1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TIỂU LUẬN THỰC TIỄN vận HÀNH mối QUAN hệ GIỮA NHÀ nước PHÁP QUYỀN với KINH tế THỊ TRƯỜNG và xã hội dân sự ở VIỆT NAM

79 269 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 517,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay có sựđịnh hướng xã hội chủ nghĩa mà nhân tố sâu xa nhằm bảo đảm định hướng chính trị đốivới kinh tế là đường lối, quan điểm, tư tưởng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

Trang 2

GVHD: Lưu Đức Quang

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019

Trang 3

MỤC LỤC

BÀI TẬP 1: THỰC TIỄN VẬN HÀNH MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VỚI

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ Ở VIỆT NAM 1

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 THỰC TIỄN VẬN HÀNH MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 3

1.1 NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Các yêu cầu cần thiết để xây dựng Nhà nước pháp quyền 4

1.2 KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 5

1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 6

1.4 THỰC TIỄN VẬN HÀNH MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 9

1.5 TÌNH HUỐNG THỰC TẾ 25

1.5.1 Việt Nam gia nhập CPTPP 25

1.5.2 Nhà máy Lọc hoá dầu Nghi Sơn vận hành thương mại 26

1.5.3 Điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ để ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối 28

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN VẬN HÀNH MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ 34

2.1 KHÁI QUÁT XÃ HỘI DÂN SỰ 34

2.1.1 Khái niệm xã hội dân sự 34

2.1.2 Đặc trưng cơ bản của xã hội dân sự 36

2.1.3 Các loại tổ chức xã hội dân sự 39

2.2 PHẠM VI TƯƠNG TÁC CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ 41

2.3 THỰC TIỄN VẬN HÀNH XÃ HỘI DÂN SỰ TẠI VIỆT NAM 45

LỜI KẾT 55

Trang 4

THỰC TIỄN VẬN HÀNH MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VỚI KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ Ở VIỆT NAM

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Ở Việt Nam, khái niệm “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, lần đầu tiên,được nêu ra tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (ngày29-11-1991) và tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VIIcủa Đảng (năm 1994) cũng như trong các văn kiện khác của Đảng và Nhà nước VớiHiến pháp năm 2013, bản chất và đặc điểm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ởnước ta đã được thể chế hóa rõ hơn Về bản chất, đó là Nhà nước của Nhân dân, do Nhândân, vì Nhân dân (Điều 2 Hiến pháp năm 2013)

Để xây dựng nhà nước pháp quyền, không thể không nhắc đến hai thành tố kinh tếthị trường và xã hội dân sự Trong sự phát triển của các quốc gia trên thế giới, hai thành

tố này đã sớm trở nên quen thuộc và mối quan hệ giữa nhà nước và các thành tố cũngsớm được xây dựng và phát triển một cách mềm dẻo Có thể nói, không một đất nướcphát triển nào lại không có một mối quan hệ vững chắc trong ba đối tượng kể trên NướcViệt Nam ta trong chặng đường phát triển của mình nếu sớm hình thành một đường lốichính trị đúng đắn về nhà nước pháp quyền – kinh tế thị trường – xã hội dân sự thì chắcchắn đây sẽ là nền tảng cơ sở vững chắc để cả nhà nước và người dân hợp lực xây dựngđất nước và cuộc sống của chính bản thân họ

Tuy nhiên, việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta vẫncòn nhiều bất cập Tổ chức bộ máy nhà nước có chỗ còn chưa hợp lý Hiệu lực, hiệu quảquản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực còn hạn chế Luật pháp, cơ chế, chính sách chưađồng bộ Tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn khá nghiêm trọng làm giảm lòngtin của nhân dân vào Đảng và nhà nước, ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển củanền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Hàng loạt vấn đề về lý luận

và thực tiễn trong việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam hiện nay đang đặt ra những đòi hỏi cấp bách mà Đảng, nhà nước và nhân dân

ta cũng như các nhà khoa học Việt Nam cần phải tập trung giải quyết

Trang 6

Vì vậy, nhóm chúng em nhận đề tài “Thực tiễn vận hành mối quan hệ giữa nhànước pháp quyền với kinh tế thị trường và xã hội dân sự” làm đề tài nghiên cứu chochuyên đề tốt nghiệp của mình với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé vàkhiêm tốn của bản thân vào giải quyết những vấn đề trên của đất nước.

Trang 7

CHƯƠNG 1 THỰC TIỄN VẬN HÀNH MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC

PHÁP QUYỀN VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1.1 Khái niệm

Nhà nước pháp quyền không phải là vấn đề hoàn toàn mới lạ, mà là một phạm trù

có nguồn gốc lịch sử tư tưởng từ xa xưa Sự ra đời và phát triển của tư tưởng “Nhà nướcpháp quyền” gắn liền với sự ra đời và phát triển của dân chủ, của tư tưởng loại trừ sựchuyên quyền, độc đoán, vô chính phủ, vô pháp luật Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải

có sự thống nhất giữa tính tối cao của pháp luật với hình thức pháp lý của tổ chức, thựchiện quyền lực Nhà nước Đó là hai yếu tố không thể thiếu được khi nói đến Nhà nướcpháp quyền nói chung Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền xuất hiện rất sớm trong lịch sử

tư tưởng nhân loại, ngay từ khi xuất hiện nhà nước cổ đại và được tiếp tục phát triển, nhất

là trong thời kỳ cách mạng tư sản Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền phản ánh khát vọngcủa nhân dân về một Nhà nước bảo đảm tự do, dân chủ, nhân quyền, đối lập với sự độcđoán, độc tài của Nhà nước chủ nô và chế độ chuyên chế hà khắc của Nhà nuớc phongkiến

Vậy, Nhà nước pháp quyền theo quan điểm của các nhà tư tưởng trong lịch sửnhân loại là nhà nước như thế nào? Đó là Nhà nước bảo đảm tính tối thượng của phápluật trong đời sống xã hội, trong đó pháp luật phải phản ánh ý chí chung, lợi ích chungcủa nhân dân; thực hiện và bảo vệ quyền tự do, dân chủ của nhân dân Nhà nước chịutrách nhiệm trước công dân về những hoạt động của mình và yêu cầu công dân thực hiệncác nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội Nhà nước pháp quyền có hình thức tổ chứcquyền lực Nhà nước thích hợp bảo đảm chủ quyền thuộc về nhân dân, tổ chức thực hiện

có hiệu quả quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; ngăn chặn được sự tuỳ tiện, lạm quyền

từ pháp luật, kể cả vi phạm pháp luật của các cơ quan và công chức Nhà nước

Như vậy, Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu Nhà nước gắn với mộtgiai cấp (Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản, nhà nước xã hội chủ

Trang 8

nghĩa) mà là hình thức tổ chức quyền lực Nhà nước, bảo đảm tổ chức hoạt động của Nhànước tuân theo quy định của pháp luật, thực hiện được quản lý xã hội theo pháp luật, bảođảm chủ quyền và quyền tự do, dân chủ của nhân dân1.

1.1.2 Các yêu cầu cần thiết để xây dựng Nhà nước pháp quyền

Xây dựng được một nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân, bảo đảm thực hiệnngày càng đầy đủ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Cơ cấu tổ chức và chế hoạt động của nhànước phải đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bảo đảm quyền làmchủ, quyền con người của nhân dân, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân

Xây dựng một nhà nước có đủ năng lực quản lý kinh tế, quản lý xã hội có hiệuquả, phát huy được mọi tiềm năng của dân tộc; đồng thời, tiếp thu hợp lý những thànhtựu khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới của thế giới và những tinh hoa văn hoá của nhânloại

Xây dựng nhà nước có bộ máy gọn nhẹ, được tổ chức chính quy, có quy chế làmviệc khoa học, bảo đảm kiểm tra, giám sát và điều hành được hoạt động của xã hội, cũngnhư hoạt động của bản thân bộ máy nhà nước

Xây dựng Nhà nước hoạt động trên cơ sở pháp luật, thực hiện quản lý xã hội theopháp luật, giữ vững kỷ cương Nhà nước và trật tự xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng,bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng

Xây dựng một Nhà nước có đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, toàn tâm, toàn

ý phục vụ nhân dân, có trách nhiệm với dân, đồng thời có bản lĩnh chính trị, năng lựcquản lý, loại trừ được bệnh quan liêu, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, vi phạm quyềnlàm chủ của nhân dân

Bảo đảm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước

1Thái Xuân Sang, Tác động của kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế đến tổ chức

thực hiện quyền lực nhà nước Việt Nam hiện nay, http://truongchinhtrina.gov.vn

Trang 9

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vìnhân dân phải trở thành định hướng, yêu cầu bao trùm toàn bộ tổ chức hoạt động của Nhànước, đồng thời là trách nhiệm của Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên củaMặt trận và mọi công dân1.

1.2 KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Lịch sử phát triển của xã hội loài người có các kiểu tổ chức nền kinh tế là: Nềnkinh tế tập quán truyền thống; nền kinh tế chỉ huy; nền kinh tế thị trường và Nền kinh tếhỗn hợp (kinh tế thị trường hiện đại) Như vậy kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức nềnkinh tế Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, ở đó thị trườngquyết định về sản xuất và phân phối Trong nền kinh tế thị trường người sản xuất vàngười tiêu dùng tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định những vấn đề cơ bản của tổchức kinh tế như sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Đồng thời thịtrường quyết định phân phối tài nguyên cho nền sản xuất xã hội Trong lịch sử phát triểnkinh tế thị trường đã từng tồn tại các mô hình tổ chức kinh tế thị trường như sau: Kinh tếthị trường tự do, kinh tế thị trường xã hội và mô hình kinh tế thị trường hiện đại Trong

mô hình kinh tế thị trường hiện đại có vai trò can thiệp của nhà nước đối với thị trườngđược phát huy triệt để; nhà nước khuyến khích cạnh tranh song giải quyết tốt các vấn đề

xã hội trên cơ sở phát huy triệt để dân chủ, bảo đảm bình đẳng của mọi người dân, mọitầng lớp xã hội; doanh nghiệp bình đẳng trong cạnh tranh Mô hình này được áp dụngphổ biến ở các nước phát triển như Nhật, Mỹ…

Kinh tế thị trường có những đặc trưng cơ bản: Sự luân chuyển của các yếu tố sảnxuất (vốn, sức lao động, khoa học công nghệ…) và sản phẩm từ sản xuất đến tiêu dùngđược thực hiện thông qua mua bán trên thị trường, do thị trường quyết định, lấy tiêuchuẩn ngang giá làm đầu Sản xuất, trao đổi, tiêu dùng hàng hóa tự do khi tham gia vàothị trường như tự do lựa chọn sản phẩm, công nghệ sản xuất; tự do lựa chọn đối tác traođổi; tự do thỏa thuận giá cả… Tự do cạnh tranh; cạnh tranh là thuộc tính của kinh tế thị

1Thái Xuân Sang, Tác động của kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế đến tổ chức

thực hiện quyền lực nhà nước Việt Nam hiện nay, http://truongchinhtrina.gov.vn

Trang 10

trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng hàng hóa,dịch vụ có lợi cho người tiêu dùng Các quy luật kinh tế chi phối mọi hoạt động sản xuấtkinh doanh như quy luật cung cầu, quy luật giá cả, quy luật giá trị (ví dụ, sự chi phối củaquy luật cung cầu: khi cung = cầu thì giá cả xoay quanh giá trị hàng hóa; khi cung lớnhơn cầu thì giá giảm, hàng hóa mất giá; khi cung nhỏ hơn cầu thì tăng giá, hàng có giá).Kinh tế thị trường đề cao giá trị của đồng tiền: đồng tiền đóng vai trò quyết định đối vớinền kinh tế; các đối tác đều theo đuổi lợi ích của mình Thất nghiệp là hiện tượng phổbiến của kinh tế thị trường.

Kinh tế thế giới ngày càng có xu thế mở, liên kết giữa các nền kinh tế và tính phụthuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng: các nước phát triển cần thị trường, cầnnguồn cung cấp nguyên, nhiên liệu và nguồn nhân công rẻ trong khi các nước chậm pháttriển và đang phát triển lại cần vốn, cần công nghệ, cần kỹ năng quản lý và thị trường Cóthể nói, trong thời đại ngày nay không quốc gia nào có thể đứng một mình, tự cô lập vớithế giới bên ngoài mà phát triển được Tính phụ thuộc lẫn nhau của nền kinh tế thị trườngkhiến các quốc gia, dù muốn hay không, buộc phải xích lại gần nhau, hợp tác với nhau đểgiải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu1

1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ KINH TẾ THỊ

TRƯỜNG

Thứ nhất, thị trường đóng vai trò quyết định số lượng và chất lượng sản phẩm Thịtrường cho phép nắm bắt được mức cầu và qua đó quyết định mức cung (về lượng và vềchất) Thực tế này diễn ra vì kinh tế thị trường căn cứ trên nguyên tắc phi tập trung hóa.Tuy nhiên, kinh tế thị trường không mang lại những giải pháp lý tưởng và Nhà nướcđóng vai trò quan trọng trong việc khắc phục những vấn đề mà bản thân cơ chế thị trườngkhông thể giải quyết triệt để Ngoài ra, cơ chế thị trường cũng không tránh khỏi sức ép từcác vấn đề về chính sách công trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay như: lạm phát, thấtnghiệp, ô nhiễm, nghèo đói và các hàng rào thương mại quốc tế khác

1Thái Xuân Sang, Tác động của kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế đến tổ chức

thực hiện quyền lực nhà nước Việt Nam hiện nay, http://truongchinhtrina.gov.vn

Trang 11

Thứ hai, sản xuất, kinh doanh trong kinh tế thị trường có nhiệm vụ đạt đầu ra tối

đa từ các yếu tố đầu vào mà các nhà sản xuất, kinh doanh sử dụng Tức, nó giải quyết vấn

đề quan trọng nhất mà mọi cơ chế kinh tế phải đối mặt: làm thế nào để một xã hội có thểsản xuất hàng hóa và dịch vụ một cách có hiệu quả nhất? Nghiên cứu nhu cầu của ngườitiêu dùng, nhà sản xuất xác định giá bán hay đổi mới công nghệ sản xuất nhằm thu lợinhuận tối đa và giành thắng lợi trong cạnh tranh với các nhà sản xuất, kinh doanh khác

Tất nhiên, nhà sản xuất, kinh doanh không thể lường trước mọi biến đổi trên thịtrường một cách toàn diện, do vậy thường gặp rủi ro thất bại Cân nhắc giữa rủi ro vàthắng lợi của các cá nhân và các doanh nghiệp cho thấy vai trò quan trọng của nhà nướcpháp quyền trong kinh tế thị trường là bảo vệ quyền sở hữu tài sản và thực thi hợp đồnghợp pháp Quyền sở hữu phải được xác định rõ trong luật pháp Chỉ khi quyền tự do sởhữu đó được đảm bảo, các chủ thể cá nhân và các doanh nghiệp mới sẵn sàng chịu rủi ro

về tiền bạc để đầu tư vào kinh doanh hoặc, mới mở rộng kinh doanh Cạnh tranh là nhân

tố đi liền với thị trường, và chính nó có lợi cho người tiêu dùng, đặc biệt chính sách mởcửa kinh tế càng làm cho cạnh tranh có vai trò quan trọng hơn nữa, nhất là trên phươngdiện đổi mới công nghệ sản xuất Song, một mối nguy hiểm sẽ xuất hiện ở đây là khảnăng kinh doanh không đồng đều giữa các doanh nghiệp các nước làm cho một số doanhnghiệp không có khả năng cạnh tranh bị phá sản Xét từ góc độ quản lý xã hội, ở đây sẽnảy sinh một vấn đề là tính hợp lý và khuôn khổ của chính sách hạn chế tự do thương mạinhằm bảo vệ công ăn việc làm trong một số ngành công nghiệp, tức việc làm tốt cho đấtnước, vì công nhân và chủ doanh nghiệp trong các ngành ấy sẽ có thu nhập và lợi nhuậncao hơn, chi tiêu phần lớn số tiền đó ở trong nước Chính sách như vậy chỉ đúng mộtphần, vì nó còn làm phương hại đến người tiêu dùng (giá cả và chất lượng sản phẩm)

Thứ ba, mặc dù thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suấtlao động và chất lượng sản phẩm, song còn có hàng loạt lĩnh vực thị trường không thểcan dự, đòi hỏi can thiệp của nhà nước bằng luật Vai trò của nhà nước pháp quyền ở đâykhông thay thế thị trường mà hoàn thiện các chức năng của thị trường Như lĩnh vực quốc

Trang 12

phòng, an ninh, môi trường - sinh thái cho thấy vai trò không thể thay thế được củanhànước trong việc sử dụng luật pháp vì phúc lợi chung của một dân tộc.

Thứ tư, trong lĩnh vực hoạt động xã hội rất cần đến quản lý bằng pháp luật của nhànước nhằm đưa xã hội đi lên, đó là lĩnh vực giáo dục Tham gia vào quá trình đào tạo haytái đào tạo, công dân tìm kiếm cách cải thiện cuộc sống của mình chứ không cần thiếtphải của cả cộng đồng Nhưng kết quả từ nâng cao học vấn của người đó là người laođộng trở thành thành viên hữu ích và có học vấn cao hơn trong cộng đồng Người laođộng có những kỹ năng mới và qua đó có thể xây dựng được một doanh nghiệp mới đểtạo cơ hội và việc làm cho người khác Như vậy, học vấn của công dân nêu trên sẽ làmlợi cho những người khác, hay nói cách khác, giáo dục đem lại lợi ích ngoại sinh cho mộtquốc gia do những công nhân có học vấn thường linh hoạt và có năng suất lao động caohơn, ít có khả năng thất nghiệp hơn Điều này có nghĩa là chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục

có thể dẫn đến những khoản tiết kiệm của xã hội và cá nhân không phải chi tiêu vào việcphòng chống tội phạm, nghèo đói và các vấn đề xã hội khác, cũng như nâng cao trình độ

kỹ năng, tính linh hoạt và năng suất của lực lượng lao động Do vậy, nhà nước cần sửdụng pháp luật để quy định trợ cấp hoặc khuyến khích các lĩnh vực hoạt động nhằmmang lại lợi ích ngoại sinh Đó, trước hết là giáo dục công lập nhằm tận dụng tối đanguồn lực trí tuệ, nhân tài của đất nước

Thứ năm, phát triển xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường trực tiếp liên quanđến phương diện pháp lý Mặc dù kinh tế thị trường không phải là “giấy phép” cho bóclột hay trộm cướp, song ở đây rõ ràng có những lạm dụng Do vậy, nhà nước cần phải tạo

ra khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thị trường nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của cácbên tham gia quan hệ thị trường, lành mạnh hóa kinh tế và xã hội, qua đó kích thích mọingười tích cực tham gia sản xuất, kinh doanh với tâm trạng vững vàng và qua đó đem lạihiệu quả tối đa Cạnh tranh hợp pháp là đòn bẩy của phát triển kinh tế và các hình thứcsáng tạo khác Chính nhà nước pháp quyền cần đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, hợp pháptrong xã hội

Trang 13

Thứ sáu, kinh tế thị trường tất yếu dẫn đến phân hóa xã hội Do vậy, để xã hội pháttriển bền vững, ổn định, nhà nước chắc chắn phải sử dụng pháp luật để can thiệp bằng cácchương trình tái phân phối thu nhập, phương tiện hữu hiệu và phổ biến ở đây là các chínhsách thuế để phân phối thu nhập sau thuế trở nên công bằng hơn Tất nhiên, việc tái phânphối thu nhập thông qua thuế có thể làm suy giảm động cơ của một nhóm người có thunhâp cao, hơn nữa việc xác định công bằng và hợp lý là gì vẫn là một vấn đề còn bỏ ngỏ.Song, kinh nghiệm của tất cả các nước có nền kinh tế thị trường đầy đủ cho thấy, vì lòngtrắc ẩn và tính công bằng, nhà nước pháp quyền luôn có trách nhiệm hỗ trợ các gia đìnhnghèo và giúp họ thoát khỏi cảnh bần cùng Đây là “mạng lưới an sinh xã hội” cần đượctriển khai nhờ hệ thống luật của nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường.

Như vậy, nguyên tắc pháp quyền đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong quản lýnhà nước đối với thị trường nhằm đảm bảo phúc lợi chung cho mỗi công dân và toàn thểquốc gia1

1.4 THỰC TIỄN VẬN HÀNH MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC PHÁP

QUYỀN VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Việt Nam mặc dù đã đổi mới hơn 30 năm, nhưng việc giải quyết vấn đề này trongthực tiễn còn nhiều hạn chế Trước tình hình đó, tại Đại hội XII của Đảng đã bổ sung:

“giải quyết tốt các mối quan hệ lớn giữa nhà nước và thị trường”2 và đây cũng là mộttrong chín mối quan hệ lớn cần phải giải quyết trong thời gian tới

Trước đổi mới, ở Việt Nam, do chủ trương phát triển nền kinh tế kế hoạch nên vấn

đề thị trường không được nhắc tới và bàn đến Đặc trưng chủ yếu của Nhà nước lúc này

là thâu tóm tất cả về vật tư, hàng hóa, thống nhất thu mua, phân phối, tiêu thụ; về nhânlực thống nhất đào tạo, phân phối; về tiền vốn thống nhất thu, chi; quyền đầu tư tập trung

1Lê Bích Phương, Hà Kiên Tân, Vai trò của nhà nước pháp quyền đối với kinh tế thị trường và kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ờ Việt Nam hiện nay, http://www.oude.edu.vn/

2Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb ST, H

1991, tr 9-10

Trang 14

vào trong tay chính quyền Trung ương Những điều này đã phủ định sản xuất hàng hóa vàtrao đổi hàng hóa Hậu quả là kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng, trì trệ.

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn khẳng định, nền kinh tế thị trường mà chúng

ta xây dựng phải có sự quản lý của Nhà nước Vai trò của Nhà nước đối với kinh tế thịtrường không chỉ xuất phát từ yêu cầu phổ biến của quá trình phát triển kinh tế thị trường,

mà còn xuất phát từ tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Vì vậy, Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991)của Đảng đã xác định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”1 làmột trong bảy phương hướng cơ bản trong quá trình thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược:xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đồng thời, kiên quyết “xóa bỏ triệt để cơ chế quản lý tậptrung quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằngpháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác Xây dựng và phát triển đồng bộ cácthị trường….”2 trên cơ sở nguyên tắc: “Nhà nước quản lý điều hành nền kinh tế bằngpháp luật, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở tôn trọng các quy luậtthị trường Tăng cường công tác giám sát, nhất là giám sát thị trường tài chính, chủ độngđiều tiết, giảm các tác động tiêu cực của thị trường, không phó mặc cho thị trường hoặccan thiệp làm lệch lạc các quan hệ thị trường”3

Thị trường, kinh tế thị trường là một kiểu quan hệ giữa người với người trong sảnxuất, trao đổi và tiêu dùng, nên mang đậm dấu ấn của quan hệ xã hội, của thể chế chínhtrị mà nền kinh tế đó tồn tại Sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay có sựđịnh hướng xã hội chủ nghĩa mà nhân tố sâu xa nhằm bảo đảm định hướng chính trị đốivới kinh tế là đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền.Song, để đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng biến thành hiện thực vận độngcủa nền kinh tế, chúng phải được thể chế hóa thành hệ thống pháp luật, chương trình, kế

1Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb ST, H

1991, tr 9-10

2Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Sđd, tr.12

3Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.141

Trang 15

hoạch phát triển kinh tế - xã hội và được triển khai thông qua Nhà nước, dưới sự quản lýcủa Nhà nước do Đảng lãnh đạo Do đó, sự tham gia của Nhà nước vào quá trình pháttriển kinh tế - xã hội, trong đó có kinh tế thị trường là tất yếu khách quan.

Đặc biệt, nền kinh tế thị trường của nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Đây là hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của thịtrường, vừa dựa trên cơ sở và sự dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủnghĩa xã hội: khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, tăngcường đồng thuận xã hội để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh; mọi thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia thị trường đều được coitrọng, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và văn minh,trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; phân phối kết quả làm ra chủ yếu theo kếtquả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lựckhác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội; Nhà nước quản lýphát huy mặt tích cực, hạn chế, khắc phục mặt trái, tiêu cực của cơ chế thị trường; pháthuy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực kinh tế1 Vì vậy, sự định hướng,chỉ đạo của Nhà nước là cần thiết Việc nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc địnhhướng sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta không mâu thuẫn với vấn đề cótính nguyên tắc: sự vận hành của nền kinh tế thị trường nào cũng trước hết và chủ yếu docác quy luật thị trường quyết định Song, quy luật kinh tế thị trường lại thuộc lĩnh vựcquy luật xã hội Tính khách quan của nó được thể hiện và thực hiện thông qua hoạt động

có ý thức của con người, mà cụ thể ở đây là của Nhà nước

Trong các Đại hội gần đây, Đảng ta một mặt thừa nhận sự tồn tại khách quan củakinh tế thị trường Mặt khác, Đảng cũng thấy rõ những khuyết tật của nó không phù hợpvới bản chất của chủ nghĩa xã hội, nên luôn đề cao vai trò quản lý của Nhà nước xã hộichủ nghĩa Các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội từng bước được hiện thực hóa Hệ thốngluật pháp tạo khung khổ pháp lý cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

đã được bổ sung, hoàn thiện Các loại thị trường bước đầu được hình thành đồng bộ, gắn

1Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.204 - 206

Trang 16

kết ngày càng tốt hơn với thị trường thế giới Các loại hình doanh nghiệp dựa trên cáchình thức sở hữu khác nhau (một điều kiện cơ bản để kinh tế thị trường tồn tại) đều đượckhuyến khích phát triển; trong đó, “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vậtchất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh

tế vĩ mô”1 Quản lý nhà nước về kinh tế đã chuyển đổi căn bản sang phương thức quản lýchủ yếu bằng luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cácnguồn lực kinh tế; nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo lập và phát triển đầy đủ,đồng bộ các yếu tố của nền kinh tế thị trường Những thay đổi quan trọng này đã đảm bảocho nền kinh tế nước ta hội đủ các điều kiện để trở thành thành viên thứ 150 của WTO vàđến nay, đã có gần 30 nước công nhận nước ta có nền kinh tế thị trường đầy đủ

Thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường sau 30 năm đổi mới cho thấy, Đảng ta

đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường Tuy nhiên, đây là vấn đề mới

và phức tạp, thị trường nhiều hay ít, nhà nước ít hay nhiều để nền kinh tế vận hành tốt,phát huy những lợi thế vốn có? Vì vậy hiện nay, việc giải quyết mối quan hệ giữa nhànước và thị trường chưa rõ ràng, còn rất nhiều mâu thuẫn, bất cập

Một là, trong thực tiễn đổi mới, Nhà nước Việt Nam đã sử dụng các hệ thống công

cụ chủ yếu để quản lý nền kinh tế thị trường như: Hệ thống pháp luật nhằm tạo ra “luậtchơi” cho các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế; Công tác kế hoạch và quy hoạch,nhằm hoạch định các mục tiêu và xác lập các phương tiện để đạt các mục tiêu đề ra; Cácchính sách điều tiết kinh tế vĩ mô, đặc biệt chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ; Sửdụng lực lượng vật chất của Nhà nước để bổ khuyết thị trường (trong đó quan trọng nhất

là các loại dự trữ quốc gia); Cung cấp dịch vụ và hàng hoá công cộng; hành chính công;

sử dụng các công cụ hỗ trợ như thông tin, xúc tiến thương mại, cung cấp các dịch vụ sảnxuất… Tuy nhiên, các hệ thống công cụ quản lý, điều tiết của Nhà nước nêu trên đềuchưa đáp ứng yêu cầu Chẳng hạn, hệ thống pháp luật của nước ta trong quản lý kinh tếthị trường chưa hoàn thiện Hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước về kinh tế còn thấp,một mặt là do sự can thiệp của Nhà nước không phù hợp với sự vận động của thị trường

1Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.101

Trang 17

Mặt khác, Nhà nước lại thiếu công cụ và cơ chế giám sát, chế tài để bảo đảm các chủ thểtham gia các quan hệ thị trường tuân thủ “luật chơi” đã đề ra.

Công tác kế hoạch và quy hoạch của Nhà nước trên nhiều lĩnh vực còn bất cập,chưa phù hợp với thực tế Theo các chuyên gia, hiện nay ở Việt Nam có đến đến 80% kếhoạch, quy hoạch, dự án không khả thi Trong đó, tập trung ở các chương trình có vốn từngân sách nhà nước hoặc do Nhà nước bảo lãnh Chẳng hạn, dự án tuyến đường sắt số 1Bến Thành - Suối Tiên (TP.Hồ Chí Minh) đội vốn lên tới hơn 126%, tuyến Cát Linh - HàĐông (Hà Nội) đội vốn lên 57%, dự án Nhà máy Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2 độivốn từ 4.000 lên 8.000 tỷ đồng, kéo dài trong 8 năm chưa xong1 Bên cạnh đó, việc triểnkhai nhiệm vụ sau khi quy hoạch rất trì trệ, không đáp ứng kịp yêu cầu quản lý Điển hìnhnhất là trường hợp Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìnđến năm 2050 được phê duyệt từ năm 2011, đã 5 năm trôi qua nhưng nhiều quy hoạchphân khu, quy hoạch chi tiết chưa được phê duyệt

Hai là, còn có sự nhầm lẫn giữa nhà nước và thị trường Kinh tế thị trường đượcvận động với sự tham gia của ba chủ thể chính: người sản xuất, người tiêu dùng và Nhànước Nhưng trong quản lý nền kinh tế của Việt Nam hiện nay, còn có sự lẫn lộn về vị trí,vai trò của ba chủ thể này Nhiều việc Nhà nước cần phải làm, nhưng lại không làm hoặclàm không đầy đủ Tổng kết 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam đã chỉ rõ hạn chếcủa mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường là: “Chưa làm sáng tỏ vai trò của Nhà nướctrong nền kinh tế thị trường do chưa phân định rõ chức năng Nhà nước - thị trường Nhànước vẫn bao biện nhiều chức năng mà thị trường đảm nhiệm hiệu quả hơn (phân bổ vốn;quản trị doanh nghiệp) trong khi chưa chú ý đúng mức đến những chức năng mà Nhànước phải hoàn thành (xây dựng và thực thi khung khổ quản lý nhà nước “khung khổhành chính - pháp lý”, cung cấp hàng hóa và dịch vụ công, hỗ trợ phát triển, )”2 Bêncạnh đó, trong nhiều trường hợp, Nhà nước đã can thiệp vào vai trò, chức năng của các

1 Số liệu theo bài Còn bất cập trong quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, tác giả Hoài Anh, báo Hải

Quan, bản điện tử, cập nhật ngày 24-01-2016

2TS Đinh Thế Huynh, GS.TS Phùng Hữu Phú, GS.TS Lê Hữu Nghĩa (chủ biên): 30 năm đổi mới và phát

triển ở Việt Nam, Nxb CTQG - ST, Hà nội 2015, tr.96

Trang 18

chủ thể khác Điển hình như, trong lĩnh vực quản lý kinh tế vĩ mô, vai trò quan trọng nhấtcủa Nhà nước là định hướng mục tiêu phát triển, dự báo tình hình biến động của thịtrường; kiểm soát độc quyền; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh…, nhưng Nhà nướckhông tập trung đúng mức, mà lại can thiệp vào vấn đề giá cả, tiền lương… đây là chứcnăng của doanh nghiệp Việc chậm thay đổi thói quen can thiệp của Nhà nước vào thịtrường bằng các biện pháp hành chính, thay vì sử dụng các công cụ can thiệp gián tiếp đểđiều tiết thị trường cũng là một nguyên nhân khiến Nhà nước vận hành thị trường thiếuhiệu quả.

Ba là, “hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao; kỷ luật, kỷ cương chưanghiêm: Nhà nước còn can thiệp trực tiếp, quá lớn trong nền kinh tế Vẫn còn tình trạngbao cấp, xin – cho trong xây dựng và thực hiện một số cơ chế, chính sách”1 Nhà nướccan thiệp quá sâu vào hoạt động, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lạikhông chịu trách nhiệm về vật chất đối với các quyết định của mình Quan hệ hàng hóa,tiền tệ bị coi nhẹ, do đó, trong nhiều trường hợp, đáng lý là quan hệ cung cầu, thì quyềnlực và sự duy ý chí lại đi trước dẫn dắt thị trường

Trước những bất cập trong mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường ở nước tahiện nay, Đại hội XII đã khẳng định, cần phải tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa Nhànước và thị trường và chỉ khi nào việc phân vai giữa Nhà nước - thị trường được làm rõ,được quy định bởi pháp luật, bằng các chức năng, nhiệm vụ cụ thể, thì khi đó mối quan

hệ giữa Nhà nước và thị trường mới là biện chứng, tương hợp và hỗ trợ cho nhau Quan

hệ giữa thị trường với Nhà nước cần phải được xác định phù hợp với trình độ phát triểncủa sức sản xuất Bởi vì, các quốc gia khác nhau sẽ ở những giai đoạn phát triển khácnhau, có trình độ phát triển sức sản xuất, trình độ phát triển thị trường khác nhau, nên xử

lý mối quan hệ giữa vai trò của thị trường với vai trò của Nhà nước cần phải xuất phát từthực tế mỗi nước, dựa trên nguyên tắc làm gì đều phải có lợi cho phát triển sức sản xuất,không thể bê nguyên xi một lý luận, một công thức để áp dụng trong mọi trường hợp

1Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr 100

Trang 19

Hạn chế lớn nhất trong mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường là sự bất cậptrong quản lý của Nhà nước đối với thị trường dẫn tới: “Thể chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa chậm được hoàn thiện, chưa có cơ chế đột phá để thúc đẩy pháttriển”1 Vì vậy, Đảng ta chỉ đạo trong những năm tiếp theo, chúng ta phải tập trung hoànthiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây cũng là một trongnhững nội dung chủ yếu của Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XII) về hoàn thiện thể chếkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mục tiêu đến năm 2020 “phấn đấu cơ bảnhoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theocác tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế”2 Tínhhiện đại và hội nhập quốc tế thể hiện ở chỗ: Kế thừa có chọn lọc những thành tựu pháttriển kinh tế thị trường của nhân loại, kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn 30 năm đổi mới;

có hệ thống pháp luật, các thiết chế, cơ chế, chính sách và các yếu tố thị trường, các loạithị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông suốt, gắn kết chặt chẽ với thị trường và cácnền kinh tế trên thế giới; vai trò, chức năng của Nhà nước và thị trường được xác định vàthực hiện phù hợp với thông lệ, nguyên tắc, chuẩn mực phổ biến của thế giới đương đại

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đóng vai tròđịnh hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng,minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhànước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và bảo vệ tàinguyên, môi trường; phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội Thị trường đóng vai trò chủyếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực, là động lực chủ yếu để giảiphóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kếhoạch phù hợp với cơ chế thị trường

Để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 5(khóa XII) đã nhấn mạnh hoàn thiện thể chế về sở hữu Đặc biệt, lần đầu tiên Đảng ta đã

đề cập tới hoàn thiện thể chế về sở hữu trí tuệ Bởi trong xu thế phát triển và hội nhập

1Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr 60

2Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr 104

Trang 20

kinh tế sâu rộng như hiện nay thì sở hữu trí tuệ còn có giá trị lớn hơn rất nhiều những tàisản hữu hình khác Bên cạnh đó, Đảng ta cũng khẳng định: xây dựng và hoàn thiện thểchế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược, là khâuđột phá quan trọng, tạo động lực để phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững phải điđôi với đổi mới, hoàn thiện bộ máy tổ chức, cán bộ của toàn hệ thống chính trị; xác định

rõ và thực hiện đúng vị trí, vai trò, chức năng và mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường

và xã hội phù hợp với kinh tế thị trường; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữ vững

và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Nền kinh tế ấy vận hànhđầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường nhưng vẫn bảo đảm những yếu

tố nhân văn của thể chế xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở khía cạnh bảo đảm: “sự hài hoà giữatăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, côngbằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững”1

Trong lý thuyết kinh tế đã tồn tại các trường phái khác nhau, từ nhấn mạnh vai tròthị trường, đến nhấn mạnh vai trò nhà nước hay nhấn đến sự cần thiết của cả nhà nước vàthị trường trong nền kinh tế hỗn hợp Tuy nhiên, không có ngưỡng chung cho việc xử lýmối quan hệ này, mà ở mỗi nền kinh tế, mức độ tham gia của nhà nước hay mức độ quyếtđịnh của thị trường là rất đa dạng, tùy thuộc vào trình độ phát triển lực lượng sản xuất,quan niệm về mô hình vận hành, tập quán truyền thống văn hóa Ngay trong bản thânmỗi nền kinh tế, trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau, cũng đều có sự điều chỉnhtrong sự can thiệp của nhà nước vào thị trường Đồng thời thực tiễn lịch sử cho thấy, sựthất bại của không ít nền kinh tế là do tuyệt đối hóa vai trò của nhà nước hoặc tuyệt đốihóa vai trò thị trường Mô hình chung có tính phổ biến hiện nay là phát triển nền kinh tếhỗn hợp mà ở đó, vai trò nhà nước và vai trò thị trường đều được phát huy, bổ khuyết chonhau

Trong mô hình kinh tế thị trường ở các nước phát triển phương Tây, nhà nướcđược chú ý nhiều hơn trong vai trò là người dẫn dắt, điều chỉnh Vai trò này đặc biệt được

1Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khoá XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 21

chú ý trong các thời kỳ khủng hoảng Nhiều quốc gia đã đẩy mạnh quá trình tư nhân hóa,hoặc chuyển giao công - tư, nhà nước hầu như không triển khai đầu tư kinh doanh trựctiếp, bản thân các dịch vụ công cũng được chuyển cho tư nhân tham gia cung cấp Nhànước sử dụng các công cụ điều tiết, nhất là các chính sách tài chính - tiền tệ, thuế, ngânsách, xây dựng các chiến lược, quy hoạch dài hạn để điều chỉnh, định hướng nền kinh

tế, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho các chủ thể trên thị trường hoạt động Ởmột số nền kinh tế Đông Á, trong thời kỳ đầu phát triển, nhà nước can thiệp khá mạnhvào nền kinh tế, thực sự là động lực thúc đẩy và định hướng phát triển Tuy nhiên, trongnhững thập niên gần đây quá trình tư nhân hóa và phân quyền, giải điều tiết được đẩymạnh Vai trò nhà nước tuy được nhấn mạnh hơn so với các nền kinh tế ở châu Âu và

Mỹ, song giữa nhà nước và thị trường đều có sự kết hợp chặt chẽ, nhà nước chú ý hơntrong việc tạo lập hành lang pháp lý, xây dựng các quy tắc, tạo lập kết cấu hạ tầng, chú ýcác chính sách an ninh quốc gia và an ninh con người

Ví dụ như Trung Quốc trong quá trình cải cách, thiết lập thể chế phát triển cũng đãngày càng chú ý đến vai trò thị trường, xem thị trường đóng vai trò quyết định trong phân

bổ nguồn lực phát triển, và cho đây là quy luật phổ biến của kinh tế thị trường và trongquá trình kiện toàn thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa cần tuân thủ quy luật này.Tóm lại, thực tiễn phát triển thế giới cho thấy, để khai thác tốt các nguồn lực, tạo môitrường thuận lợi cho tăng trưởng, bảo đảm lợi ích các thực thể, rất cần xử lý phù hợp vàhiệu quả mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường Cốt lõi vấn đề là ở chỗ chế định mốiquan hệ giữa nhà nước và thị trường để các thực thể không kìm chế, hạn chế nhau, mà đểchúng có thể phát huy vai trò một cách hiệu quả nhất Mỗi thực thể đều có vị trí, vai trò,chức năng khác nhau trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường, đồng thời vị trí, vaitrò của các thực thể cũng có biến đổi cùng với sự biến đổi của mỗi thực thể trong các giaiđoạn của kinh tế thị trường Nhà nước và thị trường nảy sinh và phát triển là kết quả pháttriển tất yếu của sự phát triển xã hội loài người Vấn đề không phải ở chỗ chúng tồn tạihay không mà là ở chỗ định hình thể chế phù hợp với mỗi giai đoạn trong tiến trình pháttriển của kinh tế thị trường

Trang 22

Đối với Việt Nam, trong giai đoạn nền kinh tế kế hoạch tập trung, hệ thống sảnxuất, phân phối và tiêu dùng được thực hiện trên cơ sở kế hoạch của nhà nước, thị trườngđúng nghĩa bị thủ tiêu, vai trò các tổ chức xã hội được lồng ghép vào vai trò thống nhấtcủa nhà nước Vì vậy, như thực tế cho thấy, sản xuất không hiệu quả, nguồn lực khôngđược khai thác tốt, động lực phát triển không được khơi dậy Tuy nhiên, cũng không nênphủ định sạch trơn thành quả của bao năm cả nước dốc sức vừa sản xuất vừa chiến đấu,giải phóng miền Nam Nền kinh tế kế hoạch tập trung cao độ phù hợp với giai đoạn đặcbiệt của đất nước khi phải tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược vừa xây dựng chủnghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa đấu tranh, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đấtnước Có điều sau khi thống nhất đất nước chúng ta đã có sai lầm, chưa kịp thời chuyểnđổi cơ chế cho phù hợp với bối cảnh mới, bối cảnh hòa bình, cả nước cùng bước vào xâydựng xã hội mới Thực hiện đường lối đổi mới, vai trò các thực thể đã được xác địnhngày càng phù hợp hơn.

Thứ nhất, về xác định vai trò nhà nước.

Qua hơn 30 năm đổi mới, chúng ta đã có những thành công bước đầu trong việchình thành và hoàn thiện cơ chế thị trường, cũng như điều chỉnh vai trò tương ứng củanhà nước trong phát triển kinh tế Điều đó thể hiện ở sự thay đổi cơ bản quan niệm vềchức năng của nhà nước trong nền kinh tế Đại hội VII của Đảng đã xác định: “Bộ máynhà nước từng bước chuyển sang thực hiện chức năng quản lý nhà nước, khắc phục dần

sự can thiệp vào điều hành kinh doanh của cơ sở”1 và tại Đại hội VIII, Đảng ta khẳngđịnh tiếp: “ Thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng chủ sởhữu tài sản công của nhà nước Tôn trọng và phát huy đầy đủ quyền tự chủ kinh doanhcủa doanh nghiệp trong cơ chế thị trường”2

Các quan điểm trên đã được phát triển và tái khẳng định rõ và đầy đủ hơn tại Đạihội X của Đảng: “Nhà nước tập trung làm tốt các chức năng: định hướng sự phát triểnbằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ

1Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự thật, H 1991, tr.23

2Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, H.1996, tr 27

Trang 23

các nguyên tắc của thị trường; tạo môi trường pháp lý thuận lợi để phát huy các nguồnlực của xã hội cho phát triển; bảo đảm tính bền vững và tích cực của các cân đối kinh tế

vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của kinh tế thị trường; thực hiện quản lýnhà nước bằng hệ thống pháp luật, giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt động củathị trường và doanh nghiệp ”1

Tiếp đó, Đại hội XI nhấn mạnh việc thực hiện tốt chức năng nhà nước và giảiquyết đúng đắn mối quan hệ nhà nước với thị trường.Tại Đại hội XII, trong quan niệm vềchức năng của Nhà nước trong nền kinh tế đã khẳng định rõ: “Vai trò của Nhà nước đãđược điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường, ngày càng phát huy dân chủ trongđời sống kinh tế - xã hội”2 “Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiệnthể chế kinh tế; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụngcác công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nềnkinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển và bảo vệ tài nguyên, môi trường; pháttriển các lĩnh vực văn hóa, xã hội”3 Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng kinh tế tưnhân là nòng cốt để phát triển một nền kinh tế độc lập, tự chủ Các chủ thể thuộc cácthành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác cạnh tranh cùng phát triển theo pháp luật

Gắn liền với đổi mới nhận thức trên về vai trò nhà nước, là quá trình thể chế hóa,đưa các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống Trước hết, là việcthông qua Hiến Pháp 19924, tiếp đó là Hiến pháp 20135 đã chế định cụ thể vai trò quản lýkinh tế của nhà nước: Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanhnghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững cácngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước… Cùng với đó, hệ thống pháp luật dân sự,kinh tế được ban hành đồng bộ và ngày càng hoàn thiện Việc ban hành và thực hiện cácvăn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vai trò nhiệm vụ nhà nước trong kinh tế đã

1Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, H 2006, tr 26-27

2Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H., 2016, tr 98

3Văn kiện Hội nghị lần thứ Năm, BCHTW khóa XII, Văn phòng TƯ Đảng, H,2017, tr.32

4 Ban hành ngày 15/04/1992, có hiệu lực ngày 18/04/1992

5 Ban hành ngày 28/11/2013, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014

Page | 19

Trang 24

góp phần quan trọng trong việc khơi thông các nguồn lực, phát triển kinh tế - xã hội; thựchiện chính sách an sinh xã hội, tạo sự công bằng, bình đẳng trong xã hội.

Cùng với ban hành hệ thống khung văn bản pháp luật xác lập vai trò quản lý kinh

tế của nhà nước, nhà nước cũng đã ban hành nhiều chính sách bảo đảm môi trường vĩ môcho tăng trưởng Trong đó đáng chú ý là các văn bản quy phạm pháp luật về tài chính đãthiết lập các chuẩn mực để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực tàichính, từ phân phối, động viên tài chính, đến kiểm tra, giám sát các hoạt động tài chínhphát sinh trong nền kinh tế Đối với hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước cũng đã có

nhiều quy định văn bản pháp luật, trong đó đáng chú ý là Luật Doanh nghiệp nhà nước

(năm 1995 và 2003) đã xác định rõ khuôn khổ hoạt động kinh tế của Nhà nước Theo đó,

hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước được chú ý nâng cao hiệu quả, các doanh nghiệp

do Nhà nước thành lập và trực tiếp quản lý được đa dạng hóa chủ sở hữu thông qua cơchế cổ phần hóa hoặc các cơ chế có liên quan và cũng vì vậy số lượng doanh nghiệp nhànước giảm đi trong những năm qua Gắn liền với đó là khu vực kinh tế tư nhân, khu vựckinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được mở rộng dư địa và hoạt động, cạnh tranh bìnhđẳng trên thị trường

Thứ hai, về vai trò thị trường.

“Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả cácnguồn lực, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước đượcphân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường”1 Thịtrường cũng chính là cơ chế chủ yếu thực hiện phân phối các thành quả của tăng trưởngkinh tế, trong đó thu nhập của mỗi người được hình thành trên cơ sở và phù hợp với kếtquả lao động cũng như mức đóng góp về các nguồn lực trong quá trình tạo ra của cải xãhội Đây là những tiền đề quan trọng để mọi chủ thể xã hội phát huy năng lực và sức sángtạo, làm giàu cho chính mình và làm giàu cho xã hội Rõ ràng là, quan niệm về vai trò thịtrường đã có bước đổi mới căn bản, từ chỗ không thừa nhận đến chỗ thừa nhận và khẳng

1Văn kiện Hội nghị lần thứ Năm, BCHTW khóa XII, Văn phòng TƯ Đảng, H.2017,

Trang 25

tr.32-định vai trò chủ yếu trong huy động phân bổ nguồn lực trong thúc đẩy sản xuất và tiêudùng Các luận điểm này đã được thể chế hóa trong các quy định, các luật trong nhữngnăm vừa qua.

Trước hết, tạo dựng khung pháp lý cho việc thực hiện quyền tự do kinh doanh, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, khai thác hiệu quả nguồn lực xã hội Khung

pháp lý này đã được quy định bởi các luật: Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987,

Luật Công ty 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990, Luật Doanh nghiệp nhà nước

1995 và Luật Hợp tác xã 1996, Luật Phá sản (1993, 2004, 2014) Bước ngoặt quan trọng

nhất của quá trình cải cách trong những năm gần đây là việc ban hành và thực thi Luật

Doanh nghiệp (1999, 2005, 2014), Luật đầu tư (chung), thay thế cho Luật đầu tư nước ngoài (1987 sửa đổi, bổ sung 1990, 1992; 1996 sửa đổi, bổ sung 2000) và Luật khuyến khích đầu tư trong nước (1994 sửa đổi, bổ sung 1998), được Quốc hội Việt Nam thông

qua năm 2005, có hiệu lực từ 01/7/2006

Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về thị trường hàng hoá, dịch vụ đã và đang tạo điều kiện cho cơ chế thị trường vận hành có hiệu quả Cụ thể ban hành, Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế năm 1989, tạo khung khổ pháp lý cho các hành vi giao dịch kinh tế trên

thị trường Bộ luật Dân sự 1995, 2005, 2015 và Luật thương mại 1997, 2005 cũng đã

được đưa vào thực hiện với nguyên tắc tự do, tự nguyện, tạo giúp cho các giao dịch trênthị trường ngày càng trở nên sống động Song song với những biện pháp kể trên, trongnhững năm cuối của thập kỷ 80, Việt Nam đã tiến hành những biện pháp cải cách mạnh

mẽ trong lĩnh vực giá cả theo xu hướng hình thành hệ thống một giá tương ứng với giá thị trường Năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định 137- HĐBT về quản

lý giá và 10 năm sau, UBTVQH đã ban hành Pháp lệnh giá nhằm tạo lập khung pháp luật cho việc quản lý giá trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Đặc biệt Luật giá

2012 quy định quản lý giá theo cơ chế thị trường.

Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho việc xây dựng và vận hành thị trường các yếu tố sản xuất quan trọng nhất bằng việc thông qua các luật: Luật Lao động năm

1994 (sửa đổi, bổ sung vào năm 2002, 2006, 2007) và năm 2012, Luật Đất đai năm 1987,

Trang 26

năm 1993 (sửa đổi, bổ sung vào năm 1998, 2001, 2003) và năm 2013, Luật Xây dựng năm 2003, sửa đổi 2014 Đối với thị trường khoa học công nghệ, lần đầu tiên, vấn đề bảo

hộ quyền sở hữu công nghệ được đưa vào thành các quy định trong Bộ luật dân sự 1995 Một số văn bản quy phạm pháp luật quan trọng liên quan đến vận hành thị trường khoa học công nghệ phải kể đến như: Luật Khoa học và Công nghệ (2000, 2013); Bộ Luật dân

sự (2015); Bộ Luật hình sự (1999, 2015 và Luật sửa đổi một số điều luật hình sự 2017).

Đặc biệt đã ban hành hai luật quan trọng là Luật Sở hữu trí tuệ (2005, sửa đổi 2009) và

Luật chuyển giao công nghệ (2006, 2017) Các luật này đã tiếp cận các tiêu chuẩn chung

của thế giới

Bên cạnh những kết quả trong xác định và thể chế hóa vai trò của nhà nước và thịtrường, việc xử lý quan hệ này cũng còn không ít hạn chế đặt ra cần tiếp tục xem xét, giảiquyết

Thứ nhất, về vấn đề sở hữu nhà nước, kinh tế nhà nước.

Trong văn kiện của Đảng đã chính thức sử dụng thuật ngữ sở hữu nhà nước, kinh

tế nhà nước hàm ý thay thế cho sở hữu toàn dân và kinh tế quốc doanh Tuy nhiên, quanniệm về sở hữu nhà nước, sở hữu toàn dân vẫn chưa đạt được sự thống nhất Các quyđịnh pháp luật của Việt Nam cũng chưa rõ ràng và thống nhất trong việc đề cập tới sởhữu nhà nước và sở hữu toàn dân Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, quan hệ giữa Nhà nước với các chủ thể sử dụng sở hữu nhà nước phảiđược thể hiện ở hai góc độ: quyền sở hữu pháp lý (danh nghĩa) và quyền sử dụng thực tế

Ở góc độ quyền sở hữu pháp lý, Nhà nước có quyền nhân thân và quyền tài sản đối vớicác đối tượng sở hữu của mình Ở góc độ quyền sử dụng thực tế, Nhà nước phải xâydựng và phát triển những tổ chức quản lý có hiệu quả tài sản và vốn của Nhà nước giaophó

Kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, các sở hữu nhà nước nhưđất đai, tài nguyên thiên nhiên, của cải, tài sản, tư liệu sản xuất, vốn, ngân sách nhà nước,lực lượng dự trữ, kể cả một phần vốn của Nhà nước đưa vào các doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế khác Nghĩa là, hệ thống kinh tế nhà nước gồm hai bộ phận cấu thành:

Trang 27

doanh nghiệp nhà nước và kinh tế nhà nước phi doanh nghiệp (đất đai, tài nguyên thiênnhiên, của cải, tài sản, tư liệu sản xuất, vốn, ngân sách nhà nước, các quỹ quốc gia…).

Trong những năm qua, kinh tế nhà nước đã đóng vai trò cột trụ, góp phần quantrọng vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạtđược, kinh tế nhà nước cũng đã bộc lộ hạn chế, bất cập, tập trung vào các vấn đề như:việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản; phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệmcủa đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; cơ chế giám sát, côngkhai, minh bạch hoạt động đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp chưa tốt; khuvực sự nghiệp công chiếm quy mô lớn, chưa vận hành theo kinh tế thị trường, còn baocấp lớn từ nhà nước; nguồn lực nhà nước nắm giữ, phân bổ, đầu tư chưa tuân theo quyluật của kinh tế thị trường; việc huy động các nguồn lực đầu tư cho dịch vụ công, pháttriển mạng lưới cung ứng dịch vụ công vẫn còn một số bất cập

Thứ hai, về vấn đề sử dụng các công cụ can thiệp của nhà nước.

Nhà nước đóng vai trò không thể thiếu trong việc điều tiết thị trường thông quaviệc sử dụng các công cụ can thiệp Tuy nhiên, việc sử dụng các công cụ can thiệp củanhà nước còn tồn tại một số bất cập như: công cụ pháp luật chưa ổn định, nhà nước chưathật sự trở thành “trọng tài” cho các chủ thể kinh tế; chính sách tài khóa, tiền tệ, tỷ giáphối hợp thiếu linh hoạt; thiếu tính độc lập tương đối của Ngân hàng Nhà nước với hệthống hành chính; hiệu quả của phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa thờigian vừa qua còn bộc lộ những hạn chế và đối mặt với một số thách thức; việc cung cấpthông tin và trách nhiệm giải trình của các cơ quan hoạch định và thực thi chính sáchchưa được thiết lập một cách chính thức; lực lượng vật chất của nhà nước can thiệp vàothị trường còn phân tán, lãng phí, vừa chưa theo quy hoạch, kế hoạch, vừa chưa theo quyluật của thị trường; quy hoạch, kế hoạch của nhà nước chưa bảo đảm cho đầu tư nhà nước

và tư nhân hiệu quả, thống nhất được lợi ích nhà đầu tư và lợi ích nhà nước, giữa mụctiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, giữa phát triển đất nước, vùng và địa phương; hệthống dịch vụ công chưa phân tách các trách nhiệm tổ chức cung ứng, chi trả phí và quản

lý để tiến hành đổi mới hiệu quả, mở rộng cơ hội cho tư nhân tham gia

Trang 28

Thứ ba, về vấn đề cạnh tranh, chống độc quyền và phát triển kinh tế tư nhân.

Nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh làđiểm đáng ghi nhận trong thời gian qua Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại khoảng cách giữachính sách và thực thi, các doanh nghiệp vẫn còn gặp không ít khó khăn, vướng mắctrong các thủ tục hành chính, đầu tư kinh doanh gây phiền hà, tốn thời gian và chi phí chodoanh nghiệp Nhà nước dường như chưa thật sự tạo môi trường cạnh tranh bình đẳnggiữa khu vực công và khu vực tư, giữa các tổ chức kinh tế trong khu vực tư, trong tiếpcận các nguồn lực công; chưa giải phóng triệt để tiềm lực, thế mạnh của kinh tế tư nhântrong nền kinh tế, thiếu các doanh nghiệp tư nhân đủ mạnh để vươn ra hội nhập quốc tế

Thứ tư, về vấn đề tôn trọng quy luật kinh tế thị trường và vai trò thị trường.

Nhìn một cách tổng thể, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao; kỷ luật, kỷcương chưa nghiêm: Nhà nước còn can thiệp trực tiếp, quá lớn trong nền kinh tế Vẫn còntình trạng bao cấp, xin – cho trong xây dựng và thực hiện một số cơ chế, chính sách Nhànước can thiệp quá sâu vào hoạt động, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhưnglại không chịu trách nhiệm về vật chất đối với các quyết định của mình Quan hệ hànghóa, tiền tệ bị coi nhẹ, do đó, trong nhiều trường hợp, đáng lý là quan hệ cung cầu, thìquyền lực và sự duy ý chí lại đi trước dẫn dắt thị trường Nhà nước dường như chưa đặtdoanh nghiệp nhà nước với tư cách là nhà đầu tư bình đẳng trên thị trường; nguồn lựcnhà nước đầu tư theo quy hoạch, kế hoạch chưa hoàn toàn tôn trọng quy luật thị trường,

bị lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm chi phối, dẫn tới hiệu quả thấp

Bên cạnh đó, trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thể chế kinh tếnước ta vẫn chậm đổi mới, thiếu chủ động trong xây dựng các rào cản không trái với cáccam kết quốc tế để bảo vệ thị trường và doanh nghiệp trong nước trước những tác độngtiêu cực từ bên ngoài Bên cạnh những đổi mới trong quá trình gia nhập thị trường quốc

tế, nhưng các vấn đề như hợp đồng, thực thi, các thị trường, nhân tố sản xuất, đất đai, lao

Trang 29

động, tài chính…, còn nhiều điều phải xem xét, chỉnh sửa theo hướng tiếp cận chuẩn mựcquốc tế Có như vậy mới bảo đảm sự vận hành của nền kinh tế theo cơ chế thị trường1.

1.5 TÌNH HUỐNG THỰC TẾ

1.5.1 Việt Nam gia nhập CPTPP

Ngày 12/11/2018, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái BìnhDương (CPTPP) cùng các văn kiện liên quan đã được phê chuẩn tại Kỳ họp thứ 6, Quốchội khóa XIV CPTPP được coi là Hiệp định thương mại tự do lớn thứ ba thế giới hiệnnay và được thực thi từ năm 2019 Hiệp định sẽ giúp mở rộng thị trường xuất khẩu, thuhút đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng, cải cách chính sách theo hướng minh bạch và thôngthoáng hơn

Báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội đánh giá, với Hiệp định đối tác toàn diện vàtiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), kim ngạch xuất nhập khẩu có khả năng tăngthêm khoảng 4,04% đến năm 2035 CPTPP có thể tạo thêm 20.000-26.000 việc làm/năm.Hội nhập chính là con đường hiện thực hóa mục tiêu thịnh vượng của Việt Nam Về thuhút FDI, phần đầu tư của các thành viên CPTPP vào Việt Nam chiếm khoảng 25% tổngmức đầu tư

Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), lũy kế đến nay,các nhà đầu tư Nhật Bản đã đầu tư vào Việt Nam trên 56,2 tỷ USD Con số này của nhàđầu tư Singapore là 46,2 tỷ USD, còn của Malaysia là 12,5 tỷ USD, Canada 5 tỷ USD,Australia gần 1,86 tỷ USD, Brunei hơn 1 tỷ USD Hiện nay, trong số 11 quốc gia thànhviên CPTPP, ngoài Peru chưa có dự án đầu tư vào Việt Nam, thì tất cả các thành viên cònlại đều đã đầu tư vào Việt Nam

Tổng cộng, các nước thành viên CPTPP đã đầu tư vào Việt Nam khoảng 123 tỷUSD, chiếm gần 37% tổng vốn FDI đăng ký đầu tư vào Việt Nam trong hơn 3 thập kỷvừa qua Đây là một con số không hề nhỏ, cho thấy đầu tư của các thành viên CPTPP có

1 Vũ Văn Hà, Tạp chí Cộng sản, Chế định phù hợp và hiệu quả quan hệ nhà nước, thị trường và xã hội

trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,

http://hdll.vn/vi/nghien-cuu -trao-doi

Trang 30

ý nghĩa rất lớn đối với thu hút FDI của Việt Nam Tham gia Hiệp định CPTPP là cơ hội

để Việt Nam tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật kinh tế, trong đó có thể chế kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, hỗ trợ cho tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng và

cơ cấu lại nền kinh tế

Đồng thời, Việt Nam có thêm cơ hội hoàn thiện môi trường kinh doanh theohướng thông thoáng, minh bạch và dễ dự đoán hơn, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế tiêntiến, từ đó thúc đẩy cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài

Có thể thấy, việc Nhà nước kí kết tham gia hiệp định với các nước thành viênmang đến nhiều lợi ích cho Việt Nam như đã phân tích ở trên Tuy nhiên, cũng có nhiềuthách thức đối với nước ta, có nhiều ý kiến nói việc kí kết hiệp định là quá vội vàng, vìnước ta là nước đang phát triển, còn nghèo so với các nước thành viên khác Việc hộinhập không phải chỉ để hội nhập, hội nhập phải vì mục tiêu phát triển Hiệp định này hiệnthực hóa khát vọng của Việt Nam Vì vậy, việc kí kết hiệp định là hoàn toàn đúng đắn,thể hiện tầm nhìn của Nhà nước về tương lai phát triển nền kinh tế Việt Nam

1.5.2 Nhà máy Lọc hoá dầu Nghi Sơn vận hành thương mại

Dự án do Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và đại diện Chính phủ các quốc giatrong liên doanh ấn nút khởi công ngày 23/10/2013 Chiều 23/12/2018, Liên hợp Lọc hóadầu Nghi Sơn, Thanh Hóa đã vận hành thương mại Đây là dự án trọng điểm quốc gia vềdầu khí, có quy mô xây dựng và tổng mức đầu tư lớn nhất từ trước đến nay tại Việt Nam

Dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn chính thức vận hành thương mại nhận được sự ủng hộ vàtán thành của nhà nước Dự lễ ra mắt dự án có sự tham dự của đồng chí Nguyễn XuânPhúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ; các đồng chí nguyên Chủ tịch nướcTrần Đức Lương, Trương Tấn Sang; đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Chủ tịch Quốchội; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị và rất nhiều những đồng chí chủ chốt khác giữnhững vai trò quan trọng trong việc quản lý nhà nước

Liên hợp Lọc hoá dầu Nghi Sơn được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư vàoKhu Kinh tế Nghi Sơn năm 2008, tổng vốn đăng ký đầu tư 9 tỷ USD, khởi công 2013,

Trang 31

gồm các nhà đầu tư là Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam góp vốn 25,1%, Công tyIdemitsu Kosan góp vốn 35,1%, Công ty Hóa chất Mitsui 4,7% và Tập đoàn Dầu khíQuốc tế Kuwait 35,1% Sau quá trình xây dựng, đến tháng 6/2018, tất cả các phân xưởngcông nghệ đã được khởi động thành công theo quy trình, cho ra nhiều dòng sản phẩmđảm bảo tiêu chuẩn để có thể xuất khẩu và cung cấp trong nước, trong đó có các sảnphẩm như Ron 92, Ron 95, nhiên liệu máy bay, benzene, hạt nhựa PP, dầu diesel

Dự án được khởi công ngày 23/10/2013, hoàn thành xây dựng cơ khí vào tháng4/2017 và đưa nguyên liệu vào chế biến từ tháng 3/2018 Tháng 6/2018, tất cả các phânxưởng công nghệ đã được khởi động thành công theo quy trình Công suất chế biến đượcnâng lên dần đến công suất thiết kế để chuẩn bị cho chạy kiểm tra kỹ thuật với từng phânxưởng công nghệ và cho toàn bộ nhà máy Ngày 3/11/2018, NSRP đã hoàn tất việc kiểmtra kỹ thuật tổng thể toàn bộ nhà máy Ngày 14/11/2018, tính đến tháng 12/2018, nhàmáy đã chế biến khoảng 5 triệu tấn dầu thô, xuất bán hơn 3 triệu tấn sản phẩm, đóng gópngân sách cho tỉnh Thanh Hóa hơn 8.000 tỷ đồng

Dự án Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn đưa vào vận hành thương mại có ý nghĩaquan trọng về chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng trong quá trình phát triểnđất nước, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia Với công suất chế biến 10triệu tấn dầu thô/năm, cùng với Nhà máy lọc dầu Dung Quất đang vận hành thì sản lượngxăng dầu cung cấp từ các Nhà máy này sẽ đáp ứng khoảng 80-90% nhu cầu xăng dầu chothị trường trong nước, giảm bớt sự phụ thuộc vào nhập khẩu từ thị trường bên ngoài

Theo Thủ tướng chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, sự kiện Dự án Liên hợp Lọc hóadầu Nghi Sơn đi vào vận hành thương mại là một lợi thế và cơ hội mới của tỉnh ThanhHóa cũng như khu vực Bắc Trung bộ Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành có liên quan phốihợp chặt chẽ với tỉnh Thanh Hóa và các tỉnh trong khu vực khẩn trương rà soát, bổ sungquy hoạch, kế hoạch phát triển toàn diện về kinh tế / xã hội, tạo mọi điều kiện thuận lợi

để thu hút các nguồn lực đầu tư trong nước, quốc tế; qua đó, tạo động lực mới, sức mạnhtổng hợp mới, đưa tỉnh Thanh Hóa phát triển thành một trung tâm kinh tế, công nghiệp,

Trang 32

thương mại, dịch vụ của khu vực Bắc Trung bộ, đóng góp nhiều hơn cho sự phát triểnnhanh và bền vững của vùng và cả nước.

Có thể nói, ở dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn chính thức vận hành thương mại nhànước có một vai trò rất quan trọng Nhờ vào sự ủng hộ, xem xét và chấp nhận đưa dự ánvào vận hành mà dự án đã phát huy được hết những hiệu quả của mình đóng góp đượcnhững thành tự góp phần vào việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường ở nước tahiện nay

1.5.3 Điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ để ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối

Trong thời gian qua, các giải pháp chính sách tiền tệ phối hợp hài hòa với chínhsách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, góp phần kiểm soát hiệu quả lạmphát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng hợp lý Theo ThS Vũ Quỳnh Anh, thờigian qua, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô

và tiền tệ; tập trung điều tiết và đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản cho các tổ chức tíndụng (tổ chức tín dụng), duy trì lãi suất thị trường liên ngân hàng ở mức hợp lý

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất chào muatrên thị trường mở (OMO) từ 5%/năm xuống 4,75%/năm, để góp phần giảm chi phí vốncho tổ chức tín dụng; chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục rà soát và cân đối khả năng tàichính để áp dụng mức lãi suất cho vay hợp lý, nhằm chia sẻ khó khăn với khách hàng vàđảm bảo an toàn tài chính trong hoạt động Bà Vũ Quỳnh Anh cho biết, mặt bằng lãi suấtcủa các tổ chức tín dụng năm 2018 về cơ bản ổn định; lãi suất cho vay phổ biến khoảng 6

- 9%/năm đối với ngắn hạn, trung và dài hạn khoảng 9 - 11%/năm

Tỷ giá và thị trường ngoại tệ ổn định, thông suốt, Ngân hàng Nhà nước tiếp tụcmua ngoại tệ bổ sung, dự trữ ngoại hối nhà nước Trong năm 2018, Ngân hàng Nhà nước

đã chủ động và linh hoạt điều tiết thị trường ngoại hối, điều hành tỷ giá trung tâm linhhoạt, phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, điều tiết thanh khoản, lãi suất tiềnVND hợp lý để ổn định thị trường, có điều kiện bổ sung dự trữ ngoại hối Nhờ đó, tỷ giá

và thị trường ngoại tệ ổn định, thanh khoản đảm bảo, các giao dịch diễn ra thông suốt

Trang 33

Ngoài ra, công tác tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu có nhiềuchuyển biến tích cực Ước tính đến cuối tháng 12/2018, hệ thống tổ chức tín dụng đã xử

lý được 149,22 nghìn tỷ đồng nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống tổ chức tàichính là 1,89%, giảm so với mức 2,46% cuối năm 2016 và mức 1,99% cuối năm 2017

Nhằm duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, ổnđịnh thị trường tiền tệ và ngoại hối, bà Vũ Quỳnh Anh cho rằng, cần tập trung triển khaiđồng bộ 6 giải pháp trọng tâm, cụ thể:

Thứ nhất, bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tài chính, tiền tệ trong nước

và quốc tế, điều hành chủ động, linh hoạt, thận trọng, đồng bộ các công cụ chính sáchtiền tệ nhằm ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối, kiểm soát tăng trưởng tổng phươngtiện thanh toán và tín dụng theo định hướng đề ra

Thứ hai, điều hành tín dụng phù hợp với chỉ tiêu định hướng, đi đôi với nâng cao

chất lượng tín dụng; Thông báo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với từng tổ chức tíndụng trên cơ sở đánh giá tình hình hoạt động và khả năng tăng trưởng tín dụng lànhmạnh

Thứ ba, chủ động thực hiện các giải pháp quản lý thị trường ngoại tệ, thị trường

vàng hiệu quả; Tiếp tục củng cố dự trữ ngoại hối nhà nước; Triển khai tích cực các biệnpháp hạn chế tình trạng đô la hóa trên lãnh thổ, tăng niềm tin vào VND, góp phần ổn địnhthị trường ngoại tệ và kinh tế vĩ mô

Thứ tư, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan trong quản lý và điều hành

kinh tế vĩ mô trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát nhằm thực hiện cácmục tiêu đề ra

Thứ năm, trong công tác tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu,

Ngân hàng Nhà nước xác định mục tiêu: Tiếp tục triển khai, giám sát chặt chẽ việc thựchiện cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với tăng cường xử lý nợ xấu theo nguyên tắc thịtrường; hoàn thiện hành lang pháp lý hỗ trợ xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các tổ chức tíndụng Việc xử lý nợ xấu phải gắn với các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu

Trang 34

mới phát sinh và nâng cao chất lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng; phát huy vai tròcủa Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam trong xử lý nợ xấu đểđảm bảo duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn, bền vững…

Thứ sáu, trong hoạt động thanh toán, tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ chế,

chính sách phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, hạn chế thanh toán bằng tiền mặtphù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng yêu cầu sử dụng thanh toán của người dân;Triển khai có hiệu quả Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giaiđoạn từ 2016 đến 2020 đã được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2545/QĐ-TTgngày 30/12/2016

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng khẳng định, bám sát diễnbiến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, 3 tháng đầu 2019, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành chínhsách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp hài hòa chính sách tài khóa và cácchính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng Sáng 1/4, tạibuổi họp báo thông tin về điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng quýI/2019, Ngân hàng Nhà nước cho biết, tính đến thời điểm 25/3/2019, tổng phương tiệnthanh toán tăng 2,67% so với cuối năm 2018 Tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt2,28%

Ông Phạm Thanh Hà, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ Ngân hàng Nhà nước chobiết, trong 3 tháng đầu năm 2019, tỷ giá và thị trường ngoại tệ ổn định, được hỗ trợ từnguồn cung ngoại tệ dồi dào, thanh khoản thị trường tốt, hệ thống tổ chức tín dụng tiếptục mua ròng ngoại tệ từ khách hàng, nhờ đó, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục mua đượcngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước Về điều hành tín dụng, ông Hà cho biết, trên

cơ sở mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2019 là 6,8% và lạm phát bình quân dưới 4%được Quốc hội và Chính phủ đặt ra từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước đã xây dựng chỉtiêu định hướng tăng trưởng tín dụng cả năm 2019 khoảng 14%, có điều chỉnh phù hợpvới diễn biến, tình hình thực tế

Trang 35

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đã có công văn chỉ đạo định hướng tăng trưởng tíndụng toàn hệ thống và thông báo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với từng tổ chức tíndụng; trong đó, ưu tiên chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức cao hơn đối với tổ chức tíndụng thực hiện trước thời hạn các quy định về tỷ lệ an toàn vốn tại Thông tư 41/2016/TT-Ngân hàng Nhà nước ngày 30/12/2016.

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước nêu rõ, kết quả cơ cấu lại các tổ chức tín dụng

đã tạo sự ổn định, an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng được giữ vững, cụ thể: Nănglực tài chính của các tổ chức tín dụng tiếp tục được củng cố, vốn điều lệ tăng dần qua cácnăm; Chất lượng tín dụng được cải thiện; Quy mô hệ thống các tổ chức tín dụng tiếp tụctăng Các giải pháp xử lý nợ xấu được triển khai đồng bộ cùng với các biện pháp kiểmsoát, phòng ngừa nợ xấu mới phát sinh đã góp phần nâng cao chất lượng tín dụng vàgiảm tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng Tỷ lệ nợ xấu nội bảng được duy trìdưới 2%

Kết quả xử lý nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42 tính đến 31/01/2019, ướctính toàn hệ thống tổ chức tín dụng đã xử lý được khoảng 204,4 nghìn tỷ đồng nợ xấu xácđịnh theo Nghị quyết 42, ước đạt trên 40,1% tổng nợ xấu được xác định theo Nghị quyết

số 42 (riêng năm 2018 xử lý được khoảng 113,4 nghìn tỷ đồng)

Tại họp báo, Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng nhấn mạnh, Ngân hàng Nhà nước

đã điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ, giữ ổnđịnh các mức lãi suất điều hành và chỉ đạo tổ chức tín dụng rà soát, cân đối tài chính đểđáp áp dụng lãi suất cho vay hợp lý Hiện, lãi suất cho vay đồng Việt Nam phổ biếnkhoảng 6% - 9%/năm đối với ngắn hạn và 9% - 11%/năm đối với trung và dài hạn

Cơ cấu tín dụng tiếp tục theo hướng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinhdoanh được ưu tiên, các dự án lớn trọng tâm, trọng điểm theo chủ trương của Chính phủnhằm hỗ trợ có hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế Cũng theo bà Hồng, thời gian qua,Ngân hàng Nhà nước đã chủ động triển khai các giải pháp mở rộng tín dụng sản xuất, tiêudùng và triển khai nhiều giải pháp căn cơ, quyết liệt góp phần đẩy lùi tín dụng đen

Trang 36

Đặc biệt, những ngày đầu năm 2019, các ngân hàng đã chủ động giảm lãi suất cho vay để

hỗ trợ cho DN hoạt động trong các lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ với mứcgiảm phổ biến khoảng 0,5%/năm

Năm 2018, Bộ Tài chính có vai trò quan trọng, là đơn vị đầu mối phối hợp với các

bộ ngành để làm việc với các cơ quan xếp hạng tín nhiệm quốc tế, nâng xếp hạng tínnhiệm của Việt Nam Cũng trong năm, hai bên đã phối hợp chặt chẽ để điều hành trướccác tình huống Đơn cử như khi cổ phần hoá Sabeco, thu về lượng ngoại tệ rất lớn tớikhoảng 4 - 5 tỷ USD, tạo một áp lực trong việc điều hành của Ngân hàng Nhà nước khimua vào lượng ngoại tệ lớn này Đồng thời, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính đã phối hợp xử

lý nhiều vụ việc cụ thể, như vụ kiện quốc tế với số tiền trên dưới 300 triệu USD, tham giahội đồng định giá tài sản, đóng góp cho công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũngchung của Đảng, Nhà nước…

Trước hết, chúng ta có thể thấy rằng Ngân hàng Nhà nước đã điều hành chính sách lãisuất một cách linh hoạt, phù hợp các cân đối vĩ mô và diễn biến thị trường, giữ mặt bằng lãisuất tương đối ổn định để tạo điều kiện bảo đảm nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợthúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trước áp lực tăng luôn rình rập, việc giữ một mặt bằng lãi suất

ổn định được đánh giá như thành công bước đầu trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngânhàng Nhà nước Việc kiểm soát tốt tín dụng trong năm cũng góp phần kiểm soát lạm phát và

hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Trên thị trường ngoại tệ, dù có nhiều áp lực từ thị trường quốc tếnhưng tỷ giá trong nước vẫn tương đối ổn định, nhất là khi so với mức độ mất giá của cácđồng tiền mới nổi và đang phát triển Thanh khoản thị trường được bảo đảm, các giao dịchngoại tệ diễn ra thông suốt, các nhu cầu mua ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ, kịpthời Bên cạnh việc duy trì ổn định vĩ mô, công tác tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và xử lý nợxấu cũng được triển khai tích cực Ngân hàng Nhà nước đã tiếp tục xây dựng và hoàn thiệncác chính sách, khuôn khổ và cơ chế nhằm triển khai thành công Kế hoạch tái cơ cấu và xử

lý nợ xấu 2016-2020 Một loạt văn bản, khuôn khổ pháp lý đã được ban hành, phù hợp vớithông lệ quốc tế, giúp nâng cao năng lực

Trang 37

quản trị điều hành, quản lý rủi ro theo tiêu chuẩn Basel 2 và bước đầu đã được hệ thốngngân hàng đón nhận tích cực.

Từ những thực tế trên, ta có thể thấy rằng Nhà nước pháp quyền đóng một vai tròkhông nhỏ trong việc phát triển nền kinh tế thị trường, tự do trao đổi mua bán của ViệtNam hiện nay Vai trò của Nhà nước pháp quyền không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ xâydựng kinh tế thị trường mà còn góp phần trong việc xây dựng và hoàn thiện các thể chế,khuôn khổ pháp luật nhằm nâng cao sự phát triển của kinh tế thị trường Đồng thời, kinh

tế thị trường cũng góp phần chỉ ra những thiếu sót, mâu thuẫn, tranh chấp và hạn chế củakhung pháp lý mà Nhà nước pháp quyền đề ra, từ đó làm tiền đề để Nhà nước phápquyền hoàn thiện khung pháp lý một cách hoàn chỉnh nhất, đảm bảo giải quyết các vấn đềđặt ra trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nhằm mục tiêu phát triển kinh tế thị trườngngày một tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ hơn

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN VẬN HÀNH MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC

PHÁP QUYỀN VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ 2.1 KHÁI QUÁT XÃ HỘI DÂN SỰ

2.1.1 Khái niệm xã hội dân sự

Khái niệm xã hội dân sự xuất hiện từ rất sớm, được các nhà tư tưởng Hy Lạp cổđại và La Mã đưa ra và sử dụng, tuy nhiên, mãi đến Thomas Hoppes (1588-1679) thì kháiniệm xã hội dân sự được hiểu theo nghĩa đúng theo cách người ngày nay hiểu và sử dụng

Xã hội dân sự là xã hội trong đó các tổ chức khác nhau của các công dân như đảng phái,công đoàn, hợp tác xã, nhóm, thực hiện mối liên hệ giữa công dân với nhà nước, không

để cho nhà nước áp bức các công dân của mình1 Còn theo Trung tâm Xã hội dân sự củaTrường đại học kinh tế London định nghĩa Xã hội dân sự như sau: Xã hội dân sự đề cậptới một mảng các hoạt động tập thể tự nguyện xung quanh các giá trị, mục tiêu, ý thíchchung Về lý thuyết, các hình thái tổ chức xã hội dân sự khác biệt hẳn với các hình thái tổchức nhà nước, gia đình và thị trường Nhưng trong thực tế thì, ranh giới giữa nhà nước,

xã hội dân sự, gia đình và thị trường là khá lẫn lộn, mập mờ và không rõ ràng Xã hội dân

sự thường bao gồm một sự đa dạng về phạm vi hoạt động, các thành viên tham gia và cáchình thái tổ chức, khác nhau về mức độ nghi lễ, tự do và quyền lực Xã hội dân sự thườngđược hình thành dưới dạng các tổ chức như các hội từ thiện, các hiệp hội, các công đoàn,các nhóm tương trợ, các phòng trào xã hội, các hiệp hội kinh doanh, các liên minh, và cácđoàn luật sư2 Các định nghĩa phổ biến về “xã hội dân sự” hiện nay đều nhấn mạnh tới

tinh thần tự nguyện của công dân trong việc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp và giá trị củamình Sự thừa nhận mọi người là bình đẳng, bất kể họ là ai về thành phần và nguồn gốcxuất thân, có các quyền và tự do được pháp luật thừa nhận, có khả năng tự biểu hiện nhâncách và ý chí, tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình và các hậu quả của hành vi đó.3

Có thể hiểu xã hội dân sự là các nhóm hoặc tổ chức hoạt động vì lợi

1Chế độ Dân chủ, nhà nước và xã hội - N.M.Voskresenskaia và N.B.Davletshina, Nhà xuất bản Tri Thức,

tr 242, 2009

2“What is civil society?”, 2004 Centre for Civil Society, London School of Economics

3 Giáo trình Nhà nước pháp quyền- Đào Trí Úc, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội, tr 218

Trang 39

ích của cộng đồng, dựa trên cơ sở tự nguyện, không phụ thuộc vào chính phủ và không vìmục đích lợi nhuận.

Xã hội dân sự tại Việt Nam phát triển từ khi khái niệm dân chủ và quyền công dânđược người Pháp đưa vào Việt Nam đầu thế kỷ 20 Trước năm 1945, các phong trào và tổchức dân sự có sự phát triển bước đầu tại Việt Nam Sau năm 1945, tại miền Bắc, xã hộidân sự bị hạn chế, gần như xóa bỏ Trong khi tại miền Nam, xã hội dân sự vẫn tồn tại vàphát triển, một số tổ chức trở thành công cụ đắc lực ngầm phục vụ cho các hoạt độngchính trị của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam chống lại Mỹ Sau năm 1975 và đếnrất gần đây, xã hội dân sự không được phát triển tại Việt Nam do Việt Nam hạn chế cácphong trào dân sự và lập hội, bởi lo ngại tiềm ẩn các nguy cơ an ninh Mãi tới gần đây, xãhội dân sự bắt đầu phát triển trở lại Trong đó, Nghị quyết số 37-NQ/TW về công tác lýluận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030 của Đảng Cộng sản Việt Nam có đề cậpđến “Xã hội dân sự” như là vấn đề cần nghiên cứu trong việc phát huy quyền làm chủ củangười dân đi đôi với hoàn thiện hệ thống chính trị1

Quan điểm của các cơ quan an ninh Việt Nam cho rằng xã hội dân sự có nhiềuđiểm tích cực; đó là hoạt động trong khuôn khổ pháp lý để thể hiện quyền làm chủ củanhân dân đối với xã hội và Nhà nước, góp phần giúp Nhà nước giảm bớt gánh nặng chiphí, tinh giản bộ máy, hoạt động hiệu quả và minh bạch; là cầu nối các cá nhân với Nhànước; cùng với Nhà nước hoạch định và tổ chức phản biện xã hội đối với các chủ trương,chính sách Song thực tiễn ở các nước Liên Xô và Đông Âu năm 1990, hay biến độngchính trị ở Trung Đông, Bắc Phi năm 2012 đã cho thấy: Các thế lực bên ngoài đặc biệtchú trọng thúc đẩy, hình thành các tổ chức xã hội dân sự theo tiêu chí phương Tây, từngbước tạo ra tổ chức đối lập, hình thành xã hội đa đảng; áp đặt các điều kiện về chính trị,kinh tế, văn hóa theo kiểu của họ, thực hiện “Cách mạng màu”, “Mùa xuân Ả Rập” coi

đó là phương thức hoạt động chủ yếu nhằm lật đổ chế độ xã hội ở các quốc gia này Dovậy, cần phải kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức này, ngăn chặn hoạt động lợi

1Nghị quyết số 37/2014/ NQ-TWW về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030

Ngày đăng: 01/10/2019, 10:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w