1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG QUẢN lý và điều TRỊ BỆNH NHÂN đột QUỴ não tại BỆNH VIỆN THANH NHÀN hà nội và GIẢI PHÁP CAN THIỆP

109 214 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm gần đây, tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về hiểu biếtcủa người dân về bệnh ĐQN: Vũ Anh Nhị và cộng sự [29] nghiên cứu sự hiểubiết về đột quỵ não trên người nhà và chính bả

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU SINH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS Phạm Văn Hán

2 PGS.TS Mai Duy Tôn

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

ACA Anterior cerebral artery (Động mạch não trước)BMI Body mass index (Hình chiếu đậm độ tối đa)

(Động mạch cảnh chung)

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN 4

1.1 Giới thiệu về bệnh đột quỵ não 4

1.1.1 Định nghĩa đột quỵ não 4

1.1.2 Phân loại đột quỵ não 4

1.1.3 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh 5

1.2 Giải phẫu, sinh lý tuần hoàn và chuyển hoá ở não 6

1.2.1 Đặc điểm phân bố máu của các động mạch não 6

1.2.2 Đặc điểm sinh lý tuần hoàn và chuyển hoá ở não 6

1.3 Triệu chứng của bệnh đột quỵ não 7

1.3.1 Triệu chứng lâm sàng 7

1.3.2 Triệu chứng cận lâm sàng 8

1.4 Một số yếu tố nguy cơ của đột quỵ não 9

1.4.1 Các yếu tố không thay đổi được 9

1.4.2 Những yếu tố nguy cơ thay đổi được 9

1.4.3 Một số yếu tố nguy cơ khác 13

1.5 Các biện dự phòng bệnh đột đột quỵ não 13

1.5.1 Kiểm soát và điều trị các bệnh liên quan 14

1.5.2 Khuyến cáo và kiểm soát các yếu tố liên quan đến lối sống 16

1.6 Phục hồi chức năng 18

1.6.1 Điều trị rối loạn ngôn ngữ 18

1.6.2 Vật lý trị liệu 19

1.6.3 Liệu pháp hoạt động 20

1.6.4 Đánh giá các yếu tố tâm lý – xã hội 21

Trang 4

1.7 Đặc điểm tâm lý của bệnh nhân TBMMN 24

1.7.1 Đặc điểm nhận thức 24

1.7.2 Đời sống tình cảm 26

1.7.3 Các vấn đề có liên quan đến tinh thần bệnh nhân TBMMN 27

1.7.4 Một số phương pháp chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN 28

1.8 Một số nghiên cứu liên quan 31

1.8.1 Nghiên cứu về dịch tễ học lâm sàng của bệnh đột quỵ não 31

1.8.2 Nghiên cứu về công tác quản lý tuân thủ điều trị dự phòng và phục hồi chức năng của bệnh nhân đột quỵ não sau khi ra viện 38

1.8.3 Nghiên cứu về kiến thức, hành vi phòng chống bệnh đột quỵ não của bệnh nhân 39

1.9 Một số đặc điểm tại địa bàn nghiên cứu 39

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 42

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 42

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 43

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 43

2.2 Thiết kế nghiên cứu 43

2.2.1 Giai đoạn 1 43

2.2.2 Giai đoạn 2 44

2.3 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 47

2.3.1 Giai đoạn 1 47

2.3.2 Giai đoạn 2 49

2.4 Kỹ thuật thu thập thông tin 51

2.5 Công cụ thu thập thông tin 52

Trang 5

2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 54

2.9 Sai số và biện pháp khắc phục 54

2.9.1 Các sai số 54

2.9.2 Biện pháp khắc phục 54

2.10 Tính mới, khả thi của đề tài 55

Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ 58

3.1 Mô tả đặc điểm dịch tễ học lâm sàng bệnh đột quỵ não ở bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Thanh Nhàn Hà Nội năm 2018 – 2019 58

3.1.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 58

3.1.2 Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng 60

3.2 Đánh giá công tác quản lý tuân thủ điều trị dự phòng và phục hồi chức năng của bệnh nhân đột quỵ não sau khi ra viện 66

3.3 Đánh giá hiệu quả giải pháp truyền thông giáo dục sức khỏe, thay đổi kiến thức, hành vi phòng chống bệnh đột quỵ não của bệnh nhân và người chăm sóc trong thời gian nghiên cứu 66

3.3.1 Kiến thức về phòng chống bệnh đột quỵ não 66

3.3.2 Thực hành phòng chống đột quỵ não của đối tượng 74

Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 78

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 79

DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ 79 KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Bảng 2.1 Cỡ mẫu cho các giai đoạn nghiên cứu 50

Bảng 3.1: Một số đặc điểm về đối tượng nghiên cứu 58

Bảng 3.2: Tỷ lệ đối tượng có tiền sử mắc bệnh đột quỵ não 59

Bảng 3.3: Tỷ lệ phơi nhiễm với một số yếu tố nguy cơ gây đột quỵ não 59

Bảng 3.4: Xếp loại kinh tế của hộ gia đình 60

Bảng 3.5 Thời điểm xuất hiện đột quỵ não 60

Bảng 3.6 Thời gian xảy ra đột quỵ não đến khi tới viện 60

Bảng 3.7 Hoàn cảnh xảy ra đột quỵ não 61

Bảng 3.8 Cách khởi phát đột quỵ não 61

Bảng 3.9 Các chỉ số sinh tồn lúc nhập viện 62

Bảng 3.10 Các chỉ số lâm sàng lúc nhập viện 62

Bảng 3.11 Tình trạng ý thức lúc nhập viện 63

Bảng 3.12 Tỷ lệ vị trí tổn thương não 63

Bảng 3.13 Bán cầu tổn thương 64

Bảng 3.14 Kết quả siêu âm tim màu 64

Bảng 3.15 Hình ảnh điện tâm đồ 64

Bảng 3.16 Các xét nghiệm sinh hóa máu 65

Bảng 3.17 Tỷ lệ tử vong 65

Bảng 3.18 Nguyên nhân tử vong 66

Bảng 3.19: Tỷ lệ đối tượng đã được nghe nói đến đột quỵ não 66

Bảng 3.20: Kiến thức về khả năng dự phòng đột quỵ não 71

Bảng 3.21: Bảng điểm kiến thức chung của đối tượng về bệnh đột quỵ não 72

Bảng 3.22: Mức độ kiến thức của đối tượng 74

Bảng 3.23: Thực hành tìm hiểu thông tin về bệnh tật của đối tượng 74

Trang 7

Bảng 3.25: Mối liên quan giữa giới, nhóm tuổi và kiến thức 75

Bảng 3.26: Liên quan giữa trình độ học vấn và kiến thức 76

Bảng 3.27: Liên quan giữa nghề nghiệp và kiến thức 76

Bảng 3.28: Liên quan giữa kinh tế và kiến thức 77

Trang 8

Biểu đồ 3.1: Kiến thức của đối tượng về dấu hiệu của đột quỵ não 67Biểu đồ 3.2: Kiến thức của đối tượng về hậu quả của đột quỵ não 68Biểu đồ 3.3: Kiến thức của đối tượng về bệnh có nguy cơ gây đột quỵ não .69Biểu đồ 3.4: Kiến thức của đối tượng về thói quen là nguy cơ gây đột quỵ não 70Biểu đồ 3.5: Kiến thức của đối tượng về biện pháp dự phòng đột quỵ não 71

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đột quỵ não (ĐQN) là nguyên nhân đứng hàng thứ ba dẫn đến tử vongsau bệnh tim mạch và ung thư, để lại di chứng nặng nề, đồng thời là gánh nặngcho gia đình và xã hội

Theo Ovbiagele B.B., Nguyen Huynh M.N (2011), hàng năm ở Hoa Kỳ

có khoảng 800.000 người bị đột quỵ trong đó đột quỵ nhồi máu não (NMN)chiếm 87% trong tổng số đột quỵ não Đột quỵ não tái phát sau một năm là13%, sau 5 năm là 30% , trong khi đó hằng năm phải chi phí 30 tỷ USD chođiều trị nội trú và phục hồi chức năng

Tại Anh có trên 47.000 người ở độ tuổi lao động (dưới 65 tuổi) bị độtquỵ não mỗi năm, làm mất đi 8 triệu ngày công lao động Về dịch tễ học, tỷ lệmắc đột quỵ não trên toàn thế giới là 7,1 triệu người trong năm 2000 và đang

có xu hướng gia tăng [41], [40]

Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh đột quỵ não đang gia tăng ở mức đáng longại ở cả hai giới và các lứa tuổi Nguy cơ xẩy ra đột quỵ gia tăng theo tuổi,tăng gấp đôi cứ mỗi 10 năm sau 55 tuổi, xấp xỉ 28% đột quỵ xẩy ra dưới 65tuổi Nghiên cứu ở Ba Vì, Hà Tây cho thấy tỷ lệ tử vong do tai biến mạchmáu não là 73/100.000 dân, khoảng 60% người bị tai biến mạch máu não ởtuổi < 60 tuổi, trong số này có 80% tử vong trong 24 giờ [4] Tỷ lệ hiện mắctai biến mạch máu não hàng năm dao động từ 61,6/100.000 dân (Huế) đến94,5/100.000 dân (Hà Nội) [19] Tuy vậy, công tác phòng chống bệnh đột quỵnão cũng như dự phòng tái phát bệnh còn chưa được nhiều người quan tâm

Tổ chức Y tế thế giới đã kết luận “Đột quỵ não có khả năng dự phònghiệu quả” [16] Trên thế giới, nhiều quốc gia đặc biệt nhấn mạnh việc nângcao kiến thức về ĐQN cho cộng đồng từ đó dần dần thay đổi được hành vi để

Trang 10

phòng chống ĐQN: tỷ lệ tử vong do ĐQN mỗi năm ở Nhật hạ xuống 7%, Hoa

Kỳ hạ 5% [27]

Những năm gần đây, tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về hiểu biếtcủa người dân về bệnh ĐQN: Vũ Anh Nhị và cộng sự [29] nghiên cứu sự hiểubiết về đột quỵ não trên người nhà và chính bản thân bệnh nhân đột quỵ nãotại khoa thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy năm 2003 Nguyễn Văn Triệu và cộng

sự [21] đánh giá tình trạng hiểu biết về đột quỵ não của 1056 người dân thànhphố Hải Dương… Tuy vậy, số nghiên cứu về ĐQN trong cộng đồng cũng nhưtại bệnh viện còn rất hạn chế Đặc biệt còn ít các nghiên cứu thực hiện đồngthời đánh giá chung về mặt dịch tễ học của bệnh, công tác quản lý điều trị dựphòng, phục hồi chức năng cũng như tìm hiểu kiến thức để đi đến can thiệpthay đổi hành vi của người bệnh Đây cũng chính là lý do chúng tôi làmnghiên cứu này

Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành tại Bệnh viện Thanh Nhàn.Bệnh viện Thanh Nhàn là bệnh viện đa khoa hạng I của thủ đô Hà Nội, cóđiều kiện cơ sở vật chất tốt với trang thiết bị hiện đại, đồng bộ cùng đội ngũThầy thuốc đa khoa và chuyên khoa có trình độ cao Hàng năm, theo báo cáocủa bệnh viện, bệnh nhân ĐQN đến điều trị tại đây lên tới hàng nghìn ca Vìvậy chúng tôi mong muốn tiến hành nghiên cứu này để điều tra dịch tễ họclâm sàng của bệnh cũng như công tác quản lý tuân thủ điều trị dự phòng vàphục hồi chức năng của bệnh nhân đột quỵ não sau khi ra viện Đồng thờichúng tôi cũng sẽ khảo sát nhận thức và thực hành của bệnh nhân ở đây vềbệnh ĐQN từ đó áp dụng các biện pháp can thiệp truyền thông thích hợp Kếtquả nghiên cứu sẽ nhằm cung cấp cơ sở khoa học tin cậy và hữu ích cho côngtác phòng chống đột quỵ não

Trang 11

Do vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Thực trạng quản lí và điều trị

bệnh nhân đột quỵ não tại bệnh viện Thanh Nhàn Hà Nội và giải pháp can thiệp” với mục 03 tiêu:

1 Mô tả đặc điểm dịch tễ học lâm sàng bệnh đột quỵ não ở bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Thanh Nhàn Hà Nội năm 2018 – 2019

2 Đánh giá công tác quản lý tuân thủ điều trị dự phòng và phục hồi chức năng của bệnh nhân đột quỵ não sau khi ra viện

3 Đánh giá hiệu quả giải pháp truyền thông giáo dục sức khỏe, thay đổi kiến thức, hành vi phòng chống bệnh đột quỵ não của bệnh nhân và người chăm sóc trong thời gian nghiên cứu

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu về bệnh đột quỵ não

1.1.1 Định nghĩa đột quỵ não

Theo định nghĩa của tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1989: đột quỵnão (ĐQN) là một hội chứng lâm sàng được đặc trưng bởi sự khởi phát độtngột của các triệu chứng biểu hiện tổn thương của não (thường là khu trú), tồntại trên 24 giờ hoặc bênh nhân tử vong trước 24 giờ Những triệu chứng thầnkinh khu trú phù hợp với vùng não do động mạch bị tổn thương phân bố, loạitrừ nguyên nhân chấn thương

1.1.2 Phân loại đột quỵ não

Đột quỵ não gồm hai loại chính , ,

Nhồi máu não (thiếu máu não cục bộ)

Là tình trạng khi một mạch máu bị tắc nghẽn, khu vực não và mạchmáu đó cung cấp bị thiếu máu và hoại tử, nhũn ra (trước đây gọi là tai biếnnhũn não) Nhồi máu não chiếm khoảng 85% trong số các ca đột quỵ não Người ta phân loại ra ba loại thiếu máu não cục bộ:

 Cơn thiếu máu não thoáng qua: nếu sau ĐQN bệnh nhân phục hồi hoàntoàn sau 24 giờ

 Thiếu máu não cục bộ phục hồi: phục hồi sau 24 giờ và không để lại dichứng hay di chứng không đáng kể

 Thiếu máu não cục bộ hình thành: thời gian phục hồi kéo dài, để lại dichứng hoặc tử vong

Trang 13

Chảy máu não

Là máu thoát khỏi mạch máu chảy vào nhu mô não Có thể chảy máu ởnhiều vị trí trong não như vùng bao trong, vùng nhân xám trung ương, thùynão, thân não, tiểu não Chảy máu não là bệnh lý cấp tính, tiến triển nhanh,thường biểu hiện tổn thương não đạt tối đa ngay từ đầu Chảy máu não chiếmkhoảng 15% trong tổng số các đột quỵ não, bao gồm các thể sau :

 Chảy máu trong tổ chức não

 Chảy máu não – tràn máu não thất

 Chảy máu khoang dưới nhện

 Chảy máu não thất nguyên phát

 Chảy máu sau nhồi máu (chảy máu chuyển thể)

1.1.3 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Nguyên nhân của nhồi máu não.

Có nhiều nguyên nhân gây ra nhồi máu não nhưng hay gặp nhất là banhóm nguyên nhân chính , :

 Huyết khối (thrombosis)

 Tắc mạch (embolism)

 Co thắt mạch não

Nguyên nhân của chảy máu não.

 Tăng huyết áp: nguyên nhân chủ yếu gây chảy máu não

 Vỡ túi phồng động mạch hoặc túi phồng đông – tĩnh mạch

 Chảy máu não sau nhồi máu

 Chảy máu não do viêm động mạch hoặc tĩnh mạch não

Trang 14

 Chảy máu não tiên phát chưa rõ nguyên nhân

* Cơ chế bệnh sinh của bệnh đột quỵ não

- Đột quỵ chảy máu

 Ở người lớn: tăng huyết áp, bệnh động mạch thoái hóa dạng tinh bột,

dị dạng mạch, bệnh máu, nhồi máu não, do thuốc

 Ở trẻ em: vỡ phình mạch

 Ở sơ sinh: thiếu vitamin K, thiếu prothrombin

- Đột quỵ thiếu máu não:

 Do tắc mạch

 Do huyết khối động mạch não

1.2 Giải phẫu, sinh lý tuần hoàn và chuyển hoá ở não

1.2.1 Đặc điểm phân bố máu của các động mạch não

Não được tưới máu bởi hai hệ động mạch là hệ động mạch cảnh trong

và hệ động mạch sống - nền

- Hệ động mạch cảnh trong: cung cấp máu cho khoảng 2/3 trước củabán cầu đại não và chia làm 4 ngành tận: động mạch não trước, động mạchnão giữa, động mạch thông sau và động mạch mạch mạc trước

- Hệ động mạch sống - nền: phân bố máu cho thân não, tiểu não, mặtdưới thuỳ thái dương và thuỳ chẩm

- Hai hệ thống này được nối thông với nhau tại đa giác Willis

1.2.2 Đặc điểm sinh lý tuần hoàn và chuyển hoá ở não

- Lưu lượng tuần hoàn não:

Lưu lượng tuần hoàn não trung bình ở người lớn là 50ml/100g não/phút (chất xám: 80ml/100g não/ phút; chất trắng: 20ml/100g não/ phút)

- Tiêu thụ O2 và glucose của não:

Trang 15

+ Mức tiêu thụ O2 trung bình 4ml oxy/100g não/phút, tiêu thụ glucosetrung bình 6mg/100g não/phút.

+ Nhu cầu về O2 và glucose của não cần được đáp ứng liên tục và ổnđịnh Tế bào não không có dự trữ oxy, còn lượng đường dự trữ chỉ có thể đủ

sử dụng trong vòng 2 phút

Phân loại đột quỵ não trên lâm sàng

- Đột quỵ thiếu máu: chiếm 75-80% số bệnh nhân đột quỵ não và gồm có:+ Huyết khối động mạch não

+ Tắc mạch não

+ Hội chứng lỗ khuyết

- Đột quỵ chảy máu: chiếm 20-25% số bệnh nhân đột quỵ não và gồm có:+ Chảy máu não

+ Chảy máu dưới nhện

1.3 Triệu chứng của bệnh đột quỵ não

 Rối loạn thăng bằng

 Liệt dây VII trung ương

Rối loạn ngôn ngữ:

 Khó khăn trong việc hiểu hoặc diễn đạt bằng lời nói

 Khó khăn khi đọc, viết

 Khó khăn trong tính toán

 Nói khó (kết hợp với triệu chứng khác)

Trang 16

Các triệu chứng cảm giác:

 Cảm giác thân thể (rối loạn cảm giác từng phần hoặc toàn bộ nửangười)

 Rối loạn thị giác (mất nhìn một bên mắt hoặc cả hai bên…)

Các triệu chứng tiền đình: cảm giác chóng mặt

Các triêu chứng tư thế và nhận thức: khó khăn trong việc mặc quần áo,chải tóc, đánh răng, rối loạn định hướng khồn gian, gặp khó khăn trong việc

mô phỏng lại hình vẽ hoặc hay quên

1.3.2 Triệu chứng cận lâm sàng

Xét nghiệm dịch não tủy:

 Trong đột quỵ chảy máu: dịch não tuỷ có máu, đỏ đều 3 ống, khôngđông, vi thể thấy hồng cầu dày đặc vi trường, áp lực DNT có thể tăng

 Trong huyết khối và tắc mạch, dịch não tuỷ trong suốt, không màu, vithể không có hồng cầu

 Tuy nhiên trong chảy máu não cũng có thể có khoảng 10-15% trườnghợp trong dịch não tuỷ không có hồng cầu

Chụp XQ cắt lớp vi tính (CT.Scan):

 Đối với đột quỵ chảy máu: biểu hiện tăng tỷ trọng trong tổ chức não và/hoặc trong khoang dịch não tuỷ (não thất, các bể não và khoang dướinhện)

 Đối với nhồi máu não:

Ở giai đoạn cấp tính: có các biểu hiện rất kín đáo (mất dải đảo, mờnhân đậu, xoá các rãnh cuộn não, dấu hiệu động mạch tăng đậm độ, giảm đậm

độ vượt quá 2/3 vùng phân bố của động mạch não giữa…)

Ở sau giai đoạn cấp tính: có các ổ giảm tỷ trọng hình thang, hình tamgiác, hình oval hoặc hình dấu phảy Tỷ trọng thay đồi theo thời gian

1.4 Một số yếu tố nguy cơ của đột quỵ não

Trang 17

Ở Việt Nam, ước tính hằng năm có khoảng 200 nghìn người bị đột quỵ

và số người bị đột quỵ đang có xu hướng trẻ hóa Bệnh có xu hướng xuất hiênnhiều ở nhóm có nguy cơ cao Các yếu tố nguy cơ có thể được chia thành hainhóm sau , :

1.4.1 Các yếu tố không thay đổi được

Tuổi: tỉ lệ mắc bệnh tăng theo tuổi hầu hết đột quỵ xảy ra ở tuổi trên 60tuổi Người già (tuổi > 55, đặc biệt 60-80 tuổi) mắc bệnh nhiều nhất sau đóđến tuổi trung niên và giảm dần ở lứa tuổi thanh thiếu niên, cuối cùng tỷ lệmắc bệnh ở trẻ em là thấp nhất ,

Giới, chủng tộc: nam mắc bệnh nhiều hơn nữ, các nghiên cứu được tiếnhành ở Manhattan cho thấy tỷ lệ đột quỵ ở người da đen là 2,4 lần và ngườigốc Tây Ban Nha tăng gấp 2,0 lần so với người da trắng

Cũng trong một số nghiên cứu cho thấy người da đen có tỷ lệ mắc độtquỵ cao nhất sau đó đến người da vàng và cuối cùng là người da trắng, chưa

Tần suất bệnh nhân bị đột quỵ có tăng huyết áp khá cao, chiếm 72,3% ởnhóm nhồi máu não và 75% ở nhóm xuất huyết não Tỷ lệ nhồi máu não vàxuất huyết não tăng theo mức huyết áp, cao nhất ở nhóm tăng huyết áp giaiđoạn 2

Trang 18

Trong nghiên cứu Framingham hầu hết THA liên quan đến NMN vữa xơhuyết khối, THA làm tăng nguy cơ NMN vữa xơ huyết khối lên 4 lần Khihuyết áp 140 - 160/90 - 94 mmHg làm tăng nguy cơ đột quỵ lên 1,5 lần,huyết áp > 160/95 mmHg làm tăng nguy cơ đột quỵ 3 - 4 lần Điều trị giảmhuyết áp làm giảm nguy cơ đột quỵ 39 - 43% ,

Nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) ở miền Đông địatrung hải về tổng quan các bệnh lý mạch máu não, gồm 38 nghiên cứu thấyTHA chiếm tỷ lệ 50% ở bệnh nhân có bệnh lý mạch máu não

Bệnh tim

Xơ vữa động mạch cảnh trong và ngoài là nguyên nhân phổ biến nhấtgây nhồi máu não Đặc biệt ở người cao tuổi, cứ 10 năm tần số nhồi máu nãotăng gấp đôi ,

Huyết khối từ tim: trong đó đáng lưu ý là bệnh rung nhĩ Những người

có bệnh rung nhĩ thì nguy cơ nhồi máu não tăng lên 17 lần so với ngườikhông bị bệnh và là nguyên nhân quan trọng nhất gây nhồi máu não ở ngườitrẻ

Đái tháo đường

Bệnh nhân bị đái tháo đường (ĐTĐ) có nguy cơ đột quỵ não gấp 2 lần

so với bệnh nhân không bị ĐTĐ Bệnh ĐTĐ typ 1 và typ 2 gặp nhiều trongTHA và NMN do bệnh lý mạch máu nhỏ, ĐTĐ typ 1 thường có bệnh mạchvành và bệnh mạch máu ngoại vi, ĐTĐ typ 2 thường có bệnh béo phì, bệnhmạch máu ngoại vi, thiếu máu não cục bộ thoảng qua (TMNTQ), và đột quỵ

do vữa xơ động mạch lớn

Trang 19

Tỷ lệ đột quỵ tái phát trong 10 năm là 40,9% cho ĐTĐ typ 1 và 29,7%cho ĐTĐ typ 2 Boutayeb A và cs tổng hợp 36 nghiên cứu thấy bệnh lý mạchmáu não có ĐTĐ chiếm tỷ lệ 25%

Bệnh nhân bị NMN cấp tính có ĐTĐ chưa được chẩn đoán 20% Do đókhuyến khích sàng lọc để bệnh nhân đột quỵ cấp có ĐTĐ giảm tần suất dàihạn và tỉ lệ tử vong

Tiền sử đột quỵ nhồi máu não và thiếu máu não cục bộ thoảng qua

Nhồi máu não (NMN) tái phát sau khi bị NMN lần đầu trong vòng 5 nămđầu tiên dao động khoảng 18,4 - 32%, nguy cơ tái phát cao trong năm đầukhoảng 13%, nguy cơ tái phát NMN trung bình mỗi năm là 4% , ,

NMN thường xẩy ra sớm sau cơn thiếu máu não thoảng qua (TMNTQ)khoảng 10% trong 90 ngày đầu với một nửa số NMN xẩy ra trong vòng haingày

Rối loạn chuyển hóa lipid máu

Rối loạn lipid máu là tình trạng tăng cholesterol, tryglycerid huyếttương hoặc cả hai hoặc giảm nồng độ hypoprotein phân tử lượng cao, tăngnồng độ lipoprotein phân tử lượng thấp làm gia tăng quá trình vữa xơ Mỗimức tăng 1 mmol/l cholesterol toàn phần có liên quan tăng nguy cơ lên 25%NMN Tăng triglycerid là một yếu tố nguy cơ độc lập với mảng bám độngmạch cảnh và nguy cơ cao đối với đột quỵ não

Rối loạn lipid máu ở bệnh nhân TMNTQ liên quan tới hẹp động mạchnội sọ và nguy cơ đột quỵ tái phát sớm Boutayeb A và cs tổng hợp 36 nghiêncứu thấy 25% rối loạn lipid máu gây bệnh lý mạch máu não

Béo phì

Béo phì có mối liên quan đến đột quỵ não đặc biệt là béo phần bụng vớior=2,33 (95% CI: 1,25 - 4,37)

Trang 20

BMI > 25: tăng nguy cơ đột quỵ não ở nam giới và nữ giới Béo bụng làyếu tố nguy cơ ở nam giới nhưng không phải ở nữ giới ,

Hoạt động thể lực, dù ở mức độ nhẹ cũng làm giảm nguy cơ và tử vong

do đột quỵ não

Quá cân và béo phì có mối liên quan với các yếu tố nguy cơ như rốiloạn lipid máu, THA, ĐTĐ, bệnh mạch vành Kiểm soát cân nặng giúp cảithiện huyết áp, triglycerid, HDL- C (High density lipoprotein cholesterol vàLDL - C (Low density lipoprotein cholesterol), đường huyết

Hút thuốc lá

Thuốc lá làm biến đổi nồng độ lipid, quan trọng làm giảm yếu tố bảo vệHDL, làm tăng fibrinogen, tăng tính đông máu, độ nhớt máu, tăng kết dính tiểucầu Hút thuốc lá chủ động hoặc thụ động đều làm tăng nguy cơ đột quỵ não , Hút thuốc lá phụ thuộc vào số lượng điếu thuốc trong ngày nguy cơ tương đốicủa đột quỵ não với người hút 5 điếu thuốc/ngày là 1,16 và 40 điếu/ngày là1,56 Hai mươi sáu nghiên cứu thấy hút thuốc lá chiếm 15% nguy cơ gây bệnh

lý mạch máu não

Hầu hết bệnh nhân hút thuốc là nam giới Hút thuốc lá liên quan vớinhồi máu não rõ rệt hơn xuất huyết não (p=0,0000) Nguy cơ đột quỵ tăngcùng với lượng thuốc hút trong ngày tăng

Rượu

Việc sử dụng rượu vẫn còn đang bàn luận, tiêu thụ rượu nặng làm tăngnguy cơ tương đối của đột quỵ trong khi tiêu thụ rượu nhẹ hoặc vừa phải, cóthể được bảo vệ chống lại đột quỵ não

Mối quan hệ đột quỵ não với rượu bia được biểu diễn theo hình chữ U,nghĩa là uống rượu ít hoặc không uống chút nào và uống nhiều rượu dườngnhư tăng nguy cơ đột quỵ, trong khi đó uống rượu trung bình (3 ly/ngày) cónguy cơ đột quỵ thấp nhất (15,4%)

Trang 21

1.4.3 Một số yếu tố nguy cơ khác

Tăng homocystein là một yếu tố nguy cơ độc lập với NMN, khihomocystein >15 mmol/l nguy cơ bị đột quỵ 2,17 lần Shi và cs trongnghiên cứu thấy homocystein tăng cao trong giai đoạn cấp tính của NMN

và có thể dự đoán được tỷ lệ tử vong đặc biệt ở nhóm NMN có vữa xơđộng mạch lớn (homocystein >18,6% có 1,61 lần nguy cơ tử vong so vớihomocystein ≤10mmol/l và có mối tương quan có ý nghĩa thống kê vớinhóm NMN vữa xơ động mạch lớn với HR=1,80)

Dấu ấn viêm (Inflammatory marker): vữa xơ động mạch là một quátrình viêm mạn tính, một số dấu hiệu của viêm đã được nghiên cứu như làmột yếu tố nguy cơ tim mạch tiềm ẩn, mức độ protein phản ứng C (C -reactive protein - [CRP]) là yếu tố dự báo mạnh của biến cố tim mạch Zeng

và cs thấy chỉ số CRP có liên quan chặt chẽ với các loại đột quỵ não (p<0,05),CRP cao hơn ở nhóm NMN có vữa xơ động mạch lớn so với nhóm tắc độngmạch nhỏ (p<0,05) và hiệu quả dự đoán của CRP hơn 3,2 lần đối với nhómNMN có vữa xơ động mạch lớn độ nhạy là 85,7%

Khu vực địa lý: Cư dân Châu Á mắc bệnh nhiều hơn Đông Âu, tỷ lệmắc bệnh thấp hơn cả là ở các cư dân Tây Âu và Bắc Mỹ Dân thành phố mắcbệnh nhiều hơn nông thôn

1.5 Các biện dự phòng bệnh đột đột quỵ não

- Phòng bệnh cấp I: Ngăn ngừa đột quỵ xuất hiện Tổ chức phòng vàđiều trị các yếu tố nguy cơ đại trà trong cộng đồng

- Phòng bệnh cấp II: Ngăn ngừa đột quỵ tái phát Tổ chức điều trị theotừng bệnh nhân và từng thể bệnh cụ thể

Dự phòng cấp hai phải được bắt đầu càng sớm càng tốt, ngay sau khichẩn đoán xác định đột quỵ thiếu máu não cấp tính hoặc cơn thiếu máu não

Trang 22

thoáng qua Để giảm thiểu tác động của các yếu tố nguy cơ, người ta sử dụngcác phác đồ chuẩn nhằm kiểm soát tốt nhất các yếu tố nguy cơ và ngăn chặntiến triển xấu cảu bệnh Phác đồ này thường bao gồm thuốc kiểm soát huyết

áp, thuốc kháng tiểu cầu, statin, chống đông,… tùy thuộc vào lâm sàng, xétnghiệm và yếu tố nguy cơ, mỗi BN cần được điều chỉnh riêng phù hợp

1.5.1 Kiểm soát và điều trị các bệnh liên quan

Kiểm soát và điều trị tăng huyết áp

Tăng huyết áp: tại Việt Nam bệnh tăng huyết áp ngày càng tăng, số liệuthống kê cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp tăng từ 11% lên đến 16% năm 2004,riêng tại Tp.HCM có đến 27% người lớn tăng huyết áp Tăng huyết áp ngườilớn được chẩn đoán khi huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết

áp tâm trương (HATT) ≥ 90 mmHg Nghiên cứu gộp cho thấy điều trị giảmhuyết áp sẽ giảm 30% đến 40% nguy cơ đột quỵ

Thuốc hạ HA làm giảm tỷ lệ tái phát ĐQN Tuy vậy HA không nên giảmtích cực ở những bệnh nhân nghi ngờ ĐQN huyết động hoặc hẹp động mạchcảnh 2 bên vì có thể gây ra tình trạng thiếu máu nặng nề hơn cho não

Kiểm soát và điều trị đái tháo đường

Nên kiểm tra đường huyết định kỳ, phát hiện sớm các bất thường trongchỉ số đường huyết và kịp thời điều trị nhằm giảm nguy cơ bị ĐQN

Điều chỉnh đường huyết bằng thay đổi lối sống và dùng thuốc theo từngbệnh nhân cụ thể

Đối với BN nhồi máu não hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua rất quantrọng, hương dẫn của Hiệp hội Tim mạch và Hiệp hội Đột quỵ não Hoa Kỳ(2014) khuyến cáo tầm kiểm soát bệnh đái tháo đường với xét nghiệm dườnghuyết, HbA1c hoặc thử nghiệm dung nạp glucose đường uống đối với BN đái

Trang 23

tháo đường bị đột quỵ thiếu máu não hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua.Hiệp hội tim mạch và Hiệp hội Đột quỵ não Hoa Kỳ khuyến cáo: việc sửdụng các hướng dẫn từ Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ để kiểm soát đườnghuyết theo mục tiêu từ việc chế độ ăn, tập thể dụng, uống thuốc hạ đườnghuyết Mục tiêu hợp lý lâu dài của điều trị là đưa giá trị của HbA1c xuốngdưới mức 7% ở hầu hết BN.

Kiểm soát và điều trị rối loạn mỡ máu

Các nghiên cứu dịch tễ chứng minh tăng cholesterol toàn phần và tăngLDL-C sẽ làm tăng nguy cơ đột quỵ thiếu máu cục bộ , Nghiên cứu gộp trên

> 90,000 bệnh nhân chứng minh giảm LDL-C bằng statin sẽ giảm nguy cơđột quỵ

Liệu pháp chống đông máu

Aspirin hoặc thuốc chống đông đường uống khuyến cáo cho , :

 Phụ nữ ≥ 45 tuổi (liều thấp)

 Bệnh nhân rung nhĩ không do valve tim và có độ tuổi 65-75 tuổi, không

có các yếu tố nguy cơ tim mạch

Bệnh nhân được dùng thuốc chống đông máu để làm giảm khả năng bịĐQN ở các bệnh nhân mắc bệnh nguy cơ gây ĐQN hoặc để ngăn ngừa táiphát ĐQN ở bệnh nhân có tiền sử ĐQN trước đó

Các thủ thuật, phẫu thuật can thiệp mạch máu

Đối với các bệnh nhân có hẹp động mạch cảnh, phẫu thuật bóc nội mạcđộng mạch cảnh ở BN có hẹp động mạch cảnh nặng (70-99%) cần đặt ra.Phẫu thuật này làm giảm nguy cơ tương đối của động mạch não Nếu nguy cơđột quỵ não trong 3 năm khoảng 26,5% (88% 1 năm) thì phẫu thuật làm giảmnguy cơ chỉ còn 13,7%

Trang 24

Sử dụng can thiệp nội mạch nong và đặt giá đỡ (stent) qua da cho BN

có hẹp động mạch cảnh cho thấy hiệu quả và nguy cơ tương tự như bóc nộimạc động mạch cảnh trong dự phòng đột quỵ não

Dự phòng do thuyên tắc từ tim

Các thuốc kháng vitamin K và aspirin cho bệnh nhân rung nhĩ

Cần có chẩn đoán xác định rung nhĩ (nếu rung nhĩ cơn cần dung holternhịp tim), tìm nguyên nhân gây rung nhĩ và điều trị nguyên nhân

Các bệnh nhân có rung nhĩ kéo dài trên 48h cần đước xem xét dungthuốc chống đông và những biện pháp tái lập và duy trì nhịp xoang Kết quảchuyển nhịp sẽ cao hơn nếu rung nhĩ mới xuất hiện và kích thước nhĩ trái bìnhthường Tuy vậy, đối với các bệnh nhân lớn tuổi thường gặp rung nhĩ mạntính nên tránh việc quá cố gắng chuyển nhịp, chấp nhận rung nhĩ và tập trungvào việc tập trung kiểm soát tần số thất (như digoxin, chẹn beta giao cảm,…)

và dung kháng đông lâu dài

1.5.2 Khuyến cáo và kiểm soát các yếu tố liên quan đến lối sống

Bỏ thuốc lá

Chưa có nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng nhưng các nghiên cứuquan sát cho thấy: ngừng hút thuốc là làm giảm nguy cơ đột quỵ não ít nhất1,5 lần Nếu nguy cơ đột quỵ não hàng năm ban đầu là 7%, thì ngừng hútthuốc lá có thể làm giảm nguy cơ đột quỵ và các biến cố mạch máu nghiêmtrọng khác từ 7,5% xuống 4,7%/năm, giảm nguy cơ tương đối ít nhất 33% vàgiảm nguy cơ tuyệt đối ít nhất 2,3%

Các nghiên cứu quan sát cho thấy nguy cơ tương đốt của tử vong vềbệnh tim mạch đều giảm sau khi ngừng hút thuốc lá nhưng phải mất nhiềunăm mới giảm về mức như người không hút thuốc lá, đặc biệt đối với nhưng

BN hút thuốc lá nhiều năm

Trang 25

Uống rượu bia nhiều gây tăng nguy cơ ĐQN do vậy nên hạn chế uốngrượu bia

Thay đổi lối sống

Giữ trạng thái tinh thần cân bằng, tránh căng thẳng tâm lý, luyện tậpthể chất như đi bộ, thể dục thể thao hợp lý, giảm cân, chế độ ăn uống ít mỡ, ítbia rượu, nhiều rau, trái cây và hạn chế muối được coi là nhưng biện pháp dựphòng không dung thuốc hiệu quả

Các nghiên cưu cho thấy nhóm luyện tập thể chất giảm nguy cơ tươngđối của các biến cố mạch vành khoảng 30-50% và giảm khoảng 5 mmHghuyết áp tâm thu so với nhóm ít vận động

Hoạt động thể lực liên quan đến những lợi ích về cân nặng, HA, mỡmáu và dung nạp đường huyết từ đó sẽ hạn chế nguy cơ ĐQN hoạt động thểlực thường xuyên 2-5 giờ/1 tuần làm giảm đáng kể nguy cơ bị ĐQN [36] Khichỉ số BMI >25 cần có chế độ ăn giảm cân, tránh béo phì – nguy cơ gây racác bệnh lý tim mạch dẫn đến tăng khả năng bị ĐQN

Các BN thừa cân, giảm khoảng 3-9% trọng lượng cơ thể thì có thể làmgiảm huyết áp tâm thu khoảng 3-5 mmHg và huyết áp tâm trương 3 mmHg.Một chế độ ăn nhiều rau và trái cây cũng giúp giảm nhẹ chỉ số huyết áp vàgiảm cân

Đối với chế độ ăn uống: ăn hạn chế muối có thể làm giảm huyết áp, theodõi cho thấy, nếu giảm natri ăn vào 118 mmol (tương đương 6,7 g/ngày) trong

28 ngày làm giảm huyết áp tâm thu 3,9 mmHg Ăn giảm muối và chất béo bãohòa, ăn nhiều rau, củ, quả và chất xơ sẽ làm giảm nguy cơ bị ĐQN Ăn cá ítnhất 1 lần/ tháng có thể giảm nguy cơ ĐQN Bổ sung vitamin, acid folic…cầnthiết cho cơ thể để tránh các bệnh nguy cơ gây ĐQN

Trang 26

Trên thực tế, rất khó xác định được nguyên nhân gây đột quỵ thiếu máunão, vì vậy, điều trị dự phòng cấp 2 cần tập trung vào việc kiểm soát tốt cácyếu tố nguy cơ có liên quan nhất đến đột quỵ não, như: kiểm soát HA, cácthuốc ức chế kết tập tiểu cầu, statin và kiểm soát lipid máu, kiểm soát đườngmáu, kháng đông trong rung nhĩ, kiểm soát bệnh máu tăng đông, tănghemocystein máu, hội chứng kháng phospholipid máu, kiểm soát hẹp độngmạch cảnh, bỏ thuốc lá, kiểm soát ngừng thở khi ngủ, thay đổi lối sống

Vì vậy, điều trị dự phòng cấp 2 là việc thực hiện các liệu pháp điều trịthích hợp cho BN sau đột quỵ thiếu máu não với mục tiêu làm giảm thiểunguy cơ tái phát đột quỵ não và các biến cố mạch máu nghiêm trọng khác

1.6 Phục hồi chức năng

Các phần chính của phục hồi chức năng bao gồm: điều trị rối loạn ngônngữ, lý liệu pháp, liệu pháp hoạt động, liệu pháp tâm lý – xã hội

1.6.1 Điều trị rối loạn ngôn ngữ

Điều trị rối loạn ngôn ngữ bao gồm 2 thành phần chính: đánh giá nuốt

và đánh giá chức năng ngôn ngữ

Đánh giá tình trạng nuốt của bệnh nhân

Tình trạng nuốt khó thường gặp và xảy ra ở 30 – 65% bệnh nhân sau độtquỵ não Nuốt khó có thể gây suy dinh dưỡng, mất nước và viêm phổi do sặc

Test sàng lọc tại giường để đánh giá khả năng nuốt phải được thực hiệnđối với tất cả bệnh nhân trước khi quyết định cho phép họ ăn qua đườngmiệng Nếu bệnh nhân mất khả năng nuốt hiếu quả trong vòng 12-24 giờ, nênđặt xông dạ dày để nuôi dưỡng theo đường tiêu hóa Ở bệnh nhân hoàn toàntỉnh táo bị đột quỵ bán cầu não, nói chung, có thể rút bó xông dạ dày và bệnhnhân được nuôi dưỡng đường miệng trong vòng vài ngày

Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân đột quỵ não bị nuốt khó kéo dài Tìnhtrạng này hầu hết thường xảy ra với bệnh nhân bị đột quỵ não vùng thân não

Trang 27

hoặc đột quỵ não nửa bán cầu kèm suy giảm mất ý thức, sa sút trí tuệ, hoặc lúlẫn Trong các trường hợp này nên mở thông dạ dày qua da bằng nội soi.

Điều trị rối loạn ngôn ngữ

Phần lớn các bệnh nhân đột quỵ não bị thất ngôn loại nói không lưuloát, nghĩa là khả năng hiểu lời nói bị ảnh hưởng ở mức độ khác nhau.Thường ít gặp loại thất ngôn nói lưu loát đơn thuần chỉ ảnh hưởng đến sự hiểubiết, mặc dù điều này chắc chắn có thể xảy ra Thất ngôn, nhất là giảm khả nănghiểu biết, có thể ngăn cản nghiêm trọng đến khía cạnh khác của phục hồi chứcnăng vì bệnh nhân thường không thể hiểu được các y lệnh của bác sỹ trị liệu

Cũng như với các đặc điểm khác của phục hồi đột quỵ não, thực hành

và thời gian tiến hành trị liệu ngôn ngữ ít nhất cũng sẽ dẫn đến cải thiện chứcnăng ngôn ngữ, trong đó khả năng hiểu biết thường cải thiện trước tiên Điềutrị nội khóa bằng thuốc aphetamin, thuốc kháng cholin, kháng thụ thểdopamine có thể có lợi đối với các hội chứng thất ngôn chuyên biệt nhưngđiều trị này còn chưa được chứng minh Sự thất vọng của gia đình và bệnhnhân do giảm khả năng giao tiếp với nhau nên được giải quyết bằng các biệnpháp hỗ trợ đến khi cải thiện bắt đầu diễn ra

1.6.2 Vật lý trị liệu

Vật lý trị liệu tập trung vào luyện tập cho bệnh nhân vận động tạigiường, di chuyển, thăng bằng, luyện tập dáng đi, huấn luyện để tái lập lạidạng vận động bình thường, và di chuyển bằng xe lăn Nói chung, không nênbắt đầu huấn luyện việc đi lại cho bệnh nhân quá tích cực chừng nào họ cònchưa được chuyển khỏi đơn vị đột quỵ não đến khoa phục hồi chức năng

Trong những giờ đầu sau đột quỵ não, nhất là nếu tình trạng bệnh cònđang dao động, chúng tối khuyến cáo cho bệnh nhân nằm nghỉ tại giường, đặtđầu không cao quá 15-30O nhằm tối ưu hóa tưới máu não Cũng vào thời gian

Trang 28

này, vận động sớm rất quan trọng để ngăn ngừa tình trạng co cứng cơ gây mấtchức năng về sau và huyết khối tĩnh mạch sâu

Tại đơn vị đột quỵ não, sau ngày nhập viện, chuyên gia vật lý trị liệu sẽbắt đầu cho bệnh nhân ngồi dậy và chuyển từ giường sang ghế, sau đó đứngcạnh giường điều quan trọng nhất cần nhớ là các bệnh nhân có thể mất thăngbằng và yếu toàn thân, kể cả khi họ không thấy có tình trạng liệt nửa ngườihoặc các dấu hiệu yếu hoặc thất điều khi nằm trên giường Do đó, mọi bệnhnhân đột quỵ não nên được chú ý tới nguy cơ bị ngã khi họ lần đầu rời khỏigiường và không nên cho phép họ được đứng dậy mà không có sự hỗ trợ củachuyên gia vật lý trị liệu đánh giá hoàn chỉnh

Có khoảng 80% bệnh nhân đột quỵ não sẽ phục hồi lại được khả năng

đi lại độc lập, vì vậy động viên khích lệ bệnh nhân có được tâm trạng lạc quan

là một cách tiếp cận phù hợp khi giao tiếp với bệnh nhân và gia đình trongngày đầu, kể cả trường hợp bệnh nhân bị liệt nửa người

1.6.3 Liệu pháp hoạt động

Liệu pháp hoạt động tập trung vào sự điều phối vận động thô sơ và tinh

tế (cấu véo, đối kháng cơ, ngón tay chỉ mũi, các chuyển động xen nhanh), cơlực (tầm vận động chủ động, tầm vận động thụ động), trương lực, cảm giác,hoạt động sinh hoạt hằng ngày (chải tóc, tắm giặt, mặc áo, mặc quần, đi vệsinh) và được huấn luyện để phục hồi trở lại dạng vận động bình thường

Một nguyên lý quan trọng của liệu pháp hoạt động là bù trừ đốikháng và tạo thuận Nói một cách đơn giản, bù trừ dành cho quá trình huấnluyện chi bị tổn thương trong khi tạo thuận là sử dụng nhắc lại chi bị tổnthương để làm tăng tốc quá trình hồi phục và tránh tình trạng “lâu khôngdung thành quên” có thể là hậu quả do đặt niềm tin vào chi không bị tácđộng được bù trừ quá mức

Trang 29

1.6.4 Đánh giá các yếu tố tâm lý – xã hội

Không bao giờ là quá sớm để bắt đầu giáo dục bệnh nhân và gia đình vềthay đổi lối sống và các điều trị nội khoa để ngăn ngừa đột quỵ não khác Điềunày cần được củng cố trong suốt thời gian nằm viện và phục hồi chức năng

Sau khi bị đột quỵ não nặng, cả gia đình và bệnh nhân sẽ đi đến mộtphản ứng hoảng sợ mà thoạt đầu phủ nhận và mất lòng tin, và đôi khi tức giận.Đặc biệt, sự cần thiết phải mở thông dạ dày theo đường nội soi thường là mộtthời khắc khủng hoảng khi gia đình cuối cùng phải chấp nhận bệnh nhân có thể

bị tàn tật nặng và khả năng phục hồi kéo dài đang còn treo phía trước

Thường gặp trầm cảm ở bệnh nhân và người chăm sóc bệnh nhân Đạitiểu tiện không tự chủ là một đóng góp quan trọng gây trầm cảm và lệ thuộc,thêm vào các nguyên nhân hiển nhiên khác (liệt, mất khả năng nói và đauđớn) Khuynh hướng trầm cảm trước khi bị đột qụy trường tăng rõ rệt sau độtquỵ não, khiến cho ngay cả bệnh nhân chỉ bị tàn tật nhẹ cũng có thể trở nêntrầm cảm Vị trí đột quỵ não cũng có thể đóng góp vai trò, với trầm cảm đượcbáo cáo thường gặp hơn trong tổn thương vùng trán thuộc bán cầu không ưuthế Các bệnh nhân bị trầm cảm thường đáp ứng tốt với điều trị bằng thuốc,song lại một lần nữa ở đây, vấn đề tâm lý – xã hội này thường được đề cậpđến sau thời gian bị đột quỵ não cấp

Các vấn đề tâm lý – xã hội cấp bách hơn cần được xem xét trong vàingày đầu sau khởi phát đột quỵ não liên quan với cách xử trí đối với cách xửtrí đối với cả tình trạng lú lẫn/sảng hoặc suy giảm mức độ thức tỉnh

1.6.5 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân tai biến mạch máu não sau phục hổi chức năng

Tai biến mạch máu não hay đột quỵ não là nguyên nhân gây tàn phếnặng nề, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân, phục hồi chức năng(PHCN) đóng vai trò rất quan trọng trong cải thiện chất lượng cuộc sống bệnhnhân sau tai biến mạch máu não

Trang 30

Nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống bệnh nhân tai biến mạch máu nãosau phục hổi chức năng tại Bệnh viện Đa khoa Thanh Hóa năm 2014” đượcthực hiện bởi Đỗ văn Liêm, Trịnh Thị Tân, Lê Đức Hải, Lê Đăng Khôi,Nguyễn Văn Bình và Cầm Bá Thức

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu đánh giá chất lượng cuộc sốngbệnh nhân tai biến mạch máu não sau phục hồi chức năng tại bệnh viện đakhoa Thanh Hóa năm 2014 Nghiên cứu được tiến hành ở 112 bệnh nhân taibiến mạch máu não, liệt nửa người, có đầy đủ phim CT-Scaner và MRI, đãđiều trị ổn định tại các khoa Thần kinh, Tim mạch và Hồi sức với điểmGlassgow trên 9 điểm, loại trừ các trường hợp chấn thương Phương phápnghiên cứu: Tiến cứu can thiệp có đối chứng; đánh giá cải thiện chất lượngcuộc sống của bệnh nhân bằng thang điểm Rankin sau 14 ngày, 01 tháng (tạibệnh viện) và sau xuất viện 03 tháng Phương pháp can thiệp: Nhóm can thiệpđược sử dụng điện dẫn thuốc và siêu âm điều trị để tăng cường tuần hoàn dinhdưỡng cho vùng chi liệt, két hợp với tập phục hồi theo phương pháp Bobath;Nhóm chứng được áp dụng các biện pháp PHCN thường quy tại khoa PHCNbệnh viện đa khoa Thanh Hóa

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Nhóm can thiệp 57 bệnh nhân, có 07bệnh nhân không theo dõi được liên tục và bị loại khỏi nghiên cứu; nhómchứng 55 bệnh nhân, có 05 bệnh nhân không theo dõi được liên tục và bị loạikhỏi nghiên cứu Những bệnh nhân không theo dõi được liên tục do khôngđến khám lại theo hẹn, không khám được bệnh nhân ở cộng đồng do chuyểnchỗ ở Kết quả phân tích những bệnh nhân còn lại (nhóm can thiệp 50 bệnhnhân; nhóm chứng 50 bệnh nhân) như sau: Tuổi bệnh nhân tai biến mạch máunão trong nghiên cứu này: trên 50 (chiếm 86%); Tỷ lệ nhồi máu não chiếm63% và xuất huyết não là 37%; Sau 14 ngày PHCN tại viện, ở nhóm canthiệp, chất lượng cuộc sống mức độ tốt tăng từ 0 lên 10 bệnh nhân; khá tăng

Trang 31

từ 08 lên 22 bệnh nhân, so với nhóm chứng có ý nghĩa thống kê với p < 0,01;Sau 01 tháng PHCN tại viện, chất lượng cuộc sống mức độ tốt tăng 12 bệnhnhân và kém còn 06 bệnh nhân so với nhóm chứng tốt là 02 bệnh nhân vàkém là 18 bệnh nhân (p < 0,01); Sau 03 tháng xuất viện (bệnh nhân đượchướng dẫn tập PHCN tại nhà 02 tháng), chất lượng cuộc sống mức độ tốt tăng

19 bệnh nhân và kém còn 03 bệnh nhân so với nhóm Chứng tốt là 06 bệnhnhân và kém là 11 bệnh nhân (p < 0,01)

Từ tháng 11/2011 đến tháng 1/2012, Cao Phi Phong và Trần TrungThành thực hiện nghiên cứu “Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhânsau đột quỵ” Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá chất lượng sống củabệnh nhân ở tháng thứ 3 sau đột quỵ não theo thang đo tác động của đột quỵ(Stroke Impact Scale 2.0) và tìm mối liên hệ của các yếu tố ảnh hưởng đếnchất lượng sống của bệnh nhân sau đột quỵ Kết quả của nghiên cứu cho thấy

từ tháng 11/2011 đến tháng 1/2012, có 83 bệnh nhân bệnh nhân đột quỵ lầnđầu điều trị tại khoa thần kinh bệnh viện Nguyễn Tri Phương NMN là 64(77,1%), XHN 19 (22,9) bệnh nhân Độ tin cậy nội bộ của SIS đều vượt quátiêu chuẩn 0.70 Ở tháng thứ 3 sau đột quỵ, 76(91,6%) có điểm số BI đầy đủ,7(8,4%) bệnh nhân không độc lập (BI<15) 77(92,8%) có tình trạng nhận thứctốt; 6(7.2%) có khiếm khuyết nhận thức nhẹ Có sự cải thiện đáng kể điểm số

BI và MMSE 26(31,3%) bệnh nhân có điểm số GDRS bằng hoặc hơn 6.Bệnh nhân đột quỵ có sự cải thiện đáng ghi nhận ở tất cả các lĩnh vực của SISsau 3 tháng Điểm số trung bình SIS thấp hơn (Chất lượng sống – sức khỏe kémhơn CLS - SK) ở các nhóm khuyết tật nặng theo BI, khiếm khuyết thần kinhtheo NIHSS, và trầm cảm Qua nghiên cứu, tác giả đã kết luận rằng có sự cảithiện đáng ghi nhận về trạng thái chức năng và CLS-SK ở thời điểm tháng 3 sauđột quỵ Nhưng có sự gia tăng tỉ lệ trầm cảm CLS-SK bị ảnh hưởng bởi tuổi,mức độ khiếm khuyết theo NIHSS, BI CLS-SK thấp đáng kể ở bệnh nhân trầmcảm, không hoặc ít tập vận động, và không trở lại làm việc hiệu quả

Trang 32

1.7 Đặc điểm tâm lý của bệnh nhân TBMMN

- Nhận thức quá mức

Loại bệnh nhân này thường có kiểu thần kinh có quá trình hưng phấnnhiều hơn ức chế, dễ bị kích thích, quan trọng hóa tình trạng sức khỏe bệnhtật của mình, dễ nổi nóng, dễ bị kích động, dễ phản ứng trên lời nói, nét mặt,đòi hỏi phục vụ cao, đòi chuẩn đoán nhanh

Trong quá trình điều trị cũng như vậy, đòi hỏi bệnh phải được thuyêngiảm ngay, thường chủ quan, chỉ tin ở mình nhiều hơn, thường biểu hiện quámức, quá đáng trong cư xử nhận xét Nhạu cảm với cảm giác đau, cô đơn,buồn phiền, dễ mất hy vọng, dễ thay đổi ý kiến, chính kiến không kiên định,

dễ hoài nghi, hoang mang, dao động, tự tô đậm các triệu chứng, tô đậm tầm

Trang 33

nghiêm trọng của bệnh, sợ chết, sợ mất khả năng lao động để nuôi sống gia đình,

sợ dở giang công trình và tham vọng Do đó, rất dễ hoang mang nhưng rất tíchcực chữa bệnh, đòi hỏi bác sĩ giỏi, mong muốn hết bệnh, mong muốn nhanhchóng ra khỏi bệnh viện, thức hiện đầy đủ, tích cực các chỉ dẫn của bác sĩ

- Nhận thức yếu, nhược nhận thức

Loại bệnh nhân này, thường coi thường bệnh tật, đánh giá thấp tínhnguy kịch trầm trọng của bệnh lý, xem nhẹ các triệu chứng, tính tích cựcgiảm, ít quan tâm đến các khám nghiệm Họ không chú ý nghe lời khuyên củacác bá sĩ, lừa dối đối với sức khỏe của chính mình, họ ưu tư, mặc cảm, khépkính, tự giải quyết cho mình

- Nhận thức không ổn định, loạn nhận thức

Loại này có thể do coi thường bệnh tật, hoặc liều lĩnh hoặc sợ hãi tínhtrầm trọng của bệnh tật có thái độ phủ định bệnh tật, thường không thừa nhậnbệnh tật, đánh giá thấp bệnh, chủ quan, mặc kệ Nhưng có lúc lại bi quan,chết, sợ biến chứng Từ chỗ không tin mình bị bệnh đến không tin thầy thuốc,nhận xét chuẩn đoán, điều trị của họ

Bên cạnh đó, do hậu quả của cơn đột quỵ gây ra những tổn thương trênnão, nên nhận thức của bệnh nhân TBMM biến đổi như thế nào phụ thuộc vàobên não mà bệnh nhân bị tổn thương Trong cuốn Tâm lý học sức khỏe(Health Spychology) của tác giả Shelly E.Taylor có viết rằng:

Bệnh nhân với não trái bị tổn thương có thể gặp vấn đề trong rối loạngiao tiếp, ví dụ như không nói được, liên quan đến việc không hiểu ngườikhác và bày tỏ ý kiến của mình

Một vấn đề khác của rối loạn chức năng não trái bao gồm xáo trộn nhậnthức, giảm trí thông minh, khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ mới

Bệnh nhân tổn thương não phải có thể không thể xử lý hoặc sử dụngmột số loại thông tin phản hồi trực quan Một kết quả nữa là bệnh nhân bị liệt

Trang 34

một bên của cơ mặt Bệnh nhân có thể chỉ ăn thức ăn của bên phải của đĩa và

từ chối thức ăn bên phải Bệnh nhân có thể có vấn đề ở việc đọc giờ, quay sốđiện thoại… bệnh nhân thường có khó khăn trong việc tri giác khoảng cáchnên thường đâm vào vật cản hoặc tường

Do những tổn thương ở não phải nên những bệnh nhân này không thểhiểu những gì họ đọc hoặc chỉ có thể tri giác được phần cuối cùng của mỗi từ

mà thôi Nếu một người đứng phía bên não họ bị tổn thương (não phải) mànói chuyện thì họ chỉ nghe được âm thanh chứ không hiểu được người đó nói

gì cũng như không thấy được người nói

Những bệnh nhân bị TBMMN thường là những người cao tuổi (có độtuổi trung bình từ 45 tuổi trở lên) Kèm theo những tổn thương do TBMMNgây ra trên não, bản thân bệnh nhân trong độ tuổi này đã bắt đầu có dấu hiệusuy giảm về mặt nhận thức như sự giảm tốc trong quá trình nhận thức

Nguyên nhân làm giảm tốc quá trình nhận thức có 2 nguyên nhân: thứnhất là do bệnh gây ra những tổn thương trên não làm giảm lượng máu vàonão Thứ hai là do ứng xử Người cao tuổi thường gặp khó khăn trong việcthay đổi chiến lược để đáp ứng yêu cầu mới của vấn đề Đồng thời, người caotuổi còn ra quyết định chậm là do thói quen cẩn thận, cần thời gian cân nhắckỹ, không đưa ra quyết định sai lầm Trí nhớ trong giai đoạn này cũng bướcvào thời kỳ suy giảm Họ gặp khó khăn trong cả 2 giai đoạn mã hóa lẫn hồitưởng, thuộc trí nhớ thứ cấp [21]

1.7.2 Đời sống tình cảm

Bệnh nhân bị tổn thương não trái thường phản ứng lại những rối loạncủa họ như lo âu và trầm cảm Bệnh nhân tổn thương não phải thường thờ ơvới tình trạng của họ Những khác biệt trong cảm xúc bởi là vì tổn thươngnhững nơ-ron thần kinh khác nhau Bệnh nhân với tổn thương não phải

Trang 35

thường xuất hiện chứng mất hiểu biết (alexithymia), chứng bệnh mà có liênquan đến việc khó khăn trong việc nhận dạng và miêu tả cảm xúc.

Sự đột ngột mất đi tự chủ trong sinh hoạt hằng ngày có thể trở thànhnỗi ám ảnh đau buồn đối với họ trong thời gian dài Nhiều trường hợp đưađến tình trạng gánh nặng tài chính, khiến bệnh nhân có cảm giác tội lỗi vàkhông muốn tiếp tục tình trạng này nữa, đôi khi họ muốn được giải thoát Họmất đi những quan tâm trong cuộc sống, chán ăn, chán tập luyện Phát hiện vàđiề trị trầm cảm cho bệnh nhân TBMMN rất quan trọng Vì trầm cảm có thểlàm chậm hồi phục các di chứng và gia tăng các nguy cơ bệnh lý khác, dễ đưađến các cơn đột quỵ tái phát, làm tình trạng bệnh trở nên phức tạp hơn

Ngoài ra, bệnh nhân TBMMN còn có thể xảy ra các rối loạn cảm xúc.Người bệnh có thể cười hay khóc mà không có một lý do rõ ràng Đây thực sự

là khó khăn cho người thân trong gia đình hay người chăm sóc để hiểu được,cần một thời gian dài để làm quen, kiên nhẫn tìm hiểu ta mới hiểu được cáchlàm thế nào để an ủi họ cho phù hợp

1.7.3 Các vấn đề có liên quan đến tinh thần bệnh nhân TBMMN

Tổ chức Y tế Thế giới đã từng phát biểu rằng: “Không có sức khỏe nếukhông có sức khỏe tinh thần” đã giúp chúng ta khái quát được phần nào tầmquan trọng của sức khỏe tinh thần cũng như việc chăm sóc tinh thần đối vớisức khỏe

Theo một nghiên cứu của Đại học y khoa Brown thì hầu hết người Mỹtin rằng các bác sĩ nên xem xét nhu cầu tâm linh của họ như là một phần củachăm sóc y tế cho họ 73% tin rằng họ nên chia sẻ những niềm tin tôn giáocủa họ với bác sĩ của mình 66% muốn bác sĩ hỏi về niềm tin tôn giáo hay tâmlinh nếu bị bệnh nặng Từ 37 đến 40% tin rằng các bác sĩ nên hỏi về niềm tintôn giáo Nhưng chỉ có hơn 10 đến 20 % báo cáo rằng bác sĩ của họ thảo luận

về tôn giáo hay tâm linh với họ

Trang 36

Theo bài viết của “Trầm cảm và các dấu hiệu khác liên quan đến sứckhỏe tâm thần tăng nguy cơ tử vong sau đột quỵ thiếu máu cục bộ” của cáctác giả Linda S Williams, Sushmita Shoma Ghose, Ralph W Swindle, được

in trên tạp chí Tâm thần học Mỹ (The American Journal of Psychiatry) tháng

6, 2004 đã đưa ra trong số 51.119 bệnh nhân nhập viện sau một cơn đột quỵthiếu máu cục bộ và sống sót vượt quá 30 ngày sau đó, trong đó có 2.405(4,7%) nhận được chẩn đoán là trầm cảm (ICD-9) và 2257 (4,4%) được chuẩnđoán là có rối loạn thần hoặc lạm dụng khác trong vòng 3 năm sau đó So vớinhững người không có chuẩn đoán bệnh thì những người có chuẩn đoán trầmcảm hoặc các rối loạn tâm thần khác trẻ hơn và khả năng còn sống thấp hơnvào cuối thời gian theo dõi

Một số nghiên cứu trên đã chỉ ra rằng, việc chăm sóc tinh thần chobệnh nhân là một điều hết sức cần thiết Trong quá trình phục hồi chức năngcho27 bệnh nhân, nếu bệnh nhân có một sức khỏe tinh thần khỏe mạnh họ sẽ

có đầy đủ lý do, động lực để vượt qua những khó khăn trong việc hoàn thànhcác bài tập vật lý trị liệu, có khả năng để đối phó với những cảm xúc tiêu cựcnảy sinh trong quá trình điều trị Từ đó có thể đẩy nhanh quá trình hồi phụccho bệnh nhân, giúp bệnh nhân tận hưởng cuộc sống

1.7.4 Một số phương pháp chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN

Theo Shelly E.Taylor viết trong cuốn Tâm lý học sức khỏe tái bản lầnthứ 6, có 4 cách trong điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhân TBMMN:

Tâm lý trị liệu bao gồm các biện pháp chữa trị cho trầm cảm Huấnluyện hồi phục nhận thức để tái tạo trí nhớ

Huấn luyện trong phát triển kỹ năng đặc biệt

Sử dụng các cấu trúc, kích thích môi trường để thách thức khả năng củabệnh nhân tai biến

Trang 37

Do tính đặc trưng của bệnh nhân TBMMN, việc chăm sóc tinh thầnbệnh nhân có thể áp dụng các phương pháp sau:

Tổ chức các hoạt động giải trí, vui chơi tập thể như chơi bài, chơi lô tô,văn nghệ… Những hoạt động vui chơi này sẽ đem lại những hiệu quả bất ngờ

Trầm cảm, lo âu và rối loạn khác có thể để lại những cá nhân có tácbiệt trong xã hội Giải trí trị liệu có thể cung cấp cho bệnh nhân với một cơhội để cải thiện chất lượng cuộc sống thông qua một cảm giác gia tăng kiểmsoát, tương tác xã hội, hỗ trợ xã hội và những khả năng hoàn thành nhiệm vụđược định hướng Nó cũng có thể giúp đỡ những người dễ bị tổn thương pháttriển hoặc tái thiết lập các kỹ năng xã hội trong một môi trường có kiểm soát

Tạo càng nhiều tiếng cười càng tốt Quan điểm cho rằng sự hài hước vàtiếng cười là tốt cho sức khỏe không phải là mới Calman trong một nghiêncứu về cách kể chuyện hài hước và thảo luận trên quan điểm y học về cáchhài hước có giá trị trong việc tăng cảm giác hạnh phúc, cải thiện các chứcnăng sinh lý và tâm lý, và thậm chí thay đổi ngưỡng đau Tiếng cười có tiềmnăng để giảm bớt căng thẳng ở những bệnh nhân và các chuyên gia y tế Nó

có thể đem lại cơ hội để quên đi lo lắng và đau đớn trong một thời gian ngắn

Khi các bác sĩ chia sẻ một cách hài hước với các bệnh nhân, họ tạo ranhững đường thông tin liên lạc mà làm cho bệnh nhân an tâm và có thểkhuyến khích họ để thảo luận về các vấn đề khó khăn Tiếng cười có thể đặt

cả hai bên thoải mái trong một cách mà nhiều kiểu liên lạc chính thức thìkhông thể làm được

Tổ chức các hoạt động như sáng tác, kể chuyện và đọc thơ Mối quan

hệ giữa sáng tác và hạnh phúc tinh thần cho đến này được xem như là mộtmột phương thức đầy hứa hẹn cho sự hạnh phúc của bệnh nhân nói chung

Trong sức khỏe tinh thần, việc sử dụng văn bản như một phương tiện

để thể hiện những suy nghĩ và cảm xúc có thể có giá trị chữa bệnh Một

Trang 38

nghiên cứu của Deurzen Smith vào năm 1997 cho thấy một sự giảm đáng kể

về mức độ trầm cảm ở những bệnh nhân được hướng dẫn để chọn đọc vănhọc, tiểu thuyết hay thơ ca, so với nhóm không được đọc Thông qua thơ,truyền thuyết, văn học dân gian, huyền thoại, lịch sử, tiểu thuyết hoặc buổibiểu diễn, câu chuyện là một thành phần quan trọng của tất cả kinh nghiệmcủa con người

Calman mô tả việc sử dụng các câu chuyện như là một phương tiện chocác bác sĩ để thiết lập mối quan hệ tin cậy với các bệnh nhân và để học hỏi lẫnnhau những bài học có giá trị Cụ thể với lý do hài hước như một khía cạnhquan trọng của cách kể chuyện, Calman khẳng định rằng câu chuyện hỗ trợtrong việc phát triển kiến thức về cảm xúc, đặc biệt là liên quan đến việc chia

sẻ kinh nghiệm giữa các bác sĩ trong đào tạo

Cho bệnh nhân nghe nhạc Một nghiên cứu của trường đại học Helsinkicho thấy rằng những bệnh nhân đột quỵ được nghe nhạc trong vòng 1 tới 2giờ mỗi ngày hồi phục nhanh hơn (60%) so với bệnh nhân không nghe (29%)

Tổ chức các buổi vẽ tranh cho bệnh nhân Hội họa đã được chứng minh

là có tác động tích cực trên những bệnh nhân tham gia Nghiên cứu tại Bệnhviện Chelsea và Westminster đã chỉ ra rằng những bệnh nhân hóa trị liệu,người đã có thể xem luân phiên triển lãm nghệ thuật trong thời gian phục hồiđược báo cáo giảm giá của sự lo âu và trầm cảm Tại Bệnh viện Conquest ởĐông Sussex buổi vẽ tranh hàng tuần cho bệnh nhân đột quỵ, tập trung vàoviệc cầm vật liệu và các công cụ, sử dụng cả hai tay, kỹ năng vận động tinhluyện và tập luyện phối hợp tay và mắt tốt, giúp giảm bớt những ảnh hưởng

về tinh thần và thể chất của đột quỵ Hội họa cũng đã được chứng minh làgiúp bệnh nhân giảm đau Trong một nghiên cứu của Mỹ, người được lấymáu trong phòng có những bức tranh nghệ thuật có cảm giác về nỗi và căngthẳng giảm so với người được lấy máu trong một căn phòng không có gì Cho

Trang 39

bệnh nhân xem các bộ phim truyền Phim truyền hình hầu như tích hợp hầuhết tất cả các nghệ thuật: bao gồm ca hát, nhảy múa, hội họa, điêu khắc, kểchuyện, âm nhạc, múa rối, thơ ca và nghệ thuật diễn xuất Một đánh giá về vaitrò của kịch cho những người thiếu khả năng giao tiếp nhận thức và kỹ năng

xã hội cho thấy hiệu quả tích cực trong việc giảm những khuyết tật này.Những bộ phim đáp ứng các nhu cầu tâm lý sâu sắc của những người bị sa súttrí tuệ để thể hiện và hiểu thế giới của riêng mình

Cho bệnh nhân ca hát Một nghiên cứu của Clair và các cộng sự thấyrằng ca hát có thể là một phương tiện hiệu quả của việc tập trung khơi gợiphản ứng ở những bệnh nhân ở giai đoạn cuối của bệnh mất trí nhớ, ngay cảtrong không đáp ứng với các loại kích thích khác trong cuộc sống hàng ngàycủa họ Nghiên cứu này nhấn mạnh tiềm năng ca hát để được sử dụng bởi tất

cả các loại của người chăm sóc: “Tiếng hát thành công khơi gợi các phản ứngngay khi hát mà không có nhạc đệm, và do đó có thể ảnh hưởng đế tất cảnhững người muốn hát, bất kể việc hát hay hay dở” Ca hát làm tăng giao tiếpbằng lời nói, kích thích sự hợp tác của bệnh nhân trong công việc thườngngày, cải thiện tâm trạng của họ và làm giảm kích động

1.8 Một số nghiên cứu liên quan

1.8.1 Nghiên cứu về dịch tễ học lâm sàng của bệnh đột quỵ não

Trang 40

Năm 1757, Hunter lần đầu tiên mô tả phình động mạch não, phìnhđộng-tĩnh mạch não và mãi đến năm 1875 Steinheit mới chuẩn đoán chínhxác được trường hợp đầu tiên.

Đặc biệt từ đầu năm 1971 Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã thành lậpnhiều trung tâm nghiên cứu về vấn đề này trên 12 nước khác nhau, trong đó

có 8 trung tâm ở Châu Á

Năm 1975 với các phương pháp chẩn đoán mới như chụp cắt lớp vitính, kỹ thuật cộng hưởng từ…cùng các tiến bộ trong hồi sức cấp cứu, phẫuthuật thần kinh và việc đẩy mạnh các biện pháp dự phòng đã mang lại nhữngkết quả to lớn trong chuẩn đoán và điều trị đột quỵ não

Đến năm 1984 có tới 15 nước tham gia nghiên cứu dịch tễ học tai biếnmạch máu não theo các tiêu chuẩn và sự hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới,các công trình kéo dài trong 10 năm

Năm 1995 ở Châu Á đã thành lập “Ban tư vấn về tai biến mạch máunão cấp tính”, nhằm thúc đẩy các nước thành viên trao đổi thông tin, nghiêncứu khoa học và bổ túc nâng cao kiến thức về vấn đề bệnh lý đột quỵ não.Các thành viên bao gồm: Ấn Độ, Đài Loan, Hàn Quốc, Inđônêxia, Malaixia,Philippin, Thái Lan, Trung Quốc, Singapo, Việt Nam

Hiện nay, đột quỵ não là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ basau bệnh tim mạch, ung thư; và là nguyên nhân thường gặp nhất gây tàn phếtại các nước phát triển

Tỷ lệ mắc bệnh có sự khác biệt giữa các nước và khu vực trên trế giới.Hàng năm, ở châu Âu có khoảng 1 triệu bệnh nhân vào viện điều trị đột quỵnão Ở Hoa Kỳ tỷ lệ thường gặp ĐQN là 794/100.000 dân, 5% dân số trên 65tuổi bị ĐQN và hàng năm có trên 400.000 bệnh nhân được ra viên sau điều trịĐQN

Ngày đăng: 01/10/2019, 21:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w