Các hoạt động về hỗ trợ tâm lý xã hội có chiều sâu còn rất hạnchế, chưa đáp ứng được nhu cầu của người bệnh và người nhà người bệnh [3].Các nghiên cứu về CTXH hiện nay tại Việt Nam còn r
Trang 1NGUYỄN NGỌC TOÀN
NHU CÇU Vµ KH¶ N¡NG CUNG CÊP
DÞCH Vô C¤NG T¸C X· HéI §èI VíI NG¦êI BÖNH T¹I BÖNH VIÖN H÷U NGHÞ VIÖT §øC N¡M 2019
Chuyên ngành : Quản lý bệnh viện
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Người hướng dẫn khoa học:
GS TS LƯU NGỌC HOẠT
2 TS L
E VIỆT KHANH
HÀ NỘI – 2019 LỜI CẢM ƠN
Trang 2Đào tạo Sau đại học và các Bộ môn, Phòng, Ban của Nhà trường, các Thầy, các Cô đã tạo môi trường và mọi điều kiện thuận lợi nhất để chúng tôi được học tập và rèn luyện trong quá trình học tập tại Trường.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy trong Hội đồng chấm luận văn:
Các Thầy đã giúp tôi nhận thấy được những khiếm khuyết, tồn tại của luận văn để tôi chỉnh sửa luận văn được hoàn thiện.
Cho tôi bày tỏ lòng biết ơn với Thầy hướng dẫn:
GS.TS Lưu Ngọc Hoạt
Thầy đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn đến:
kiện giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình học tập và làm luận văn.
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến và người thân trong gia đình đã luôn động viên, chia sẻ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập.
Hà Nội, ngày 25 tháng 06 năm 2019
Học viên
Nguyễn Ngọc Toàn
Trang 3Tôi là Nguyễn Ngọc Toàn, học viên cao học khóa 26 Trường Đại học Y
Hà Nội, chuyên ngành Quản lý bệnh viện, xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thầy GS.TS Lưu Ngọc Hoạt.
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam.
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này.
Hà Nội, ngày 25 tháng 06 năm 2019
Học viên
Nguyễn Ngọc Toàn
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 3
1.1.1 Khái niệm về nhu cầu 3
1.1.2 Khái niệm dịch vụ công tác xã hội 3
1.1.3 Khái niệm nhu cầu cung cấp dịch vụ công tác xã hội 3
1.1.4 Khái niệm khả năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho người bệnh 5
1.2 Lịch sử phát triển công tác xã hội trong bệnh viện ở trong và ngoài nước 5
1.2.1 Lịch sử phát triển công tác xã hội trong bệnh viện trên thế giới 5
1.2.2 Lịch sử phát triển công tác xã hội tại Việt Nam 6
1.3 Tình hình nghiên cứu 9
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 9
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 12
1.4 Khung lý thuyết 17
1.5 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu 18
1.5.1 Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức 18
1.5.2 Phòng Công tác xã hội, Bệnh việnHữu Nghị Việt Đức 18
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng 21
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính 21
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.3 Thiết kế nghiên cứu 21
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 22
2.4.1 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định lượng 22
2.4.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định tính 23
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu định lượng 23
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu định tính 24
2.6 Biến số nghiên cứu 24
2.6.1 Nhóm biến số nghiên cứu định lượng 24
Trang 62.7.2 Các thông tin định tính 26
2.8 Đạo đức nghiên cứu 26
2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 27
2.9.1 Hạn chế của nghiên cứu 27
2.9.2 Sai số và Biện pháp khắc phục của nghiên cứu 27
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Thông tin về người bệnh 28
3.2 Nhu cầu cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người bệnh 32
3.2.1 Nhu cầu dich vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin chung về khám chữa bệnh 34
3.2.2 Nhu cầu cung cấp dịch vụ tư vấn thông tin điều trị bệnh 37
3.2.3 Nhu cầu cung cấp thông tin, kiến thức truyền thông giáo dục sức khỏe 40
3.2.4 Nhu cầu hỗ trợ tâm lý – xã hội 41
3.2.5 Nhu cầu hỗ trợ kết nối các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện 43
3.3 Khả năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với bệnh nhân tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức 45
3.3.1 Khả năng đáp ứng về hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về CTXH 45
3.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu hỗ trợ về công tác xã hội của người bệnh 48
3.3.3 Một số đề xuất nâng cao khả năng đáp ứng dịch vụ công tác xã hội bệnh viện .54 Chương 4: BÀN LUẬN 56
4.1 Thông tin về người bệnh 56
4.2 Mô tả nhu cầu của người bệnh về dịch vụ công tác xã hội tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2018 58
4.3 Mô tả khả năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người bệnh tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2018 63
KẾT LUẬN 68
KHUYẾN NGHỊ 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 3.2 Đặc điểm kinh tế hộ gia đình 30
Bảng 3.3 Thực trạng sử dụng bảo hiểm y tế của người bệnh 31
Bảng 3.4 Đặc điểm trạng thái tâm lý của các người bệnh 31
Bảng 3.5 Điểm trung bình nhu cầu của người bệnh theonhóm yếu tố 32
Bảng 3.6 Nhu cầu cung cấp dịch vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin chung về khám chữa bệnh theo khu vực 36
Bảng 3.7 Nhu cầu cung cấp dịch vụ tư vấn thông tin điều trị bệnh theo khu vực 39
Bảng 3.8 Nhu cầu cung cấp thông tin, kiến thức truyền thông giáo dục sức khỏe theo khu vực 41
Bảng 3.9 Nhu cầu hỗ trợ tâm lý xã hội theo khu vực 42 Bảng 3.10 Nhu cầu hỗ trợ kết nối các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện theo khu vực .44
Trang 8Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu được hỗ trợ nhóm yếu tốcung cấp dịch vụ
chỉ dẫn, tư vấn thông tin về khám chữa bệnh theo khu vực 34Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu cung cấp dịch vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin
chung về khám chữa bệnh 35Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu được hỗ trợ nhóm yếu tốcung cấp dịch vụ
tư vấn thông tin điều trị bệnh theo khu vực 37Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu cung cấp dịch vụ tư vấn thông tin liên
quan phòng ngữa và điều trị bệnh 38Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu cung cấp dịch vụ tư vấn thông tin điều
trị bệnh 38Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu được hỗ trợ nhóm yếu tố cung cấp thông
tin, kiến thức truyền thông giáo dục sức khỏe theo khu vực 40Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu cung cấp thông tin, kiến thức truyền
thông giáo dục sức khỏe 40Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu chung được hỗ trợ nhóm yếu tố tâm lý xã
hội theo khu vực 41Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu hỗ trợ tâm lý xã hội 42Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu được hỗ trợ nhóm yếu tố kết nối các
nguồn lực và hỗ trợ từ thiện theo khu vực 43Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu hỗ trợ kết nối các nguồn lực và hỗ trợ
từ thiện 44
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Công tác xã hội (CTXH) là một nghề với sứ mạng giúp đỡ, hỗ trợ, chămsóc những người không may mắn, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong cộngđồng nhằm giúp họ hoà nhập và có cuộc sống tốt hơn Trong lĩnh vực chăm sócsức khỏe, công tác xã hội trong các cơ sở y tếnói chung và trong bệnh viện nóiriêng là những cách gọi thường được dùng để chỉ công việc của nhân viên xã hội(NVXH) trong bệnh viện Các NVXH này không trực tiếp tham gia chăm sóc sứckhoẻ cho người bệnh (NB) như các bác sỹ, điều dưỡng nhưng họ đóng một vai tròquan trọng trong việc tạo nên sức khỏe cho mỗi người, đặc biệt là những ngườikém may mắn trong cuộc sống Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe bao gồm: 1)hoàn cảnh và điều kiện sống (mức sống, vệ sinh, môi trường…); 2) trình độ họcvấn và văn hóa; 3) bùng nổ dân số - gia tăng nhu cầu chăm sóc sức khỏe; 4) trình
độ phát triển khoa học, kỹ thuật,… Các giải pháp nhằm tăng cường chăm sóc sứckhỏe gồm có: 1) nâng cao nhận thức của người dân về chăm sóc sức khỏe; 2)khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào những hoạt động chăm sóc sứckhỏe; 3) phổ cập các kỹ thuật thích hợp, thích ứng với khả năng tiếp cận cho tất cảmọi người Cả ba giải pháp trên đều cần có sự ứng dụng của CTXH CTXH có vaitrò đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng mối quan hệ hài hòa giữa tinh thần vàthể chất củaNB, giữa NB với người thân, giữa NB với những người xung quanh,giữa NB với cớ sở y tế… Từ lẽ đó trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, bệnh viện lànơi cần có sự xuất hiện của CTXH nhất [1]
Ở Việt Nam, CTXH trong bệnh viện là một lĩnh vực hoàn toàn mới và bắtđầu được thực hiện bài bản sau khi Quyết định số 2514/QĐ-BYT ngày 15/7/2011của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt Đề án “Phát triển nghề công tác xã hội trong
ngành Y tế giai đoạn 2011-2020” với mục tiêu: “ Phát triển công tác xã hội trở
thành một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống
cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống
an sinh xã hội tiên tiến” [2].
Hiện nay, một số bệnh viện trong nước đã thành lập các phòng/tổ Côngtác xã hội trong bệnh viện, tuy nhiên các hoạt động CTXH chủ yếu là từ thiện,
Trang 10kết nối nguồn lực Các hoạt động về hỗ trợ tâm lý xã hội có chiều sâu còn rất hạnchế, chưa đáp ứng được nhu cầu của người bệnh và người nhà người bệnh [3].Các nghiên cứu về CTXH hiện nay tại Việt Nam còn rất hạn chế, năm 2017 cónghiên cứu của Tiến sĩ Phạm Tiến Nam về “Nhu cầu và khả năng cung cấp dịch
vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện K năm 2017” Nghiêncứu này thực hiện trên NB được chẩn đoán là ung thư, một trong những đốitượng có gánh nặng bệnh tật, chăm sóc, chi phí điều trị lớn Kết quả nghiên cứucho thấy, NB ung thư có 5 nhu cầu về dịch vụ CTXH như sau: nhu cầu về dịch
vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin chung về khám chữa bệnh; nhu cầu về dịch vụ tưvấn thông tin điều trị bệnh; nhu cầu truyền thông, nâng cao nhận thức, các nộidung về phòng, chống điều trị ung thư; nhu cầu hỗ trợ tâm lý – xã hội; nhu cầukết nối các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện Thực trạng bệnh viện đáp ứng được cả 4nhu cầu trên nhưng theo bệnh nhân đánh giá chưa cao [4]
Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức là bệnh viện hạng đặc biệt, chuyên về ngoạikhoa tuyến trung ương, nơi tiếp nhận các trường hợp chấn thương nặng, đa chấnthương chủ yếu là do tai nạn Người bệnh và người nhà người bệnh thường đếnviện với tâm lí lo sợ, hoang mang, hoảng hốt, thậm chí mất phương hướng.Từ đónảy sinh nhu cầu muốn được chỉ dẫn, cung cấp thông tin, hỗ trợ các vấn đề liênquan khi vào viện
Phòng Công tác xã hội, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức được thành lập ngày16/4/2015 là cầu nối giữa thầy thuốc, người bệnh và người nhà người bệnh cóchức năng cung cấp các dịch vụ về công tác xã hội Quản lý tất cả các hoạt động
về CTXH tại bệnh viện Hiện nay các hoạt động cung cấp DV CTXH tại bệnhviện bước đầu tạo thuận lợi cho NB được tiếp cận các DV CTXH nhằm giải quyếtcác vấn đề gặp phải trong quá trình khám và điều trị tại bệnh viện Tuy nhiên domới được thành lập, thiếu hụt nhân sự, nguồn lực cần thiết và căn cứ thực tiễn đểtriển khai tốt các DV hỗ trợ tâm lý – xã hội, DV truyền thông nâng cao nhận thức
và kết nối nguồn lực Với nỗ lực muốn nâng cao chất lượng CTXH tại bệnh viện,chúng tôi đặt ra những câu hỏi nghiên cứu sau:Nhu cầu người bệnh về dịch vụCTXH như thế nào? Khả năng đáp ứng DV CTXH của bệnh viện đối với người
bệnh hiện nay ra sao? Chính vì vậy,chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người bệnh tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2019”.
Trang 11MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả nhu cầu của người bệnh về dịch vụ công tác xã hội tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2019.
2 Mô tả khả năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người bệnhtại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2019.
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm về nhu cầu
Có nhiều khái niệm khác nhau về nhu cầu Từ điển Tâm lý học (2002) chorằng “Nhu cầu được hiểu là những đòi hỏi tất yếu, để cá nhân tồn tại và phát triểntrong những điều kiện nhất định” [5] Dưới góc độ tâm lý học xã hội, tác giả TrầnHiệp cho rằng: “Nhu cầu là một trong những nguồn gốc nội tại nảy sinh ra tínhtích cực của con người Đó là trạng thái tâm lý xuất hiện khi cá nhân mình cầnphải có những điều kiện nhất định để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mình.Trạng thái tâm lý đó kích thích con người hoạt động nhằm đạt được những gìmình mong muốn” [6]
1.1.2 Khái niệm dịch vụ công tác xã hội
Theo Từ điển Tiếng Việt (2004): “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếpcho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công” Đề tài
sử dụng khái niệm dịch vụ theo từ điển Tiếng Việt này [7]
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2013): “Dịch vụ công tác xã hội có thểđược coi là một loại hình dịch vụ xã hội được cung cấp, điều phối bởi các nhânviên công tác xã hội Việc cung cấp các dịch vụ công tác xã hội không thể táchrời với các dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục, dịch vụ truyền thông và các dịch vụkhác Chính vì vậy, nhân viên công tác xã hội phải có sự nối kết chặt chẽ vớicác dịch vụ xã hội khác trong quá trình thực hiện dịch vụ công tác xã hội” [8]
Trang 121.1.3 Khái niệm nhu cầu cung cấp dịch vụ công tác xã hội
Trước hết, để hiểu rõ hơn về các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống, chúngtôi đưa ra các quan điểm của các nhà khoa học về nhu cầu tối thiểu trong cuộcsống
Theo quan điểm A.Maslow chia nhu cầu thành 5 loại [9]:
– Nhu cầu vật chất (sinh lý): thức ăn, không khí, nước uống…
– Nhu cầu an toàn (bảo vệ): nhà ở, việc làm, sức khoẻ…
– Nhu cầu giao tiếp xã hội: Tình thương yêu, được hoà nhập
– Nhu cầu được tôn trọng: Được chấp nhận có một vị trí trong một nhómngười…
– Nhu cầu tự khẳng định mình: Nhu cầu hoàn thiện, được thể hiện khảnăng và tiềm lực của mình [9]
Và DV xã hội được Liên hợp quốc định nghĩa như sau: DV xã hội cơ bản
là các hoạt động DV cung cấp những nhu cầu cho các đối tượng nhằm đáp ứngnhững nhu cầu tối thiểu của cuộc sống (UN – Africa Spending Less on BasicSocial Services) [10]
Như vậy:
DV xã hội cơ bản là hệ thống cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng nhữngnhu cầu cơ bản của con người và được xã hội thừa nhận [10]
Dịch vụ xã hội cơ bản được chia thành 4 loại chính:
– Dịch vụ đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ bản: Việc ăn uống, vệ
sinh, chăm sóc, nhà ở… mọi đối tượng yếu thế là trẻ em, người tàn tật mất khảnăng lao động đều phải được đáp ứng nhu cầu này để phát triển về thể lực [10]
– Dịch vụ y tế: Bao gồm các hình thức khám chữa bệnh, điều dưỡng
phục hồi chức năng về thể chất cũng như tinh thần cho các đối tượng [10]
– Dịch vụ giáo dục: Trường học, các lớp tập huấn, đào tạo kỹ năng
sống, các hình thức giáo dục hoà nhập, hội nhập và chuyên biệt… [10]
– Dịch vụ về giải trí, tham gia và thông tin: Đây là loại hình dịch vụ xã
hội rất quan trọng đối với các đối tượng thuộc nhóm đối tượng công tác xã hội,hoạt động giải trí như văn nghệ, thể thao,… nâng cao sự tự tin, đẩy mạnh hoà
Trang 13nhập tốt hơn với cộng đồng, nâng cao sự hiểu biết, kiến thức cho đối tượng…[10]
Trong nghiên cứu này, nhu cầu cung cấp DV CTXH của người bệnhđược căn cứ theo thông tư hướng dẫn của Bộ y tế về nhiệm vụ CTXH trongbệnh viện, và bổ sung dựa trên thực tiễn hoạt động nghề CTXH trong bệnhviện tại Việt Nam và trên thế giới, được chi tiết hóa ở 4 nhóm nhu cầu (chi tiếttrong phụ lục 1) mà người bệnh cần: (1) Nhu cầu cung cấp thông tin, tư vấnkhám, chữa bệnh gồm 2 nội dung: (a) DV chỉ dẫn, tư vấnthông tin chung vềkhám chữa bệnh, (b) DV tư vấn thông tin điều trị bệnh; (2) Nhu cầu cung cấp
DV truyền thôngvà nâng cao nhận thức; (3) Nhu cầu cung cấp DV hỗ trợ tâm
lý – xã hội; (4) Nhu cầu cung cấp DV kết nối nguồn lực và hỗ trợ từ thiện [11]
1.1.4 Khái niệm khả năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho người bệnh
Khả năng cung cấp DV CTXH cho NB là khả năng có thể tổ chức thựchiện các hoạt động cung cấp DV CTXH giúp NB đáp ứng nhu cầu thông tinkhám - chữa bệnh, hỗ trợ tâm lý – xã hội, nâng cao kiến thức, vận động nguồnlực và hỗ trợ từ thiện nhằm giảm bớt gánh nặng bệnh tật; xây dựng mối quan
hệ hài hoà giữa thể chất và tinh thần người bệnh, mối quan hệ giữa người bệnhvới người thân, giữa NB với người những người xung quanh và với cơ sở y tế.Dựa trên các điều kiện vềcung ứng dịch vụ, nhân lực, hệ thống thông tin y tế,trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, tài chính, quản lý/điều hành
1.2 Lịch sử phát triển công tác xã hội trong bệnh viện ở trong và ngoài nước
1.2.1 Lịch sử phát triển công tác xã hội trong bệnh viện trên thế giới
CTXH trong bệnh viện có một lịch sự phát triển lâu đời trên thế giới, từcuối thế kỷ 19, từ những năm 1880 ở Anh [12] khi có một nhóm tình nguyệnviên làm việc tại một nhà thương điên của Anh đã có những cuộc thăm viếngthân thiện nhằm tìm hiểu và giúp đỡ người bệnh sau khi xuất viện trở lại trạngthái cân bằng trong điều kiện nhà ở hiện tại của họ Sau đó, CTXH trong bệnhviện được hình thành ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20, năm 1990 khi những người y táđến thăm người bệnh sau khi xuất viện và họ đã thấy được tầm quan trọng củaviệc hiểu các vấn đề xã hội của người bệnh [12] Theo kết quả một cuộc khảo sát
Trang 14quốc gia về chứng chỉ hành nghề của NVXH tại Mỹ thì bệnh viện là môi trườnglàm việc thông dụng nhất của người làm nghề CTXH [1] Nghiên cứu cũng chothấy các bệnh viện trên thế giới hiện nay đều phải giải quyết những vấn đề nghiêmtrọng của người bệnh, khối lượng công việc của bệnh viện gia tăng, những côngviệc liên quan đến những thủ tục giấy tờ, danh sách người bệnh chờ đợi được cungcấp dịch vụ ngày càng tăng [1].
Năm 1877, “tổ chức từ thiện xã hội” được thành lập ở Mỹ đã chú ý tớiviệc các tình nguyện viên.Cũng từ đó “các tình nguyện viên” của những năm1880-1890 đã trở thành những nhân viên công tác xã hội
Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, CTXH có một vai trò quan trọngtrong việc tạo nên sức khỏe cho mỗi người Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏebao gồm: hoàn cảnh và điều kiện sống (mức sống, vệ sinh, môi trường,…);trình độ học vấn và văn hóa; bùng nổ dân số - gia tăng nhu cầu chăm sóc sứckhỏe; trình độ phát triển khoa học, kỹ thuật,… Các giải pháp nhằm tăng cườngchăm sóc sức khỏe gồm có:nâng cao nhận thức của người dân về chăm sóc sứckhỏe; khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào những hoạt động chăm sócsức khỏe; phổ cậpcác kỹ thuật thích hợp, thích ứng với khả năng tiếp cận chotất cả mọi người.CTXH có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng mốiquan hệ hài hòa giữa tinh thần và thể chất của người bệnh, giữa người bệnh vớingười thân, giữa người bệnh với những người xung quanh, giữa người bệnh với
cớ sở y tế… Ở Mỹ, CTXH lần đầu tiên được đưa vào bệnh viện năm 1905 tạiBoston và đến nay hầu hết các bệnh viện đều có phòng công tác xã hội và đây
là một trong những điều kiện để các bệnh viện được công nhận là hội viên củaHội các bệnh viện Mỹ [1]
Tại Châu Á, hoạt động xã hội được công nhận đầu tiên là hoạt đông xãhội về y tế tại khoa CTXH bệnh viện tại Bắc Kinh, Trung quốc, thành lập năm
1921 bởi một nhânviên làm CTXH Hoa Kỳ: Ida Pruitt Bộ phận này cung cấpcác DV nghiên cứu xã hội, công tác thích ứng, tái định cư; bên cạnh đó, đào tạo
Trang 15DV được tổ chức cho các NVXH có thể đây là công việc đào tạo đầu tiên tạiTrung Quốc.
1.2.2 Lịch sử phát triển công tác xã hội tại Việt Nam
Ở Việt Nam, một số bệnh viện đặc biệt là các tỉnh phía Nam có duy trìhoạt động xã hội mang tính từ thiện để trợ giúp NB hoặc tổ chức tự nguyệntham gia Các hoạt động này còn thiếu tính chuyên nghiệp, mang nặng tính banphát, chỉ giúpNB giải quyết được một số nhu cầu cần thiết như bếp ăn từ thiện,gây quỹ từ thiện… Trong khi đó hầu hết tại các bệnh viện của cả nước, nhất làcác bệnh viện tuyến trên thường xuyên ở trong tình trạng quá tải Nhân viên y
tế không có đủ thời gian và khả năng để giải quyết nhiều nhu cầu bức xúc của
NB như: khai thác thông tin về đặc điểm nhân khẩu xã hội của người bệnh,cung cấp thông tin về giá cả, chất lượng, địa điểm của các loại dịch vụ, tư vấn
về phác đồ điều trị, tư vấn cách phòng ngừa, trần an tinh thần cho ngườibệnh… Do vậy, hiện đang có nhiều vấn đề nảy sinh tại bệnh viện như: “còbệnh viện”, sự hiểu biết thiếu hụt thông tin khi tiếp cận và sử dụng DV khámchữa bệnh, sự không hài lòng của NB đối với các cơ sở y tế, sự căng thẳngtrong mối quan hệ giữa NB và thầy thuốc ,… [13] Có nhiều lý do khiến chongười nhà của NB cảm thấy bức xúc vì người thân của họ có thể không đượcchữa trị kịp thời, có thể bị chết mà không rõ lý do Việc giải quyết những vấn
đề thiếu hụt thông tin khám chữa bệnh, sự không hài lòng, bức xúc này là vấn
đề mà không phải ai trong bệnh viện cũng có thể làm được và do đó rất cầnngười có chuyên môn và trình độ nhất định, người có thể làm những DV hỗ trợ,tham vấn người bệnh, người nhà người bệnh và cả nhân viên trong bệnh viện[14]
Chăm sóc sức khỏe nhân dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng,
là ưu tiên hàng đầu trong mọi hoạt động được Đảng và Nhà nước ta hết sứcquan tâm Để thực hiện được mục tiêu: “Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật và tử vong,nâng cao sức khỏe, tăng tuổi thọ, cải thiện chất lượng giống nòi, góp phần nângcao chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực, hình thành hệ thống
Trang 16chăm sóc sức khỏe đồng bộ từ trung ương đến cơ sở, và thói quen giữ gìn sứckhỏe của nhân dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc”, trong các kỳ đại hội và trong Nghị quyết số 46-NQ/TWcủa Bộ Chính trị ngày 23/5/2005 về công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe
nhân dân trong tình hình mới, Đảng đã nhấn mạnh: “Nhà nước cần quy hoạch
tổng thể phát triển ngành Y tế Việt Nam đến năm 2020, định hướng cho lộ trình phát triển ngành Y tế Việt Nam” [15].
Quan điểm này của Đảng về công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhândân được quán triệt cụ thể trong Quyết định số 122/QĐ-TTg ngày 10/01/2013
về Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai
đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn 2030, đã khẳng định: “Sức khỏe là vốn quý của
mỗi con người và của toàn xã hội, đầu tư cho việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng là đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội” [16].
Nghề CTXH ở Việt Nam có thểcoi chính thức được công nhận từ năm
2010 sau khi Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTgngày 25/3/2010 Công tác xã hội trong ngành y tế cũng đã được hình thànhngay sau đó khi mà Bộ Y tế ban hành Đề án “Phát triển nghề công tác xã hộitrong ngành Y tế giai đoạn 2011-2020” Trong những năm gần đây, tại một sốbệnh viện tuyến Trung Ương cũng đã triển khai hoạt động CTXH với sự thamgia của đội ngũ nhân viên y tế kiêm nghiệm và tình nguyện viên hỗ trợ thầythuốc trong phân loại người bệnh, tư vấn, giới thiệu dịch vụ chuyển tiếp, hỗ trợchăm sóc người bênh… góp phần làm giảm bớt khó khăn trong bệnh viện và tạicộng đồng cũng đã được hình thành trong thực tiễn như phòng CTXH, phòngchăm sóc khách hàng, tổ Từ thiện xã hội,… thuộc bệnh viện hay nhóm công tác
xã hội tham gia hỗ trợ người có HIV/AIDS, người bệnh tâm thần, giúp phụchồi chức năng tại xã/phường,…
Tiếp đến, ngày 19/8/2015, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội và Bộ
Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 30/2015/TTLT-BLĐTBXH-BNV quy
định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành
Trang 17CTXH Thông tư liên tịch này quy định về mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề
nghiệp và bổ nhiệm, xếp lương đối với viên chức chuyên ngành CTXH Thông
tư áp dụng đối với viên chức chuyên ngành CTXH làm việc trong các loại hìnhđơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực an sinh xã hội Mã
số và phân hạng cụ thể: CTXH viên chính (hạng II – mã số: V.09.04.01);CTXH viên (hạng III – mã số: 09.04.02) và nhân viên CTXH (hạng IV – mãsố: V.09.04.03) [17]
Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc phát triển nghề CTXH trong
y tế, ngày 26/11/2015, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 43/2015/TT-BYT quy
định về nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ CTXH của bệnh viện.Thông tư quy định 7 nhiệm vụ cụ thể: (1) Hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn
đề về CTXH cho người bệnh và người nhà người bệnh trong quá trình khámbệnh, chữa bệnh (2) Thông tin, truyền thông và phổ biến giáo dục pháp luật.(3) Vận động tiếp nhận tài trợ về kinh phí, vật chất để hỗ trợ người bệnh cóhoàn cảnh khó khăn (4) Hỗ trợ nhân viên y tế như cung cấp thông tin về ngườibệnh cho nhân viên y tế trong trường hợp cần thiết để hỗ trợ công tác điều trị;động viên chia sẻ với nhân viên y tế khi có vướng mắc với người bệnh trongquá trình điều trị (5) Đào tạo, bồi dưỡng nghề CTXH cho học sinh, sinh viêncác cơ sở đào tạo nghề CTXH; bồi dưỡng, tập huấn kiến thức CTXH cho nhânviên y tế và nhân viên bệnh viện; phối hợp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cơ bản
về y tế cho người làm việc về CTXH (6) Tổ chức đội ngũ cộng tác viên làmCTXH của bệnh viện (7) Tổ chức các hoạt động từ thiện, CTXH của bệnh việntại cộng đồng (nếu có) [11]
Tuy nhiên, hoạt động CTXH trong ngành hiện mới chỉ mang tính tựphát, chưa được điều chỉnh nhiều bới các văn bản mang tính pháp lý Đội ngũcán bộ tham gia hoạt động chủ yếu mới chỉ có nhiệt huyết và kinh nghiệm,chưa được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng nên thường thiếu tínhchuyên nghiệp, hiệu quả hoạt động chưa được như mong đợi
Trang 18Hiện nay, ở cả 3 cấp độ hoạt động của ngành y tế đều chưa có sự thamgia của CTXH Trước hết, tại các bệnh viện ở tất cả các tuyến của khu vựccông lập cũng như ngoài công lập, hoạt động khám chữa bệnh mới chỉ đượcthực hiện bởi các nhân viên có trình độ chuyên môn về y, dược Các biện pháptrị liệu về xã hội chưa được quan tâm Do vậy, chưa có văn bản quy định vềchức danh chuyên môn về công tác xã hội trong tổ chức bộ máy của bệnh viện.Hiện một số bệnh viện, đặc biệt là các tỉnh phía Nam có duy trì hoạt động xãhội mang tính từ thiện để trợ giúp người bệnh song vẫn chỉ là những việc làm
tự phát do một số cá nhân hoặc tổ chức tự nguyện tham gia Các hoạt động nàycòn thiếu tính chuyên nghiệp, mang nặng tính ban phát, chỉ giúp người bệnhgiải quyết một số nhu cầu bức thiết như bếp ăn từ thiện, gây quỹ từ thiện…
1.3 Tình hình nghiên cứu
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.3.1.1 Nhu cầu của người bệnh về dịch vụ CTXH
Một nghiên cứu khác đề cập trực tiếp đến “Đáp ứng nhu cầu hỗ trợ củanhững người chăm sóc gia đình trong chăm sóc giảm nhẹ: những thách thứccho các chuyên gia y tế” do Đại học Melbourne (2004) Cụ thể: Chăm sóc chomột người thân hấp hối đòi hỏi những người chăm sóc gia đình có nhiều nhucầu cần được đáp ứng liên quan với vai trò người chăm sóc của họ Nhưngnhững nhu cầu này lại chưa được đáp ứng đúng mức Thông thường, nhữngngười chăm sóc người bệnhchết vì bệnh đã thông báo rằng họ cần hỗ trợ nhiềuhơn và thông tin từ các chuyên gia chăm sóc sức khỏe Hơn nữa, một số bác sĩlâm sàng và các nhà nghiên cứu chăm sóc giảm nhẹ đã kêu gọi can thiệp đểtăng cường sự hỗ trợ cung cấp cho những người chăm sóc gia đình Tuy nhiên,trước khi các nhà nghiên cứu có thể phát triển và thử nghiệm can thiệp chămsóc giảm nhẹ trực tiếp cho các gia đình lại gặp phải những rào cản về vấn đềnày Nghiên cứu hướng đến phá bỏ rào cản, giải quyết những nhu cầu củangười chăm sóc, để từ đó có sự can thiệp hiệu quả hơn với quá trình điều trị củangười bệnh [18]
Trang 19Đặc biệt nghiên cứu “Ảnh hưởng của nhu cầu chăm sóc, tính hỗ trợ vàchuẩn bị sẵn sàng về kết cục chăm sóc gia đình trong quá trình điều trị ung thư”của Đại học Nebraska (2008) đã cho ra những kết quả bất ngờ: Nhu cầu có liênquan mạnh nhất với khó khăn trong việc chăm sóc và căng thẳng bao trùm Sựphụ thuộc lẫn nhau (tính hỗ trợ) có liên quan mạnh nhất với sự tức giận củangười chăm sóc Thật bất ngờ, chuẩn bị sẵn sàng có mối liên hệ mạnh mẽ vớicác kết quả rối loạn tâm lý hơn so với các biến việc chăm sóc cụ thể khó khăn
và căng thẳng [19] Nghiên cứu “Vai trò nổi bật và nhu cầu của người chămsóc người bệnh ung thư” (Glajchen M, 2008) nhấn mạnh lại một lần nữa: Sựtham gia của những người chăm sóc gia đình là điều cần thiết để điều trị tối ưucho các người bệnh ung thư trong việc đảm bảo tuân thủ điều trị, tiếp tục chămsóc, và hỗ trợ xã hội, đặc biệt là ở giai đoạn cuối cuộc đời Chăm sóc cho mộtthành viên trong gia đình mắc bệnh ung thư đặt ra những thách thức đáng kể,với những hậu quả đáng kể, tâm lý và thể chất cho người chăm sóc [19]
Theo Chandwani, Kavita D và các cộng sự (2012), tỷ lệ hiện mắc các rốiloạn tâm thần nói chung ở người bệnh ung thư dao động từ 24% đến 59%, tỷ lệmắc rối loạn trầm cảm dao động từ 0 đến 46%, đối với rối loạn lo âu là từ 1 đến49% Tính trung bình, khoảng 1/3 người bệnh ung thư có các biểu hiện lo âu,căng thẳng và đau khổ về tâm lý Tỷ lệ mắc các rối loạn tâm lý thay đổi theotừng loại bệnh ung thư và có khác biệt giữa các quốc gia; tỷ lệ rối loạn trầmcảm ở người bệnh ung thư vú trung bình là 50% trong khi ở người bệnh mắcung thư phổi là 67% [20] Trầm cảm ở người bệnh ung thư có mối liên hệ vớimột số đặc điểm nhân khẩu học, xã hội, và các yếu tố liên quan đến điều trịbệnh, các yếu tố về tâm lý, lối sống, sự hỗ trợ xã hội và chất lượng cuộc sống[21]
Khảo cứu của Khoa Thần kinh tâm trí, Trường Đại học Y Hofstra NorthShore-LIJ, New York, Mỹ trong vòng 2 năm (từ năm 2011 – 2013) với 404bệnh nhân lứa tuổi trung bình 23, mới có chẩn đoán tâm thần phân liệt và thamgia điều trị (uống thuốc chống tâm thần phân liệt) được 6 tháng trở lại 404
Trang 20bệnh nhân này được chọn ngẫu nhiên từ 34 y viện tại 21 bang, gồm 2 nhóm.Một nhóm (223 bệnh nhân) tham gia mô hình điều trị đa ngành, chú trọng tâm
lý trị liệu nhằm giúp bệnh nhân phục hồi kỹ năng sống, làm việc và học tập phùhợp với bệnh, gia tăng khả năng quản lý các triệu chứng tâm thần (như kỹ năngtảng lờ hoặc đối thoại hữu hiệu với tiếng nói) và hỗ trợ của gia đình Nhóm cònlại (181 bệnh nhân) tham gia mô hình điều trị cộng đồng phổ biến, chú trọngvào các loại thuốc chống loạn thần Kết quả khảo cứu cho thấy, nhóm bệnhnhân tham gia mô hình điều trị đa ngành cải thiện rõ rệt chỉ số chất lượng cuộcsống, bao gồm khả năng làm việc, học tập, giải trí, xây dựng và duy trì các mốiquan hệ xã hội… so với nhóm tham gia điều trị cộng đồng dựa vào thuốc chốngloạn thần Khảo cứu này đã khẳng định và củng cố thêm vai trò của CTXHtrong y tế tâm thần [22]
Dịch vụ được nhấn mạnh mà người bệnh cần cung cấp là trị liệu tâm lýcho các rối loạn tâm thần, rối loạn lo âu và trầm cảm và hỗ trợ xã hội.Hầu hết
NB đều có nhu cầu hỗ trợ tâm lý xã hội và cung cấp thông tin càng sớm càngtốt.Tâm lý lành mạnh, hạnh phúc của người bệnhlà yếu tố quan trọng góp phầnđiều trị bệnh hiệu quả Hỗ trợ xã hội cũng là yếu tố quan trọng để chất lượngcuộc sống tốt hơn và giảm mức độ các sang chấn tâm lý mà người bệnh gặpphải [23]
1.3.1.2 Khả năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho người bệnh
Trong hơn 40 năm phát triển, nhân viênCTXH đã có nhiều bước phát triểnvượt bậc ở cả các nước phát triển và đang phát triển [24, 25] Nhân viên CTXH làmột chuẩn bắt buộc với nhiều bệnh viện ở các nước phát triển; là một loại hình cán
bộ phải có hiểu biết về hai vai trò hoàn toàn khác biệt: (1) kiến thức và thực hành vềCTXH và (2) khoa học và nghệ thuật trong điều trị [26] Vai trò của họ là “sử dụngtối đa các dịch vụ trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ của người bệnh, giúp xây dựngcác chiến lược ứng phó tối ưu và huy động tốt nhất các nguồn lực hỗ trợ từ cộngđồng" Ở nhiều nước phát triển, nhân viên CTXH được đào tạo các kiến thức và kỹnăng lâm sàng cũng như tâm lý học xã hội để đánh giá nhu cầu, thực hiện can thiệp
Trang 21cho người bệnh và gia đình của họ để giúp họ có những quyết định tốt nhất trongquá trình điều trị; đồng thời, nhân viên CTXH có thể làm việcvới các cán bộ y tếkhác, đào tạo và giám sát các cán bộ trẻ hơn [12] Hiệu quả hoạt động của họ đượcchứng minh thông qua việc tăng tỷ lệ sống sót cũng như chất lượng cuộc sống rõ rệtcho người bệnh.
Nhân viên CTXH đang đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của NB, đặc biệt tạicác quốc gia đang phát triển Tuy vậy, hiện các cơ sở điều trị ở hầu hết các nước đangphát triển đều đang phải đối mặt với các vấn đề về thiếu hụt nguồn nhân lực và tàichính, cũng như cung cấp dịch vụ CTXH, chăm sóc hỗ trợ và giảm nhẹ để giảm gánhnặng bệnh tật cho người bệnh [27] Thiếu hụt cán bộ và khâu tổ chức DV yếu kém dẫnđến sự chậm trễ trong chẩn đoán, chẩn đoán sai và thiếu các DV chăm sóc và tư vấn hỗtrợ cho NB Bên cạnh đó, việc cung cấp các DV đặc thù như dịch vụ CTXH thường chỉđược thực hiện bởi các cán bộ được đào tạo chung để làm việc trong các hệ thống y tếcông cộng thay vì những cán bộ được đào tạo chuyên ngành
Việc thiếu hụt cán bộ được đào tạo chuyên ngành như điều dưỡng và cán bộCTXH là một vấn đề toàn cầu đe dọa đến việc tiếp tục cải thiện hiệu quả của cácdịch vụ điều trị và chăm sóc người bệnh ở các nước có thu nhập thấp và trung bình.Đây được coi là một trong những thách thức hàng đầu trong việc chăm sóc ngườibệnh hiện nay
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.3.2.1 Nhu cầu cung cấp dịch vụ CTXH của người bệnh
CTXH trong bệnh viện mới được hình thành trong những năm gần đây,
do đó hoạt động nghiên cứu về lĩnh vực này còn tương đối mới mẻ và ít hơn sovới các loại hình CTXH ở các lĩnh vực khác Nguồn tài liệu viết chuyên sâu vềCTXH trong bệnh viện còn khá hạn chế, tuy nhiên, cũng đã có một số tác giảquan tâm, biên soạn các giáo trình về CTXH liên quan tới lĩnh vực y tế Mộttrong những tài liệu này có thể kể đến như: “Công tác xã hội trong chăm sócsức khỏe nhân dân” của tác giả Đào Văn Dũng (2012) [28]
Trang 22Giáo trình “Lý thuyết công tác xã hội và tiếp cận dạy công tác xã hội cho ytế” của tác giả Phạm Huy Tuấn Kiệt, xuất bản năm 2012 là một trong những tàiliệu tham khảo về CTXH trong ngành y tế [29] Bên cạnh đó, tác giả Phạm Songcũng đề cập “Một thập kỷ suy nghĩ về chiến lược, chính sách ngành Y tế” (2000 -2012) [30].
Các nghiên cứu ghi nhận rằng, tại nhiều cơ sở y tế trên toàn quốc có sốngười bệnh nam điều trị nội trú cao hơn số người bệnh nữ (57% so với 43%),tập trung ở nhóm tuổi 50-69 (khoảng 2/3 số người bệnh), chiếm tỉ lệ cao nhất lànông dân và công nhân (khoảng 1/3) và tiếp theo là nhóm công chức nhà nước(khoảng 1/5) [31] Những người dưới 65 tuổi và không có khả năng lao độngchiếm 17% Để giải quyết những vấn đề này 66,7% người bệnh phải vay mượn;22% người bệnh phải bán đi tài sản [32]
Hầu hết các NB gặp các vấn đề về tâm lý có nhu cầu được tư vấn tâm lý,giảm căng thẳng (>80%); tư vấn chăm sóc bản thân và tư vấn giao tiếp (khoảng50%) Bên cạnh đó, phần lớn người bệnh (>80%) cần tư vấn nội dung liên quanđến diễn biến bệnh, tiên lượng bệnh, phương thức điều trị, các tác dụng phụ củathuốc, cách chăm sóc trong quá trình điều trị và chi phí cho điều trị Ngoài ra,
họ cũng mong muốn được tư vấn trực tiếp bởi bác sỹ điều trị tại phòng tư vấnriêng sau khi đã có chẩn đoán xác định và trước khi ra viện Họ cũng có cácnhu cầu được cung cấp thông tin về các mạng lưới, hỗ trợ tài chính, tư vấnchăm sóc con cái và tư vấn sức khỏe tình dục [33]
Nghiên cứu của tác giả Đặng Kim Chung và cộng sự (2011) về “Đánhgiá nhu cầu về dịch vụ công tác xã hội và xây dựng công tác xã hội” Nghiêncứu đánh giá nhu cầu dịch vụ CTXH (tại cộng đồng và trong trung tâm),nghiên cứu việc phát triển những dịch vụ CTXH trong phạm vi tài nguyên cóthể huy động, đề xuất kế hoạch xây dựng và vận hành mô hình và hệ thốngcung cấp dịch vụ CTXH từ Trung ương đến cộng đồng Đề tài đã phân tích vàđánh giá nhu cầu của các đối tượng dựa trên hai khía cạnh: cung và cầu dịch vụcho từng nhóm đối tượng cụ thể: người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em,
Trang 23người trưởng thành…Nhu cầu với dịch vụ công tác xã hội của các nhóm đốitượng rất lớn nhưng vẫn còn đang tiềm ẩn trong xã hội Hệ thống cơ sở cungcấp dịch vụ còn manh mún và chất lượng còn kém Nhận thức và hiểu biết củacông chúng và các nhà hoạch định chính sách về nghề CTXH còn chưa sâu.Cán bộ làm CTXH còn thiếu và chưa được đào tạo chính quy, tổ chức cung cấpdịch vụ CTXH ở cộng đồng gần như chưa có Khuyến nghị các giải pháp: Tăngcường tuyên truyền, phổ biến chính sách, chế độ trợ cấp, các dịch vụ xã hội;Nâng cao năng lực xây dựng và thực hiện của các trung tâm cung cấp dịch vụCTXHđặc biệt là các cán bộ thực hiện ở cấp cơ sở; Tuyên truyền, vận động các
tổ chức, đoàn thể để có sự hiểu biết về các dịch vụ của CTXH [3]
Năm 2015, nghiên cứu “Đánh giá vai trò của hoạt động CTXH trongbệnh viện đối với việc gia tăng mức độ hài lòng của bệnh nhân và gia đìnhngười bệnh tại một số cơ sở khám chữa bệnh công lập” được Bộ Y tế tiếp tụcgiao cho Viện Chiến lược và Chính sách Y tế thực hiện để làm rõ, chứng minhvai trò, ý nghĩa của nghề CTXH đối với hoạt động chăm sóc người bệnh toàndiện, nâng cao chất lượng của công tác khám, chữa bệnh [34]
Theo Lý Thị Hảo (2016), một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hài lòng củangười bệnh về hoạt động giao tiếp với cán bộ y tế với người bệnh là trên 3/4.Tuy nhiên, người bệnh ung thư nhận được khá ít các dịch vụ hỗ trợ về giảiquyết các thủ tục hành chính, về chi phí điều trị hoặc các chính sách dành cho
NB ung thư Ba yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến nhu cầu hỗ trợ tâm lý - xã hộicủa người bệnh ung thư là kinh tế của người bệnh, người chăm sóc và tinh thầnngười bệnh [33]
Năm 2017, nghiên cứu của Phạm Tiến Nam về “Nhu cầu và khả năng cung
cấp dịch vụ công tác xã hội tại bệnh viện K năm 2017”có hai mục tiêu là: (1) Mô
tả nhu cầu và tình trạng cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện K năm 2017 và một số yếu tố liên quan đến nhu cầu; (2) Mô tả khả năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện
K năm 2017 Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, phát vấn với 418
Trang 24bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện K từ tháng 5 đến tháng tháng 11 năm 2017 Bộcông cụ thu thập số liệu được phát triển bởi Phạm Tiến Nam và Phan Thị Hòa nhằmđạt được 2 mục tiêu nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy, bệnh nhân ung thư
có nhu cầu về 5 dịch vụ công tác xã hội ở các mức tỷ lệ khác nhau Thứ nhất, nhu
cầu về DV chỉ dẫn, tư vấn thông tin chung về khám chữa bệnh, bệnh nhân cần nhất
là được hướng dẫn, hỗ trợ thủ tục/qui trình khám bệnh (86.1%); tư vấn chi phí điều
trị (83.9%); tư vấn chính sách bảo hiểm y tế (78%) Thứ hai, nhu cầu về DV tư vấn
thông tin điều trị bệnh, bệnh nhân rất cần được cung cấp thông tin về kế hoạch điềutrị (92.1%); diễn biến của bệnh (92.6%); tiên lượng bệnh (91.4%); thời gian điều trị(1 đợt và tổng thời gian) (91.4%); tác dụng phụ của điều trị (92.4%); khả năng lây(83.5%); khả năng di truyền (83.5%); tư vấn cách chăm sóc sức khỏe thể chất vàchế độ dinh dưỡng (93.1%); những khó khăn, thuận lợi trong quá trình chung sốngvới bệnh (86.4%); tư vấn thời gian tái khám (81.3%); các biện pháp phòng bệnh tái
phát (87.3%) Thứ ba, nhu cầu truyền thông, nâng cao nhận thức, các nội dung về
phòng, chống điều trị ung thư chính là điều bệnh nhân mong muốn được cung cấp
(84.4%) Thứ tư, nhu cầu hỗ trợ tâm lý – xã hội, bệnh nhân rất muốn nhận được
thăm hỏi về tình trạng sức khỏe và hoàn cảnh khó khăn của gia đình (86.1%); tư vấn– tham vấn tâm lý (68.4%); cung cấp thông tin mạng lưới hỗ trợ bệnh nhân ung thư
(75.7%) Thứ năm, nhu cầu kết nối các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện, hỗ trợ tiền mặt
thanh toán một phần chi phí điều trị (84.2%); hỗ trợ tiền mặt chi dùng cho sinh hoạtphí (84.9%); được tặng đồ dùng cá nhân (66.4%); được cung cấp bữa ăn miễn phí(79.6%); hỗ trợ chỗ ở cho người nhà trong thời gian chăm sóc (74.3%) là nhữngnhu cầu bệnh nhân rất cần được đáp ứng Ngoài ra, nghiên cứu đã chỉ ra rõ mốitương quan giữa nhu cầu cung cấp DV CTXH cho bệnh nhân ung thư và giới tính,nhóm tuổi, số lần điều trị, phương pháp điều trị, và trạng thái tâm lý Bên cạnh đó,nghiên cứu cũng đã tìm hiểu và làm sáng tỏ những khó khăn, thuận lợi về khả năngcung cấp dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện K thông quacác tiêu chí trình độ chuyên môn của nhân viên công tác xã hội, nhận thức và thái
độ hợp tác của đội ngũ y bác sĩ, cơ sở vật chất và tài chính, cơ chế chính sách [4]
Trang 251.3.2.2 Khả năng cung cấp dịch vụ CTXH cho người bệnh
Cho đến nay, công tác xã hội tại Việt Nam đang ngày càng nhận được sựquan tâm của Đảng và nhà nước của các cấp chính quyền Năm 2010 Thủtướng chính phủ đã phê duyệt quyết định số 32/210/QĐ/TTg về Đề án pháttriển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 [13] Tiếp đó, năm 2011, Bộ Y
tế phê duyệt Quyết định 2514/QĐ-BYT Đề án phát triển nghề CTXH trongngành y tế giai đoạn 2011-2020 và tiếp theo đó là Thông tư 43/2015/TT-BYTquy định về nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ CTXH của bệnhviện [2],[11] Bên cạnh những mặt thuận lợi về cơ chế, chính sách, CTXH đanggặp những khó khăn, thách thức trong việc cung cấp DV CTXH cho NB
Hầu hết y văn đều chỉ ra được sự thiếu hụt về số lượng và chất lượngcủa đội ngũ nhân viên công tác xã hội trong y tế Nguồn nhân lực CTXH thamgia vào bệnh viện không những thiếu về số lượng mà còn yếu về chất lượng[35] Nhân sự thực hiện hoạt động gọi là “Công tác xã hội” trong bệnh việnphần lớn là cán bộ kiêm nhiệm, hay các cộng tác viên là sinh viên công tác xãhội.Ví dụ, năm 2016, phòng công tác xã hội tại Bệnh viện Nhi Trung Ương có
07 thành viên, trong đó chỉ có 03 cử nhân công tác xã hội, trưởng phòng làThạc sỹ Y tế công cộng, còn lại là cán bộ được đào tạo về kinh tế, ngoại ngữ vàvăn hóa
Trong giai đoạn hiện nay, gia đình và cán bộ y tế đóng vai trò chăm sócsức khỏe người bệnh ung thư, chưa có nhân viên công tác xã hội trong bệnhviện [11]
Bên cạnh những khó khăn về đội ngũ nhân viên CTXH, nhận thức củabệnh viện cũng như đội ngũ y bác sỹ còn chưa thật sự đầy đủ; do đó việc mạnhdạn sử dụng nhân viên CTXH trong cơ sở y tế còn hạn chế Mặc dù một trongnhững mục tiêu quan trọng của Đề án 2514 Phát triển Nghề công tác xã hộingành Y tế giai đoạn 2011-2020 là nâng cao nhận thức và cam kết thực hiệncủa các cấp lãnh đạo (70-80%), các cơ sở y tế (80-90%), công chức, viên chức
Trang 26y tế (50-70%) trong ngành y tế về vị trí, vai trò và việc hình thành, phát triểnNghề công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe Tuy nhiên, khi phỏng vấn một
số cán bộ y tế trong bệnh viện thậm chí là cán bộ lãnh đạo cũng không ít trong
số họ cho là chưa rõ về công tác xã hội trong bệnh viện có vai trò gì và baogồm những hoạt động cụ thể gì [36]
Từ những nghiên cứu thực tế trên thế giới đến các nghiên cứu trongnước thuộc phạm vi ngành Y tế đã tạo cơ sở khẳng định vai trò của CTXHtrong bệnh viện, một lĩnh vực CTXH còn tương đối mới mẻ hiện nay Đâycũng là nguồn tài liệu tham khảo rất thiết thực từ thực tiễn chứng minh sự cầnthiết của CTXH trong việc hỗ trợ, động viên, khuyến khích, tạo động lực chongười bệnh trong suốt quá trình điều trị bệnh Tuy nhiên, các đề tài chưa đi sâuvào phân tích CTXH tại một đơn vị y tế cụ thể để nhìn nhận những tác độngmang tính thực tiễn trong công tác điều trị cho người bệnh Chính vì vậy, vấn
đề nghiên cứu của luận văn này hy vọng sẽ tạo thêm một luận cứ về vai trò củaCTXH trong hỗ trợ điều trị, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, tạo sự hài lòngcho người bệnh từ thực tiễn tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
1.4 Khung lý thuyết
Theo Thông tư số 43/2015/TT-BYT ban hành ngày 26/11/2015 của Bộ Y
tế quy định nhiệm vụ và hình thành tổ chức thực hiện nhiệm vụ CTXH trong bệnhviện, khung lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu dịch vụ CTXH như sau[11]:
Nhu cầu của người bệnh:
Nhu cầu cung cấp thông tin, tư
vấn khám, chữa bệnh
Nhu cầu cung cấp dịch vụ truyền
thông và nâng cao nhận thức
Nhu cầu cung cấp dịch vụhỗ trợ
tâm lý – xã hội
Nhu cầu cung cấp dịch vụ kết nối
nguồn lực và hỗ trợ từ thiện
Khả năng cung cấpDịch vụ CTXH:
Hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn
đề về CTXHCung cấp thông tin, truyền thông giáo dục sức khỏe
Vận động tiếp nhận tài trợ
Trang 271.5 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu
1.5.1 Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức
Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức là bệnh viện ngoại khoa hạng đặc biệtchuyên về ngoại khoa tuyến cuối, nơi tiếp nhận các trường hợp chấn thương nặng,
đa chấn thương, chủ yếu do tai nạn giao thông, bên cạnh những trường hợp nặng,phức tạp, có biến chứng từ các tuyến trước chuyển đến để khám và điều trị Bệnhviện với quy mô 1.717 giường bệnh, tổng số lượt người bệnh khám bệnh là266.131 lượt [37]
Theo báo cáo bệnh viện cho thấy số lượt khám bệnh và điều trị có xuhướng tăng so với các năm trước: số lượt khám bệnh tăng 10,8%; số người bệnhđiều trị nội trú tăng 11,8%; số người bệnh điều trị ngoại trú tăng 10,4% so với năm
2017 [37]
Do tính chất là bệnh viện tuyến cuối, bệnh viện tiếp nhận nhiều trường hợpnặng và phức tạp với số ca mổ lớn tăng 12,1% [37]
1.5.2 Phòng Công tác xã hội, Bệnh việnHữu Nghị Việt Đức
1.5.2.1 Sơ đồ Phòng Công tác xã hội của Bệnh viện Việt Đức
Phòng Công tác xã hộicủa Bệnh viện được thành lập ngày 16/4/2015 với
cơ cấu nhân sự gồm 15 người được chia làm 3 tổ: tổ hỗ trợ người bệnh, tổtruyền thông, tổ trợ giúp xã hội và bộ phận quản lý Nhà truyền thống [38]
Khách hàng thân thiết
Tổ truyền thông
Tổ trợ giúp xã hội và bộ phận quản lý Nhà truyền thống
Tiếp cận dịch vụBV
BV HN Việt Đức
Hài lòng
Tổ trợgiúp BNnghèo
Trang 28Sơ đồ 1.1 Phân công nhiệm vụ Phòng công tác xã hội
1.5.2.2 Chức năng nhiệm vụ của Phòng Công tác xã hội của Bệnh viện
Chức năng:
Phòng Công tác xã hội là cầu nối giữa thầy thuốc, người bệnh và ngườinhà người bệnh có chức năng cung cấp các dịch vụ về công tác xã hội Quản lýtất cả các hoạt động về công tác xã hội tại bệnh viện [38]
Nhiệm vụ và quyền hạn:
Tiếp nhận, đánh giá và giải quyết các vấn đề cần được trợ giúp về tâm lý
-xã hội cho các đối tượng
- Hoạt động tìm nguồn lực
- Đào tạo
Công tác hoạt động năm 2018
Tổ hỗ trợ người bệnh có nhiệm vụ tư vấn, hỗ trợ người bệnh đếnkhám và điều trị tại bệnh viện; ghi nhận ý kiến đóng góp của người bệnh trước,trong và sau quá trình điều trị; Lập kế hoạch, khảo sát hoạt động hỗ trợ ngườibệnh của một số bệnh viện trên địa bàn Hà Nội như: Bệnh viện Bạch Mai, Đạihọc Y Hà Nội, Tai - Mũi - Họng Trung ương, Bệnh viện đa khoa Hồng Ngọc,
từ đó rút kinh nghiệm trong việc hỗ trợ người bệnh đến khám và điều trị tạiBệnh viện [38]
Tổ truyền thông năm 2018, đón tiếp phóng viên báo chí tăng 177.46% sovới năm 2017 và số lượng bài viết tăng 62.72% so với năm 2017, phóng sự, giaolưu trực tuyến liên quan đến sự kiện, họp báo xử lý sự cố truyền thông, hội nghị,hội thảo, phóng sự thực hiện về nhân vật… được đăng trên các phương tiện truyềnthông (truyền hình, báo điện tử, báo giấy, đài phát thanh…); hàng tháng, cập nhậttin bài trên Fanpage Bệnh viện trung bình khoảng 60 tin bài/tháng Số lượng người
Trang 29truy cập vào cổng thông tin điện tử của năm 2018 tăng 35.03% so với năm 2017.Ngoài việc hỗ trợ phóng viên tác nghiệp tại Bệnh viện, Tổ truyền thông còn hỗ trợcác chương trình được ghi hình tại trường quay, hỗ trợ phóng viên nước ngoài,thực hiện phóng sự quảng bá hình ảnh của Bệnh viện.Tham gia lập kế hoạch hoạtđộng truyền thông cho các sự kiện, hội nghị, hội thảo khoa học, những ca bệnhhay,… của Bệnh viện, khoa, phòng, Trung tâm, hội thảo, hội nghị, họp báo [38].
Năm 2018, tổ trợ giúp xã hội đưa thông tin kêu và nhận tổng giá trị5.500.000đ tăng 28% trường hợp được hỗ trợ và 6% giá trị Hỗ trợ cho 1658trường hợp người bệnh khó khăn, trong đó có 316 người bệnh được hỗ trợ khẩncấp và 08 người bệnh không có người nhà Ngoài ra, tổ còn kết nối thườngxuyên với các nhóm từ thiện, tổ chức từ thiện Cũng trong năm 2018, phòngCTXH đã phối hợp cùng Đoàn Thanh niên bệnh viện tổ chức 06 chương trìnhkhám, chữa bệnh miến phí từ thiện tại địa phương, tư vấn sức khỏe cho các đốitượng có hoàn cảnh khó khăn tại một số tỉnh phía Bắc [38]
Trang 30Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng
Là những NB đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Là NB từ 18 tuổi trở lên
- Có thời gian nằm viện từ 03 ngày trở lên
- Là những NB đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- NB không đồng ý tham gia nghiên cứu
- NB không có khả năng giao tiếp bằng tiếng Kinh
- NB nặng, không đủ sức khỏe tham gia phỏng vấn
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính
- Nhân viên y tế, nhân viên công tác xã hội: Bao gồm nhân viên chính thức,làm việc liên tục suốt thời gian nghiên cứu, và đồng ý tham gia nghiên cứu
- Lãnh đạo phòng CTXH
- Lãnh đạo bệnh viện
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian từ tháng 10/2018 đến tháng 4/2019
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, phương pháp nghiên cứu địnhlượng kết hợp với định tính
Nghiên cứu định lượng trên người bệnh để xác định Nhu cầu cần cungcấp dịch vụ CTXH gì tại thời điểm nghiên cứu
Nghiên cứu định tính nhằm đánh giá Khả năng đáp ứng được nhu cầu vềdịch vụ CTXH cho người bệnh ở thời điểm nghiên cứu cũng như cung cấpthêm thông tin về nhu cầu cần cung cấp dịch vụ CTXH cho NB dưới góc nhìncủa các cán bộ y tế
Trang 312.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định lượng
Chọn mẫu với khảo sát định lượng: công thức chọn mẫu đáp ứng mức ýnghĩa thống kê của nghiên cứu là 95% Công thức chọn mẫu định lượng là:Trong đó:
(1- α/2 ): mức tin cậy định trước tối thiếu = 1,96
p: tỉ lệ p cần ước lượng = 0,8 là nhu cầu của người bệnh về dịch vụ côngtác xã hội [39]
: sai số tương đối được chọn = 0,1
Thay vào công thức tính được tổng số người bệnh cần điều tra về nhu cầudịch vụ công tác xã hội (n) là 96 đối tượng Do chúng tôi dự kiến sẽ áp dụngphương pháp chọn mẫu chùm để chọn ngẫu nhiên một số khoa trong các khoalâm sàng của Bệnh viện vào nghiên cứu nên cỡ mẫu cần được điều chỉnh với hệ
số thiết kế (design effect - DE) để tăng tính đại diện của mẫu Do không cóđiều kiện làm nghiên cứu thử để có số liệu tính hệ số thiết kế nên chúng tôichọn DE = 2,5, khi đó cỡ mẫu cần điều tra là 240 người Để đề phòng một sốđối tượng không muốn tham gia nghiên cứu, chúng tôi đã tăng cỡ mẫu lên 290người
Các bước chọn mẫu:
Bước 1: Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức có 28 khoa lâm sàng, chúng tôi
loại bỏ 05 khoa và trung tâm không thích hợp sau: 1) Khoa Khám bệnh (do NBchủ yếu đến điều trị ngoại trú hoặc sau khi xác định bệnh đều chuyển khoa), 2)Khoa Điều trị theo yêu cầu (Đã được hưởng chính sách chăm sóc toàn diện), 3)Trung tâm gây mê và hồi sức ngoại khoa (NB chủ yếu ở tình trạng hôn mê-khótiếp xúc), 4) Khoa khám xương và điều trị ngoại trú(do đối tượng khó tiếp cận),5) Khoa phẫu thuật Nhi và trẻ sơ sinh (NB dưới 18 tuổi – thuộc tiêu chí loạitrừ) Đây là những khoa không đủ tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu
Trang 32Còn có 23 khoa điều trị nội trú, nhóm điều tra viên của nghiên cứu gồm 5người để đảm bảo các số liệu được lấy đồng thời cùng thời gian, chúng tôi sửdụng phương pháp chọn mẫu chùm ngẫu nhiên bằng cách bốc thăm 5 khoangẫu nhiên và phân đều số mẫu cho 5 khoa Kết bốc thăm 5 khoa trong 23 khoacòn lại được Chấn thương chỉnh hình I (CTCH), Ung bướu, Phẫu thuật thầnkinh I, Phẫu thuật gan mật, Phẫu thuật tiết niệu
Bước 2: Chúng tôi tiến hành lấy mẫu ngẫu nhiên người bệnh theo 05
khoa trong khoảng thời gian nghiên cứu vớitổng số người bệnh cần điều tra tạimỗi khoa là 290/5= 58 người bệnh
Bước 3: Điều tra viên đến từng khoa gặp điều dưỡng hành chính lấy mã
số và thông tin người bệnh, đối chiếu với tiêu chuẩn lựa chọn người bệnh, loạinhững người bệnh không đủ tiêu chuẩn lựa chọn Đánh số người bệnh theo sốthứ tự từ 1 cho đến hết và tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên 2 người bệnh và tiếnhành phỏng vấn người bệnh tại giường bệnh cho đến khi đủ cỡ mẫu nghiêncứu
2.4.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định tính
Tổng số mẫu nghiên cứu định tính gồm 04 cuộc phỏng vấn sâu
- 02 cuộc phỏng vấn sâu với nhân viên công tác xã hội
- 01 cuộc phỏng vấn sâu với lãnh đạo phòng CTXH
- 01 cuộc phỏng vấn sâu bác sĩ
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu định lượng
2.5.1.1 Công cụ thu thập số liệu
Sử dụng bảng kiểm trong phụ lục 1 để tiến hành thu thập số liệu
2.5.1.2 Kỹ thuật thu thập thông tin
Bộ câu hỏi sẽ được nghiên cứu viên điều tra thử trên 10 người bệnh trước khitiến hành điều tra trên quần thể nghiên cứu, sau đó tiếp tục chỉnh sửa cho phù hợp.Nhóm điều tra viên được tập huấn về bộ công cụ trước khi điều tra Điều tra viên làhọc viên lớp Cao học quản lý bệnh viện, Trường Đại học Y Hà Nội
Quy trình thu thập số liệu:
Trang 33- Đại diện nhóm nghiên cứu tiến hành xin ý kiến Ban giám đốc Bệnh viện HữuNghị Việt Đức, xin giấy giới thiệu của Nhà trường và đến Bệnh viện Hữu Nghị ViệtĐức để tiến hành thu thập số liệu.
- Điều tra viên tiếp cận người bệnhtheo sự giới thiệu của lãnh đạo 5 khoa điều trị;giới thiệu về mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu; tính bảo mật thông tin và sự đồng ýtham gia nghiên cứu của đối tượng Sau đó, điều tra viên tiến hành phỏng vấn
- Tiến hành điều tra tại giường người bệnh, điều tra viênđọc từng câu hỏi trong
bộ câu hỏi phỏng vấn cho đối tượng nghiên cứu và chủ động điền thông tin cho đếnkhi hoàn thành hết bộ câu hỏi
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu định tính
Công cụ thu thập: Bảng hướng dẫn PVS sẽ được thử nghiệm tại bệnh viện
và chỉnh sửa
Kỹ thuật thu thập: Phỏng vấn sâu sử dụng máy ghi âm kỹ thuật số
2.6 Biến số nghiên cứu
2.6.1 Nhóm biến số nghiên cứu định lượng (Phụ lục 3)
- Thông tin chung về người bệnh
- Dịch vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin chung về khám chữa bệnh
- Dịch vụ tư vấn thông tin điều trị bệnh
- Trạng thái tâm lý người bệnh
- Dịch vụ hỗ trợ tâm lý xã hội
- Dịch vụ hỗ trợ kết nối với các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện
2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính
- Khả năng đáp ứng về hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về CTXH
- Khả năng đáp ứng về cung cấp thông tin, truyền thông giáo dục sức khỏe
- Khả năng đáp ứng về hỗ trợ từ thiện, tài trợ
- Các yếu tố ảnh hưởng thuộc hệ thống: nhân lực, hệ thống thông tin y tế,trang thiết bị cơ sở hạ tầng, tài chính, công tác Quản lý/ điều hành
Trang 342.7 Phương pháp phân tích số liệu
2.7.1 Các thông tin định lượng
- Chuẩn bị: Kiểm tra lại toàn bộ các phiếu điều tra thu thập được ngay
trong ngày, loại trừ các phiếu điền không đầy đủ
- Bước 1 Nhập liệu: Toàn bộ số liệu thu thập được nhập bằng phần mềm
EpiData 3.1 Số liệu được nhập 2 lần bằng 2 người nhập khác nhau nhằm tránhsai số trong quá trình nhập liệu
- Bước 2 Làm sạch số liệu: Sau khi hoàn tất nhập liệu, các số liệu được
làm sạch và hiệu chỉnh các sai sót trong quá trình nhập liệu
- Bước 3 Xử lý và phân tích số liệu: Các số liệu sau khi thu thập, được
tổng hợp và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 Kết quả được chia thành 2phần:
Phần thống kê mô tả: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả phùhợp cho các biến số và đáp ứng mục tiêu nghiên cứu, tính giá trị trung bình, độlệch chuẩn Sử dụng kiểm định Cronbach’s Alpha để đánh giá về mức độ tincậy và tương quan trong giữa các biến quan sát trong thang đo.Theo phân tích,suy luận logic với thang điểm Likert, thì mức hài lòng của người bệnh bắt đầu
từ mức 4 (4 điểm) (1: Hoàn toàn không cần thiết, 2: Không cần thiết, 3: Bìnhthường, 4: Cần thiết, 5: Rất cần thiết), vì thế thang điểm Likert được mã hóathành 2 nhóm: nhóm không có nhu cầu (1-3 điểm) và nhóm có nhu cầu (4-5điểm) đối với từng tiểu mục, từ đó tính tỉ lệ nhu cầu của người bệnh theo từngtiểu mục
Điểm nhu cầu trung bình của từng yếu tố về công tác cung cấp DVCĐHA tại Khoa CĐHA được xác định từ điểm các tiểu mục của nó Điểm nhucầu trung bình được mã hóa thành 2 nhóm: Nhóm có nhu cầu với điểm ≥ 4 vànhóm không có nhu cầu với điểm < 4
Mỗi yếu tố được hình thành từ nhiều tiểu mục, mỗi yếu tố chia thành 2nhóm “có nhu cầu” và “không có nhu cầu” Điểm giới hạn giữa 2 nhóm của cácyếu tố được tính bằng công thức: 4 điểm x số tiểu mục Như vậy:
Trang 35- Yếu tố nhu cầu dịch vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin chung về khám chữa bệnh:
có điểm giới hạn là 4 điểm x 5 tiểu mục = 20 điểm
- Yếu tố nhu cầu về dịch vụ tư vấn thông tin điều trị bệnh:
có điểm giới hạn là 4 điểm x 11 tiểu mục = 44 điểm
- Yếu tố về dịch vụ thông tin, kiến thức truyền thông giáo dục sức khỏe:
có điểm giới hạn là 4 điểm x 3 tiểu mục = 12 điểm
- Yếu tố về nhu cầu dịch vụ hỗ trợ tâm lý – xã hội:
có điểm giới hạn là 4 điểm x 5 tiểu mục = 20 điểm
- Yếu tố về về nhu cầu dịch vụ hỗ trợ kết nối các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện:
có điểm giới hạn là 4 điểm x 6 tiểu mục = 24 điểm
Điểm giới hạn kết quả nhu cầu của người bệnh về dịch vụ CTXH tại Bệnhviện Hữu Nghị Việt Đức được tính như sau: 4 điểm x 30 tiểu mục = 120 điểm.Kết quả nghiên cứu về mức độ nhu cầu của NB về DV CTXH Bệnh việnHữu Nghị Việt Đức dựa trên cơ sở 5 yếu tố vừa nêu, được xem là yếu tố thenchốt trong việc tìm hiểu nhu cầu của NB về CTXH trong bệnh viện từ đó đưa
ra những giải pháp đáp ứng nhu cầu của NB
2.7.2 Các thông tin định tính
Số liệu được gỡ băng và phân tích theo chủ đề Thông tin trong từng chủ
đề được so sánh và đối chiếu giữa các nguồn đối tượng cung cấp, phương phápthu thập thông tin
2.8 Đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu bắt đầu được thực hiện khi đã được thông qua của Hộiđồng đạo đức trường Đại học Y Hà Nội
- Nghiên cứu được sự chấp thuận và tạo điều kiện của Lãnh đạo PhòngCTXH, Lãnh đạo bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
- Trước khi thu thập thông tin, tất cả người bệnh đều được giải thích rõ
về mục tiêu của nghiên cứu, lợi ích của nghiên cứu và phiếu chấp thuận thamgia nghiên cứu Người bệnh cần ký vào phiếu chấp thuận tham gia trước khi
Trang 36tiến hành điền bộ câu hỏi phỏng vấn Trong quá trình phỏng vấn người bệnh cóquyền từ chối không tiếp tục trả lời bất cứ khi nào Mọi thông tin của ngườibệnh đều được giữ bí mật và chỉ sử dụngcho mục đích nghiên cứu.
- Kết quả nghiên cứu sẽ được thông báo cho bệnh viện nhằm cung cấpthêm thông tin để cải thiện chất lượng cung cấp dịch vụ CTXH tại bệnh viện
2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục
2.9.1 Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ đánh giá nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ công tác
xã hộiđối với người bệnh tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức với quy mô nhỏnên tính đại diện của nghiên cứu hạn chế về mặt phạm vi, không thể suy rộng
từ kết quả nghiên cứu
Ít tài liệu tham khảo trong nước và ngoài nước
2.9.2 Sai số và Biện pháp khắc phục của nghiên cứu
Sai số của nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu trả lời không đúng sự thật: không nhớ câu trả lời,trả lời không nhất quán hoặc hiểu sai câu hỏi, bỏ sót câu hỏi
- Sai số nhớ lại trong quá trình thu thập thông tin
- Sai số trong quá trình nhập liệu
Biện pháp khắc phục
- Giải thích rõ mục đích nghiên cứu đối với ĐTNC
- Thử nghiệm bộ câu hỏi trước khi tiến hành phỏng vấn
- Giám sát chặt chẽ trong quá trình thu thập số liệu
- Nhập liệu hai lần để tránh sai số
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin về người bệnh
Bảng 3.1 Đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu
Tỷ lệ(%)
Trình độ học vấn n=107 n=181 n=288
Không đi học 4 3,7 8 4,4 12 4,2Tiểu học 8 7,5 30 16,6 38 13,2Cấp II (THCS) 10 9,3 57 34,5 67 23,2Cấp III (THPT) 29 27,1 42 23,2 71 24,6Trung cấp/cao đẳng 25 23,4 23 12,7 48 16,7Đại học/Sau đại học 31 29,0 21 11,6 52 18,1
Nghề nghiệp n=105 n=176 n=281
Làm công ăn lương 50 47,6 31 17,6 81 28,8Chủ cơ sở sản xuất 13 12,4 4 2,3 17 6,0
Tự do 15 14,3 97 55,1 112 39,9Nội trợ 10 9,5 25 14,2 35 12,5Khác 17 16,2 19 10,8 36 12,8
Trang 38Chưa không sự khác biệt theo khu vực sống giữa thành thị và nông thôn
về nhóm tuổi, giới, tôn giáo, tình trạng kết hôn và nghề nghiệp của bệnh nhântham gia nghiên cứu
Phần lớn bệnh nhân học hết cấp II (23,2%) và cấp III (24,6%), 18,1% cótrình độ Đại học/Sau Đại học và 16,7% trình độ trung cấp/cao đẳng 13,2%bệnh nhân chỉ có trình độ tiểu học và vẫn còn 4,2% bệnh nhân không đihọc/không biết chữ Ở thành thị, trình độ học vấn của người bệnh cao hơn sovới ở nông thôn
Trang 39Bảng 3.2 Đặc điểm kinh tế hộ gia đình
Tỷ lệ(%)
Khá 36 34,0 45 25,3 81 28,5Trung bình 66 62,3 113 63,5 179 63,0Nghèo 2 1,9 18 10,1 20 7,0Cận nghèo 1 0,9 2 1,1 3 1,1
Trụ cột kinh tế n=104 n=177 n=281
Bản thân anh/chị 35 33,7 57 32,2 92 32,7
Bạn đời 12 11,5 16 9,0 28 10,0Vợ/chồng như nhau 39 37,5 72 40,7 111 39,5Được trợ cấp 11 10,6 21 11,9 32 11,4
Trụ cột kinh tế chính trong gia đình thường là cả 2 vợ chồng (39,5%) hoặcbản thân người bệnh (32,7%) 11,4% bệnh nhân được trợ cấp hoặc trụ cột kinh tếgia đình là vợ/chồng của họ (10,0%)
Bảng 3.3 Thực trạng sử dụng bảo hiểm y tế của người bệnh
Bảo hiểm y tế n=105 n=177 n=282
Trang 40Có 88 83,8 119 67,2 207 73,4Không 17 16,2 58 32,8 75 26,6
Phần trăm chi trả tại BV n=86 n=116 n=202
0% 1 1,2 4 3,4 5 2,540% 27 31,4 36 31,0 63 31,280% 42 48,8 46 39,7 88 43,595% 10 11,6 16 13,8 26 12,9100% 6 7,0 14 12,1 20 9,9
Nhận xét:
Tỷ lệ bệnh nhân có bảo hiểm y tế là 73,4%, cao hơn ở thành thị (83,8%) sovới nông thôn (67,2%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01 Trong đó, gầnmột nửa số bệnh nhân cho biết được bảo hiểm y tế chi trả 80%, chiếm 43,5% và40% (31,2%) Tỷ lệ được bảo hiểm chi trả 95% là 12,9% và 100% chỉ có 9,9% Có2,5% bệnh nhân không được bảo hiểm chi trả
Bảng 3.4 Đặc điểm trạng thái tâm lý của các người bệnh
Trạng thái tâm lý
Rất thường xuyên
Thường xuyên Thỉnh thoảngHiếm khi
Không bao
giờ
n % n % n % n % n %
Sốc & từ chối (n = 274) 6 2,2 6 2,2 27 9,9 69 25,2 166 60,6Tức giận (n=277) 8 2,9 7 2,5 69 24,9 104 37,6 89 32,1Thương lượng (n=275) 74 26,9 78 28,4 41 14,9 19 6,9 63 22,9Trầm cảm (n=276) 9 3,3 5 1,8 45 16,3 108 39,1 109 39,5Chấp nhận (n=276) 26 9,4 35 12,7 59 21,4 57 20,7 99 35,9
Nhận xét: Trạng thái tâm lý rất thường xuyên/thường xuyên gặp phải ở người bệnh là
thương lượng (26,9% và 28,4%), tiếp đến là chấp nhận (9,4% và 12,7%) 3,3% bệnhnhân cho biết rất thường xuyên và 1,8% bệnh nhân thường xuyên bị trầm cảm Tỷ lệbệnh nhân ở trạng thái tức giận với mức độ rất thường xuyên và thường xuyên lần lượt
là 2,9% và 2,5% Tỷ lệ bệnh nhân rất thường xuyên/thường xuyên bị sốc là 4,4%
3.2 Nhu cầu cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người bệnh
Bảng 3.5 Điểm trung bình nhu cầu của người bệnh theonhóm yếu tố Dịch vụ Thành thị Nông thôn Chung p (Mann-
whitney
TV Min-Max TV Min-Max TV Min-Max