Ở Việt Nam hiện nay đã phát hiện nhiều trường hợp bệnh gây ảnh hưởng lớn về sức khỏe cũng như các vấn đề tâm linh, xã hội tập trung ở các xã miền núi tỉnh Hòa Bình, tuy nhiên chúng ta ch
Trang 1LÊ VĂN NGÂN
MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ
MỘT SỐ CHỈ SỐ CẬN LÂM SÀNG CƠ BẢN CỦA BỆNH KHÔ DA SẮC TỐ TẠI XÃ MƯỜNG CHIỀNG
HUYỆN ĐÀ BẮC TỈNH HÒA BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA KHÓA 2013-1019
Trang 2Đặt vấn đề 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đại cương về khô da sắc tố 3
1.2 Dịch tễ học 3
1.3 Cơ chế bệnh sinh 4
1.4 Biểu hiện lâm sàng 9
1.5 Chẩn đoán sơ bộ và xác định 11
1.6 Chẩn đoán phân biệt 15
1.7 Tiên lượng 16
1.8 Tình hình bệnh khô da sắc tố tại Việt Nam 17
Chương II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 18
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 19
2.2 Thiết kế nghiên cứu 19
2.3 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 19
2.4 Các bước tiến hành nghiên cứu 19
2.5 Biến số nghiên cứu 20
2.6 Phân tích thống kê 22
2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 23
Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ 24
3.1 Đặc điểm tiền sử gia đình, tuổi, giới, tuổi khởi phát và thời gian mắc bệnh 24
Trang 33.3 Các tổn thương ở mắt của bệnh nhân khô da sắc tố 25
3.3.1 Tuổi khởi phát các triệu chứng ở mắt 25
3.3.2 Các triệu chứng cụ thể ở mắt 26
Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 28
DỰ KIẾN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 29
Tài liệu tham khảo 30
Trang 4da bệnh nhân [1-3] Tùy thuộc vào loại đột biến và protein sửa chữa
bị biến đổi, bệnh được chia làm 8 thể từ A đến G và khô da sắc tố nhóm V (variant)
Về mặt lâm sàng, bệnh tiến triển mạn tính, đặc trưng bởi các tổn thương da và mắt xuất hiện rất sớm 1-2 tuổi với tổn thương da và 4 tuổi với các tổn thương mắt [1] các bất thường này đều liên quan trực tiếp đến tia UV Nguy cơ ung thư da tăng cao: 10000 lần với ung thư da không hắc tố và 2000 lần với ung thư hắc tố ở tuổi <20 [4], Tổn thương thần kinh gặp ở 24% số bệnh nhân và chủ yếu tập trung ở khô da sắc tố nhóm D [4] Ung thư da, tổn thương thần kinh tiến triển là nguyên nhân chính gây tử vong ở các bệnh nhân này [1-
4]
Chẩn đoán sơ bộ khô da sắc tố đặt ra dựa trên các đặc điểm lâm sàng: viêm da, các bất thường sắc tố trên da, giảm thị lực, viêm kết mạc mạn tính, các tổn thương nặng ở vùng da tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời và nhẹ ở các vùng da kín đáo, ung thư da hắc tố hoặc không hắc tố phát sinh trên bệnh nhân trẻ tuổi, thoái hóa thần
Trang 5kinh tiến triển, chậm phát triển trí tuệ, các xét nghiệm để chẩn đoán xác định bệnh hiện nay còn hạn chế chủ yếu cần sử dụng phương pháp định lượng sự tổng hợp DNA bất thường liên quan đến sự phơinhiễm với tia UV trên các nguyên bào sợi được sinh thiết từ da người bệnh [5]
Hiện bệnh chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu, hạn chế tối đa việc tiếp xúc với tia UV ngay từ khi phát hiện bệnh sẽ giúp kéo dài thời gian tiến triển của bệnh và do đó, làm tăng tuổi thọ của người bệnh
Ở Việt Nam hiện nay đã phát hiện nhiều trường hợp bệnh gây ảnh hưởng lớn về sức khỏe cũng như các vấn đề tâm linh, xã hội tập trung ở các xã miền núi tỉnh Hòa Bình, tuy nhiên chúng ta chưa có bất kỳ nghiên cứu nào về khô da sắc tố, các tài liệu có được đều là nguồn tham khảo từ y văn thế giới, do đó chúng tôi tiến hành đề tài
"Mô tả đặc điểm lâm sàng và một số chỉ số cận lâm sàng của bệnh khô da sắc tố tại xã Mường Chiềng huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình" với 2 mục tiêu chính:
1 Khảo sát các đặc điểm lâm sàng và một số chỉ số cận lâm sàng của các bệnh nhân được chẩn đoán sơ bộ khô da sắc tố tại xã Mường Chiềng, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn 2005-2015
2 Góp phần vào xây dựng tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh khô da sắc tố
về mặt lâm sàng ở Việt Nam
Trang 6Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương
Khô da sắc tố được mô tả lần đầu từ năm 1870 ở Vienna – Áo bởi Moriz Kaposi, với tên gọi ban đầu là khô da (xeroderma) [6] Đến năm 1882 thuật ngữ khô da sắc tố (xeroderma pigmentosum) được hoàn chỉnh để nhấn mạnh các biến đổi sắc tố bất thường trên
da người bệnh [7] Năm 1883 nhà khoa học người Đức Albert
Neisser phát hiện thêm biểu hiện thoái hóa thần kinh tiến triển trên hai bệnh nhân là anh em ruột phát sinh từ năm 10-20 tuổi [8] Năm
1932 De Sanctis và Cacchione công bố biểu hiện khô da sắc tố trên
3 anh em ruột với các biểu hiện thiểu năng trí tuệ, còi cọc, giảm sản tuyến sinh dục và thoái hóa thần kinh tiến triển phát sinh từ năm 2 tuổi các triệu chứng này được gọi tên là hội chứng De Sanctis-Cacchione [9] Hiện nay, hiểu biết về đặc điểm lâm sàng, các yếu tố liên quan và cơ chế bệnh sinh đã rõ nét hơn
Khô da sắc tố là bệnh lý di truyền hiếm gặp, diễn biến mạn tính Yếu tố làm khởi phát bệnh và làm nặng thêm các triệu chứng đã biết
là sự tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời
1.2 Dịch tễ học
Đã có nhiều báo cáo về các case bệnh khô da sắc tố ở các bệnh nhân thuộc mọi chủng tộc trên thế giới [4-10-12], tỷ lệ mắc bệnh khác nhau ở các vùng địa lý khác nhau trên thế giới khoảng
1/250000 ở Mỹ [13], 1/22000 ở Nhật [14] và 2.3/1000000 ở Tây Âu[15] Tỷ lệ mắc bệnh tương đương ở hai giới [1-16]
Trang 7bị chết khi phơi nhiễm với tia UV hoặc hóa chất có tác dụng tương
tự tia UV (tác dụng trên DNA) là Benzo-a-pyrene trong khói thuốc
lá [16-17]
Tia UV tác động trên DNA làm sinh ra nhiều loại nucleotid dạng dipyrimidin bền vững (các sản phẩm quang hóa), sản phẩm quang hóa chính của quá trình này là cyclobutane dipyrimidine (CPDs) của thymine (T) và cytosine (C) hoặc dạng dimer của cả C và T, dạng này được gọi là sản phẩm quang hóa dạng TC 6-4 pyrimidine-pyrimidone (6-4 PPs) Các tổn thương DNA này là cơ chất của hệ thống sửa chữa DNA bằng cắt đoạn nucleotid (Nucleotide excision repair) Trong tế bào bình thường dạng 6-4 PPs này được sửa chữa nhanh chóng hơn (thường trong vòng 6 giờ từ khi hình thành) so vớidạng CPDs (50% được loại bỏ trong 12 giờ từ khi hình thành) Cả hai dạng này đều không được sửa chữa trong tế bào của người bệnh khô da sắc tố Các sản phẩm quang hóa không được loại bỏ này chính là các tổn thương tiền đột biến Trong quá trình nhân đôi DNA, DNA polymerase có thể gặp một sản phẩm quang hóa chưa được loại bỏ, nó có thể dừng nhân đôi và dẫn đến sự chết theo chương trình của tế bào Nếu DNA polymerase vượt qua được sản phẩm quang hóa đó, thì nó sẽ mã hóa sai thông tin do cấu trúc nucleotide đã bị biến đổi, ví dụ DNA polymerase có thể lắp T thay
Trang 8vì C khi gặp một nucleotid dạng dimer TC trên chuỗi đơn DNA đối diện, điều này sẽ dẫn đến đột biến thay thế nucleotide C thành T, dạng đột biến đặc trưng gây ra bởi tia UV [16-18] Nếu một plasmid
có gắn gen bị biến đổi do tia UV được chuyển vào một nguyên bào sợi XP nuôi cấy thì gen này sẽ không được sửa chữa, do đó không thể có phiên mã và không thể tìm thấy sản phẩm của gen này Dựa vào cách này, sự ngừng phiên mã do các sản phẩm quang hóa tạo ra bởi tia UV và tầm quan trọng của hệ thống sửa chữa DNA giúp loại
bỏ các sản phẩm này trên DNA đã được chứng minh [19] Tương tựnhư vậy, plasmid được gây đột biến bởi tia UV mã hóa cho một RNA vận chuyển đóng vai trò marker được chuyển vào trong
nguyên bào sợi nuôi cấy, các plasmid này sau đó được nhân đôi cùng với DNA của tế bào Giải trình tự các plasmid này cho thấy cácđột biến sau chiếu tia UV thường hình thành ở vị trí của các
dipyrimidine, đó là các đột biến thay thế C bằng T [20]
Khô da sắc tố xảy ra do đột biến một gen bất kỳ trong 8 gen Có 7 gen XPA, XPB, XPC cho đến XPG sinh ra các sản phẩm tham gia vào sự sửa chữa các sản phẩm quang hóa trên DNA do tia UV thôngqua quá trình sửa chữa DNA bằng cắt nucleotide (NER)
Các protein XPC và XPE cần cho quá trình nhận biết các sản phẩm quang hóa này, XPB và XPD là một phần của phức hệ protein
TFIIH (transcription factor IIH) có chức năng tháo xoắn DNA xung quanh vị trí có tổn thương Protein XPA kiểm tra vị trí chính xác củacác protein trên và sau đó 2 nuclease: XPG và XPF cắt đoạn DNA tổn thương tại hai đầu, sau đó loại bỏ đoạn DNA này Các DNA
Trang 9polymerase sau đó sẽ tổng hợp lại đoạn DNA bổ sung từ chuỗi đơn còn lại.
Có hai hệ thống sửa chữa DNA bằng cắt đoạn nucleotid (NER) đó là
hệ thống sửa chữa liên quan đến phiên mã (Trancription -coupled repair - TCR), có chức năng sửa các đoạn DNA có chức năng phiên
mã thành RNA, chiếm 1% DNA của tế bào
Hệ thống thứ hai là hệ thống sửa chữa DNA chung (global genome repair - GGR) hệ thống này sửa chữa phần còn lại của DNA và hoạt động chậm chạp hơn [2-16]
Hình 1: Hệ thống sửa chữa DNA bằng cắt nucleotide: hệ thống
sửa chữa DNA liên quan đến phiên mã (transcription-coupled repair
Trang 10– TCR) loại bỏ các tổn thương từ các gen có hoạt động phiên mã, trong khi hệ thống sửa chữa DNA chung (global genome repair – GGR) làm việc trên phần còn lại của hệ gen Trong hệ thống GGR, tổn thương được nhận biết bởi các protein trong đó bao gồm sản phẩm của các gen XPE và các XPC Trong hệ thống TCR, tổn
thương DNA làm dừng lại quá trình phiên mã của RNA polymerase
II trong đó có sự tham gia của protein CSA và CSB Sau khi nhận biết được các tổn thương này, hệ thống sửa chữa DNA được khởi động: các enzym helicase XPB và XPD tách đôi hai sợi DNA quanhvùng tổn thương cùng với sự tham gia của protein XPA, XPG và protein sao chép A (replication protein A – RPA) XPF và XPG có hoạt tính endonuclease sẽ cắt đoạn DNA khoảng 30 nucleotide trong
đó có chứa tổn thương và loại bỏ nó khỏi hệ gen Khoảng trống DNA để lại được bổ sung bởi hệ thống tổng hợp DNA mới Hệ thống này liên quan chặt chẽ với nhau, nếu một phần trong hệ thống DNA này bị biến đổi, cả hệ thống sẽ không thể hoạt động chức năngbình thường được
XPC và XPE chỉ cần thiết trong hệ thống sửa chữa chung, trong khi tất cả các protein XP còn lại đều cần cho cả hai hệ thống Có thể do
đó nên các bệnh nhân có bất thường ở gen XPC hay XPE không có các tổn thương da nặng nề và các tổn thương thần kinh đã mô tả
Sự khiếm khuyết trong gen thứ 8 gây ra khô da sắc tố không nằm trong hệ thống NER Loại khô da sắc tố này được gọi là khô da sắc
tố đa hình (XP variants – XPV), có bất thường xảy ra trong quá trìnhnhân đôi các DNA bị tổn thương bởi tia UV [21] Quá trình nhân đôiDNA được thực hiện bởi các enzyme DNA polimerase, bình thường,
Trang 11các enzyme này không thể sao mã được các đoạn DNA mà có tổn thương do tia UV Trên các bệnh nhân XPV, đột biến xảy ra trong gen POLH, mã hóa cho DNA polimerase eta, enzyme này được tế bào sử dụng để nhân đôi các đoạn DNA bị tổn thương do UV dẫn đến đột biến gen [22], các bệnh nhân XPV cũng như XPC và XPE đều ít có các tổn thương da do ánh sáng mặt trời và bất thường thần kinh.
Do khiếm khuyết trong các hệ thống sửa chữa DNA này, các đột biến DNA bởi tia UV gây ra tích lũy lại và tạo nên các biến đổi về sắc tố và ung thư da Phần lớn các tổn thương ung thư da trên bệnh nhân khô da sắc tố tìm thấy đột biến của gen P53 [23]
Gen Vị trí
trên nhiễm sắc thể
Chức năng protein Hệ thống sửa
chữa DNA bị khiếm khuyết
Bảng 1: đặc điểm của các gen trong khô da sắc tố.
1.4 Biểu hiện lâm sàng
Trang 12Với các khô da sắc tố biểu hiện các triệu chứng nặng trên da (XPA, XPB, XPD, XPF, XPG): phản ứng da nặng nề bất thường xảy
ra ở tất cả những vùng da tiếp xúc dù chỉ với lượng ánh sáng mặt trờitối thiểu (mặt, mũi, vành tai, mặt mu của bàn tay, chi trên và chi dưới) Không giống như phản ứng thông thường của da với ánh nắng, Những người bệnh thường biểu hiện phản ứng đỏ da, bọng nước dữ dội, diễn biến nặng lên trong 3-4 ngày từ khi tiếp xúc với ánh sáng và tồn tại ít nhất 1 tuần Sau khi những tổn thương này lặp lại nhiều lần, các nốt tăng sắc tố dạng tàn nhang xuất hiện ở các vùng
da hở Các nốt tàn nhang này tăng lên theo tần suất xuất hiện của các phản ứng da với ánh sáng mặt trời đã mô tả ở trên Các nốt sắc tố nàykhác với tàn nhang thông thường ở chỗ nó có thể xuất hiện không chỉ
ở mặt mà còn có thể ở vành tai, gáy, cổ và ngực, kích thước thay đổi
và màu sắc cũng không giống hệt nhau Các vùng da hở có xu hướng
bị khô, và xuất hiện nhiều tổn thương ác tính (dày sừng, ung thư tế bào đáy, ung thư tế bào hắc tố ác tính, ung thư tế bào vảy ) ở tuổi trẻ Nếu bệnh nhân không tuân thủ chặt chẽ chế độ dự phòng, bảo vệ khỏi ánh nắng, các ung thư da có thể xuất hiện sớm hơn 30-50 năm
so với người khỏe mạnh [24]
với các bệnh nhân khô da sắc tố nhóm C, E, V, các bất thường sắc tố
có thể tiến triển từ từ mà không có phản ứng nặng nề của da với ánh sáng mặt trời như mô tả ở trên Những bất thường sắc tố này rất đa dạng về kích thước, màu sắc, ranh giới không rõ Một vài bệnh nhân
có thể biểu hiện lão hóa da bất thường so với độ tuổi ở những vùng
da hở bao gồm cả mặt Nhiều tổn thương da ác tính xuất hiện ở những vùng da phơi nhiễm với tia UV ở tuổi trẻ [25]
Trang 13Triệu chứng thần kinh: Thoái hóa thần kinh trung ương và ngoại biên tiến triển xảy ra ở gần như 100% bệnh nhân khô da sắc tố nhóm
A và khoảng 10% khô da sắc tố nhóm D [12] Về mặt phát triển thể chất, các trẻ em khô da sắc tố nhóm A biểu hiện: giữ được đầu ở khoảng 3,5 tháng, lẫy khi 6 tháng, ngồi được ở khoảng 7 tháng, đứng được khi 12 tháng và đi bộ được khi đạt khoảng 15 tháng tuổi Với các biểu hiện chậm phát triển thể chất nhẹ này, trẻ em bị khô da sắc tố nhóm A vẫn có thể đạt được các chức năng gần như tương ứng với tuổi như ở trẻ bình thường Tuy nhiên, đỉnh của sự phát triển thể chất của các trẻ này đạt được khi trẻ gần 6 tuổi, rối loạn dáng đi thường xảy ra khi trẻ được 15 tuổi, xuất hiện các biến dạng bàn chân như bàn chân vẹo trong (équivarus) và bàn chân hình vòm (pes cavus) Ở một số trường hợp, xuất hiện các vết chai bất thường,loét da chân, nấm móng là hậu quả của các biến dạng bàn chân và việc lắp đặt các dụng cụ phục hồi chức năng Về chức năng nghe: điếc bắt đầu xuất hiện từ nửa đầu của thời kỳ học đường, và đến nửasau của tuổi học đường, trẻ thường cần sử dụng dụng cụ trợ thính Đến khoảng 15 tuổi, chức năng nghe hầu như mất hoàn toàn Về chức năng giao tiếp lời nói, đỉnh phát triển của trẻ đạt được ở tuổi từ5-6, và trẻ vẫn còn có thể sử dụng ngôn ngữ trong suốt thời kỳ tiểu học dù tình trạng điếc tiến triển nhanh Tuy nhiên các bệnh nhân nàyvẫn biểu hiện nói khó cùng với giảm khả năng tư duy và và điếc nặng, khả năng nói mất hoàn toàn ở tuổi 15 Xuất hiện các vận độngbất thường như run hoặc co giật cơ (myoclonus) ở các trẻ lớn, phản
xạ gân xương có thể giảm dần và biến mất
Biểu hiện tại mắt: Các phần có phơi nhiễm với ánh sáng sẽ xuất hiệntổn thương, bao gồm các bộ phận của bán phần trước nhãn cầu Các
Trang 14tổn thương có thể gặp là: khô kết mạc, khô giác mạc, loét kết, giác mạc, lộn mi, giảm tiết nước mắt Hầu hết tia UVB không đến được võng mạc, do đó không gây tổn thương trực tiếp đến thị lực của bệnh nhân Tuy nhiên ở các nhóm khô da sắc tố có tổn thương thần kinh, cần chú ý đến các bất thường về trường nhìn do tổn thương thần kinh thị Một nghiên cứu về các biểu hiện lâm sàng tại mắt ở
87 bệnh nhân khô da sắc tố ở Mỹ cho thấy có 51% viêm kết mạc, 44% có màng máu giác mạc, thủng giác mạc, 38% có khô giác mạc,26% có sẹo giác mạc, 25% lộn mi, 23% viêm mi mắt, 20% xuất hiện các điểm tăng sắc tố ở kết mạc, 14% đục thủy tinh thể, 13% rốiloạn trường nhìn, 5% có biểu hiện tổn thương thần kinh thị, và 10%
có các tổn thương ác tính [26-27]
1.5 Chẩn đoán
Chẩn đoán xác định có thể dựa vào xét nghiệm sinh trưởng của tếbào để xác định khiếm khuyết trong hệ thống sửa chữa DNA,hiện nay xét nghiệm này đã có ở một số nước trên thế giới Xét nghiệm thường được sử dụng nhất để chẩn đoán xác định bệnh là xét
nghiệm định lượng sự tổng hợp DNA bất thường trong nguyên bào sợi ở da người bệnh Cơ chế của xét nghiệm này là: sau khi đoạn DNA lỗi đã bị cắt bỏ, một đoạn DNA mới đc tổng hợp sẽ thay thế phần đã bị cắt, sự tổng hợp đoạn DNA này cần một số chất khác biệt
so với tổng hợp DNA trong quá trình nhân đôi DNA thông thường,
và được gọi là sự tổng hợp DNA bất thường (unscheduled DNA synthesis – UDS) Nguyên bào sợi da nuôi cấy được lấy từ sinh thiếtkim 3-4 mm ở những vùng da kín đáo như da mặt trong của cánh tayhoặc da mông sau đó được chiếu tia UV trong đĩa Petri và UDS có
Trang 15thể định lượng được thông qua sự lắp ráp các nucleotides có thể
bằng kĩ thuật tự chụp hình phóng xạ (autoradiography) [28] hoặc
máy đếm nhấp nháy dạng lỏng (liquid scintilation counter) [29]
hoặc bằng phương pháp chụp huỳnh quang [30] Sự giảm mức độ
tổng hợp DNA bất thường (UDS) này có thể khẳng định chẩn đoán
khô da sắc tố Các bệnh nhân khô da sắc tố nhóm V không biểu hiện
khiếm khuyết trong UDS, vì NER không bị ảnh hưởng ở những
bệnh nhân này Hơn nữa các tế bào XPV không quá nhạy cảm và
không bị tiêu diệt bởi tia UV Tuy nhiên thực nghiệm cho thấy
cafein khiến cho tế bào XPV trở nên nhạy cảm và bị chết bởi tia UV
Để chẩn đoán khô da sắc tố nhóm V, mẫu nuôi cấy được chiếu tia
UV, ủ trong cafein trong vài ngày và so sánh khả năng sống sót với
tế bào bình thường Sự nhạy cảm đặc trưng với UV khi có thêm
cafein cùng với mức độ UDS bình thường giúp xác định chẩn đoán
XPV
Các xét nghiệm sâu hơn có thể giúp xác định gen bị đột biến của
bệnh nhân Điều này có thể giúp làm rõ hơn các triệu chứng lâm
sàng nhưng hiện tại thường không được sử dụng như xét nghiệm
thường quy trong chẩn đoán
A Triệu chứng cơ năng
1 Triệu chứng mạn tính của da (nốt tăng sắc tố giống tàn nhang đặc biệt nằm ở các vùng da hở ở độ tuổi còn trẻ)
2 Triệu chứng cấp tính của da (phản ứng đỏ da nặng nề sau khi phơi nhiễm với lượng ánh sáng mặt trời tối thiểu) (chú thích ở dưới)
3 Ung thư da ở những vùng da hở ở bệnh nhân 50 tuổi trở xuống (ung thư
tế bào đáy, ung thư tế bào vảy hoặc ung thư hắc tố ác tính, )
4 Thoái hóa thần kinh tiến triển không tìm thấy nguyên nhân (điếc tiến triển, dáng đi bất thường)
Chú thích: phản ứng da bất thường sau khi phơi nhiễn với ánh sáng được định nghĩa như sau:
Trang 16Bệnh nhân biểu hiện tổn thương da bởi tia UV ở một mức độ tiếp xúc ít hơn nhiều so với người khỏe mạnh bình thường, tổn thương viêm tấy, phồng rộp da nặng nề không giống như phản ứng của người bình thường với ánh sáng mạnh Các tổn thương gặp nhiều nhất sau khoảng 4 ngày phơi nhiễm với ánh sáng và tồn tại trong khoảng 10 ngày trước khi biến mất.
B Triệu chứng thực thể và các thăm dò cận lâm sàng:
1 Bệnh lý thần kinh ngoại biên (mất phản xạ gân xương, rối loạn cảm giác
ưu thế sợi trục được xác định bởi test dẫn truyền thần kinh ngoại biên)
2 Bất thường về khả năng sửa chữa DNA sau phơi nhiễm tia UV (nhạy
cảm với tia UV của các dòng tế bào nuôi cấy, giảm mức độ tổng hợp DNA bất thường (unscheduled DNA synthesis) sau chiếu tia UV)
3 Biểu hiện mẫn cảm gây chết tế bào khi chiếu tia UV lên các tế bào của
người bệnh được nuôi cấy trong môi trường bình thường hoặc môi
trường có caffein
4 Mất thính giác (xác định bởi bất thường sóng I, II của hệ thống thần kinh
thính giác ở thân não, giảm ngưỡng nghe trên thính lực đồ)
C Chẩn đoán phân biệt: với bệnh Porphyria, nám da di truyền (dyschromatosis
1 Bệnh nhân chỉ có bất thường về 1 triệu chứng cơ năng (tiêu chuẩn A-4)
kể trên kết hợp với tiêu chuẩn B-2, trong khi khả năng sửa chữa DNA không được phục hồi khi làm test nghịch đảo gen (genetic
complementation test) hoặc chưa được làm phân tích gen
2 Bệnh nhân đáp ứng các tiêu chuẩn A-1 và 2
3 Bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn A-1 hoặc A-2 và loại trừ được các bệnh
lý có triệu chứng tương tự khô da sắc tố
4 Bệnh nhân đáp ứng 1 trong 4 tiêu chuẩn A và có anh chị em ruột được chẩn đoán khô da sắc tố
Hướng tới khô da sắc tố:
1 Bệnh nhân chỉ đáp ứng tiêu chuẩn A-4 kết hợp với tiêu chuẩn B-2 và khảnăng sửa chữa DNA được phục hồi bởi các gen XP trên các test nghịch đảo gen (genetic complementation test) trong khi gen đột biến chưa được xác định hoặc chưa được làm giải trình tự gen