phan tich bien dong lai suat trong nam 2010 1575
Trang 1Đề tài: “Phân tích những biến
động Lãi suất thị trường
trong năm 2010”
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế hiện đại, chính sách tiền tệ của chính phủ sử dụng lãi suấtnhư một công cụ quan trọng để tác động vào nền kinh tế, kiểm soát lượng tiền cungứng Lãi suất là một phạm trù kinh tế, phản ánh mối quan hệ giữa người cho vay vàngười đi vay, phản ánh mối quan hệ giữa cung và cầu về tiền tệ, thực trạng kinh tếcủa một nước Thông qua sự biến động của lãi suất, người ta có thể dự đoán nềnkinh tế đang phát triển hay đang suy thoái
Lãi suất là một trong những vấn đề trung tâm của nền kinh tế, vì nó tác độngđến chi phí đầu tư, do đó nó là yếu tố quan trọng quyết định tổng mức đầu tư vàtổng mức cầu về tiền tệ (GNP) Sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2007 - 2008Việt Nam đã phần nào khắc phục được hậu quả và đang tiếp tục ổn định nền kinh tếvĩ mô để thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững Cho đến nay công cụLãi suất đã phần nào khẳng định được vai trò của nó trong việc điều hành chínhsách kinh tế của Nhà Nước Điểm nổi bật về lãi suất huy động cũng như lãi suất chovay trong năm 2010 là ngày càng tiến gần đến tự do của nó, tức là ngày càng phùhợp hơn với cung cầu về vốn trên thị trường Tuy nhiên, để tăng hiệu quả hoạt độngcủa hệ thống ngân hàng thương mại và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệptrong nền kinh tế đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước phải tiếp tục đổi mới hơn nữa cơ chếđiều hành Lãi suất trong thời gian tới
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn này em xin chọn đề tài “Phân tích những biến
động Lãi suất thị trường trong năm 2010” làm bài tiểu luận của mình Do còn hạn
chế trong việc hiểu biết về lĩnh vực tài chính kinh tế, nên bài tiểu luận của emkhông tránh khỏi những thiếu xót Kính mong thầy cô giúp đỡ, góp ý để em hoànthành bài tiểu luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC A- MỞ ĐẦU 1 B- NỘI DUNG 4
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA LÃI
SUẤT TRONG NỀN KINH TẾ 4
1 Khái niệm 4
2 Các phép đo lãi suất 4
3 Các nhân tố tác động đến lãi suất 5
4 Vai trò và tác động của lãi suất 6
II CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT, BIẾN ĐỘNG VỀ LÃI SUẤT TRONG NĂM 2010 7
1 Cơ chế điều hành lãi suất của NHNN và bến động lãi suất 7
2 Nhận xét cá nhân – Kiến nghị 30
C- KẾT LUẬN 35 Tài liệu tham khảo 35
Trang 4A- NỘI DUNG
Bố cục gồm 2 phần chính:
Phần I: Lý luận chung về lãi suất và vai trò của lãi suất trong nền kinh tế
Phần II: Chính sách lãi suất cùng sự biến động lãi suất trong năm 2010
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA LÃI SUẤT TRONG NỀN KINH TẾ.
1 Khái niệm
Lãi suất là một công cụ nhạy cảm trong điều hành chính sách tiền tệ của mọiNgân hàng trung ương, cũng là mối quan tâm của mọi người, mọi doanh nghiệpthuộc các thành phần kinh tế khác nhau Đã có rất nhiều khái niệm về Lãi suất đượcđưa ra như sau:
Lãi suất là tỷ số giữa tổng số lợi tức hàng năm và tổng số vốn đã bỏ ra cho
vay trong năm Nói cách khác đi, Lãi suất là giá cả mà con nợ phải trả cho chủ nợ
để sử dụng khoản tiền vay trong một kỳ hạn nhất định
Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất bằng tiền trên các tài sản bằng tiền.
Lãi suất thực: là lãi suất danh nghĩa được chỉnh lại cho đúng theo những
thay đổi dự tính về mức giá, thể hiện mức lãi theo số lượng hàng hóa và dịch vụ.Mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực được Fisher phát biểuthông qua phương trình mang tên ông như sau:
Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát dự tính
Công thức xác định lãi suất thực này được sử dụng phổ biến hiện nay Tuynhiên, công thức này không chú ý đến tổng lãi thu được phải chịu thuế thu nhập.Nếu tính đến yếu tố thuế thì:
Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – Thuế thu nhập biên thực tế – Tỷ lệ lạm
phát dự tính
Ngoài ra còn có các loại lãi suất thông dụng như: Lãi suất trả trước khi vay, lãisuất trả sau cùng với vốn, lãi suất trả dần cùng với vốn theo định kỳ và lãi suất trảbằng phiếu lợi tức
2 Các phép đo lãi suất
Phép đo chính xác nhất là lãi suất hoàn vốn Nó là lãi suất làm cân bằng giáhiện tại của khoản tiền trả trong tương lai với giá trị hôm nay cuả nó Vì khái niệmtiềm ẩn trong việc tính lãi suất hoàn vốn có ý nghĩa tốt về mặt kinh tế
2.1 Vay đơn:
Trang 5F n =P (1+ i) n
Fn: số tiền vay và lãi thu về trong tương lai
P, n, i: số tiền vay ban đầu, thời hạn vay tín dụng và lãi suất đơn
2.2 Vay hoàn trả cố định:
TV: toàn bộ món tiền vay
FP: số tiền trả cố định hàng năm
N: số năm cho tới mãn hạn
2.3 Trái khoán coupon:
Pb: giá trái khoán
C : Tiền coupon hàng năm
F : Mệnh giá trái khoán
n : số năm tới ngày mãn hạn
2.4 Trái khoán giảm giá.
F: mệnh giá của trái khoán giảm giá
Pd: Giá hiện thời của trái khoán
3. Các nhân tố tác động đến lãi suất
Lãi suất luôn luôn biến động do những nhân tố sau:
a) Sự thay đổi của tổng cầu (GNP):
Khi GNP tăng lên, nền kinh tế đòi hỏi phải tăng khối tiền cung ứng (Nếu tốcđộ lưu thông tiền tệ không thay đổi) để đảm bảo cung cầu tương ứng Nếu trongđiều kiện đó, khối lượng cung ứng tiền (M1 hoặc M2) tăng quá cầu thì MV > PQ,cung vốn đầu tư lớn hơn cầu vốn đầu tư làm cho lãi suất giảm Ngược lại, khi GNPgiảm thì khối lượng tiền cung ứng thực tế cũng giảm theo, nếu tốc độ lưu thông tiền
tệ không thay đổi mà giảm khối cung ứng tiền tệ xuống quá thấp sẽ đưa đến tìnhtrạng MV < PQ Lúc đó, cung vốn đầu tư nhỏ hơn cầu vốn đầu tư thì lãi suất sẽtăng
b) Sự chi tiêu của chính phủ:
Trong khi lượng cung ứng tiền tệ (M1 hay M2) không thay đổi mà chính phủchi tiêu nhiều hơn sẽ làm giảm bớt nhu cầu chi cho đầu tư và tiêu dùng của cá nhân,
Trang 6nhu cầu tiền của nhân dân trở nên khan hiếm, nguồn cung ứng vốn nhỏ hơn nhu cầuvốn, lãi suất sẽ tăng lên.
c) Chính sách tiền tệ:
Chính sách tiền tệ của chính phủ ban hành là nhằm mục đích kiểm soátlượng cung ứng tiền tệ, kiểm soát tình trạng lạm phát và các tác động đến lãi suất đểthực hiện các mục tiêu đã định
d) Nhu cầu tiêu dùng và đầu tư:
Trong thực tế khi nhu cầu tiêu dùng tăng thì kéo theo lãi suất tăng và ngượclại khi nhu cầu này giảm đi thì sẽ làm giảm lãi suất Cũng như khi nhu cầu về đầu
tư, người ta đổ xô vào đầu tư kinh doanh kiếm lợi nhuận thì nhu cầu về tiền, tài sảnlà rất lớn sẽ dẫn tới lãi suất tăng
4 Vai trò và tác động của lãi suất
Lãi suất có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nó là trung tâm trong chínhsách tiền tệ của chính phủ
o Đối với sự phân bổ các nguồn lực thì lãi suất là một loại giá cả, nó có vai
trò phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm của xã hội và là yếu tố cần thiết banđầu trước khi đi đến quyết định đầu tư vào một ngành kinh tế, một dự án hay mộttài sản nào đó…
o Đối với thu nhập: Thu nhập của các hộ gia đình thường được chia làm hai
bộ phận: Tiêu dùng và tiết kiệm, tỷ lệ phân chia này phụ thuộc vào nhiều nhân tốnhư thu nhập, tín dụng tiêu dùng, hiệu quả của việc tiết kiệm trong đó tiền tệ và lãisuất có tác dụng tích cực tới các nhân tố khác Vì vậy trong tiêu dùng và tiết kiệmlãi suất cũng có vai trò không nhỏ trong việc điều chỉnh thu nhập của kinh tế giađình
o Đối với các hoạt động đầu tư: do chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như thu
nhập, chi phí trong kinh doanh… nên khi lãi suất cao, thì sẽ có ít khoản đầu tư vàovốn hiện vật sẽ mang lại thu nhập nhiều hơn chi phí trả lãi cho các khoản đi vay, dovậy chi tiêu cho đầu tư giảm, ngược lại khi lãi suất thấp các doanh nghiệp sẽ quyếtđịnh đầu tư cho vốn hiện vật nhiều hơn, chi tiêu đầu tư sẽ tăng
o Lãi suất với lạm phát: Trong thời kỳ lạm phát, tăng lãi suất sẽ cho phép hệ
thống ngân hàng có thể thu hút phần lớn số tiền có nhiều trong lưu thông khiến chođồng tiền trong lưu thông giảm, lượng tiền cung ứng cũng sẽ giảm và lạm phát đượckiềm chế Như vậy, lãi suất cũng góp phần chống lạm phát
o Vai trò của Lãi suất đến việc huy động vốn: Lãi suất là chi phí huy động
vốn của doanh nghiệp và ngân hàng Các doanh nghiệp phải xem xét khả năng lợinhuận thu được với chi phí huy động vốn bỏ ra để quyết định huy động vốn từnguồn nào và đầu tư vào đâu để có lợi cho doanh nghiệp nhất Còn ngân hàng phảixem xét giữa LSHĐ với khả năng cho vay ở mức lãi suất cao hơn để đưa ra phươnghướng hoạt động đảm bảo mục tiêu của ngân hàng tồn tại và phát triển
Trang 7o Lãi suất với tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu: Tỷ giá chịu ảnh
hưởng của sự thay đổi lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ Sự thay đổi lãi suất tiềngửi nội tệ ở đây là sự thay đổi trong lãi suất danh nghĩa
Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do tỷ lệ lạm phát tăng (lãi suất thực không đổi)thì tỷ giá giảm Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do lãi suất thực tế tăng (tỷ lệ lạm phátkhông đổi) thì tỷ giá tăng khi tỷ giá đồng ngoại tệ tăng đồng nội tệ sẽ giảm giá (tỷgiá giảm) và ngược lại
+ Vai trò của lãi suất trong nước với quá trình Xuất Nhập Khẩu: khi lãi suấtthực tế tăng lên làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên Tỷ giá hối đoái cao hơn làm hànghóa của nước đó ở nước ngoài trở nên đắt hơn lên và hàng hóa nước ngoài ở nước
đó sẽ trở nên rẻ hơn, dẫn đến giảm xuất khẩu ròng
+ Vai trò của lãi suất nước ngoài với xuất khẩu ròng: Khi lãi suất tiền gửibằng ngoại tệ tăng lên, đường lợi tức dự tính của đồng ngoại tệ dịch chuyển sangphải làm giảm tỷ giá hối đoái Hàng xuất khẩu trở nên rẻ hơn so với các quốc giakhác
o Lãi suất vai trò của nó đối với Ngân Hàng Thương mại: NHTM với hai
nghiệp vụ chính trong hoạt động kinh doanh của mình là huy động vốn và sử dụngvốn đã phản ánh quy mô hoạt động của các NHTM
Với phương châm “đi vay để cho vay”, NHTM huy động vốn tạm thời nhànrỗi trong các doanh nghiệp và dân cư để cho vay phát triển kinh tế và các nhu cầutiêu dùng khác của nhân dân Để huy động vốn và cho vay có hiệu quả, NHTM phảixác định lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay một cách hợp lý Nếu lãi suất huy độngtiền gửi quá thấp thì không khuyến khích các doanh nghiệp và dân cư gửi tiền vào,dẫn đến NHTM không đủ vốn cho vay để đáp ứng yêu cầu khách hàng
Lãi suất Ngân hàng là nhân tố quan trọng quyết định kết quả hoạt động kinhdoanh của NHTM và khách hàng, với lãi suất hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọng thúcđẩy sản xuất lưu thông hàng hóa phát triển và ngược lại Bởi vậy lãi suất Ngân hàngvừa là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước vừa là công cụ điều hành vi mô đối vớicác NHTM Khi huy động tiền gửi mà với lãi suất thấp thì không khuyến khíchdoanh nghiệp và dân cư gửi tiền nhàn rỗi vào ngân hàng, sẽ dẫn đến hậu quả làNHTM không đủ vốn để cho vay đáp ứng yêu cầu vay vốn của khách hàng Ngượclại, nếu lãi suất cho vay cao, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không có lãihoặc lãi quá thấp sẽ thu hẹp sản xuất hoặc ngừng hoạt động để gửi vốn vào ngânhàng
Do vậy Lãi suất ảnh hưởng đến nền kinh tế như thế nào và NHNN đã sửdụng công cụ lãi suất để thực hiện chính sách mục tiêu của Chính phủ ra sao chúng
ta cùng tìm hiểu trong phần sau
II CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT, BIẾN ĐỘNG VỀ LÃI SUẤT TRONG NĂM 2010
1 Cơ chế điều hành lãi suất của NHNN và bến động lãi suất:
Quý I năm 2010:
Trang 8Năm 2010, trong xu thế phục hồi chung của nền kinh tế thế giới, kinh tế ViệtNam đã có những chuyển biến tích cực Điều đáng nói là những chuyển biến nàychủ yếu bắt nguồn từ các chính sách vĩ mô nới lỏng của Chính phủ, trong đó cóchính sách tiền tệ.
Từ tháng 6/2002, NHNN đã cho phép áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuậntrong cả huy động và cho vay vốn Song, từ năm 2008, khi kinh tế trong nước vàquốc tế có nhiều diễn biến phức tạp do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tếtoàn cầu, NHNN đã khống chế trần lãi suất cho vay và sau đó khống chế cả trầnLSHĐ Những vướng mắc trong việc áp dụng cơ chế trần lãi suất đã xuất hiện Đólà hiện tượng các NHTM rất e ngại trong việc cho vay trung và dài hạn vì các khoảnvay này được thực hiện trong thời gian dài, chi phí đầu vào cao mà lãi suất cũngkhông thể cao hơn lãi suất các khoản vay ngắn hạn, cao nhất chỉ bằng 150% lãi suất
cơ bản
Cụ thể Quyết định 134/QĐ-NHNN ngày 25/01/2010 của Thống đốc NHNN
về việc tiếp tục áp dụng mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 8%/năm đã làmcho các NHTM tiếp tục rơi vào trạng thái khó khăn Hầu hết người gửi tiền cả đáohạn và gửi mới đều chọn gửi kỳ hạn ngắn trong khi đó việc huy động vốn trung dàihạn rất khó khăn khi LSHĐ các kỳ hạn đều ở cùng một mức trong khoản từ 10 -11%/năm, điều này làm nguồn vốn trung dài hạn của các ngân hàng giảm dần trongkhi tỷ lệ lấy vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn cũng bị giảm từ 40% xuống còn30%
Hiện tại, chênh lệch lãi suất cho vay và huy động đã quá sít lại gần nhau,đồng nghĩa với lợi nhuận của các NHTM bị thu hẹp đáng kể Bởi khoảng chênhlệch 1,5% không thể bù đắp cho những chi phí phát sinh trong hoạt động ngân hàng.Các NHTM phải tìm mọi biện pháp để tăng thu lợi nhuận, mà tín dụng lại chiếm từ
65 - 70% lợi nhuận cho ngân hàng Do hạn chế về lãi suất đầu ra nên các ngân hànghoặc là đã cộng thêm các loại phí để nâng lãi suất của các món vay trung dài hạn,hoặc là hạn chế cho vay Áp dụng các hình thức khuyến mãi để huy động vốn là vấn
đề bình thường nhưng hiện tại giá trị khuyến mãi tính ra chiếm đến 30 - 40% lãisuất đang niêm yết là vấn đề không bình thường nữa
Việc duy trì trần lãi suất 12%/năm khiến ngân hàng không thể phân loạikhách hàng trong việc cho vay theo mức rủi ro đồng thời việc đánh đồng lãi suấtcho vay sẽ khuyến khích những khách hàng có độ rủi ro cao đi vay nhiều hơn, điềunày rất dễ gây mất an toàn thanh khoản cho hệ thống ngân hàng Thêm vào đó, việcmà huy động vốn và cho vay với mức lãi suất gần bằng nhau khiến cho bản thân cácngân hàng dùng nhiều thủ thuật để có thể cho vay với lãi suất cao hơn, điều này làmmất tính minh bạch trong hoạt động cho vay của các ngân hàng Lúc này cầu đãvượt quá mức cung trong khi lãi suất đầu ra vẫn bị hạn chế ở mức trần lãi suất Điều
đó làm “méo mó” đi đường cong của lãi suất
Nếu điều này kéo dài trong những tháng đầu năm 2010 sẽ gây ảnh hưởngkhông tốt cho hệ thống các ngân hàng vì kinh doanh không có hiệu quả mà xa hơn
nó còn ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế vĩ mô; đồng nghĩa với việc nhiềudoanh nghiệp khó tiếp cập vốn vay ngân hàng để phát triển sản xuất – kinh doanh,tạo việc làm cho người lao động và nộp thuế vào ngân sách nhà nước
Trang 9Để giải quyết vấn đề này, ngày 26/2/2010, NHNN đã ban hành thông tư07/2010/TT - NHNN, chính thức quy định về cho vay bằng VND theo lãi suất thỏathuận của các TCTD đối với khách hàng Theo đó, các TCTD được cho vay bằngVND theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng phù hợp với quy định của phápluật về việc cho vay của TCTD đối với khách hàng trên cơ sở cung - cầu vốn thịtrường và mức độ tín nhiệm của khách hàng vay.
Quy định này áp dụng cho vay trung và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốncho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đầu tư phát triển; cho vay ngắn hạn, trung hạnvà dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn để trực tiếp phục vụ đời sống của cá nhân, hộgia đình của khách hàng vay, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻtín dụng
Nhóm đối tượng cho vay cá nhân bao gồm: cho vay để sửa chữa nhà và muanhà để ở mà nguồn trả nợ bằng tiền lương của khách hàng vay; cho vay để muaphương tiện đi lại; cho vay để trả chi phí học tập và chữa bệnh; cho vay để mua đồdùng và thiết bị gia đình; cho vay để chi cho hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch;cho vay theo phương thức thấu chi tài khoản cá nhân; cho vay thông qua nghiệp vụphát hành và sử dụng thẻ tín dụng
Như vậy, hiện tại việc thực hiện cơ chế cho vay theo lãi suất thỏa thuận đãgiải quyết được những vướng mắc của ngân hàng về cơ chế trần lãi suất, tạo điềukiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn nhanh hơn Cho vay theo lãi suất thỏa thuậnđồng nghĩa với việc ngân hàng có thể thỏa thuận với khách hàng để cho vay với lãisuất cao hơn lãi suất trần Đây cũng là một quyết định cần thiết trong việc tiến tới tự
do hóa lãi suất Tự do hóa lãi suất sẽ giúp cân bằng cung - cầu vốn, không còn bị
“méo mó’’ như đã phân tích ở trên; cung - cầu vốn về một mức lãi suất hợp lý vàphản ánh đúng diễn biến của thị trường tiền tệ
Tuy nhiên, việc thực hiện cơ chế này một cách đầy đủ và linh hoạt đòi hỏiViệt Nam phải có một nền tảng về kinh tế vĩ mô ổn định và cơ chế quản lý - giámsát hiệu quả Nếu không làm được điều này, tình trạng cho vay “nặng lãi” ngaytrong hệ thống ngân hàng rất dễ xảy ra và các rủi ro liên quan đến vấn đề tín dụng
có thể sẽ tăng lên đáng kể Bởi lẽ việc cho vay theo thỏa thuận sẽ không tránh khỏitrường hợp doanh nghiệp phải vay với lãi suất cao và mỗi doanh nghiệp có mức lãisuất khác nhau do ngân hàng sẽ dựa trên mối quan hệ của doanh nghiệp với ngânhàng thế nào và tiềm năng phát triển ra sao để đưa ra mức lãi suất phù hợp Ngoài
ra, đối tượng thực hiện lãi suất cho vay mở rộng thì việc kiểm soát mục đích cáckhoản vay phải hết sức nghiêm ngặt để tránh trường hợp dòng vốn chảy ồ ạt vào cácthị trường bất động sản, thị trường chứng khoán chứ không được đưa vào sản xuấtkinh doanh
Vì cơ chế lãi suất thỏa thuận vẫn chưa được thực hiện với các khoản vayngắn hạn nên việc cho vay của các ngân hàng vẫn chưa thực sự thông thoáng, vẫnphải “luồn lách” để nâng lãi suất khi cho vay các khoản vay ngắn hạn mà trần lãisuất vẫn là 12%/năm Lý do là lãi suất đầu vào của ngân hàng bị chặn ở mức caonhất là 10.5% cộng với các hình thức khuyến mãi thì đã tăng đến xung quanh mức12%/năm nên không thể cho vay ngang với mức huy động này mà phải cộng thêm
Trang 10rất nhiều loại phí để nâng lãi suất này lên cao Đây cũng là thực trạng chung của hầuhết các NHTM trong hai tháng đầu năm.
Bước sang tháng 3, khi mà cơ chế lãi suất thỏa thuận chính thức được ápdụng, điều này góp phần đảm bảo cho lợi nhuận của các ngân hàng đồng thời giúpcho các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn vay dễ dàng hơn, tiếp tục đầu tư mởrộng sản suất Tuy nhiên một vướng mắc lúc này đã dần xuất hiện:
Đối với các NHTM: là việc huy động vốn trong dân chúng rất khó khăn.
Hiện tại, ngân hàng chỉ còn cách chạy đua về mặt sản phẩm, khuyến mãi… để thuhút nguồn tiền từ trong dân
Trong năm nay, ngân hàng nào cũng đều đặt mục tiêu phải tăng trưởngnguồn vốn huy động cao ít nhất cũng là 30 - 40% Tuy nhiên, lãi suất thì không thểcạnh tranh được với nhau vì ngân hàng nào cũng đã đưa lãi suất kỳ hạn từ 1 - 12tháng ở mức 10,49%/năm Vì thế, các ngân hàng gần đây liên tục tung ra những sảnphẩm tiết kiệm với đủ loại tên để thu hút khách
Chẳng hạn NHTM cổ phần Sài Gòn (SCB) từ đầu tháng 2 đến giờ đã đưa rađến tám chương trình chăm sóc khách hàng, như tăng lãi suất, tung ra sản phẩm mớivới nhiều ưu đãi Trong tháng 3, SCB đã cho ra mắt chương trình khuyến mãi
“Rước lộc quà tặng” từ 15/3 đến 29/4 áp dụng đối với khách hàng cá nhân gửi tiếtkiệm bằng tiền đồng hoặc đô la Mỹ kỳ hạn từ 1 đến 60 tháng Tham gia chươngtrình, khách hàng có thể nhận đến ba ưu đãi tặng thêm tiền mặt, bao gồm: tặng ngaytiền mặt với tỷ lệ lên đến 0,6%/năm (trên số dư bằng tiền đồng) và 0,24%/năm (trên
số dư bằng đô la), tặng tiền mặt cho khách hàng đã giao dịch ít nhất một lần ở SCB,và tặng tiền mặt khi khách hàng duy trì đúng hạn
Ngoài các ưu đãi tặng tiền mặt nêu trên, khi gửi 2 tỉ đồng hoặc 120.000 đô la
Mỹ với kỳ hạn từ ba tháng trở lên, khách hàng còn được tặng ngay một chỉ vàngSJC Ngân hàng cũng mua vàng với giá cao hơn giá niêm yết cho các khách hàngmuốn bán vàng lấy tiền đồng để gửi tiết kiệm và còn rất nhiều các NHTM vẫn ápdụng “chiêu bài khuyến mãi” để có thể huy động được tối đa nguồn vốn nhàn rỗitrong dân chúng Bên cạnh huy động tiền đồng, các ngân hàng còn chạy đua tăngLSHĐ đô la Mỹ lên để hút tiền gửi đô la Mỹ và khuyến khích doanh nghiệp chuyểnsang vay đô la Mỹ với lãi suất thấp hơn, phần nào giảm bớt áp lực vay tiền đồng.Lãi suất vay đô la Mỹ hiện chỉ khoảng 6 - 7%/năm Vì thế, tăng trưởng tín dụngbằng ngoại tệ của các ngân hàng trong quý I tăng mạnh đến 7,2% so với cuối năm
2009, trong khi cho vay bằng đồng Việt Nam lại giảm 1,81%
Để giải quyết các nhu cầu thanh khoản của một số NHTM trong ngắn hạnnên các NHTM cũng tập trung vào thu hút các nguồn vốn ngắn hạn Trong khi lãisuất cho vay đã từng bước được tự do hóa thì trần LSHĐ vẫn chưa được tháo gỡ.Với trần LSHĐ 10,5% thì hiện tại các khách hàng gửi tiền cá nhân sẽ không mấymặn mà với việc gửi tiền vào ngân hàng, nguyên nhân là do tâm lý lo lắng lạm phátcủa người gửi tiền nên tập trung vốn vào các kênh đầu tư khác Do đó, tăng trưởnghuy động vốn tính cho tới thời điểm này vẫn còn chậm, đây cũng là nguyên nhângiải thích cho xu hướng biến động lình xình trong thời gian qua của thị trườngchứng khoán Theo NHNN sang quý I/2010, tổng phương tiện thanh toán và tín
Trang 11dụng có xu hướng tăng dần, tín dụng tăng 3,34% Huy động vốn đến cuối tháng 3tăng 3,8% so với cuối năm 2009.
Đối với các doanh nghiệp: Các NHTM cổ phần gặp khó khăn trong việc
huy động vốn ngắn hạn kéo theo các doanh nghiệp cũng rất khó tiếp cận được vốnngân hàng và kể cả các NHTM nhà nước cũng đang hạn chế cho vay Hiện tại,nhiều ngân hàng đã đưa lãi suất cho vay trung dài hạn lên đến mức 18 - 19%/năm,trong khi cho vay ngắn hạn với lãi suất 12% thì rất nhỏ giọt, làm cho khó có doanhnghiệp nào chấp nhận được và điều này khiến cho nhiều doanh nghiệp không muốnvay Tình hình lúc này là các doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng rất khó khăn,vay ngân hàng không được các doanh nghiệp chỉ còn phải huy động hết nguồn vốnbên ngoài như người thân, bạn bè… để chống đỡ, nhưng nếu Chính phủ không làmgì để cải thiện tình trạng lãi suất hiện nay, các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ trở nênđiêu đứng
Các ngân hàng hiện đang chờ đợi NHNN cho phép thực hiện lãi suất thỏathuận đối với các khoản vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam, nhưng như vậy chắcchắn lãi suất cho vay ngắn hạn sẽ tăng cao, phần nào ảnh hưởng đến mục tiêu kiềmchế lạm phát năm nay ở mức 7% của Chính phủ Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 vừađược công bố tăng 0,75% so với tháng 2, và là tháng tăng thứ ba liên tiếp của chỉ sốnày, kéo chỉ số CPI của cả quý 1 tăng 4,12% so với tháng 12/2009 và tăng 9,46% sovới cùng kỳ năm 2009
Do đó trong thời gian tới NHNN cần có những thay đổi trong cơ chế quản lý
về lãi suất, đưa nó về đúng với mức kỳ vọng của thị trường, góp phần ổn định nềnkinh tế vĩ mô khuyến khích doanh nghiệp mở rộng sản xuất nhiều hơn Trong thờigian tới có thể đưa hai kịch bản về quản lý như sau: Thứ nhất, lợi suất trái phiếu kỳhạn dài giảm có thể sẽ khiến các cá nhân gửi tiền chấp nhận mức lãi suất thấp và sẽgửi tiền vào ngân hàng Thứ hai, NHNN có thể nâng trần LSHĐ hoặc bãi bỏ màkhông cần nâng lãi suất cơ bản để từ đó giúp giải quyết vấn đề tăng trưởng huyđộng vốn Và kịch bản như thế nào chúng ta sẽ cùng nghiên cứu trong quý II củanăm 2010
Bảng lãi suất huy động và cho vay của các Ngân hàng thương mại phổ biến như sau: (tính đến cuối quý I năm 2010)
Trang 12NHTMCP
VND 2,4-4,2 10,0-10,49 10,3-10,499 10,3-10,499 10,4-10,499 10,4-10,499USD
(áp dụng đối với
TCKT)
USD
(áp dụng đ/v cá nhân) 0,25-1,0 3,3-4,0 3,5-4,2 3,6-4,5 3,8-4,8
Một số ngân hàng và các mức lãi suất cam kết cho vay đã báo cáo vớiNHNN:
Ngân hàng
Mức lãi suất cho vay
Trang 13Một yêu cầu cấp thiết đặt ra lúc này đó là NHNN cần có những chính sáchphù hợp hơn để đưa lãi suất về đúng yêu cầu của thị trường Hiện tại vẫn chưa cóhồi kết cho câu hỏi là áp dụng cơ chế nào cho LSHĐ tín dụng ngân hàng thươngmại, theo cơ chế đồng thuận trần LSHĐ do Hiệp hội NHTM chủ xướng với sự đồngtình của NHNN, hay áp dụng ngay tự do hóa lãi suất đầu vào cho tương thích với cơchế thỏa thuận lãi suất đầu ra đã áp dụng từ đầu năm mà Ủy ban giám sát tài chínhquốc gia mới khuyến cáo?
Một thực tế đặt ra là dường như cơ chế đồng thuận trần lãi suất chỉ có giá trịdanh nghĩa, dễ dàng bị lách qua hoặc án binh bất động, hay chỉ thực hiện có tínhtượng trưng, hình thức bởi vô số chiêu khuyến mãi đủ loại và ngày càng phong phú.Bằng chứng là cả hai chiến dịch do Hiệp hội ngân hàng đưa ra về đồng thuận giảmLSHĐ xuống 10% được phát động vào những tháng đầu năm 2010, và đợt đồngthuận hiện đang triển khai về nâng LSHĐ không quá trần 12% đã không có kết quảbao nhiêu Mức trần kéo LSHĐ xuống 10% đã bất khả thi, còn mức trần 12% thìnhanh chóng trở thành mức sàn, vì thực tế nhiều ngân hàng đã huy động trên 13.5 -14%, thậm chí với mức cao hơn cho những khách gửi tiền lớn và biết trả giá Thôngđiệp của sự bất thành trong cả hai đợt đồng thuận trần LSHĐ này phải chăng chỉ cómột, đó là mức trần lãi suất đồng thuận đặt ra không khả thi, hoặc nếu thực thi thì
“lợi bất cập hại” vì không đáp ứng cung cầu thị trường tài chính trong nước ?
Trần lãi suất tồn tại trong bối cảnh chưa có cơ chế thị trường hoàn hảo vàtình hình thị trường tài chính trong nước có những biến động thất thường, với mụctiêu kỳ vọng tiết giảm cạnh tranh không lành mạnh, các hiện tượng lừa đảo, nhằm
ổn định thị trường tài chính và nền kinh tế vĩ mô trong nước nói chung Vì vậy,cùng với việc áp dụng lãi suất cho vay thỏa thuận, việc bãi bỏ cơ chế trần LSHĐ sẽ
có những tác động tích cực đến thị trường tài chính - ngân hàng nói riêng, nền kinhtế nói chung, cụ thể:
Thứ nhất, tăng huy động vốn cho đầu tư xã hội thông qua hệ thống ngân hàng và nâng cao vị thế ngân hàng trong nền kinh tế.
Trần LSHĐ nhất là khi bị định thấp, khiến người gửi không hào hứng vớiviệc gửi tiền và các NHTM gặp hạn chế trong việc huy động vốn xã hội, nhất là khi
có xu hướng gia tăng lạm phát và chậm hồi phục nền kinh tế Điều này tạo ra sự
Trang 14khan hiếm nguồn vốn hoạt động của các ngân hàng, cũng như làm giảm vai trò củangân hàng với tư cách nguồn cung vốn chủ yếu cho nền kinh tế, tức đồng nghĩa với
sự tắc nghẽn lưu thông tiền tệ, đè nén, kiềm chế sự phát triển kinh tế Thực tế bántrái phiếu chính phủ và kết quả huy động vốn của các ngân hàng trong nước thờigian gần đây cho thấy điều đó (tăng trưởng huy động vốn ngân hàng trong 2 thángđầu năm 2010 giảm nhẹ 0,17% so với cuối năm 2009) Nói cách khác, bãi bỏ trầnLSHĐ cũng có nghĩa là trực tiếp tạo điều kiện thúc đẩy tăng huy động vốn cho đầu
tư xã hội thông qua hệ thống ngân hàng và nâng cao vị thế ngân hàng trong nềnkinh tế
Thứ hai, gia tăng tính minh bạch và tính thị trường trong huy động và cho vay vốn ngân hàng, cũng như trong quản lý nhà nước.
Trần LSHĐ được các NHTM làm tăng những biến tướng và bất bình thường
do tìm cách lách luật trong huy động vốn, như chuyển đổi cơ cấu tín dụng, làm mất
ý nghĩa các loại lãi suất tín dụng ngắn hạn và dài hạn, cũng như làm giảm các khoảnvốn huy động và cho vay dài hạn trong cơ cấu vốn ngân hàng và gia tăng các hìnhthức thưởng, khuyến mãi hay là quà tặng dưới mọi hình thức khác
Chẳng hạn như ngày 9/3/2010, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu(ACB) đưa ra mức LSHĐ tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán linh hoạt lãi suấtthả nổi tiền đồng kỳ hạn 36 tháng từ 10.44 - 10.499%/năm Điểm đặc biệt là khoảntiền nhỏ từ 5 đến 10 tỷ đồng kỳ hạn 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng đều bằng 10.499%/năm Cùng ngày, một ngân hàng cổ phần đẩy LSHĐ trần từ 9.6%/năm lên10.49%/năm Trên thực tế, với dự báo lạm phát và tỷ giá như hiện nay thì nếu tiếptục giữ mức trần là 10.5%, chắc chắn ngân hàng sẽ tìm cách đi đường vòng để tănglãi suất thật lên Điều này làm cho LSHĐ trở nên méo mó Mức lãi suất thực tế màcác ngân hàng huy động hiện tại là từ 13 - 14%/năm
Vì vậy, bãi bỏ trần LSHĐ sẽ không chỉ trực tiếp giúp gỡ bỏ, giảm nhanh nhấtvà triệt để nhất những tắc nghẽn, biến dạng đó, cải thiện cơ cấu và chất lượng tíndụng (nhất là tăng các khoản vay và cho vay trung và dài hạn), mà còn còn thúc đẩycạnh tranh thị trường và cho phép các ngân hàng mạnh và năng động triển khai cáckế hoạch kinh doanh có hiệu quả, từ đó có thêm cơ hội gia tăng mức độ chuẩn hóavà sức cạnh tranh của mình trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập tài chính ngàycàng đầy đủ hơn
Đặc biệt, bỏ trần LSHĐ sẽ giúp các cơ quan quản lý có thông tin về các độngthái, diễn biến của thị trường chính xác, minh bạch hơn và ra các quyết định quản lýthích hợp, hiệu quả hơn Cơ chế thị trường sẽ sớm xác lập và hoàn thiện hơn, và do
đó tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước với các nhà đầu tư trongnước và nước ngoài
Thứ ba, gia tăng cơ hội và lợi ích cho doanh nghiệp trong tiếp cận nguồn vốn ngân hàng và trong đầu tư xã hội.
Hơn nữa, việc bãi bỏ trần LSHĐ và áp dụng lãi suất cho vay thỏa thuận sẽ cólợi cho doanh nghiệp; một mặt, các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong tiếp cận vớinguồn vốn ngân hàng được dồi dào hơn và có tính thanh khoản cao hơn Mặt khác,khi nguồn vốn dồi dào mà các ngân hàng đẩy mạnh hoạt động cho vay, thì cácdoanh nghiệp có thể nhận được lãi suất cho vay của các ngân hàng thấp dần nhờ hệ
Trang 15quả của áp lực quy luật cung - cầu thị trường và áp lực cạnh tranh giữa các ngânhàng Thêm vào đó, việc gỡ bỏ đồng bộ trần lãi suất ngân hàng cả đầu vào và đầu racòn giúp loại bỏ các doanh nghiệp kinh doanh yếu kém, các dự án vay không mangtính thị trường hay có tính đầu cơ cao Đồng thời tăng nguồn vốn đầu tư cho những
dự án kinh doanh sản xuất hiệu quả
Thứ tư, gia tăng lợi ích của người gửi tiền vào ngân hàng và các lợi ích khác góp phần kiềm chế lạm phát.
Bỏ trần LSHĐ đồng nghĩa với việc người gửi tiền có cơ hội nhận được lãisuất gửi tiền cao hơn và có lợi hơn cho các khoản tiền gửi của mình trong ngânhàng Đến lượt mình, điều đó kích thích tiết kiệm chi tiêu xã hội, giảm lượng tiềntrong lưu thông, hạn chế đầu cơ không có lợi vào các hoạt động kinh doanh khác,như chứng khoán, bất động sản, góp phần giảm lạm phát, tăng luồng vốn đổ vàotrong nước từ các nguồn vốn rẻ trên thế giới
Tóm lại, bãi bỏ trần LSHĐ ở mức độ và góc độ nào đó, về cơ bản, sẽ có tácdụng và có ý nghĩa tốt cho cả ngân hàng, doanh nghiệp, người dân và Nhà nước, cảcấp vi mô và vĩ mô, cả trước mắt và lâu dài, cả trong nước và trên phạm vi quốc tế
Tuy nhiên, việc bãi bỏ trần LSHĐ bất chấp những điều kiện chưa chín muồicũng có thể gây ra những hệ quả bất lợi khó lường định, như:
Một là thúc đẩy quá trình tái cơ cấu vốn và chuyển dịch nguồn vốn bất thường giữa các ngân hàng gây xáo trộn kế hoạch kinh doanh của các ngân hàng.
Về cả lý thuyết và thực tiễn, thông thường người đi gửi tiền không phân biệtvà cũng chẳng cần quan tâm đến lãi suất cơ bản, huy trần LSHĐ làm gì Điều mà họquan tâm đó là mức lãi suất tối đa mà họ có thể nhận được là bao nhiêu, đối với họ
ai huy động cao thì gửi, thậm chí không cần biết tư cách pháp nhân và mục tiêu huyđộng vốn của người huy động Trước sự hấp dẫn của lãi suất mới do cạnh tranh ởcác ngân hàng sau khi gỡ bỏ trần LSHĐ, có thể gia tăng các hoạt động rút tiền củangười gửi để gửi vào các ngân hàng có lãi suất cao hơn Điều này là chính đáng và
dễ hiểu, nhưng nếu kiểm soát không tốt lại có thể tạo ra những làn sóng rút tiền vàgửi tiền theo tâm lý đám đông, tạo ra vòng xoáy xáo trộn luồng vốn, cơ cấu vốn vàcác kế hoạch kinh doanh của các ngân hàng, cũng như vốn đầu tư xã hội Điều này
có thể khiến cho một ngân hàng nào đó không chịu nổi áp lực rút vốn bất thườngbuộc phải tăng LSHĐ, hoặc chịu áp lực thanh khoản cao, có thể phá sản cục bộhoặc giải thể
Hai là có thể gia tăng hoạt động cạnh tranh không lành mạnh, lừa đảo
và vỡ nợ tín dụng dây chuyền mang tính xã hội
Hiện tại thì quy mô hoạt động của hệ thống NHTM còn rất khiêm tốn, vốnđiều lệ còn thấp do đó NHNN đã đưa ra lộ trình tăng vốn buộc các ngân hàng phảităng vốn lên 3000 tỷ vào cuối năm 2010 NHNN đã rất thận trọng trong việc quyếtđịnh cho các NHTM tăng vốn nhằm đảm bảo được tính an toàn thanh khoản Nếutrần LSHĐ được bãi bõ thì áp lực cạnh tranh của các NHTM sẽ tăng lên, rủi rothanh khoản cũng từ đó tăng lên do phải chạy đua về LSHĐ Do vậy, việc bãi bỏtrần LSHĐ có thể, trong thời gian đầu, làm gia tăng ít nhiều một số hoạt động huy
Trang 16động vốn với lãi suất cao kể cả sự gia tăng luồng vốn gián tiếp nước ngoài rẻ đổ vàoViệt Nam với những hệ lụy có thể là gây sốc vốn và rủi ro thanh khoản cho cácngân hàng như khi bị rút vốn đột ngột…
Và cuối cùng, tạo sức ép mới về hoàn thiện công cụ quản lý nhà nước đối với thị trường tài chính
Bởi việc bãi bỏ trần LSHĐ sẽ tước đi một công cụ quản lý kinh tế - tài chínhNhà nước trực tiếp quen thuộc của NHNN đối với các NHTM, đồng thời làm tăngyêu cầu nhanh chóng đổi mới cách thức điều hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước trên thị trường tài chính - ngân hàng Việt Nam nhằm đáp ứng nhữngnhiệm vụ và bối cảnh mới cả trong nước và quốc tế
Ngày 14/4, NHNN đã công bố thông tư 12 về cho vay theo lãi suất thỏathuận, chính thức dỡ bỏ trần lãi suất cho vay, tức cho phép áp dụng lãi suất thỏathuận đối với các khoản vay ngắn và trung dài hạn Cùng ngày, hàng loạt ngân hàngcông bố LSHĐ mới, tối đa dưới 12%/năm Điểm khác là lãi suất có cao có thấp,không còn gửi ngắn hay dài cùng mức lãi suất, thậm chí nhiều ngân hàng cũng bỏkhuyến mãi, thưởng lãi suất Với việc cho phép tự do hóa lãi suất, LSHĐ của cácngân hàng cũng xem như được tự do, không còn bị ràng buộc bởi mức trần10,5%/năm như cam kết với Hiệp hội Ngân hàng, và ngân hàng cũng đã có thể hợpthức hóa được mức LSHĐ cao của mình, không còn lách trần bằng các loại tiềnthưởng, hay quà như trước nữa
Vì thế, Ngân hàng ACB trong ngày 13/4 đã trở thành ngân hàng tiên phongđưa ra biểu LSHĐ mới vượt mức lãi suất trần huy động Lãi suất niêm yết chínhthức của ACB hiện nay cao nhất là 11,5%/năm và sau đó hàng loạt các ngân hàngkhác cũng chính thức niêm yết LSHĐ cao hơn xung quanh mức 11.5%/năm, khôngcòn ở cùng một mức 10,49%/năm như trước đây, lãi suất cho vay thỏa thuận bìnhquân từ 14 - 17%/năm, riêng lãi suất vay tiêu dùng ở các công ty tài chính khoản 25
- 30%/năm
Giảm lãi suất ngân hàng cần thêm thêm thời gian:
Theo các NHTM, với sự định của nền kinh tế vĩ mô, sự hỗ trợ của NHNN,cung - cầu vốn trên thị trường thì khả năng giảm lãi suất thị trường là hoàn toàn cóthể thực hiện được Tuy nhiên, dù bày tỏ đồng thuận về chủ trương hạ lãi suấtnhưng các ngân hàng cũng cho rằng, với tình hình hiện nay, việc giảm lãi suất là rấtkhó thực hiện ngay và cần có thêm thời gian Vì thế, các ngân hàng đề nghị việcgiảm mặt bằng lãi suất nên có lộ trình nhất định Trước hết tập trung vào giảm lãisuất kỳ hạn ngắn và giảm lãi suất cho vay đối với các đối tượng khách hàng và lĩnhvực sản xuất - kinh doanh như Chính phủ yêu cầu
Để thuận lợi cho giảm lãi suất, các NHTM cũng đề nghị nên giải quyết mốiquan hệ phù hợp giữa lãi suất trái phiếu Chính phủ và lãi suất kinh doanh ngânhàng, tạo điều kiện cho các NHTM có căn cứ giảm lãi suất kinh doanh mà vẫn thuhút được vốn từ nền kinh tế Đáp lại đề nghị từ các ngân hàng, NHNN sẽ tiếp tục cócác biện pháp phù hợp để hạ LSHĐ VND xuống khoảng 10%, lãi suất cho vayVND khoảng 12% và dùng các công cụ của chính sách tiền tệ một cách linh hoạt vàchủ động để hỗ trợ các NHTM giảm mặt bằng lãi suất kinh doanh và tăng thanhkhoản cho nền kinh tế
Trang 17Mặc dù đồng thuận và cam kết sẽ hạ dần lãi suất, tuy nhiên, trên thị trườngdiễn biến lãi suất của các ngân hàng vẫn có dấu hiệu tăng lên Muốn giảm lãi suấtcho vay thì các ngân hàng phải giảm LSHĐ Tuy nhiên, trên thực tế LSHĐ của cácngân hàng cổ phần, đặc biệt là những ngân hàng nhỏ, vẫn còn khá cao; nếu tínhluôn cả khuyến mãi thì thấp nhất cũng là 12%/năm, còn cao thì đến 14%/năm Điều
đó khiến cho lãi suất cho vay không thể giảm nhanh theo lời kêu gọi của Hiệp hộiNgân hàng Lý do mà LSHĐ cũng như lãi suất cho vay chưa thể giảm nhanh là vìnguồn vốn huy động của các ngân hàng chủ yếu đến từ tiết kiệm dân cư và vốnnhàn rỗi của doanh nghiệp Vốn nhàn rỗi của doanh nghiệp hiện cũng đã nằm trongngân hàng chứ không thể giữ ở nhà, có chăng chỉ là chạy từ ngân hàng này sangngân hàng khác nên không thể tăng mạnh, trong khi tiền nhàn rỗi của dân cư thìkhông thể tăng trong một sớm một chiều Ngân hàng cũng không dám giảm nhanhLSHĐ từ dân cư, cho nên lãi suất cho vay khó lòng giảm vào lúc này
Theo NHNN, tăng trưởng vốn huy động của toàn ngành ngân hàng trongtháng 5 là 2,53%, còn so với cuối năm 2009, tăng trưởng huy động vốn của cácngân hàng đạt 7,8% Trong khi đó, tăng trưởng tín dụng tháng 5 của hệ thống ngânhàng là 1,86%, và trong năm tháng đầu năm, con số này tăng 7,46% so với cuốinăm 2009
Bảng lãi suất huy động và cho vay của các Ngân hàng thương mại phổ biến như sau: (tính đến cuối quý II năm 2010)
Lãi suất huy
động niêm yết Loại tiền
Không kỳ
Trên 12 tháng
Nhóm
NHTMNN
USD (áp dụng đ/v TCKT)
USD (áp dụng đ/v cá
USD (áp dụng đ/v cá
nhân)
Lãi suất cho vay
Trang 18NHTMNN
VND (Trong đó đối với sx nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu)
Quý III năm 2010:
Theo đại diện NHNN, trong sáu tháng đầu năm 2010, LSHĐ tại các TCTDgiảm 0,7%, trong khi lãi suất cho vay tương ứng giảm 1% Ở thời điểm hiện tại,LSHĐ bình quân trên tất cả các kỳ hạn của NHTM đạt 11%, lãi suất cho vay là13,4% Kể từ 1/7, tất cả các NHTM nhà nước và một số ngân hàng cổ phần lớncũng đã áp dụng lãi suất cho vay ưu đãi 12 - 12,4%/năm đối với khu vực nôngnghiệp, nông thôn, cho vay phục vụ xuất nhập khẩu cũng như các doanh nghiệp vừavà nhỏ Các thành viên của Hiệp hội Ngân hàng cũng cam kết sẽ tiếp tục giảm lãisuất trong quý III năm nay
Số liệu từ NHNN TP.HCM cho biết, tăng trưởng tín dụng trong sáu tháng chỉlà 6,6% trong khi đến cuối tháng 7, mức tăng này đã đạt đến 11,3% Trong đó, tăngtrưởng tín dụng bằng VND đã tăng khá mạnh, với mức 4% trong tháng 7/2010, đưamức tăng trưởng của bảy tháng đầu năm lên 5,7% so với cuối năm 2009 Tuy nhiên,mức tăng này của VND vẫn thấp hơn nhiều so với mức tăng 5,4% của tín dụng bằngngoại tệ, chủ yếu là đô la Mỹ Và nếu xem xét số liệu trong cả bảy tháng thì tăngtrưởng tín dụng ngoại tệ (28,8%) vẫn cao hơn nhiều so với tăng trưởng tín dụngbằng tiền đồng
Trong tháng 7, nhằm hỗ trợ các NHTM, NHNN cũng đã có nhiều giải phápbơm vốn giá rẻ nhằm đảm bảo nguồn vốn cung cấp cho nền kinh tế Trong hai tuầncuối tháng 7, biểu lãi suất niêm yết của 36 ngân hàng cho thấy, các ngân hàng đangdần dần đưa LSHĐ VND ở hầu hết các kỳ hạn về quanh mức 11,2% với mức lãisuất trung bình cao nhất 11,3%/năm hiện thuộc về các kỳ hạn 6 và 12 tháng Trongkhi đó, các kỳ hạn dài hơn từ 13 - 36 tháng còn có mức lãi suất trung bình thấp hơnrất nhiều khoảng 10,97%/năm
Mặt bằng LSHĐ và cho vay VND trong tháng 8/2010 có xu hướng ổn định,trong đó LSHĐ VND dao động ở mức 10,6 - 11,2%/năm; lãi suất cho vay VNDngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên phổ biến ở mức 12 - 12,5%/năm đối với nhómNHTM nhà nước và 12,5 - 13,5%/năm đối với nhóm NHTM cổ phần, lãi suất cho