Mục tiêu của đề tài: Mục tiêu chung: Mô tả thực trạng sức khỏe, sử dụng dịch vụ và chi tiêu cho y tế của người bệnh tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, và xác định một số yếu tố liên quan.
Trang 1BỘ Y TẾ BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG UOƯƠNG
Ths.Bs Đặng Thị Bích Diệp
Trang 2Cấp quản lý: Bệnh viện Da liễu Trung ương
Thời gian thực hiện: từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 02 năm 2019
Hà Nội, năm 2018
Trang 3BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG UONG
Trang 4Thời gian thực hiện: từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 02 năm 2019
Hà Nội, năm 2018
Trang 5THUYẾT MINH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1 Thông tin chung về đề tài
1 Tên đề tài:
Thực trạng sức khỏe, sử dụng dịch vụ và chi tiêu cho
y tế của người bệnh tại Bệnh viện Da liễu Trung ương
2 Mã số:
3 Thời gian thực hiện
Từ 10/2018 đến 02/2019
4 Cấp quản lý Nhà nước Bộ Cơ sở
7.1 Họ và tên: Nguyễn Hữu Sáu
Học hàm/học vị: Phó Giáo sư, Tiến sỹ
Chức danh khoa học: Tiến sỹ Y học
Điện thoại: 0636767866
Email: nguyenhuusau@yahoo.com
Địa chỉ cơ quan: Số 15A phố Phương Mai Đống Đa Ha Nội
Địa chỉ nhà riêng: số 19 ngõ 69B Hoàng Văn Thái
7.2 Họ và tên: Trần Xuân Bách
Học hàm/học vị: Phó Giáo sư, Tiến sỹ
Chức danh khoa học: Tiến sỹ Y tế công cộng, chính sách y tế
Trang 6Địa chỉ cơ quan: Số 15A phố Phương Mai Đống Đa Ha Nội
Địa chỉ nhà riêng:
8 Cơ quan chủ trì đề tài
Đơn vị: Bệnh viện Da liễu Trung ương
Địa chỉ: Số 15A, phố Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại:
Email:
Fax:
II Nội dung khoa học và công nghệ của đề tài
9 Mục tiêu của đề tài:
Mục tiêu chung: Mô tả thực trạng sức khỏe, sử dụng dịch vụ và chi tiêu cho y tế của người bệnh tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, và xác định một số yếu tố liên quan Mục tiêu cụ thể:
1 Mô tả thực trạng sức khỏe, sử dụng dịch vụ và chi tiêu cho y tế của người bệnh tại Bệnh viện Da liễu Trung ương
2 Phân tích một số yếu tố liên quan tới tình trạng sức khỏe, sử dụng dịch vụ và chi tiêu cho y tế của đối tượng trên
10 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước:
- Tình trạng đề tài: √ Mới Kế tiếp đề tài đã kết thúc giai đoạn trước
- Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài:
10.1 Khái niệm
10.1.1 Khái niệm về sức khỏe
Khái niệm về sức khỏe: Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh hoặc thương tật, là một quyền cơ bản của con người, con người có quyền tiếp cận đến mức cao nhất có thể; sức khỏe là một mục tiêu xã hội rất quan trọng liên quan đến toàn bộ thế giới và đòi hỏi
sự tham gia của nhiều ngành kinh tế - xã hội, bên cạnh các lĩnh vực y tế [1].
10.1.2 Khái niEN về dịch vụ và dịch vụ y tế
Dịch vụ y tế (DVYT) được định nghĩa là dịch vụ chỉ toàn bộ các hoạt động chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho cộng đồng, cho con người mà kết quả là tạo ra các sản phẩm hàng
Trang 7hóa không tồn tại dưới dạng hình thái vật chất cụ thể, nhằm thỏa mãn kịp thời thuận tiện
và có hiệu quả hơn các nhu cầu ngày càng tăng của cộng đồng và con người về CSSK [2] DVYT là một trong bốn dịch vụ DVYT làcơ bản - hệ thống cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người và được xã hội thừa nhận DVYT là một dịch vụ khá đặc biệt, bao gồm các hoạt động được thực hiện bởi nhân viên y tế như: khám, chản -
hệ thống cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng đó người bệnh trực tiếp cũng chính là người tham gia sản xuất cũng như tiêu thụ DVYT là một loại hàng hóa mà người sử dụng (người bệnh) thường không thể tự mình lựa chọn loại dịch vụ theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào bên cung ứng (cơ sở y tế) - trực tiếp ở đây là trạm y tế xã.
10.1.3 Shư: khám, chản - hệ thống cung c
Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe là nhu cầu của người dân nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe của họ Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe có thể cho mục đích phòng bệnh hoặc điều trị bệnh Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe có thể chỉ là việc tự điều trị, mua thuốc tại các hiệu thuốc, khám, điều trị hoặc sử dụng các dịch vụ y tế khác tại các cơ sở y tế công hoặc tư tại các tuyến cơ sở y tế [3].
Sử dụng DVYT có thể được phân chia theo loại dịch vụ, vị trí, mục đích sử dụng
Mục đích sử dụng: điều trị, dự phòng, hoặc dưỡng sinh.
Thời gian sử dụng: được hiển thị bằng các chỉ số có sử dụng hay không, số lần sử dụng một DVYT cụ thể trong một khoảng thời gian xác định.
Năm 1968, Anderson và Rosentock đã đưa ra mô hình sử dụng DVYT ở Mỹ và các yếu tố ảnh hưởng như các nhân tố cơ bản, nhóm yếu tố về khả năng và nhu cầu khám chữa bệnh (KCB) đến đến lựa chọn DVYT [4],[5].
Trang 8Nhóm yếu tố
khả năng
Lòng tin vào y tế
Nguồn lực của gia đình
Tình trạng sức khỏe bản thânCấu trúc xã hội
Sử dụngDVYTNhu cầu KCB
Yếu tố đặc trưng
của gia
đình
Nguồn lực Cộng đồng Tình trạng sức khỏe do người cung cấp DVYT
đánh giá
Nhóm nhân tố cơ
bản
Hình 1 - Mô hình sử dụng DVYT ở Mỹ năm 1968.
Ngoài ra, Andersen and Newman cũng đưa ra khung sử dụng DVYT trong mối liên quan với môi trường, đặc điểm dân số, hành vi sức khỏe và kết quả sử dụng DVYT [6]:
Hình 2 - Khung sử dụng DVYT Năm 1981, Fiedler đã sửa lại mô hình sử dụng DVYT của Anderson và Rosentock.
Trang 9Tuy vậy, cho đến nay thì mô hình này vẫn thường được sử dụng để thiết kế nghiên cứu về
sử dụng DVYT [7], [8].
10.1.4 Một số khái niệm về chi phí và chi phí y tế
Chi phí: là trị giá hàng hóa, dịch vụ được xác định thông qua việc sử dụng nguồn lực theo các cách khác nhau Nói cách khác, chi phí là giá trị của nguồn lực được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa dịch vụ [9]
Chi phí y tế: là giá trị của nguồn lực được sử dụng để tạo ra một dịch vụ y tế cụ thể hoặc tất cả các dịch vụ (một chương trình y tế) Để thuận tiện so sánh, chi phí thường được thể hiện dưới dạng tiền tệ song chi phí không có nghĩa là giá cả mà chỉ thể hiện nguồn lực thực sự được sử dụng Do sự khan hiếm nguồn lực nên chi phí cho một hoạt động là mất đi cơ hội sử dụng nguồn lực đó cho những hoạt động tương đương khác Bởi vậy trong tính toán chi phí thường phải tính đến cả chi phí cơ hội Chi phí cơ hội của điều trị một bệnh là thu nhập mất đi do sử dụng thời gian đó để điều trị bệnh (số ngày công/lương mất đi của bệnh nhân do điều trị bệnh và của người nhà dành cho chăm sóc bệnh đó)[10].
Tại Việt Nam, tồn tại 5 nguồn chi cho y tế bao gồm: (1) chi từ ngân sách nhà nước, (2) do bảo hiểm y tế chi trả, (3) các khoản viện trợ nước ngoài cho y tế, (4) chi trực tiếp từ hộ gia đình, (5) các nguồn kinh phí khác Trong đó, chi trực tiếp từ hộ gia đình trong những năm qua vẫn duy trì tỷ lệ cao trong tổng chi phí cho y tế [11]
Phí khám chữa bệnh hay viện phí là các khoản cơ sở khám chữa bệnh (KCB) thu của người bệnh khi cung cấp các dịch vụ y tế cho họ, để bù đắp 1 phần hay toàn bộ các chi phí mà đơn vị đó sử dụng để vận hành mọi hoạt động của cơ sở Viện phí đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp ngân sách y tế Thuật ngữ “phí khám chữa bệnh” hay “viện phí” là thuật ngữ rất phổ biến của một phương thức thanh toán chỉ các khoản chi trả trực tiếp từ túi tiền của hộ gia đình để “mua” một dịch vụ y tế nào đó, đây cũng
là một công cụ cơ bản của tài chính y tế Phí này bao gồm các khoản chi cho khám chữa bệnh, thuốc, vật tư tiêu hao, các xét nghiệm chẩn đoán…
Chi phí điều trị: Chi phí điều trị dưới góc độ người sử dụng dịch vụ y tế bao gồm bệnh nhân và người nhà của họ, được phân chia thành 4 nhóm:
+) Chi phí trực tiếp dành cho điều trị: chi phí khám bệnh, xét nghiệm, thuốc, giường bệnh, thủ thuật.
+) Chi phí gián tiếp dành cho điều trị: thu nhập mất đi do bệnh nhân bị bệnh và
Trang 10thu nhập mất đi do người nhà phải đi chăm sóc hoặc đi thăm bệnh
Nếu bệnh nhân và người nhà là người làm việc ở các nhà máy, xí nghiệp, công ty,
cơ quan nhà nước, 1 ngày mất thu nhập sẽ bằng tổng số lương + phụ cấp của bệnh nhân trong tháng (năm) chia cho số ngày làm việc
Nếu bệnh nhân là nông dân, ước tính thu nhập hàng tháng của bệnh nhân bằng cách lấy tổng thu nhập của hộ gia đình trong một vụ chia cho số lao động trong gia đình
và chia cho số tháng lao động của vụ dó
Nếu bệnh nhân là người làm các công việc hưởng công theo số lượng sản phẩm, ước tính thu nhập của bệnh nhân theo ngày công Sau đó, ước tính số ngày làm việc và
từ đó tính ra thu nhập của bệnh nhân/ngày
+) Chi phí trực tiếp không dành cho điều trị: Đi lại, ăn uống, thuê nhà trọ của bệnh nhân và người nhà
Như vậy, chi phí cho người bệnh = chi phí trực tiếp cho điều trị + chi phí trực tiếp không cho điều trị + thu nhập mất đi do mất khả năng sản xuất.
+ Chi phí gián tiếp không dành cho điều trị: các chi phí khác phát sinh do bệnh tật và quá trình điều trị Đó có thể là những lo lắng, đau đớn về tâm lý, sự không thoải mái của người bệnh nhưng chưa bao giờ có thể chuyển đổi sang tiền tệ nên ít khi được xem xét đến trong phân tích chi phí y tế
10.1.5 Khái niệm về khả năng chi trả
Theo tác giả Maclennan và Williams [12], khả năng chi trả là một khái niệm thường gắn liền với việc đảm bảo các chi tiêu cơ bản (nhà ở, giáo dục hoặc phương tiện
đi lại) ở mức chi phí “không bị áp đặt, theo con mắt của bên thứ ba (thường là chính phủ), trở thành một gánh nặng bất hợp lý lên thu nhập hộ gia đình”
Có 2 phương pháp tiếp cận nhằm ước tính khả năng chi trả của hộ gia đình Phương pháp thứ nhất dựa vào tính toán tỷ lệ của các khoản chi trên tổng thu nhập của
cả gia đình Với phương pháp tiếp cận này, việc chi tiêu cho một hàng hóa hay dịch vụ nào đó được coi là chi phí thảm họa khi vượt quá một tỷ lệ nhất định tổng nguồn lực chi tiêu gia đình Khi một gia đình dành phần lớn ngân sách sẵn có của họ vào một mục chi tiêu cụ thể, họ sẽ phải giảm mức tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ khác Chỉ với những thay đổi nhỏ trong cán cân chi tiêu hộ gia đình, đặc biệt là những hộ nghèo, cũng có thể gây
ra những hậu quả thảm họa
Phương pháp thứ hai hay còn gọi là nghèo hóa do chi tiêu dựa vào ước tính số
Trang 11lượng tuyệt đối tổng ngân sách của hộ gia đình còn lại sau khi chi tiêu cho một hàng hóa hay dịch vụ nào đó Nếu trước khi chi tiêu tổng thu nhập thực sự của hộ gia đình ở mức trên ngưỡng nghèo nhưng sau đó lại rơi xuống dưới ngưỡng nghèo do phải chi tiêu trực tiếp cho hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó thì hộ gia đình đó đã bị nghèo hóa do chi tiêu hàng hóa hoặc dịch vụ đó [13].
10.1.6 Chi phí thảm họa
Chi phí tự trả trực tiếp từ túi tiền (OOP) của hộ gia đình là các khoản chi của hộ gia đình tại thời điểm họ sử dụng dịch vụ y tế, bao gồm chi cho tiền công khám bệnh, tiền thuốc, giường bệnh, tiền xét nghiệm… nhưng không bao gồm các chi phí cho đi lại, bồi dưỡng, chi mua bảo hiểm, các khoản được bảo hiểm y tế chi trả [14-16]
Chi phí tự chi trả trực tiếp từ túi tiền của hộ gia đình cho chăm sóc y tế khi duy trì ở mức cao trong tổng chi cho y tế có thể là nguyên nhân dẫn tới thảm họa tài chính thậm chí là nghèo hóa hộ gia đình Trong một nghiên cứu trên 59 quốc gia chỉ ra rằng ở những quốc gia
có OOP cho y tế chiếm hơn 20% tổng chi tiêu cho y tế có thể dẫn tới những vấn đề nghiêm trọng [14, 17].
Trong các nguồn chi cho y tế tại Việt Nam trong những năm gần đây, tỷ lệ tự chi trả trực tiếp từ túi tiền hộ gia đình vẫn cao (chiếm 48,8% năm 2012 và có xu hướng tăng nhẹ trong những năm gầy đây) Một trong những mặt trái và nguy cơ của việc thực hiện chính sách tự chủ bệnh viện chính là làm gia tăng chi phí tiền túi của bệnh nhân, kể cả bệnh nhân BHYT vẫn phải tự chi trả khi đi KCB do nhiều nguyên nhân trong đó có cả tình trạng bệnh nhân có BHYT nhưng không dùng thẻ, bệnh nhân vượt tuyến, trái tuyến
Chi phí y tế thảm họa là khoản chi phí tự chi trả trực tiếp từ túi tiền của hộ gia đình vượt quá khả năng chi trả của hộ gia đình đó ở một mức quy ước nào đó Khả năng chi trả của hộ gia đình là chi tiêu thực còn lại sau khi đã chi cho lương thực, thực phẩm [11, 14]
Chi phí y tế thảm họa được xác định bằng chi phí cho y tế từ túi tiền của hộ gia đình bằng hoặc vượt quá 40% tổng chi tiêu ngoài lương thực, thực phẩm của hộ gia đình đó [17-19] Một cách tính khác cũng được nhiều tác giả sử dụng, theo đó, chi phí y
tế thảm họa là chi phí cho y tế từ túi tiền của hộ gia đình bằng hoặc vượt quá 10% tổng chi tiêu[17, 20, 21]
Trang 12Khi rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính, hộ gia đình có thể lựa chọn các giải pháp khác nhau đề ứng phó với tình trạng khó khăn Họ có thể giảm chi tiêu trong mua lương thực thực phẩm, hoặc vay mượn và bán đi các tài sản trong nhà Tuy nhiên, hầu hết các cách đối phó thiếu chiến lược thường dẫn tới tình trạng nghèo hóa khiến bệnh tật trở thành bẫy đói nghèo cho những hộ gia đình có người bệnh [22]
Biểu đồ 1.1: Các cách ứng phó với rủi ro của các hộ gia đình (%)
Ghi chú: các thành phố lớn bao gồm các thành phố trực thuộc trung ương (Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ) và các tỉnh thành trực thuộc địa phương (Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang, Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột)
(Nguồn: Trần Ngô Minh Tâm và Đặng Lê Trung (2010), dựa trên số liệu VHLSS 2008
[22])
Một trong những vấn đề quan tâm nhất của ngành y tế nước ta hiện nay là vấn
đề tài chính cho y tế Nguồn tài chính công (chủ yếu là ngân sách nhà nước và bảo hiểm
y tế) chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chi cho y tế, mà chủ yếu là chi trực tiếp từ túi tiền của hộ gia đình Chi phí trực tiếp từ túi tiền của hộ gia đình ở nước ta đã giảm trong những năm gần đây nhưng vẫn còn cao Tỷ lệ chi phí từ túi tiền của hộ gia đình so với tổng chi cho y tế còn khá lớn (hơn 50%), làm giảm đi hiệu lực và tính công bằng mà BHYT mong muốn đem lại, làm tăng nguy cơ rơi vào đói nghèo Mặc dù người nghèo và cận nghèo được chính phủ hỗ trợ thông qua chính sách miễn giảm chi phí mua thẻ BHYT, nhưng mức chi cho y tế ở nhóm nghèo vẫn cao so với mức sống và có xu hướng
Trang 13tăng Mặt khác, dưới góc độ tài chính, mặt trái của việc đăng kí khám chữa bệnh ban đầu trong thẻ BHYT là khi người bệnh không khám chữa khỏi tại cơ sở y tế ban đầu thì phải chuyển lên tuyến trên để điều trị, làm gia tăng thêm chi phí khám chữa của người bệnh Thêm vào đó, chính sách tự chủ về tài chính theo nghị định 16/2015/ NĐ-CP vừa kích thích một số bệnh viện tuyến dưới nâng cấp cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ người bệnh, thu hút khách hàng tới sử dụng dịch vụ Nhưng trái lại, dưới áp lực tự chủ tài chính, một số bệnh viện tuyến dưới có thể tăng thời gian điều trị nội trú, tăng kê đơn thuốc đối với cả điều trị nội và ngoại trú, gây bội chi bảo hiểm xã hội, đồng thời gia tăng chi phí từ túi tiền của người bệnh.
10.1.7 Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế (BHYT) là một bộ phận cấu thành của pháp luật về an sinh xã hội,
là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và là 1 trong 9 nội dung của Bảo hiểm xã hội (BHXH) được quy định tại Công ước 102 ngày 28/06/1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp BHXH
Tuy nhiên ở Việt Nam, khái niệm BHYT vẫn có tính độc lập tương đối so với khái niệm BHXH, đặc biệt ở góc độ luật thực định, tính độc lập càng thể hiện rõ Theo khoản 1, điều 2 Luật Bảo hiểm Y tế số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 do Quốc hội ban
hành: “Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức
khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có tránh nhiệm tham gia theo quy định của Luật này”.
Việt Nam hiện tồn tại hai loại hình thức bảo hiểm y tế: bảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm y tế tự nguyện
BHYT bắt buộc là loại hình BHYT chỉ áp dụng đối với một nhóm đối tượng nhất định, thường là những khu vực có tiềm lực kinh tế (thành phố, thị xã, trung tâm…) nơi
có thu nhập ổn định (tiền lương, tiền công) Tiêu chí để định mức phí BHYT thường được tính theo tỷ lệ phần trăm thu nhập của người tham gia bảo hiểm, người có thu nhập cao thì đóng nhiều, nhưng việc hưởng chế độ BHYT lại dựa trên sự kiện sức khỏe (ốm đau, tai nạn…) theo quy định pháp luật
BHYT tự nguyện là loại hình BHYT thứ hai đang được thực hiện ở nước ta So với BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện có số lượng tham gia đông đảo, đa dạng về thành phần và nhận thức xã hội, có điều kiện kinh tế và nhu cầu chăm sóc sức khỏe khác
Trang 14nhau BHYT tự nguyện được triển khai theo địa giới hành chính (áp dụng cho hộ gia đình, tổ chức triển khai theo cấp xã, phường, thị trấn…) và theo nhóm đối tượng (học sinh, sinh viên, hội viên các đoàn thể…) BHYT tự nguyện gồm nhiều loại hình khác nhau: bảo hiểm KCB nội trú, bảo hiểm KCB ngoại trú, bảo hiểm bổ sung cho loại hình BHYT bắt buộc, BHYT cộng đồng, BHYT hộ gia đình và các loại hình BHYT khác
Tỷ trọng đóng góp từ BHYT trong tổng chi y tế còn thấp so với tỷ lệ bao phủ BHYT Trong năm 2012 khi tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 66% nhưng chi trả BHYT chỉ đóng góp tỷ lệ khiêm tốn 15,8% tổng chi y tế Nguyên nhân của hiện tượng này là: (i) BHYT chưa thanh toán các dịch vụ dự phòng và nâng cao sức khỏe (chiếm 17,2% tổng chi y tế); (ii) BHYT không thanh toán cho người chưa có BHYT (chiếm 30% dân số); (iii) BHYT không thanh toán khi người có BHYT tự mua thuốc; và (iv) người có BHYT vẫn phải tự chi trả khi đi KCB, đặc biệt khi sử dụng các dịch vụ trái tuyến, hoặc tại y tế tư nhân Nếu chỉ xét các khoản chi được BHYT chi trả, tức là chi phí KCB ngoại trú và nội trú, đóng góp của BHYT còn thấp Năm 2011, tỷ lệ chi KCB được BHYT thanh toán chỉ đạt 25% so với tỷ lệ người dân được bao phủ BHYT là 58,2% [23].
BHYT góp phần chi trả chi phí khám chữa bệnh cho người tham gia: BHYT ra đời đảm bảo chi trả toàn bộ hoặc từng phần những chi phí KCB, giúp người bệnh vượt qua cơn hoạn nạn về bệnh tật, sớm phục hồi sức khỏe cũng như ổn định cuộc sống gia đình
BHYT tổ chức những đợt khám bệnh định kỳ cho người tham gia BH, góp phần bảo vệ sức khỏe người tham gia, giúp họ luôn luôn nắm vững tình hình sức khỏe của mình, sớm phát hiện bệnh tật để điều trị kịp thời, tránh để lại nhiều di tật
BHYT tạo tâm lý an tâm trong cuộc sống, kích thích nâng cao năng suất lao động
cá nhân và năng suất lao động xã hội
Trên cơ sở mức đóng bảo hiểm theo thu nhập là BHYT xác định chức năng phân phối lại thu nhập giữa họ Để thực hiện hình thức bảo hiểm này, người tham gia bảo hiểm phải đóng một tỷ lệ nhỏ trong tương quan với thu nhập vào một quỹ chung (gọi là quỹ BHYT) Về nguyên tắc, nguồn này để đảm bảo thu nhập cho mọi người tham gia bảo hiểm Song thực thế chỉ một số ít người gặp rủi ro về bệnh tật được quỹ chi trả Thông qua đó, BHYT đã thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập của những người may mắn, ít gặp rủi ro cho những người không may bị rủi ro trong cuộc sống, giữa những người khỏe mạnh với những người bị ốm đau, bệnh tật, giữa những người trẻ và người già Như vậy, thu nhập của người tham gia BHYT được phân phối lại và quỹ
Trang 15BHYT là quỹ liên tục nhận sự góp vào và chi trả chi phí y tế cho người bệnh để phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm.
10.2 Đo lường sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân
Việc đo lường tình trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ khía cạnh của người dân, hay của bệnh nhân chủ yếu dựa vào sự tự khai báo của bản thân họ [24], bằng cách hỏi tần suất sử dụng dịch vụ y tế của họ trong một khoảng thời gian nhất định Tuy nhiên, việc này có thể dẫn đến các sai sót [25] do nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, do đó các biện pháp sau được đề xuất để tăng độ tin cậy của số liệu được thu thập bao gồm: độ tuổi và khả năng nhận thức, thời gian sử dụng, tần suất và loại dịch
vụ được hỏi, thiết kế bộ câu hỏi, cách thức thu thập số liệu và các biện pháp thăm dò và
hỗ trợ trí nhớ
Ngoài ra, sử dụng dịch vụ y tế có thể được đánh giá bằng các chỉ số như số bệnh nhân nội trú hàng năm hoặc số lần khám ngoại trú, mức sử dụng giường bệnh nội trú, phạm vi tiêm chủng, phạm vi sử dụng các biện pháp tránh thai, số khám trước sinh trung bình cho một sản phụ, tỉ lệ sinh ở các cơ sở có sự giám sát của các nhân viên y tế chuyên khoa Một phương pháp đơn giản thường được dùng cho đánh giá tổng quát là
số lần đến các cơ sở y tế trung bình hàng năm trên đầu người Hiển nhiên là con số này phụ thuộc vào sự phân bố về tuổi và giới cũng như gánh nặng bệnh tật nói chung Số lần tới cơ sở y tế là từ 3-4 lần được coi là đủ cho công tác CSSK cơ bản [26]
10.3 Tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong những người mắc bệnh
Nghiên cứu của Kaljee và cộng sự về việc sử dụng dịch vụ y tế của bà mẹ tại Việt Nam trong việc điều trị bệnh viêm phổi và các triệu chứng liên quan cho trẻ em dưới 6 tuổi cho thấy, các bà mẹ ở thành thị trong tất cả các trường hợp bệnh và triệu chứng (như viêm phổi, sốt > 38 độ, ho nhiều, khó thở, ) đều chủ yếu cho tự điều trị ở nhà (>40%) hoặc đến phòng khám tư nhân (>30%) Rất ít người đến trạm y tế xã/phường
để khám (<5%) [27].
Nghiên cứu của các tác giả Hoàng Văn Minh và Kim Bảo Giang tại thành phố Hà Đông, khu vực đô thị có tốc độ phát triển kinh tế xã hội tương đối nhanh trong thời gian qua, nhằm xem xét mô hình sử dụng dịch vụ y tế để điều trị một số bệnh mạn tính phổ biến (tim mạch, khớp, đái tháo đường, bệnh phổi mạn tính, trầm cảm, ung thư) của người dân thành phố Nghiên cứu cho thấy, trong lần gần đây nhất có nhu cầu chăm sóc, điều trị, phần lớn (57,8%) những người mắc bệnh mạn tính đã tự điều trị tại nhà.
Có 17,8% những người mắc bệnh mạn tính đã đến bệnh viện tỉnh và 11,4% đến bệnh
Trang 16viện trung ương Trong một năm, số lần sử dụng dịch vụ y tế nội trú của bệnh nhân bị bệnh tim mạch cao nhất (trung bình 1,8 lần); trong khi người bị bệnh khớp có số lần điều trị ngoại trú cao nhất (trung bình 10,2 lần) và số lần tự điều trị cao nhất (trung bình 12,6 lần) [28].
Trần Khánh Toàn và cộng sự (2011) nghiên cứu về thực trạng sử dụng dịch vụ khám thai phụ nữ có thai giữa hai nhóm nông thôn và thành thị tại Hà Nội Kết quả cho thấy, số lần khám thai trung bình ở nông thôn thấp hơn nhiều so với thành thị (4,4 lần
so với 7,7 lần) Ở thành thị có 97,2% phụ nữ có ít nhất 3 lần khám và 97,2% có khám thai trong 3 tháng đầu tiên Có 81,1% phụ nữ thành thị đã sử dụng tất cả các dịch vụ khám thai cần thiết Hầu hết các phụ nữ (70,7%) thành thị chủ yếu đến các bệnh viện công, tiếp đó là bệnh viện tuyến tỉnh (43,7%) và phòng khám tư nhân (34,1%) [29]
Hoa NQ và cộng sự (2007) trong một nghiên cứu định tính tại Việt Nam nhận thấy
ở cả khu vực nông thôn và thành thị, dịch vụ tư nhân được sử dụng rộng rãi cho bệnh nhi Tuy nhiên tình trạng tự điều trị thuốc ở đô thị còn phổ biến trong khi ở nông thôn, việc tuân thủ điều trị và tin tưởng bác sĩ ngày càng tăng lên Những quan niệm sai lầm
về thuộc tính của thuốc cũng như tình trạng lạm dụng thuốc trong người dân dẫn đến các lo ngại về việc sử dụng chất gây nghiện bất hợp lý trong cộng đồng [30]
Nghiên cứu về các yếu tố liên quan giữa hành vi tự điều trị của người bán thuốc ở
đô thị Việt Nam, của Nguyễn HV và cộng sự kiểm tra những yếu tố phổ biến quyết định hành vi tự điều trị trong những người bán thuốc tại Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy, 96,55% những người bán thuốc từng gặp vấn đề về sức khỏe tương đối nghiêm trọng, trong đó chỉ có 61,21% đi khám ở một cơ sở y tế,cho thấy tỉ lệ tự điều trị là tương đối cao (khoảng 39%) Phát hiện này có ý nghĩa về chính sách y tế công cộng cho các nhà cung cấp chăm sóc y tế đô thị Việt Nam và các nước đang phát triển tương tự khác [31].
10.4 Thực trạng chi phí cho chăm sóc sức khỏe trên thế giới và tại Việt Nam
10.4.1 Thực trạng trên thế giới
Các nghiên cứu về chi tiêu y tế cho từng trường hợp bệnh cụ thể cũng được thực hiện, cung cấp những thông tin về gánh nặng tài chính của từng bệnh với người dân: Bệnh lây nhiễm bản chất là các bệnh nhiễm khuẩn nhưng có đặc điểm lây truyền nhanh sang các cá thể xung quanh và có xu hướng gây dịch bệnh, đe dọa sức khỏe và làm
Trang 17ảnh hưởng tới kinh tế cộng đồng Nghiên cứu của Chuma và cộng sự (2007) tại Kenya cho thấy, đối với các bệnh cấp tính, lây nhiễm như sốt rét hay sốt xuất huyết, người dân ở đô thị chi trả trung bình cao gấp gần 4 lần so với nông thôn (12,8 USD so với 3,8 USD) [32] Hay nghiên cứu của Obinna và cộng sự (2010) tại Nigeria về gánh nặng chi phí trong điều trị sốt rét Các tác giả cho thấy, trung bình 1 hộ gia đình tại thành thị chi trả 7,62 USD một tháng cho điều trị sốt rét Tổng số tiền chi trả cho việc điều trị sốt rét trong một năm chiếm 24,1% tổng chi cho y tế và 8,4% tổng chi cho các vấn đề không phải lương thực thực phẩm [33] Một nghiên cứu khác của Ezeoke và cộng sự (2012) cũng tại Nigeria cho thấy, người dân phải chi trả gần 20 USD cho một lần điều trị sốt rét [34]
Các bệnh không lây nhiễm là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới và đang có xu hướng gia tăng Gánh nặng chi phí y tế cho các bệnh không lây nhiễm hằng năm của hộ gia đình có bệnh nhân ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình rất cao, đặc biệt là những nơi phổ biến hình thức tự chi trả tiền túi cho chi phí dịch vụ y tế [35] Nghiên cứu của Chuma và cộng sự (2007) tại Kenya cho thấy người dân tại thành thị chi trả cho các bệnh mạn tính cao gấp 3 lần so với khu vực nông thôn (7,0 USD so với 2,2 USD) [32].
Yang và cộng sự (2008) đánh giá gánh nặng kinh tế cho điều trị bệnh tim mạch tại Trung Quốc Kết quả cho thấy, chi phí trực tiếp và gián tiếp trung bình của các hộ gia đình ở vùng đô thị trong việc điều trị bệnh tim mạch tương ứng là 529,8 USD và 19,2 USD [36]
Wang và cộng sự (2009) đánh giá chi phí cho việc điều trị đái tháo đường type 2 tại bốn thành phố lớn ở Trung Quốc Kết quả cho thấy, chi phí trực tiếp hàng năm cho điều trị bệnh là 770 USD, trong đó các bệnh nhân có di chứng có chi phí cao gấp đôi những người không có di chứng (971 USD so với 574 USD) [37].
Elrayah và cộng sự (2005) nghiên cứu gánh nặng tài chính ở hộ gia đình đô thị có trẻ em bị đái tháo đường type 1 ở Sudan Tổng chí phí trực tiếp trong một năm cho điều trị đái tháo đường của trẻ em ở hộ gia đình là 283 USD, cao nhất lên tới 2094 USD; chiếm tới 65% tổng chi tiêu cho y tế của hộ gia đình [38].
Nghiên cứu trên 557 bệnh nhân nhập viện điều trị đái tháo đường ở Ấn Độ của Ambady và cộng sự năm 2007 cho thấy rằng những hộ gia đình nghèo nhất ở đô thị dành 34% thu nhập của họ trong việc điều trị bệnh, trong khi tỷ lệ này ở những hộ gia
Trang 18đình giàu nhất là 4,8% [39].
Nghiên cứu phân tích chi phí điều trị viêm khớp dạng thấp tại một thành phố thuộc Brazil của Buendgens và cộng sự (2013) ước tính chi phí y tế trực tiếp mỗi bệnh nhân phải chi trả hàng năm vào khoảng 19,860.16 USD, trong đó 90,8% cho các loại thuốc, 2,5% cho nhập viện, 2,2% cho các xét nghiệm, 2,1% cho các cuộc hẹn y tế, và 2,4% cho các chi phí khác [40]
Ngoài ra, tại các đô thị, tỷ lệ tử vong do tai nạn, nhất là tai nạn xe hơi đang tăng cao [41] Trên thế giới, tử vong và thương tật do tai nạn xe hơi chiếm tỷ lệ tử vong cao nhất do chấn thương không chủ ý [42] Theo ước tính của WHO, các chi phí do tai nạn giao thông là 1% của GDP ở các nước có thu nhập thấp, trong khi ở các nước thu nhập vừa và cao, chi phí này có thể đạt 1,5% và 2,0% GDP [43]
Nghiên cứu của Kumar và cộng sự năm 2012 tại Ấn Độ về gánh nặng chi phí trong việc điều trị chấn thương do tai nạn giao thông của người dân ở vùng đô thị Các tác giả cho biết, trung bình mỗi bệnh nhân phải chi trả 511,3 USD cho một lần điều trị chấn thương do tai nạn giao thông Trong đó, chi phí điều trị chấn thương ở những người đi
xe máy là nhiều nhất khi người dân phải chi trả trung bình 1345,9 USD một lần điều trị Bên cạnh đó, chi phí không phải dành cho y tế của những đối tượng này cũng cao nhất (349,5 USD) Khi xem xét tỷ lệ người dân thành thị chịu chi phí thảm họa do tai nạn giao thông, các tác giả cho thấy có 48,2% người đi bộ/xe đạp chịu chi phí thảm họa; ở những người đi xe máy và những người sử dụng phương tiện khác lần lượt là 44,9% và 45,9% [44]
10.5 Việt Nam
Nghiên cứu mang tính quy mô nhất do các tác giả Hoàng Văn Minh và cộng sự (2012) thực hiện [45], khi các tác giả xem xét các gánh nặng do chi phí Y tế dựa trên số liệu điều tra mức sống dân cư toàn quốc giai đoạn 2002-2010 Theo báo cáo nghiên cứu, chi phí cho y tế trực tiếp từ hộ gia đình ở vùng đô thị tăng lên đáng kể qua các năm Năm 2002, trung bình mỗi hộ gia đình chi trả 94,3 nghìn VNĐ trong 1 năm cho việc chăm sóc sức khỏe Đến năm 2010, số tiền đã tăng lên gấp hơn 3 lần (294,7 nghìn VNĐ) Nghiên cứu cũng cho thấy, tỷ lệ hộ gia đình ở vùng đô thị phải chịu chi phí thảm họa có
xu hướng tăng lên Nếu năm 2002, tỷ lệ này là 1,9%; thì đến năm 2010, tỷ lệ này đã tăng 1,5 lần (đạt 2,7%) Báo cáo nghiên cứu cũng cho biết, tỷ lệ hộ gia đình ở thành thị bị nghèo hóa do chi phí y tế đang ở mức thấp Năm 2002, có 0,7% hộ gia đình ở đô thị bị
Trang 19nghèo hóa; đến năm 2010, tỷ lệ này là 0,8%.
Theo cuộc điều tra đánh giá hộ nghèo ở đô thị do Tổng cục Thống kê thực hiện tại
2 thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh năm 2009 cho thấy trung bình người dân 2 thành phố này chi khoảng 900.000 đồng một năm (chiếm 13,9% cho tổng chi tiêu cho các hàng hóa không phải lương thực thực phẩm), trong đó tại Hà Nội là 1.019.000 đồng và ở thành phố Hồ Chí Minh là 890.000 đồng (chiếm tương ứng 13,6% và 14,2%) [46].
Nghiên cứu này cũng cho thấy, người dân có địa chỉ thường trú chi 1.138.000 đồng trong 12 tháng cho chăm sóc y tế; gấp 2,5 lần so với những người di cư Những người giàu chi 1.663.000 đồng/năm (chiếm 12,3% tổng chi cho hàng hóa không phải thực phẩm) cho chăm sóc y tế, trong khi những người nghèo chi 557.000 đồng/năm (chiếm tới 18,8%) [46]
Nghiên cứu của các tác giả Hoàng Văn Minh và Kim Bảo Giang tại thành phố Hà Đông, khu vực đô thị có tốc độ phát triển kinh tế xã hội tương đối nhanh trong thời gian qua, nhằm xem xét chi phí điều trị một số bệnh mạn tính phổ biến (tim mạch, khớp, đái tháo đường, bệnh phổi mạn tính, trầm cảm, ung thư) của người dân thành phố Kết quả cho thấy, chi phí trung bình cho 1 lần điều trị nội trú là 6.261.204 VNĐ; 1 lần điều trị ngoại trú là 476.107 VNĐ và 1 lần tự điều trị là 107.784 VNĐ Các chi phí này đều cao hơn nhiều so với chi phí trung bình của một lần điều trị tại Việt Nam Điều này có thể dẫn đến ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế của gia đình và xã hội [28].
Nghiên cứu của Đoàn Thị Thu Huyền và cộng sự (2012) về sử dụng dịch vụ y tế và chi phí cho y tế ở nhóm lao động phi chính thức tại Hà Nội Kết quả cho thấy, chi phí trung bình cho một lần khám chữa bệnh nội trú của nhóm lao động này là 3,6 triệu VNĐ, cho một lần khám ngoại trú là 767,5 nghìn VNĐ và cho một lần tự điều trị là 238,5 nghìn đồng Trong đó, 20% những người có thu nhập thấp nhất có chi phí khám chữa bệnh nội trú, ngoại trú trung bình cao hơn so với các nhóm khác Điều này có thể dẫn tới việc những người lao động nghèo ở khu vực đô thị có nguy cơ rơi vào “bẫy nghèo” y tế do bệnh tật ốm đau cao hơn so với các nhóm khác [47].
10.6 Bệnh viện Da liễu Trung ương
Bệnh viện Da liễu Trung ương là bệnh viện chuyên khoa hạng một với 07 chức năng và nhiệm vụ chính: Khám bệnh, chữa bệnh; Đào tạo cán bộ; Nghiên cứu khoa học; Chỉ đạo tuyến; Phòng bệnh; Hợp tác quốc tế và Quản lý kinh tế trong bệnh viện [5]
Trang 20Hiện nay, bệnh viện có trên 350 cán bộ nhân viên, 205 giường bệnh nội trú và nội trú
ban ngày Khoa khám bệnh có 30 phòng khám chuyên, với đội ngũ Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sỹ, Bác sỹ cùng đội ngũ cán bộ y tế có trình độ chuyên môn cao, với máy móc,
trang thiết bị hiện đại và đồng bộ Bệnh viện luôn là nơi khám chữa bệnh có chất lượng hàng đầu, là niềm tin cậy của người bệnh và nhân dân trên cả nước
Hoạt động chính của BV Da liễu TW
(Nguồn: Bệnh viện Da liễu Trung ương)
Theo thống kê kết quả hoạt động khám, chữa bệnh cho thấy số lượt bệnh nhân đến khám tại khoa khám bệnh của bệnh viện từ 1200 đến 2000/ ngày tuy theo mùa, chủ yếu từ Hà Nội và các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ Cũng theo thống kên số lượng bệnh nhân đén khám tăng dần theo các năm Trung bình mỗi năm tăng từ 15 đến 20%
so với năm trước Số lượng bệnh nhân thay đổi theo tháng/mùa là rất lớn, cụ thể 3 tháng mùa hè có số lượng bệnh nhân gấp ~ 4,5 lần 3 tháng mùa đông/xuân Bệnh nhân thường đông từ tháng 5 đến tháng 8 và ít vào các tháng 1 đến tháng 3
Vê mô hình bệnh tật, theo nghiên cứu của Lê Thế Vinh ghi nhận tại bệnh viện Da liễu Trung ương Từ năm 2009 đến năm 2011 có 6 nhóm chính bao gồm nhóm bệnh viêm
da dị ứng chiếm (34,5%); nhóm trứng cá chiếm (13,5%); nhóm bệnh đỏ da bong vảy
Các hoạt động của BVDLTW
Khám bệnh da thông thường, điều trị nội trú
Xét nghiệm, chẩn đoán hình
Chỉ đạo tuyến, HTQT, NCKH, Đào tạo
Phẫu thuật chỉnh hình, tạo hình, thẩm mỹ, laser
Tế bào gốc & chống lão hoá da
Khám bệnh da: đặc biệt, nghề nghiệp
Trang 21chiếm (6,4%); nhóm bệnh nấm da chiếm (6,4%); nhóm bệnh LTQĐTD chiếm (4,3%); nhóm bệnh viêm da mủ chiếm (3,6%)
Trong thời gian qua, Bệnh viện Da liễu đã thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu khoa học chủ yếu về lĩnh vực lâm sàng, ứng dụng các phương pháp điều trị mới trong chuyên ngành Một số đề tài nghiên cứu cấp cơ sở về sự hài lòng của người bệnh, xác định thời gian khám, xét nghiệm tại phòng khám cũng đã được tiến hành, dựa vào đó, bệnh viện đã triển khai nhiều biện pháp hữu hiệu, quyết liệt nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cứu một cách toàn diện về thực trạng sử dụng dịch vụ và chi tiêu cho y tế của người mắc bệnh da tại Bệnh viện Da liễu Trung ương
11 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sẽ sử dụng
11.1 Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh đến khám ngoại trú hoặc điều trị nội trú tại Bệnh viện Da Liễu Trung Ương được lựa chọn Tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ như sau:
+ Tuổi từ 18 trở lên
+ Có khả năng trả lời câu hỏi
+ Đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Người bệnh tới khám ngoại trú hoặc
điều trị nội trú tại địa điểm nghiên cứu
+ Không đồng ý, không đủ năng lực để tham gia nghiên cứu.
+ Không đủ tình trạng sức khỏe/ tỉnh táo để tham gia (Tình trạng bệnh tâm thần, nghiện rượu).
11.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Da liễu Trung ương Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10/2018 đến tháng 02/2019
11.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
11.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
11.4.1 Cơ mẫu
Áp dụng công thức:
p(1-p) n= Z 2
(1- /2)
d 2
Trong đó:
Trang 22n: cỡ mẫu nghiên cứu.
α: Mức ý nghĩa thống kê=0,05
Z1- /2 : 1,96
p: Tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ y tế =0,05
d: Mức sai lệch tương đối mong muốn=0,05
Từ đó tính được n = 384 Lấy 5% dự phòng Tổng cỡ mẫu tối thiểu =403
11.4.2 Cách chọn mẫu
Chọn mẫu ngẫu nhiên bệnh nhân đủ tiêu chuẩn đến khám tại bệnh viện Da Liễu Trung ương trong thời gian nghiên cứu
11.5 Biến số/chỉ số nghiên cứu
- Thông tin nhân khẩu học: tuổi, giới, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, bảo hiểm
y tế, thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình
- Thông tin về tình trạng sức khỏe: tình hình mắc bệnh cấp tính trong 4 tuần qua, mắc bệnh mạn tính trong 3 tháng qua, tình hình chất lượng cuộc sống của người bệnh Chất lượng cuộc sống được đánh giá dựa trên 2 thang đo đã được chuẩn hóa: EQ-5D- 5L (EuroQol - 5 Dimensions - 5 Levels) và EQ-VAS (EuroQol - Visual Analogue Scale) Thang đo EQ-5D-5L dựa trên 5 khía cạnh (đi lại, tự chăm sóc, công việc hàng ngày, đau đớn/khó chịu và lo âu/buồn phiền), mỗi câu hỏi khảo sát theo 5 mức độ (không bao giờ, hiếm khi, thỉnh thoảng, thường xuyên, rất thường xuyên), từ đó tính ra hệ số chất lượng cuộc sống có giá trị trong khoảng [0,1] trong đó 0 là tình trạng sức khoẻ xấu nhất và 1 là tình trạng sức khỏe tốt nhất Với thang đo EQ-VAS, đối tượng tự chấm điểm chất lượng cuộc sống của mình trên thang điểm từ 0 đến 100, trong đó 0: tình trạng sức khoẻ xấu nhất bạn có thể tưởng tượng và 100: tình trạng sức khỏe tốt nhất bạn có thể tưởng tượng.
- Thông tin về các đặc điểm lâm sàng đặc trưng cho từng bệnh mà người bệnh mắc
- Thông tin về sử dụng dịch vụ y tế:
+) Số lần sử dụng dịch vụ nội trú mật trong 12 tháng qua theo tuyến
+) Số lần sử dụng dịch vụ ngoại trú trong 3 tháng qua theo tuyến
+) Cơ sở y tế đến đầu tiên khi ốm đau
+) Hài lòng đối với cơ sở y tế
- Thông tin về chi tiêu cho y tế:
+) Tổng chi tiêu cho y tế cho bệnh vượt quá ngưỡng chi trả của hộ gia đình: Chi cho y tế
Trang 2311.6 Phương pháp và công cụ thu thập thông tin
11.6.1 Quy trình xây dựng bộ công cụ
- Bước 1: Xây dựng bộ câu hỏi dựa trên các chỉ số nghiên cứu đề ra
- Bước 2: Bộ công cụ dựa trên các tiêu chí xác định phù hợp với đặc thù của bệnh viện chuyên ngành da liễu
- Bước 3: Tiến hành thử nghiệm bộ công cụ trên 10 người bệnh nhằm xác định
độ phù hợp về nội dung và hình thức trình bày trong bộ công cụ và hoàn thiện
- Bước 4: Sau khi hoàn thiện, bộ công cụ được sử dụng để tìm hiểu về sử dụng dịch vụ y tế và chi phí của người bệnh tại Bệnh viện Da liễu Trung ương
11.6.2 Bộ công cụ thu thập thông tin
Bộ công cụ gồm 3 phần chính (phụ lục 1):
- Phần 1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu và hộ gia đình: tuổi, giới, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, bảo hiểm y tế, thu nhập, chi tiêu
- Phần 2: Tình trạng sức khỏe của đối tượng
- Phần 3: Tình hình sử dụng dịch vụ y tế và chi tiêu cho y tế
11.6.3 Quy trình thu thập thông tin
Để đảm bảo quá trình thu thập thông tin được chính xác và tin cậy, nghiên cứu viên thực hiện tập huấn cho điều tra viên về bộ công cụ, những lưu ý trong quá trình phỏng vấn và thống nhất quy trình phỏng vấn
Những người bệnh đã kết thúc quá trình khám bệnh ngoại trú hoặc chuẩn bị ra
viện với người bệnh nội trú được mời tham gia vào nghiên cứu và tiến hành phỏng vấn nếu người bệnh phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn và sẵn sàng tham gia nghiên cứu 11.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Số liệu sau khi thu thập được làm sạch bởi giám sát viên trước khi tiến hành nhập
vào máy tính Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phần mềm STATA 13.0
Thống kê mô tả bao gồm: trung bình, độ lệch chuẩn, trung vị, khoảng tứ phân vị
của các biến định lượng, cũng như tần số và tỷ lệ phần trăm của các biến định tính được tính toán Kiểm định Khi bình phương, Fisher-test và Mann-whitney được sử dụng để
so sánh sự khác biệt của các tỉ lệ hoặc giá trị trung bình Hồi quy logistic được sử dụng
để xác định mối liên quan giữa các yếu tố đến sử dụng dịch vụ y tế và khả năng chi trả Tiếp theo, chúng tôi áp dụng cách tiếp cận lựa chọn từng bước lũy tiến (stepwise forward model) dựa trên tỉ lệ log-likehood, đưa vào các biến dự báo có giá trị p<0,1 và
Trang 24loại trừ các biến có giá trị p>0,2 Giá trị α = 0,05 được sử dụng để xác định ngưỡng ý nghĩa thống kê.
11.8 Sai số và khắc phục
- Sai số thông tin:
+ Sai số do điều tra viên: Điều tra viên bỏ sót câu hỏi khi thu thập thông tin, sai
số khi ghi chép thông tin, sai số do điều tra viên không hiểu rõ về câu hỏi.
+ Sai số do người trả lời phỏng vấn: sai số tự khai báo, sai số nhớ lại
+ Sai số trong quá trình nhập liệu.
- Cách khắc phục sai số thông tin:
+ Tập huấn kĩ cho các điều tra viên: huấn luyện kỹ điều tra viên về bộ câu hỏi cũng như một số ngôn ngữ ở địa phương.
+ Đối với sai số do đối tượng trả lời: hỏi chi tiết kỹ hơn, kiểm tra chéo thông tin bằng cách lặp lại câu hỏi, nhấn mạnh tính bí mật và quyền riêng tư.
+ Đối với sai số trong quá trình thu thập số liệu: Giám sát, kiểm tra số liệu tại thực địa.
+ Đối với sai số trong quá trình làm sạch số liệu và nhập liệu: Đọc phiếu và làm sạch trước khi nhập liệu, Tạo các tệp check của phần mềm nhập liệu nhằm hạn chế sai
số trong quá trình nhập liệu.
12 Đạo đức trong nghiên cứu.
12.1 Xét duyệt đề cươngĐề cương nghiên cứu sẽ được Hội đồng Đạo đức của Bệnh viện
Da liễu Trung ương phê duyệt.
12.2 Chấp thuận tham gia nghiên cứu
Nghiên cứu viên sẽ tiếp cận đối tượng đạt tiêu chuẩn và giải thích mục đích, quy trình, nguy cơ rủi ro, lợi ích của nghiên cứu và họ sẽ có cơ hội hỏi các vấn đề chưa rõ Nếu đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu, đối tượng sẽ được yêu cầu xác nhận và ký tên vào bản đồng thuận tham gia nghiên cứu Sự tham gia của đối tượng là hoàn toàn tự nguyện và họ có thể dừng tham gia bất kỳ thời điểm nào Sẽ không có ảnh hưởng nào từ phía cán bộ y tế đối với việc điều trị hiện tại của bệnh nhân
12.3 Nguy cơ rủi ro đến đối tượng tham gia nghiên cứu
Các đối tượng tham gia nghiên cứu này sẽ cung cấp các thông tin về các vấn đề mang tính cá nhân và riêng tư như thông tin nhân khẩu học, tình trạng bệnh, tình trạng
Trang 25Không có nguy cơ cho các bệnh nhân khi tham gia nghiên cứu này Những thông tin họ cung cấp sẽ hoàn toàn vô danh Các nghiên cứu viên và cán bộ tham gia nghiên cứu
sẽ ký cam kết không tiết lộ thông tin thu thập trong quá trình nghiên cứu nếu không có sự đồng ý của người tham gia Mọi quy trình nghiên cứu sẽ được tiến hành một cách riêng
tư Mọi thông tin liên quan đến nghiên cứu sẽ được lưu trữ an toàn tại cơ sở nghiên cứu Tất cả thông tin của người tham gia nghiên cứu sẽ được lưu giữ trong tủ đựng hồ sơ luôn khóa kín, được đặt ở nơi cho phép chỉ một số cán bộ nghiên cứu nhất định có thể tiếp cận được Việc thu thập, xử lý số liệu và các biểu mẫu hành chính sẽ được phân biệt bằng mã
số để đảm bảo tính bí mật cho người tham gia Tất cả cơ sở dữ liệu sẽ được đảm bảo bí mật với hệ thống tiếp cận được bảo vệ bằng mật mã Các biểu mẫu, danh sách, sổ lộ trình,
sổ hẹn và các danh sách khác có kết nối với mã số của người tham gia với các thông tin nhận dạng sẽ được lưu giữ trong các cặp file riêng biệt, luôn khóa kín đặt ở nơi chỉ có một
số người nhất định có thể tiếp cận được Thông tin nghiên cứu của những người tham gia
sẽ không được đưa cho bất kỳ ai nếu không được sự đồng ý bằng văn bản của họ.
Đây là nghiên cứu không có các thủ thuật can thiệp xâm lấn nên hoàn toàn không ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của đối tượng tham gia nghiên cứu Các đối tượng nếu cảm thấy không thoải mái trong quá trình trả lời câu hỏi có thể không trả lời câu hỏi đó hoặc dừng nghiên cứu bất kỳ lúc nào.
12.5 Lợi ích đối với đối tượng tham gia nghiên cứu và đối với cộng đồng
Nghiên cứu này nhằm đánh giá tình trạng sức khỏe, tình trạng mắc bệnh, sử dụng dịch vụ và chi tiêu cho y tế, từ đó giúp cung cấp các bằng chứng cho các nhà hoạch định chính sách y tế Không có những lợi ích trực tiếp dành cho nhóm cán bộ, nhân viên
cơ sở điều trị hoặc cán bộ lãnh đạo.
Thời gian (Bắtđầu – kết thúc)
Người, cơ quanthực hiện
Trang 26đề cương cứu và bộ công cụ
thu thập thông tin
30/01/2019
01/01/2019-Chủ nhiệm đề tài
6 Phân tích dữ liệu và
viết báo cáo
Bản thảo báo cáo kết quả nghiên cứu
28/02/2019
01/02/2019-Nhóm NC
III Kết quả của đề tài.
15 Dạng kết quả dự kiến của đề tài
- Bộ số liệu chung Phương pháp thu thập, phân tích và
đánh giá kết quả nghiên cứu
- Sơ đồ
- Bảng số liệu
- Báo cáo phân tích
16 Yêu cầu khoa học đối với sản phẩm tạo ra (dạng kết quả II, III)
Các báo cáo nghiên cứu được hộiđồng chấp thuận
chí trong nước và quốc tế
17 Phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu
(Nêu tính ổn định của các thông số công nghệ, ghi địa chỉ khách hàng và mô tả cách thứcchuyển giao kết quả)
- Xác định các ban ngành liên quan, tạo sự quan tâm trong cộng đồng
- Hội thảo báo cáo kết quả nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu được công bố bằng các báo cáo hoặc bài báo đăng trên tạp chí trong vàngoài nước
Làm việc với cán bộ của các cơ quan liên quan để giới thiệu kết quả nghiên cứu
18 Các tác động của kết quả nghiên cứu