt trung bình 15,00 cm và 15,30 mm Vườn đảng sâm trồng bằng cây nhân giống từ hạt cho năng suất lý thuyết là 3.193,30 kg/ha và năng suất thực thu đạt 2.812,50 kg/ha, cao hơn so với vườn trồng bằng cây giống nhân từ mầm củ, song lại thấp hơn vườn trồng bằng cây giống nhân từ
củ và nuôi cấy mô
Đây là nghiên cứu có nhiều đóng góp rất quan trọng về mặt thực tiễn sản xuất,
rõ ràng phương thức nhân giống có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ sống, sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng Cây đảng sâm nhân giống từ củ có tỷ lệ sống, sinh trưởng, phát triển và năng suất cao vượt trội so với cây nhân giống từ hạt, mầm củ và nuôi cấy mô Để tăng nhanh diện tích trồng đảng sâm tại Việt Nam hiện nay, phải đánh giá được hiệu quả kinh tế để lựa chọn phương thức trồng thích hợp và kèm theo đó là các giải pháp kỹ thuật phù hợp với kinh nghiệm sản xuất của người dân Tiếp tục phát triển kết quả của nghiên cứu này, Chúng tôi sẽ xây dựng các mô hình trồng đảng sâm, đánh giá hiệu quả kinh tế và lựa chọn các giải pháp kỹ thuật phù hợp với người dân
Trang 401.2.8 Thu hái và chế biến
Theo Đỗ Tất Lợi (2006) [45], sau khi thu hái về, rửa sạch đất, phân biệt to nhỏ,
để riêng, xâu dây vào và phơi đến nửa chừng thì dùng tay hay miếng gỗ lăn cho mềm
và làm cho vỏ và thịt dính chặt nhau, làm như vậy 3 - 4 lần, cuối cùng phơi hay sấy cho thật khô
Theo Lê Quý Ngưu và Trần Thị Như Đức (1999) [56], mùa xuân và mùa thu đều có thể đào lấy, nhưng lấy vào mùa thu thì tốt hơn loại trồng, sau khi đào rễ lên thì vứt bỏ mầm cành trên mặt đất và bùn đất, vừa phơi vừa lăn, làm cho phần vỏ gắn chặt với phần chất gỗ, phơi khô là được Loại mọc hoang thì phơi khô hoặc dùng lửa nhỏ sấy khô là được
Để bào chế đảng sâm: lấy nước rửa sạch, sau khi ủ mềm thì cắt bỏ đầu núm, cắt thành đoạn hoặc thành phiến, khô là được
Bào chế mễ đảng sâm bằng cách: cho gạo vào trong nồi, đun lên, phun ít nước vào cho đến khi hạt gạo gắn dính lên nồi Khói tỏa ra thì cho đảng sâm đã cắt thành đoạn vào, sao trộn nhè nhẹ cho đến lúc đảng sâm vàng thì lấy ra, để nguội rồi bỏ gạo
đi là được Cứ 50 kg đảng sâm thì dùng 10 kg gạo
1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu cây đảng sâm ngoài nước
Zhao Xuemin vào năm 1765 Loài Codonopsis sp Có nguồn gốc từ châu Á và phát
triển hoang dại trong tự nhiên Rễ đảng sâm được thu hoạch vào mùa thu sau 3 năm phát triển, có vị ngọt dịu và được sử dụng như là thực phẩm chức năng có giá trị bổ dưỡng, chữa bệnh (trích dẫn bởi Đỗ Tất Lợi [45])
Năm 1934, Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao đã dùng đảng sâm mua ở hiệu thuốc Đồng Nhân Đường và Trần Thọ Đường (Bắc Kinh, Trung Quốc) ngâm với cồn
70 0 trong 1 tháng Lọc lấy cồn, bã còn lại sắc với nước: 1 kg đảng sâm cho 200 g cồn
và 260 g cao nước Dùng cả 2 loại trên chế thành dung dịch 20 %, một phần sau khi hấp tiệt trùng thì đem tiêm, một phần cho lên men để loại hết các hợp chất hydrat cacbon như đường rồi mới tiêm, đồng thời dùng đảng sâm chế thành thuốc cho uống Tiến hành trên thỏ và chó đi tới một số kết quả sau: