ĐẶT VẤN ĐỀ Chương trình mục tiêu quốc gia chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng tại Việt Nam được triển khai từ năm 2001 đến nay đã 15 năm với 2 loại bệnh lý chính là Tâm thần phân li
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương trình mục tiêu quốc gia chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng tại Việt Nam được triển khai từ năm 2001 đến nay đã 15 năm với 2 loại bệnh lý chính là Tâm thần phân liệt và Động kinh và gần đây chương trình mới chú ý đến các rối loạn khác như lo âu và trầm cảm, tính tới thời điểm hiện tại trên toàn quốc, bệnh tâm thần phân liệt đã quản lý được 83% số xã/phường trên toàn quốc, bệnh lý Động kinh tỉ lệ thấp hơn 45% số xã/phường Như vậy về mặt cơ bản bệnh lý TTPL chúng ta đã tiến đến gần mục tiêu quản lý, riêng bệnh lý Động kinh tỉ lệ còn thấp
Tuy nhiên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng chúng tôi đã đạt mục tiêu quản
lý 2 bệnh lý trên đạt tỉ lệ 100% xã/ phường trong toàn thành phố vào năm 2007, mặc dù như vậy trong suốt thời gian dài chúng ta chỉ đề cập đến số lượng mà chưa để ý đến chất lượng, đặc biệt là bệnh lý Động kinh trong các vấn đề cắt cơn, các bệnh lý mắc phải về Tâm thần cũng như cơ thể, tỉ lệ tàn phế…
Động kinh là một bệnh mạn tính, chiếm tỉ lệ 0,5% - 2% dân số Bệnh động kinh có thể ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động xã hội, tâm thần và cơ thể của bệnh nhân
Một số nước như Hoa Kỳ, Thái Lan, Trung Quốc, Iran, đã có nhiều nghiên cứu về bệnh nhân động kinh, trên cơ sở kết quả thu được các nước này đã
đề xuất các biện pháp chăm sóc, hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân động kinh
Tại Việt Nam đây là một bệnh khá phổ biến với biểu hiện lâm sàng đa dạng, diễn biến mạn tính và dẫn đến nhiều biến chứng Trong nhiều loại biến chứng do động kinh gây ra có biến chứng về mặt tâm thần: lo âu, trầm cảm, loạn thần, biến đổi nhân cách, … thì trầm cảm là một biến chứng thường gặp nhất mà hiện tại thực tế chúng ta chưa thực sự quan tâm đến rối loạn này ở bệnh nhân động kinh
Trang 2Xuất phát từ thực tế này, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả điều trị cắt cơn ở bệnh nhân động kinh đang điều trị ngoại trú tại thành phố Đà Nẵng theo chương trình mục tiêu quôc gia” với các mục tiêu:
1 Đánh giá hiệu quả điều trị cắt cơn bệnh nhân động kinh
2 Đánh giá tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân động kinh
3 Đánh giá các yếu tố liên quan
Trang 3Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ ĐỘNG KINH
1.1.1 Định nghĩa động kinh
Động kinh là những cơn ngắn, định hình, đột khởi, có khuynh hướng chu
kỳ và tái phát do sự phóng điện đột ngột quá mức từ vỏ não hoặc qua vỏ não của những nhóm nơ ron, gây rối loạn chức năng của hệ thần kinh trung ương (TKTW) (cơn vận động, cảm giác, giác quan, thực vật,…), điện não đồ ghi được các đợt sóng kịch phát [19]
1.1.2 Tỷ lệ bệnh nhân động kinh
Được ghi nhận là 0,5% - 2% dân số [5] Khoảng 45 triệu người trên thế giới mắc bệnh động kinh
Về giới, hầu hết các nghiên cứu (không phải toàn bộ) ở Châu Á nhận thấy
tỉ lệ nam bị động kinh cao hơn đôi chút so với nữ
Về tỉ lệ các loại cơn, theo tài liệu nước ngoài thì ở người lớn động kinh cục bộ hoặc những cơn liên quan đến cục bộ chiếm 55 - 60%, cơn toàn thể tiên phát chiếm 26 -32%, cơn động kinh không phân loại chiếm 8 – 17% Tổng hợp các nghiên cứu ở các nước phát triển cho thấy cơn cục bộ phổ biến hơn cơn toàn thể ở cả trẻ em và người lớn mặc dù ưu thế của động kinh cục bộ vẫn trội hơn ở người lớn Trên lâm sàng nhiều cơn biểu hiện toàn thể nhưng bản chất là cơn cục
Trang 4tổn thương Sau cơn có thể có liệt gọi là liệt Todd, liệt này sẽ thoái lui trong vài giờ [5]
Cơn cục bộ cảm giác ít gặp hơn, có khi đi kèm cơn vận động
Cơn động kinh thực vật (Động kinh não trung gian) Có hoặc không mất ý thức, đỏ bừng mặt và cổ, vã mồ hôi, có khi chỉ nửa người, sởn gai ốc, tim đập chậm hoặc nhanh, đột ngột hạ huyết áp, nấc, ngáp, sốt, ớn lạnh, đau bụng…
Cơn cục bộ phức tạp (Động kinh thái dương, cơn tâm thần - vận động) gồm các nhóm triệu chứng sau:
Các ảo giác: ngửi mùi khó chịu, vị khó chịu, nhìn thấy cảnh như xa lạ (trong giấc mộng), cảm giác chưa nhìn thấy, sợ, lo âu, cười ép buộc…
Động tác tự động: cơn nhai, liếm miệng, tặc lưỡi, nuốt liên tục, làm các động tác như lái xe, cởi khuy áo, quay đầu mắt từ từ, hát định hình, đi lang thang sau cơn kèm trạng thái mộng mị và có động tác tự động nên dễ gây nguy hiểm cho người khác bằng hành vi phạm pháp, gây án mạng, hiếp dâm, ăn cắp,…
Cơn cục bộ toàn bộ hóa: bắt đầu cục bộ, thường là vận động chuyển nhanh sang cơn lớn, nếu không hỏi kỹ hay không quan sát kỹ thì khó phát hiện Lúc này cần dựa vào điện não đồ (kịch phát một ổ sau toàn bộ hóa ở tất cả các đạo trình) hoặc sau cơn để lại dấu khu trú [5]
1.1.3.2 Cơn toàn thể
- Động kinh cơn lớn: trước khi xảy ra cơn có thể có triệu chứng báo trước như
đau đầu, đầy hơi, rầu rĩ, lạnh lùng ít giờ hoặc ít ngày Triệu chứng báo trước thường là bất thường cảm giác, vận động, co cứng cơ chi trên, các ảo giác, rối loạn tâm thần nhưng chỉ kéo dài 1/10 giây Cơn thực sự có 3 giai đoạn:
Giai đoạn co cứng: đột ngột ngã xuống bất tỉnh nên có thể gây thương tích, các chi duỗi cứng, các ngón tay gấp, đầu ưỡn ngửa quay sang một bên, hàm nghiến chặt và có thể cắn vào lưỡi, hai mắt trợn ngược, tím vì không thở được, tiểu dầm hoặc đại tiện không tự chủ Giai đoạn này kéo dài 10 -20 giây
Giai đoạn giật: cơ thân và chi giật liên tiếp, ngắn, mạnh, có nhịp; hai mắt
Trang 5giật ngang hoặc giật lên Có thể cắn phải lưỡi, sùi bọt mép Giai đoạn này dài 1 -
2 phút, ít khi quá 6 phút
Giai đoạn duỗi: hôn mê, các cơ doãi ra, phản xạ gân xương giảm, có thể
có Babinski, thở bù lại mạnh, nhanh, ồn ào, thở ngáy sau vài phút tỉnh lại, không nhớ những gì đã xảy ra Giai đoạn này kéo dài 5 – 10 phút
Loại cơn này xuất hiện đầu tiên vào lứa tuổi 10 – 20 (80% các trường hợp), nếu ít cơn thì đáp ứng tốt với điều trị
Động kinh cơn bé (cơn vắng ý thức): gồm nhiều loại nhưng chung một số đặc điểm là thường gặp ở trẻ em, các cơn ngắn từ 1/10 – 10 giây, nhiều cơn trong ngày Thường đột ngột mất ý thức hoàn toàn nên bất động, rơi chén đũa khi ăn, ngừng công việc,… Có thể không hoặc mất trương lực, giật cứng cơ…
đó là cơn vắng phức tạp Tuổi thường gặp 3 – 12 tuổi, tiến triển có 3 khả năng:
+ Hết cơn
+ Tiếp tục duy trì cơn (6%)
- Xuất hiện cơn co cứng giật cơ (40%): thường 6 năm sau cơn vắng ý thức Nếu cơn vắng ý thức đầu tiên sau 7 tuổi thường đáp ứng kém với điều trị, dễ bị kích thích bởi ánh sáng, cũng thường cách ly với xã hội nên tiên lượng xấu
- Hội chứng West: gặp ở trẻ 4 – 7 tháng tuổi Có ba dấu chính sau:
+ Co cứng, gấp cổ, chi, thân mình
+ Rối loạn tính tình và tác phong
+ Điện não đồ có loạn nhịp biên độ cao của các nhọn
+ Loại này tiên lượng xấu vì gây đần độn
- Hội chứng Lennox – Gastaut: gặp ở trẻ từ 2 – 6 tuổi với tam chứng vắng
ý thức không điển hình, cơn cứng, mất trương lực Suy sụp tâm thần vận động Điện não đồ có nhọn – sóng chậm lan tỏa tiên lượng xấu [5]
1.1.4 Cận lâm sàng
1.1.4.1 Điện não đồ
Giúp xác định động kinh, loại cơn, vị trí động kinh Tuy nhiên điện não đồ
Trang 6bình thường không loại được động kinh, ngược lại 10 – 15% người bình thường
có bất thường điện não không bao giờ lên cơn [5]
1.1.4.2 Các xét nghiệm khác
Tìm nguyên nhân như chụp phim sọ, chụp động mạch não, glucoza máu, điện giải đồ, dịch não tủy, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ não,…
1.1.5 Phân loại động kinh
Bảng 1.1 Phân loại cơn động kinh năm 1981 của ILAE
4 Với các triệu chứng tâm thần
B Các cơn cục bộ phức tạp (có rối loạn ý thức)
1.Khởi phát cục bộ đơn giản, tiếp theo sau là rối loạn ý thức
2 Có rối loạn ý thức ngay lúc khởi phát
C Cơn cục bộ đơn giản hay cơn cục bộ phức tạp diễn tiến thành cơn toàn thể hóa thứ phát
II Cơn toàn thể nguyên phát
Trang 71.1.6 Các thể động kinh thường gặp ở Việt Nam
Thể lâm sàng động kinh thường gặp nhất là cơn co cứng - co giật (cơn lớn) chiếm khoảng 81 đến 86,1%
Trong điều trị động kinh hóa liệu pháp nhằm mục đích chính sau: kiểm soát hoàn toàn cơn co giật, giảm mức độ nghiêm trọng của cơn động kinh, tránh tác dụng phụ, giảm tỉ lệ tử vong, tránh tương tác thuốc, nâng cao CLS bệnh nhân động kinh
1.1.7.2 Phẫu thuật
Các bằng chứng khảo cổ học cho thấy một số nền văn minh cổ đã thực hiện khoan xương sọ để cắt bỏ mô bệnh (epileptogenic bad tissue) trong não Phẫu thuật chữa động kinh thực sự phát triển cuối thế kỷ 19 nhờ công trình nghiên cứu của Victor Horsley, Bệnh viện Quốc gia, Luân Đôn Ông đã tiến hành nghiên cứu trên 100 con khỉ, dùng kích thích điện để xác định và vẽ bản đồ các vùng chức năng và các đường dẫn truyền thần kinh trong não Trên cơ sở các nghiên cứu này, đến cuối năm 1886 ông đã tiến hành 10 ca phẫu thuật chữa bệnh động kinh, trong đó 9 ca được đánh giá là rất thành công Tiếp theo Victor Horsley nhiều tác giả khác đã thực hiện và tiếp tục nghiên cứu phẫu thuật chữa động kinh cho đến nay
Ngày nay phẫu thuật được chỉ định chủ yếu cho các thể động kinh sau: động kinh cục bộ không có tổn thương lan rộng, động kinh cục bộ toàn bộ hóa, động kinh do dị dạng mạch ở nông, động kinh do u não [5]
Trang 81.1.7.3 Điều trị các rối loạn tâm thần kết hợp
Trầm cảm, lo âu, loạn thần, kích động… Nguyên tắc là xử dụng các loại thuốc ít có khả năng kích hoạt cơn động kinh Để điều trị trầm cảm có thể dùng sertraline, venlafaxine Điều trị lo âu có thể dùng các benzodiazepine, buspirone Điều trị loạn thần có thể dùng olanzapine, haloperidol Riêng với trầm cảm và lo
âu có thể kết hợp điều trị bằng liệu pháp tâm lý [6]
1.1.7.4 Phục hồi chức năng tâm lý xã hội dựa vào cộng đồng
1.1.7.5 Chế độ làm việc, nghỉ ngơi
Tránh làm việc trên cao, dưới nước, gần lửa, lái xe, tránh làm việc lâu ngoài nắng, không làm việc có ánh sáng chói lòe như hàn…
1.1.7.6 Chế độ tiết thực tạo keton
Ăn nhiều mỡ, ít hydrat carbon và protein
Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại vẫn có 80% bệnh nhân động kinh hoặc không được điều trị đúng cách hoặc không được điều trị, hầu hết số bệnh nhân này ở các nước có nguồn lực nghèo
1.1.8 Tình hình quản lý và điều trị bệnh động kinh ở Việt Nam
Việt Nam chưa có một nghiên cứu trên quy mô toàn quốc về tỉ lệ và số bệnh nhân động kinh, do vậy dựa vào tỉ lệ chung của các nghiên cứu đã có thì với dân số 80 triệu người nước ta có khoảng 800.000 bệnh nhân động kinh
Chính phủ Việt Nam đã lồng ghép bệnh động kinh vào Chương trình mục tiêu quốc gia chăm sóc sức khỏe ban đầu Theo đó có một hệ thống để phát hiện, điều trị, theo dõi và quản lý bệnh nhân động kinh Hệ thống này được nhà nước cấp kinh phí hoạt động do vậy các bệnh nhân động kinh được hưởng nhiều ưu đãi trong quá trình điều trị chăm sóc Mô hình này theo từng cấp như sau:
Trang 9Bảng 1.2 Quản lý điều trị động kinh ở Việt Nam
Tỉnh/ thành phố trực thuộc trung
ương
Bệnh viện Tâm thần tỉnh/ thành phố hoặc Trung tâm phòng chống bệnh
xã hội Quận/ huyện Phòng khám tâm thần trực thuộc
Trung tâm y tế quận/ huyện
Bệnh nhân động kinh có tỉ lệ hiện mắc cao các rối loạn tâm thần kết hợp
so với quần thể dân số bình thường
Trong các rối loạn tâm thần kết hợp thì trầm cảm là rối loạn tâm thần kết hợp thường gặp nhất ở bệnh nhân động kinh Khoảng năm 400 trước Công Nguyên, Bộ sách Y khoa Hyppocraticum Corpus đã viết “Melancholic ordinarily become epileptics, and epileptics’ melancholics”, tạm dịch “Trầm cảm nặng thường gặp ở những người bệnh động kinh, và gọi là những bệnh nhân động kinh bị trầm cảm” Thông qua phát biểu này chúng ta thấy ngay từ
Trang 10xa xưa y học đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa bệnh động kinh và trầm cảm
Dịch tễ học: những dự đoán tỉ lệ hiện mắc của trầm cảm ở bệnh nhân động kinh rất thay đổi Tỉ lệ hiện mắc cao nhất của trầm cảm là 50 -55% ở những bệnh nhân động kinh tại các phòng khám chuyên khoa hoặc những đơn vị có theo dõi qua video (videotelemetry units) Những nét này được dựa trên những quần thể bao gồm những những người bị động kinh nặng, nhưng một số nghiên cứu cộng đồng thì cho gợi ý rằng tỉ lệ lưu hành ở cộng đồng thì không đặc trưng: 20 – 30%
ở những người có cơn động kinh tái diễn và 6 – 9% ở những người ổn định được phát hiện bị trầm cảm
Một tổng kết khác của Hrvoje Hecimovie và cộng sự cho thấy những nghiên cứu dịch tễ học gần đây nhất xác nhận 10 – 20% bệnh nhân kiểm soát tốt cơn động kinh bị trầm cảm và 20 – 60% bệnh nhân động kinh có cơn tái diễn bị trầm cảm
Bàn về trầm cảm kết hợp với bệnh động kinh hai tác giả Marco Mula và Bettina Schmitz đã viết: “trầm cảm và động kinh có một mối quan hệ hai chiều” Qua nhận định này hai tác giả muốn nhấn mạnh đến sự ảnh hưởng qua lại giữa động kinh và trầm cảm, động kinh làm xuất hiện trầm cảm và trầm cảm làm nặng
nề thêm động kinh
1.1.2 Vài nét về dịch tễ học lâm sàng ở bệnh nhân động kinh
1.1.2.1 Tình hình quản lý và điều trị bệnh động kinh ở Việt Nam
Việt Nam với dân số 90 triệu người nước ta có khoảng 800.000 bệnh nhân động kinh, ước tính chiếm tỉ lệ 0,5% - 2% dân số
Chính phủ Việt Nam đã lồng ghép bệnh động kinh vào Chương trình mục tiêu quốc gia chăm sóc sức khỏe ban đầu Theo đó có một hệ thống để phát hiện, điều trị, theo dõi và quản lý bệnh nhân động kinh Hệ thống này được nhà nước cấp kinh phí hoạt động do vậy các bệnh nhân động kinh được hưởng nhiều ưu đãi trong quá trình điều trị chăm sóc Mô hình này theo từng cấp như sau:
Trang 11Bảng 1.2 Quản lý điều trị động kinh ở Việt Nam
Tỉnh/ thành phố trực thuộc trung ương
Bệnh viện Tâm thần tỉnh/ thành phố hoặc Trung tâm phòng chống bệnh
xã hội
Trung tâm y tế quận/ huyện
Cộng tác viên
Trang 12Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Các bệnh nhân đều từ 18 tuổi trở lên
- Mỗi bệnh nhân được chọn 1 lần
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân động kinh dưới 18 tuổi
- Bệnh nhân động kinh bị tổn thương nhận thức không thể tự điền vào bảng đánh
giá được
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Đây là nghiên cứu cắt ngang tại một thời điểm, không can thiệp
Trang 132001 đến tháng 12 năm 2015 nếu thỏa mãn các tiêu chuẩn chọn bệnh sẽ được
chọn vào mẫu nghiên cứu
2.2.3 Các tiêu chí đánh giá
2.2.3.1 Tiêu chí đánh giá nhân trắc học và đặc điểm lâm sàng
Gồm có nhóm tuổi, giới tính, thời gian bị bệnh động kinh, phân loại cơn, tần số cơn, tiền sử chấn thương do cơn động kinh, thuốc chống động kinh đang dùng
2.2.3.2 Tiêu chí đánh giá trầm cảm
- Trầm cảm: Theo ICD-10 (Bảng phân loại quốc tế 1992)
+ Các triệu chứng của một giai đoạn trầm cảm
3 triệu chứng cơ bản 1 Khí sắc trầm
2 Mất mọi quan tâm thích thú
3 Giảm sinh lực đưa đến dễ mệt mỏi, giảm hoạt động
7 triệu chứng phổ biến 1 Giảm tập trung chú ý
2 Giảm tự trọng, giảm tự tin
3 Ý nghĩ có tội, thấy mình không xứng đáng
4 Bi quan về tương lai
5 Ý tưởng và hành vi tự sát
6 Rối loạn giấc ngủ
7 Giảm hoặc tăng thèm muốn ăn uống, sút cân
Trang 14+ Xếp loại chẩn đoán theo mức độ và số lượng các triệu chứng kể trên
Có thể có một số triệu chứng nặng
Tất cả các triệu chứng đều nặng Thời gian
của bệnh Ít nhất 2 tuần Ít nhất 2 tuần 2 tuần hoặc ít hơn
+ Thang đánh giá trầm cảm của Beck (13 câu) (Chi tiết thang đánh giá xem
phụ lục 2)
Thang đánh giá trầm cảm rút gọn của Beck được đánh giá là nhạy [54] Thang gồm một loạt các câu hỏi được xây dựng để đánh giá cường độ (intensity), mức độ nghiêm trọng (severity) và chiều sâu (depth) của trầm cảm ở bệnh nhân có bệnh tâm thần Thang điểm có 21 câu, mỗi câu được thiết kế để đánh giá một triệu chứng đặc hiệu phổ biến ở người bị trầm cảm
Mục đích: Thang đánh giá trầm cảm rút gọn của Beck ban đầu được phát triển để điều tra, đánh giá, và theo dõi những thay đổi của các triệu chứng trầm cảm trong số bệnh nhân ở các cơ sở chăm sóc sức khỏe tâm thần Thang này cũng được dùng để điều tra các triệu chứng trầm cảm ở các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu Mất khoảng 5 – 10 phút để hoàn thanh thang đánh giá
Những câu hỏi riêng của Thang đánh giá trầm cảm rút gọn của Beck khảo sát về khí sắc, sự bi quan, cảm giác thất bại, không cảm thấy thỏa mãn, tội lỗi, trừng phạt, căm gét bản thân, tự buộc tội, ý tưởng tự sát, khóc lóc, kích thích,
Trang 15cách ly xã hội, hình ảnh cơ thể, khó khăn trong công việc, mất ngủ, mệt mỏi, cảm giác ngon miệng, giảm cân, bận tâm về cơ thể, và giảm dục năng Nghiên cứu này dùng thang điểm rút gọn (tức thang điểm có 13 câu) Mỗi mục gồm 4 câu trả lời, yêu cầu bệnh nhân đánh dấu vào chữ số tương ứng với câu trả lời mà bệnh nhân lựa chọn (0,1,2 hoặc 3), tương ứng với 4 độ tăng dần của một triệu chứng Tổng điểm được tính bằng cách cộng điểm toàn bộ 13 mục
2.3 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU
- Bệnh nhân đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu và có quyền rút khỏi nghiên cứu không cần phải giải thích lý do
- Các thông tin do đối tượng nghiên cứu cung cấp được đảm bảo giữ bí mật
- Đây là nghiên cứu mô tả, không can thiệp, mọi biện pháp đánh giá đều được quyết định theo tình trạng của người bệnh
2.4 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Từ 20 tháng 1 đến 15 tháng 9 năm 2016
Trang 16CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 3.1 Đặc điểm chung
Trang 183.1.4 Nghề nghiệp
Nhận xét
Trong bảng trên ta nhận thấy bệnh nhân Động Kinh bị thất nghiệp chiếm tỉ lệ cao 50,06%, bệnh nhân là Nông dân chiếm tỉ lệ 20,8%, còn bệnh nhân là công chức nhà nước, nhân viên văn phòng chiếm tỉ lệ thấp hơn nhiều 7,8%
Trang 19Nhận xét Trong bảng này ta nhận thấy trình độ học vấn của bệnh nhân ở trình độ
cấp II chiếm 39,00%, cấp III chiếm 31,20% còn lại bệnh nhân ở hai khối cấp I
và không biết chữ chỉ có 2 trường hợp, trình độ cao đẳng, đại học chiếm tỉ lệ
15,60%
3.2 Các yếu tố liên quan
3.2.1 Thời gian mắc bệnh
Nhận xét: Trên bảng này ta nhận thấy thời gian mắc bệnh của bệnh nhân Động
kinh trên 10 năm chiếm tỉ lệ cao nhất 57,10%, sau đó bệnh nhân mắc bệnh từ
5-10 năm chiếm tỉ lệ 27,30% còn bệnh nhân mắc bệnh dưới 1 năm chiếm tỉ lệ thấp nhất chỉ 3,90%
3.2.2 Thời gian điều trị CTMT
Bảng 3.3
Thời gian < 1 năm 1-5 năm 5-10 năm > 10 năm Tổng