1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ TÀI: PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH GẮN VỚI DIỄN XƯỚNG HÁT VĂN – HẦU ĐỒNG (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI ĐỀN KIẾP BẠC – HẢI DƯƠNG)

93 140 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 740,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, diễn xướng hát văn – hầu đồng là mộtloại hình diễn xướng vô cùng đặc sắc gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu – một tín ngưỡngcủa người Việt được UNESCO công nhận là di sản văn hóa

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG

“SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”- NĂM 2019

ĐỀ TÀI: PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH GẮN VỚI DIỄN XƯỚNG HÁT VĂN – HẦU ĐỒNG

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI ĐỀN KIẾP BẠC – HẢI DƯƠNG)

Nhóm sinh viên : Nguyễn Thị Thu Hương : 16030986

: Lê Phương Linh :16030971

Người hướng dẫn : Tiến sĩ Trịnh Lê Anh

Hà Nội - 2019

Trang 2

Việt Nam – một đất nước với hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, được biếtđến với đời sống văn hóa thật phong phú, sinh động và đa dạng được thể hiện qua rấtnhiều loại hình diễn xướng khác nhau Trong đó, diễn xướng hát văn – hầu đồng là mộtloại hình diễn xướng vô cùng đặc sắc gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu – một tín ngưỡngcủa người Việt được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.Loại hình diễn xướng này mang lại những giá trị vô cùng to lớn về văn hóa, lịch sử vànghệ thuật Vì vậy, việc phát triển du lịch dựa trên việc khai thác những giá trị đó vừa cóthể mang lại giá trị kinh tế, vừa góp phần bảo tồn và gìn giữ những giá trị truyền thốngcủa dân tộc.

Trong bài nghiên cứu này, chúng tối nghiên cứu về đề tài “Phát triển sản phẩm dulịch gắn với diễn xướng hát văn – hầu đồng Nghiên cứu Trường hợp Kiếp Bạc – HảiDương” nhằm đưa ra những nhận định, đề xuất góp phần phát triển du lịch gắn với diễnxướng hát văn – hầu đồng

Là sinh viên nghiên cứu khoa học, chúng tôi hiểu với kiến thức của mình thì bàinghiên cứu không thể tránh được những thiếu sót, rất mong nhận được sự phản hồi, nhậnxét đánh giá của Thầy giáo, Cô giáo để nghiên cứu có thể hoàn thiện hơn

Đặc biệt, chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS Trịnh Lê Anh– người đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện về mọi mặt cũng như tạo động lực mạnh mẽcho chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu khoa học này

Trang 3

Danh mục bảng biểu

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 7

5 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề 8

6 Bố cục của báo cáo 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN .12 1.1 Sản phẩm du lịch gắn với tài nguyên văn hóa – vốn văn hóa cộng đồng 12

1.1.1 Khái niệm sản phẩm du lịch 12

1.1.2 Khái niệm phát triển sản phẩm du lịch 18

1.1.3 Phát triển sản phẩm du lịch gắn với tài nguyên văn hóa – vốn văn hóa cộng đồng ……….20

1.2 Diễn xướng hát văn – hầu đồng và tín ngưỡng hầu Thánh 22

1.2.1 Diễn xướng hát văn – hầu đồng 22

1.2.1.1 Diễn xướng dân gian 22

1.2.1.2 Hát văn – hầu đồng 26

1.2.1.3 Diễn xướng hát văn - hầu đồng 32

1.2.2 Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần 37

Tiểu kết chương 1 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH GẮN VỚI DIỄN XƯỚNG HÁT VĂN – HẦU ĐỒNG TẠI ĐỀN KIẾP BẠC – HẢI DƯƠNG 40

2.1 Thực trạng chung ở Việt Nam 40

2.2 Lý do chọn khảo sát tại đền Kiếp Bạc – Hải Dương 41

2.3 Tìm hiểu về liên hoan diễn xướng hầu Thánh tại đền Kiếp Bạc – Hải Dương 41

2.3.1 Giới thiệu chung về đền Kiếp Bạc 41

Trang 4

2.3.2.1 Nguồn gốc lễ hội 44

2.3.2.2 Một số nghi lễ tiêu biểu 45

2.3.3 Liên hoan diễn xướng hầu Thánh 45

2.3.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển 46

2.3.3.2 Diễn trình của buổi diễn 49

2.3.3.3 Ý nghĩa của liên hoan 49

2.3.3.4 Công chúng tham dự 50

2.3.3.5 Sự tham gia của của các bên liên quan 50

2.3.4 Tìm hiểu yếu tố gắn với du lịch của diễn xướng hát văn – hầu đồng 51

2.3.5 Thực trạng về hoạt động khai thác du lịch gắn với diễn xướng hát văn – hầu đồng tại đền Kiếp Bạc 53

2.3.5.1 Công tác tổ chức và quản lý 53

2.3.5.2 Cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng 54

2.3.5.3 Các dịch vụ phục vụ du lịch 55

2.3.5.4 Nguồn nhân lực phục vụ du lịch 55

2.3.5.5 Thị trường khách 55

2.3.6 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn đối với phát triển sản phảm du lịch gắn với diễn xướng hát văn – hầu đồng tại đền Kiếp Bạc 57

2.3.6.1 Thuận lợi: 57

2.3.6.2 Khó khăn 57

Tiểu kết chương 2 58

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH GẮN VỚI HOẠT ĐỘNG DIỄN XƯỚNG HÁT VĂN – HẦU ĐỒNG 59

3.1 Về tổ chức, quản lý 59

3.1.1 Hoàn thiện công tác quản lý kinh doanh dịch vụ hàng hóa 59

3.1.2 Chuẩn hóa các quy định đối với du khách: 59

3.1.3 Tuyên truyền, vận động nâng cao hiểu biết của cộng đồng địa phương 60

3.2 Về chất lượng dịch vụ du lịch 60

3.2.1 Chuẩn hóa các thông tin giới thiệu 60

3.2.2 Nâng cao chất lượng hướng dẫn du lịch tại điểm 60

Trang 5

3.2.4 Đa dạng hóa các dịch vụ phục vụ khách du lịch 61

3.3 Về xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch 61

3.3.1 Xây dựng các tour chuyên đề nội tỉnh và liên tỉnh 61

3.3.2 Xây dựng các tour kết hợp trên địa bàn 61

3.3.3 Liên kết sản phẩm du lịch gắn với diễn xướng hầu đồng với các sản phẩm du lịch khác trên địa bàn 62

3.4 Về quảng bá, xúc tiến du lịch 62

3.4.1 Quảng bá cho điểm đến 62

3.4.2 Liên kết với các công ty lữ hành quảng bá sản phẩm, chương trình du lịch ………62

3.5 Đề xuất cho trường hợp cụ thể tại đền Kiếp Bạc – Hải Dương 63

Tiểu kết chương 3 65

KẾT LUẬN 66

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

MỤC LỤC PHỤ LỤC 70

Trang 6

Sơ đồ 1.1 Các lớp cấu thành sản phẩm du lịch hoàn hảo………… ……… 15 Bảng đánh giá các tiêu chí hoạt động khai thác du lịch gắn với diễn xướng hát văn – hầu đồng tại đền Kiếp Bạc………56

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế khác, du lịchViệt Nam ngày càng có những bước phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành tựuđáng ghi nhận.Với những đóng góp không nhỏ cho thu nhập, tỉ trọng GDP và việc làm,

du lịch được coi là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, đang được Đảng, Nhà nướcquan tâm phát triển.Xu hướng hội nhập, hợp tác, cạnh tranh toàn cầu cùng với sự pháttriển về khoa học công nghệ đã và đang mở ra những cơ hội lớn đồng thời cũng mang lạinhững thách thức cho du lịch Việt Nam Vì vậy, ngành du lịch cần phải tích cực đổi mới

và phát huy những thế mạnh vốn có để ngày càng phát triển hơn nữa

Du lịch Việt Nam hấp dẫn du khách không chỉ bởi vẻ đẹp của thiên nhiên mà cònbởi những đặc sắc về văn hóa Bởi vậy, phát triển du lịch gắn với các loại hình nghệ thuậttruyền thống là một trong những giải pháp vừa góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc đồngthời cũng mang lại những lợi ích về kinh tế Sở hữu nhiều loại hình nghệ thuật truyềnthống, trong đó có nhiều loại hình được vinh danh di sản văn hóa thế giới, Việt Nam cónhiều lợi thế để khai thác, phát triển thành sản phẩm du lịch hấp dẫn, thu hút khách dulịch Từ lâu, cả người làm văn hóa và người làm du lịch đều đã sớm gặp nhau ở ý tưởngnày Nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống được khai thác để phục vụ du lịch như chèo,tuồng, cải lương, múa rối nước,… trong đó có cả loại hình diễn xướng dân gian và diễnxướng hiện đại Diễn xướng hát văn – hầu đồng cũng nằm trong số đó Đây là loại hình

diễn xướng gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ Đức Thánh Trần “ Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ” của người dân Việt Nam Loại hình diễn xướng có giá trị nghệ

thuật và lịch sử cao bởi nó có tính độc đáo, thể hiện bản sắc văn hóa Việt Nam Tuynhiên, việc đưa diễn xướng hát văn – hầu đồng vào phát triển du lịch vẫn còn rất nhiềukhó khăn và hạn chế, chưa phát huy được hết giá trị vốn có của nó

Đền Kiếp Bạc ( thuộc xã Hưng Đạo, Tp Chí Linh, tỉnh Hải Dương) được biết đến lànơi thờ tự Đức Thánh Trần và cũng là nơi diễn ra Liên hoan diễn xướng hầu Thánh – một

Trang 8

sân khấu tâm linh đặc sắc phục vụ du khách thập phương Vì vậy, nhóm nghiên cứu lấy

đề tài: Phát triển sản phẩm du lịch gắn với diễn xướng hát văn – hầu đồng, nghiên cứutrường hợp đền Kiếp Bạc – Hải Dương nhằm đề ra các giải pháp hợp lý và hiệu quả

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài nhằm mang đến một cái nhìn cụ thể , rõ ràng và sâu sắc hơn về diễn xướng dângian hát văn – hầu đồng, đặc biệt là những đóng góp của hình thức này đối với du lịchViệt Nam và việc phát triển sản phẩm du lịch gắn với diễn xướng hát văn hầu đồng

Khảo sát trường hợp cụ thể nhằm chứng minh cho các lý thuyết áp dụng để nghiêncứu đồng thời cũng nhìn nhận ra những tiềm năng hay những vấn đề cần giải quyết Từ

đó, nghiên cứu cũng đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần phát triển sản phẩm du lịchgắn với diễn xướng hát văn – hầu đồng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu diễn xướng hát văn – hầu đồng gắn với phát triển

du lịch qua khảo sát tại đền Kiếp Bạc – Hải Dương

Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi không gian: Khu di tích đền Kiếp Bạc thuộc địa phận xã Hưng Đạo, thị xãChí Linh, tỉnh Hải Dương

- Phạm vi thời gian:

Thời gian nghiên cứu tài liệu: từ ngày 12/01/2019 đến ngày 04/04/2019

Thời gian nghiên cứu thực địa: từ ngày 22/03/2019 đến ngày 24/03/2019

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

4.1 Mục đích:

Tìm hiểu về tình trạng diễn xướng hát văn – hầu đồng tại đền Kiếp Bạc từ đó đưa

ra giải pháp phát triển sản phẩm du lịch gắn với diễn xướng hát văn – hầu đồng

4.2 Nhiệm vụ:

Trang 9

- Hệ thống hóa các nguồn tư liệu cũng như kết quả nghiên cứu đã được công bố vềdiễn xướng hát văn – hầu đồng tại đền Kiếp Bạc – Hải Dương.

- Tìm hiểu diễn xướng hát văn - hầu đồng dưới góc độ du lịch tại đền Kiếp Bạc –Hải Dương

- Nghiên cứu, làm rõ thực trạng khai thác du lịch gắn với diễn xướng hát văn – hầuđồng tại đền Kiếp Bạc – Hải Dương và đưa ra đề xuất phát triển sản phẩm du lịch gắn vớidiễn xướng hát văn – hầu đồng tại đó

5 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề

Trong lịch sử nghiên cứu, nghi lễ hầu đồng của người Việt được nhiều nhà nghiên cứuquan tâm, tìm hiểu dưới các góc độ khác nhau, có thể kể đến những nghiên cứu điển hình:

- “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” (2001) do Ngô Đức Thịnh chủbiên Công trình này đi sâu vào nghiên cứu sáu loại hình tín ngưỡng dân gian tiêu biểu làthờ cúng tổ tiên, thờ Thành Hoàng làng, thờ Chử Đồng Tử, thờ Đức Thánh Trần, tínngưỡng nghề nghiệp và tín ngưỡng thờ Mẫu (tác giả gọi là Đạo Mẫu) Đồng thời, tác giảcòn cho thấy mối quan hệ giữa tín ngưỡng dân gian và văn hóa dân gian; phân biệt cácmặt giá trị và phản giá trị của tôn giáo tín ngưỡng, giúp cho việc nhận thức và chế địnhcác chính sách đối với tôn giáo tín ngưỡng cũng như sự nghiệp bảo tồn và phát huy vănhóa dân tộc hiện nay Tuy nhiên, tín ngưỡng thờ Mẫu được trình bày trong công trình nàychủ yếu được nghiên cứu dưới góc độ văn hóa Theo đó, tác giả trình bày những yếu tốcấu thành của tín ngưỡng thờ Mẫu có liên quan nhiều đến văn hóa như: điện thờ, lễ hội vànghi lễ cơ bản

- Một số công trình do Giáo sư Ngô Đức Thịnh chủ biên như:”Đạo Mẫu ở ViệtNam” (Nxb Văn háo Thông tin, Hà Nội, 1996); Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trongcác tộc người ở Việt Nam và Châu Á” (Nxb Khao học Xã hội, Hà Nội, 2004); “Hát văn”(Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1992); “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam”(Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2001); “Lên Đồng hành trình của thần linh và thân phận”(Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh,2008),… Các tác phẩm này đã nghiên cứu một cách cơ bản vàtương đối toàn diện,hệ thống về Đạo Mẫu ở Việt Nam, trong đó có điều tra và trình bàycác hiện tượng thờ Mẫu, cụ thể là nghi lễ Hầu Đồng

Trang 10

- Ngoài ra còn nhiều công trình khác cũng nghiên cứu về tín ngưỡng thwof mẫunhư: “Các nữ thần Việt Nam” của Đỗ Thị Hảo và Mai Thị Ngọc Chúc (Nxb Phụ nữ, hàNội, 1984), “Văn hóa Thánh Mẫu” của Đặng văn Lung (Nxb Văn háo Thông tin, Hà Nội,2004), “Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam” của Nguyễn Minh San (Nxb Văn hóa dântộc, Hà Nội, 1994), “Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam” của NguyễnĐức Lữ chủ biên (Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2000),… Bên cạnh cònnhiều bài viết công bố trên các tạp chí: Nghiên cứu lí luận, Tôn giáo, Văn hóa dân gian,Văn học,… cũng đã đề cập tới góc độ khác nhau về tín ngưỡng thờ Mẫu của người ViệtNam Nhìn chung các công trình nghiên cứu của các tác giả kể trên đã tiếp cận tín ngưỡngthờ Mẫu từ các góc độ khác nhau: văn hóa, tôn giáo, lịch sử, nghệ thuật Trong các nghiêncứu về Đạo Mẫu thì hầu đồng cũng đã được đề cập như là trọng tâm của nghiên cứu,nhiều bài viết của các tác giác đã phân tích và tiếp cận về nghi lễ này ở nhiều góc độ khácnhau và đưa ra các kết quả đáng chú ý về nguồn gốc và ý nghĩa của việc hầu đồng trongcuộc sống, những thành tố cần có trong một buổi hầu đồng, tín ngưỡng dân gian thể hiệnqua nghi lễ hầu đồng,…

- Bên cạnh những nghiên cứu về nghi lễ hầu đồng của người Việt nêu trên, nhiều bàinghiên cứu về nghi lễ hầu đồng tại đền Kiếp Bạc Hải Dương đã được công bố Các vấn đềnghiên cứu về nghi lễ hầu đồng tại đền Kiếp Bạc rất đa dạng và được tiếp cận từ nhiềugóc độ khác nhau Dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu:

- Tác gia Võ Hoàng Lan trong “Thanh đồng nhìn từ đền Kiếp Bạc” in trong tạp chi

Di sản Văn hóa 2008, Nguyễn Văn Cường trong bài “Hầu đồng – một nghi lễ tâm linh cổtruyền trong hội đền Kiếp Bạc” bằng tư liệu điều tra điền dã, kết hợp với nghiên cứu thưtịch cổ đã nêu lên trình tự nghi lễ hầu đồng tại Kiếp Bạc trước năm 1945 và nhận xét về

sự giồng và khác nhau của nghi lễ hầu đồng trước năm 1945 so với ngày nay

- Nhà nghiên cứu Đào Duy anh trong sách “Việt Nam văn hóa sử cương”, Phan KếBính trong sách “Việt Nam phong tục” đều lưu ý tới hiện tượng hầu đồng và miêu tả chitiết cách các ông đồng trừ tà ma trong đền Kếp Bạc vào ngày húy của Trần Hưng Đạo

- Trong sách “Đạo Mẫu ở Việt Nam”, Giáo sư Ngô Đức Thịnh khi nghiên cứu tínngưỡng Đức Thánh Trần trong sự đối xứng với tục thờ Mẫu Liễu Hạnh đã miêu tả chi tiếttrình tự một buổi lễ hầu đồng tại Kiếp Bạc

Trang 11

- Học giả Nguyễn Văn Vĩnh, trong bài “Hội Kiếp Bạc” in trên Đông Dương tạp chí,

số 19 ngày 29/09/1913, đã miêu tả thời gian, các nghi lễ diễn ra trong hội Kiếp Bạc, đồngthời cũng phê phán mạnh mẽ các yếu tố mê tín dị đoan trong nghi lễ hầu đồng

- Trong luận văn Thạc sĩ văn hóa dân gian “Tìm hiểu hiện tượng tín ngưỡng ĐứcThánh Trần” của Phạm Quỳnh Phương, tác giả đã dịch những tư liệu Hán Nôm ghi chép

về nghi lễ thờ cúng ở Kiếp Bạc cung cấp nhiều thông tin có giá trị về nghi thức hầu đồng

ở đền Kiếp Bạc

- Năm 2006, Ban quản lý di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc thực hiện đề tài khao học cấptỉnh “Nghiên cứu di sản văn hóa phi vật thể Kiếp Bạc” đã nghiên cứu khá chi tiết từphong tục tập quán, lễ hội, diễn xướng dân gian ở khu vực Kiếp Bạc, trong đó có trìnhbày cả nghi lễ hầu Thánh Đề tài ấy cung cấp rất nhiều thông tin chi tiết và hữu ích chonhững nghiên cứu liên quan đến khu di tích lịch sử Côn Sơn – Kiếp Bạc và những lễ hội,nghi lễ tại khu di tích lịch sử này

- Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về nghi lễ hầu đồng tiếp cận dưới nhiềugóc độ khác nhau, nhưng chưa có công trình nào tiếp cận nghi lễ hầu đồng dưới góc nhìn

du lịch Vậy nên, trong bài báo cáo này, chúng tôi làm nghiên cứu và tìm hiểu về diễnxướng hầu đồng dưới góc nhìn của du lịch

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận:

Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, duy vật biện chứng Đồng thờixuất phát tình hình thực tế của đời sống văn hóa xã hội để phân tích, nhìn nhận, đánh giávấn đề

6.2 Phương pháp thực tiễn:

Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu cũng như hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứucủa đề tài, chúng tôi đã sử kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu Cụ thể, ngoài cácphương pháp cơ bản như tập hợp và nghiên cứu tài liệu thứ cấp, nghiên cứu điền dã, quansát tham dự, nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp trọng tâm là phỏng vấn sâu

Trang 12

- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu đối với các văn bản đã được người đitrước tổng hợp Từ những tài liệu thành văn (sách, báo, tạp chí,…), tư liệu điền dã (truyềnthuyết, văn học truyền miệng,…) nhằm tìm ra lịch sử hình thành, quá trình tồn tại và pháttriển của diễn xướng hát văn - hầu đồng.

- Phương pháp diền dã để thu thập thông tin tư liệu, ghi chép, mô tả diễn xướng hátvăn – hầu đồng tại đền Kiếp Bạc

- Phương pháp phỏng vấn sâu để tìm hiểu thực trạng diễn xướng hát văn – hầu đồngtại đền Kiếp Bạc từ đó rút ra nhận xét và giải pháp phát triển sản phẩm du lịch gắn vớinghi thức diễn xướng dânấy

6 Bố cục của báo cáo

Ngoài phần mở đầu , kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phần phụ lục,phần nội dung của báo cáo được chia làm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tình nghiên cứu và cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Thực trạng phát triển sản phẩm du lịch gắn với diễn xướng hát văn hầu đồng tại đền Kiếp Bạc – Hải Dương

Chương 3: Một số nhận định và đề xuất phát triển sản phảm du lịch gắn với diễn xướng hát văn hầu đồng

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Sản phẩm du lịch gắn với tài nguyên văn hóa – vốn văn hóa cộng đồng

1.1.1 Khái niệm sản phẩm du lịch

Khái niệm Sản phẩm du lịch là khái niệm cốt lõi trong nghiên cứu học thuật, quản

lý và vận hành thực tiễn ngành du lịch.Khái niệm Sản phẩm du lịch có sự vận động, biếnđổi và nhận được nhiều phát biểu dưới những tiếp cận khác nhau Luật Du lịch 2017 nêu

“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm

cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu

du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch vănhóa.” và “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên

du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch”[12] tức là sản phẩm du lịch được tạo nên

để đáp ứng nhu của khách du lịch Nhu cầu của khách du lịch ngày một đa dạng và cầnđược đáp ứng ở mức độ cao hơn với nhiều hình thức hơn Sản phẩm du lịch có tính tổnghợp và có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đó bởi nó tổng hòa mọi dịch vụ chứ khôngphải chỉ bao hàm một dịch vụ đơn lẻ

Trong các nghiên cứu đúc kết thực tiễn và xu hướng phát triển du lịch hiện đại thìsản phẩm du lịch được hiểu là sự trải nghiệm của du khách Middleton và Clarke cho rằngsản phẩm du lịch là các giá trị trải nghiệm của du khách khi mà “khách nhận được các lợiích phù hợp với nhu cầu và sở trường cùng chất lượng và giá trị đồng tiền Các giá trị nàyđược bổ sung tại từng giai đoạn của quá trình hình thành sản phẩm mà bản thân ngườikhách cũng tham gia tương tác” [31] Ritchie và Crouch thì cho rằng: “sản phẩm cơ bảntrong du lịch là sự trải nghiệm về điểm đến” [29] Các quan điểm này giúp khẳng địnhrằng khi khách du lịch mua một sản phẩm là họ mong muốn chi trả để có được một sự trảinghiệm, được tận hưởng chuỗi những hoạt động và sự kiện đáng nhớ mà bên bán cungcấp Sự trải nghiệm đáng nhớ của du khách được coi là giá trị cốt lõi của sản phẩm du lịchhiện đại, giúp tạo ra giá trị gia tăng và lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm Từ cách tiếp cậntổng thể, một số nhà nghiên cứu cho rằng: “sản phẩm du lịch bao gồm toàn bộ các giá trị

sử dụng để thoả mãn nhu cầu du lịch nhất định, nó là kết quả của các hoạt động sản xuất

Trang 14

thuộc các cơ sở du lịch đặc biệt và người tham gia du lịch” Một số nhà nghiên cứu dulịch Trung Quốc tiếp cận sản phẩm du lịch từ góc nhìn cung du lịch “là toàn bộ dịch vụcủa nhà kinh doanh du lịch dựa vào vật thu hút du lịch và khởi sự du lịch, cung cấp cho

du khách để thoả mãn nhu cầu hoạt động du lịch” và góc nhìn cầu du lịch “là quá trình dulịch một lần do du khách bỏ thời gian, chi phí và sức lực nhất định để đổi được” TrầnVăn Thông nêu “sản phẩm du lịch là sự kết hợp hàng hoá và dịch vụ trên cơ sở khai tháchợp lý tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu cho du khách trong hoạt động dulịch”, với công thức: Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + Hàng hoá và dịch vụ dulịch Ở đây, khái niệm tài nguyên du lịch cần được hiểu hay thay thế bằng “giá trị của tàinguyên du lịch” thì sẽ phù hợp hơn Tương đồng với ý kiến của Trần Văn Thông, ĐinhTrung Kiên cho rằng “sản phẩm du lịch là toàn bộ chương trình du lịch, các dịch vụ dulịch cùng với tài nguyên du lịch được khai thác cho hoạt động du lịch” và chỉ rõ thànhphần của sản phẩm du lịch: sản phẩm lữ hành; sản phẩm dịch vụ du lịch được cụ thể hoátrong các lĩnh vực dịch vụ khác nhau: dịch vụ lưu trú, ăn uống, bổ sung; các dịch vụ cụthể khi trực tiếp phục vụ khách du lịch: đồ lưu niệm, đồ uống, món ăn… Trong nhữngcách hiểu về “sản phẩm du lịch” nói trên, chúng tôi cho rằng ý kiến của Trần Văn Thông

và Đinh Trung Kiên là xác đáng hơn cả và xin thể hiện sự đồng thuận với các ý kiến này

có liên quan đến phương tiện chuyên chở mà khách du lịch sẽ dùng để đi tới địa điểm đãchọn Những thuận lợi này được tính toán về mặt kinh tế hơn là về khoảng cách địa lý.Nguyễn Hồng Giáp làm rõ hơn khi cho rằng một sản phẩm du lịch là một tổng thể nhữngyếu tố có thể trông thấy được hoặc không trông thấy được, nhưng lại làm thoả mãn cho

Trang 15

những khách hàng nhất định hoặc cho những thị trường nào đó Ông giới thiệu ý kiến củahai học giả nước ngoài về việc phân biệt 3 mức độ trong khái niệm của một sản phẩm dulịch: 1) Sản phẩm du lịch chính trả lời cho câu hỏi: người mua thật sự muốn được gì? Sảnphẩm này là trung tâm của số cung đối với du khách; 2) Sản phẩm du lịch hình thức,tương ứng với sản phẩm mà nó có mặt lúc mua hoặc chọn lựa, là sản phẩm cốt yếu được

cụ thể hoá bằng những yếu tố hoặc những dịch vụ rõ ràng; và 3) Sản phẩm du lịch mởrộng: là toàn bộ những yếu tố liên quan đến người tiêu dùng, tức là du khách, là tổng thể

do các yếu tố nhìn thấy được, cũng như không nhìn thấy được cung cấp cho người dulịch, đặc biệt là những lợi ích tâm lý như là cảm giác lạ, được coi là thành phần ưu tú,thượng lưu… Sản phẩm du lịch mở rộng hoàn toàn thích hợp cho khách hàng cuối cùng.[1]

Như vậy, sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm đặc biệt có tính dịch vụ cao vàđược tạo thành bởi nhiều yếu tố nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách, bao gồm dịch vụtổng thể của nhà cung cấp, các yếu tố thu hút du lịch khác như kết cấu hạ tầng du lịch, tàinguyên du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, lao động (con người) và các yếu tố “tiền”

du lịch như thị trường du lịch, chiến lược kinh doanh du lịch, chiến lược marketing dulịch, việc xây dựng và cung cấp (bán) sản phẩm cho du khách để thỏa mãn nhu cầu của

họ Theo Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hiệp quốc (UNWTO) thì “Sản phẩm du lịch

là sự tổng hợp của 3 yếu tố cấu thành: 1) Kết cấu hạ tầng du lịch; 2) Tài nguyên du lịch;

và 3) Cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ, lao động và quản lý du lịch” Thực tế cho thấy kháiniệm này của UNWTO là “bao trùm” và thể hiện đầy đủ những gì chứa đựng trong mộtsản phẩm du lịch Trong mối quan hệ với khách du lịch, sản phẩm du lịch có thể được thểhiện theo sơ đồ sau:

Trang 16

Nguồn: UNWTO, theo Phạm Trung Lương, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứukhoa học và công nghệ cấp Bộ “Cơ sở khoa học để phát triển các sản phẩm du lịch thểthao mạo hiểm vùng núi phía Bắc” Trong đó: I) là phần dịch vụ cốt lõi hay dịch vụ cơ bảncủa sản phẩm du lịch, điều mà du khách kỳ vọng nhất trong chuyến đi du lịch Đây đượcxem là nhu cầu của khách đối với một tour du lịch; J) Là phần dịch vụ “trang sức” haydịch vụ bổ trợ là cơ sở vật chất du lịch bao gồm hệ thống vui chơi giải trí, kiến trúc cảnhquan, quầy hàng bán hàng lưu niệm,…; K) Là phần dịch vụ “sáng tạo” có tính khác biệt,hấp dẫn làm tăng giá trị của sản phẩm du lịch Đây là yếu tố quan trọng để du khách, đặcbiệt là du khách “khó tính”, lựa chọn Trước hết đó là tài nguyên du lịch, dịch vụ quảngcáo, quan hệ công chúng PR, uy tín, thương hiệu, sự sang trọng,…; H) Là khoảng thờigian của nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của du khách Đây là khoảng thời gian phải cung cấpkịp thời, đúng lúc nhu cầu của khách Thông qua I, J, K, H là hoạt động sáng tạo, sự định

vị thông minh, sự khác biệt và đúng lúc mà du khách cần để tạo nên “đẳng cấp” sảnphẩm: Sản phẩm du lịch rẻ tiền (đẳng cấp thấp) khi Si > Di; Sản phẩm du lịch có chấtlượng (đẳng cấp trung bình) khi Sij = Dij; Sản phẩm du lịch chất lượng cao, hợp “gu”,đúng lúc (đẳng cấp cao) khi Sijkh < Dijkh Trong đó: S (supply) - Cung ; D (demand) -Cầu Những đặc điểm cơ bản của “sản phẩm du lịch” bao gồm: Tính tổng hợp, đa dạng,nhiều cấp độ; Tính không dự trữ, lưu kho được; Tính không thể chuyển dịch, phân chiađược; Tính đồng thời của hoạt động sản xuất và tiêu thụ; Tính vô hình, dễ thay đổi, khôngđồng nhất; Tính không chuyển giao quyền sở hữu; Tính mới cho cả chủ thể (khách du

Trang 17

lịch), khách thể (môi trường, cảnh quan, tài nguyên) và môi giới du lịch (ngành kinhdoanh du lịch) Như vậy, khi nghiên cứu “sản phẩm du lịch”, bên cạnh việc chú trọng đếncác yếu tố hình thành lên “sản phẩm”, cần thiết phải lưu ý đến những đặc điểm cơ bản củasản phẩm du lịch.

Cơ cấu của sản phẩm du lịch

Cơ cấu sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm những yếu tố hữu hình và những yếu tố

vô hình.Yếu tố hữu hình là hàng hóa, yếu tố vô hình là dịch vụ Theo các nhà nghiên cứu,nếu xét theo quá trình tiêu dùng của khách du lịch trên chuyến hành trình du lịch thìchúng ta có thể tổng hợp các thành phần của sản phẩm du lịch theo các nhóm cơ bản sau:+ Dịch vụ vận chuyển

+ Dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống; đồ ăn, thức uống

+ Dịch vụ tham quan, giải trí

+ Hàng hóa tiêu dùng và đồ lưu niệm

+ Các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch

Đặc trưng của sản phẩm du lịch:

Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật thể.Thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ (thường chiếm 80% - 90% về mặt giátrị), hàng hóa chiếm tỷ trọng nhỏ Do vậy, việc đánh giá chất lượng sản phẩm du lịchthường mang tính chủ quan và phần lớn không phụ thuộc vào người kinh doanh mà phụthuộc vào khách du lịch Chất lượng sản phẩm du lịch được xác định dựa vào sự chêchlệch giữa mức độ kỳ vọng và mức độ cảm nhận về chất lượng của khách du lịch

Đặc điểm của sản phẩm du lịch:

Vô hình: Du lịch là một sản phẩm vô hình có nghĩa là du lịch là loại sản phẩm

không thể chạm vào hoặc nhìn thấy và không có sự chuyển giao quyền sở hữu, nhưng các

cơ sở có sẵn trong một thời gian nhất định và cho một mục đích sử dụng cụ thể Ví dụ:một phòng trong khách sạn có sẵn trong một thời gian nhất định

Trang 18

Tâm lý: Động lực chính để mua sản phẩm du lịch là để thỏa mãn nhu cầu tâm lý

sau khi sử dụng sản phẩm, bằng cách tạo kinh nghiệm trong khi tương tác với môi trườngmới Và kinh nghiệm cũng thúc đẩy người khác mua sản phẩm đó

Rất dễ hỏng: Sản phẩm du lịch rất dễ hỏng trong tự nhiên có nghĩa là người ta

không thể lưu trữ sản phẩm trong một thời gian dài Sản xuất và tiêu thụ diễn ra trong khikhách du lịch có sẵn Nếu sản phẩm vẫn chưa được sử dụng, cơ hội sẽ bị mất, tức là nếukhách du lịch không mua sản phẩm đó Một đại lý du lịch hoặc nhà điều hành du lịch bánmột sản phẩm du lịch không thể lưu trữ nó Sản xuất chỉ có thể diễn ra nếu khách hàngthực sự có mặt Và một khi tiêu dùng bắt đầu, nó không thể dừng lại, gián đoạn hoặc sửađổi Nếu sản phẩm vẫn chưa được sử dụng, cơ hội sẽ bị mất, tức là nếu khách du lịchkhông ghé thăm một địa điểm cụ thể, cơ hội tại thời điểm đó sẽ bị mất Đó là do lý do dulịch mà các khách sạn và các tổ chức tạo ra giao thông giảm giá trong mùa giảm giá

 Sản phẩm du lịch là sự kết hợp của các sản phẩm khác nhau Bản thân nó không cómột thực thể nào Theo kinh nghiệm của chuyến thăm đến một địa điểm cụ thể, các nhàcung cấp dịch vụ khác nhau đóng góp như vận chuyển Sản phẩm du lịch không thể đượccung cấp bởi một doanh nghiệp không giống như một sản phẩm được sản xuất Các sảnphẩm du lịch bao gồm trải nghiệm đầy đủ của một chuyến thăm đến một địa điểm cụ thể

Và nhiều nhà cung cấp đóng góp cho kinh nghiệm du lịch Chẳng hạn, hãng hàng khôngcung cấp chỗ ngồi, một khách sạn cung cấp phòng và nhà hàng, đại lý du lịch đặt chỗ ở vàtham quan, v.v

Nhu cầu không ổn định: Nhu cầu du lịch bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chính trị theo

mùa, kinh tế và các yếu tố khác Có những thời điểm nhất định trong năm có nhu cầu lớnhơn những thời điểm khác Vào những thời điểm này có sự căng thẳng lớn hơn đối vớicác dịch vụ như đặt phòng khách sạn, việc làm và hệ thống giao thông, v.v

Tính không tách rời:

Quá trình sản xuất phục vụ và quá trình tiêu dùng sản phẩm du lịch diễn ra gần nhưđồng thời trong cùng một thời gian và không gian Cung thời gian : thời gian hoạt độngcủa máy bay, tàu , khách sạn, nhà hàng phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách, hoạtđộng phục vụ khách diễn ra một cách liên tục không có ngày nghỉ và giờ nghỉ Cùng

Trang 19

không gian: khách du lịch phải đến tận nơi để tiêu dùng sản phẩm chứ không thể vậnchuyển sản phẩm đến nơi có khách như sản phẩm hàng hóa bình thường Như vậy sảnphẩm du lịch không thể tách rời nguồn gốc tạo ra dịch vụ.

Không chuyển giao sở hữu, chuyển giao sử dụng: Sản phẩm du lịch chỉ thực hiệnquyền sử dụng mà không thực hiện quyền sở hữu, bởi khi đã sử dụng thì mất đi giá trị chitrở thành các trải nghiệm của bản thân(yếu tố phi vật chất), không thể sang tên, đổi chủđược

Tính không đồng nhất:

+ Tính vô hình của sản phẩm du lịch khiến cho các sản phẩm du lịch thường

có chất lượng không lặp lại

+ Chỉ khi tiêu dùng sản phẩm, khách mời mới cảm nhận được

+ Khó lượng hóa

Tính không dự trữ ,tồn kho:

+ Sản phẩm du lịch không thể lưu kho và cất trữ: để thực hiện được sản phẩm

du lịch, công ty lữ hành phải đặt trước các dịch vụ : vận chuyển , ăn uống, ngủnghỉ, máy bay, tàu, khách sạn… Không thể để tồn kho một ngày buồng vàmột chỗ trong nhà hàng vì không tiêu thụ được sẽ mất không một khoản thunhập

+ Cung bị thụ động, khó đáp ứng khi cầu bị biến động

1.1.2 Khái niệm phát triển sản phẩm du lịch

Ngày nay, cùng với sự phát triển của ngành du lịch, đặc biệt là sau nghị quyết08/NĐCQ của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam về việc “phát triển du lịch trở thànhngành kinh tế mũi nhọn là định hướng chiến lược quan trọng để phát triển đất nước” [2],việc phát triển sản phẩm du lịch được coi là vấn đề ưu tiên hàng đầu trong chiến lược pháttriển du lịch của các địa phương Chính vì thế mà Luật du lịch 2017 đã phải bổ sung quyđịnh về “phát triển sản phẩm du lịch” [Phụ lục 1] So với Luật du lịch 2005 thì đây là mộtbước tiến quan trọng vì lần đầu tiên luật hóa vấn đề “phát triển sản phẩm du lịch”, tuynhiên mới dừng lại ở việc khẳng định nhận thức, sự cần thiết và khuyến khích mà thôi,

Trang 20

chưa nêu rõ được nội hàm của vấn đề này Trên cơ sở đó, các nhà nghiên cứu tiến hànhlàm rõ nội hàm “phát triển sản phẩm du lịch” Trương Quang Dũng cho rằng sản phẩm dulịch phải được xác định dựa trên sự hiểu biết về thị trường du lịch, xu hướng và thị hiếukhách du lịch [7] Vì vậy, nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm và tiếp thị là một sựkết nối liên tục trong quá trình phát triển sản phẩm du lịch Sự liên kết giữa thị trường vàsản phẩm phải tuân theo các quy luật cơ bản của thị trường, đó là các quy luật cung - cầu,quy luật cạnh tranh và quy luật giá trị Phát triển sản phẩm du lịch có thể tiếp cận theonhiều hướng khác nhau như:

1) Các yếu tố thu hút và phục vụ khách bao gồm cơ sở hạ tầng (đường xá, điệnnước, thông tin liên lạc, các loại phương tiện vận chuyển khách), cơ sở vật chất kỹ thuậtphục vụ khách (các cơ sở lưu trú, ăn uống, giải trí, mua sắm ), nhân viên phục vụ và cơ

sở vật chất và tiện nghi khác; đặc biệt là vấn đề tiếp thị, quảng cáo và xây dựng hình ảnhcho điểm đến

2) Theo một hướng tiếp cận khác, phát triển sản phẩm du lịch bao gồm phát triểnnhững điểm tham quan, các hoạt động và các dịch vụ đa dạng phục vụ khách Trong haicách tiếp cận trên, cách thứ nhất đóng một vai trò quyết định đến việc phát triển sản phẩm

du lịch tại các điểm đến du lịch Mặt khác, phát triển sản phẩm du lịch của một điểm đếnkhông chỉ phục vụ cho khách du lịch quốc tế, khách du lịch nội địa mà cả đáp ứng nhucầu của cộng đồng dân cư xung quanh Phát triển sản phẩm du lịch là một quá trình màtrong đó các giá trị của một địa điểm cụ thể được sử dụng tối đa để đáp ứng nhu cầu củakhách du lịch trong nước, khách du lịch quốc tế và người dân địa phương Theo NguyễnĐức Tân thì để phát triển sản phẩm du lịch nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong quátrình hội nhập của du lịch Việt Nam với khu vực và quốc tế, việc tập trung xây dựngchiến lược phát triển sản phẩm du lịch, phát triển quy mô sản phẩm du lịch, đồng thời chútrọng nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Việt Nam dựa trên cơ sở: 1) Nguyên tắc phùhợp với nhu cầu khách: tìm hiểu nhu cầu, xu hướng của khách du lịch và nghiên cứu thịtrường để tìm ra nguồn khách, thị trường mục tiêu, từ đó tiến hành các công việc kinhdoanh du lịch 2) Nguyên tắc lợi ích kinh tế: bất cứ đầu tư xây dựng và phát triển các sảnphẩm du lịch nào cũng cần phải xét đến những tác động của nó đối với nền kinh tế 3)

Trang 21

Nguyên tắc đặc sắc: nét đặc trưng của thiên nhiên, văn hóa cộng đồng địa phương là nềntảng để tạo ra sức hấp dẫn của các sản phẩm du lịch 4) Nguyên tắc bảo tồn và giữ gìn:khi khai thác tài nguyên du lịch cần bảo đảm nguyên tắc bảo tồn và gìn giữ môi trường,duy trì sự cân bằng sinh thái, nghiêm cấm việc phá hoại cảnh quan môi trường nhất là cáctài nguyên du lịch có giá trị đặc biệt [18] Cũng dựa trên quan điểm phải xây dựng chi tiếtnội dung hướng dẫn xây dựng sản phẩm du lịch, Dự án Du lịch có trách nhiệm với môitrường và xã hội (gọi tắt là Dự án EU) đã đưa việc “phát triển và thiết kế dịch vụ và sảnphẩm du lịch có trách nhiệm” thành một đơn vị năng lực trong bộ tiêu chuẩn nghề ViệtNam VTOS [5] Mặc dù đến thời điểm hiện tại, bộ tiêu chuẩn này mới chỉ được sử dụngtheo hướng tham khảo song hứa hẹn trong tương lai nó sẽ được chính thức hóa để chấtlượng sản phẩm du lịch Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.

1.1.3 Phát triển sản phẩm du lịch gắn với tài nguyên văn hóa – vốn văn hóa cộngđồng

Theo GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, Từ “văn hoá” có nhiều nghĩa, nó được dùng đểchỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khácnhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm “văn hoá” bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểuchính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng.[20]

Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theokhông gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là nhữnggiá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…) Giới hạn theo chiềurộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, vănhoá kinh doanh…) Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặcthù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…) Giới hạn theo thời gian,văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoáĐông Sơn…)…

Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do conngười sáng tạo ra Năm 1871, E.B Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theonghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức,

Trang 22

luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với

tư cách một thành viên của xã hội”[8] Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cho rằng “Vì lẽ sinhtồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ,chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ chosinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo vàphát minh đó tức là văn hóa”[15] Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những

gì do con người sáng tạo và phát minh ra Cũng giống như định nghĩa của Tylor, văn hóatheo cách nói của Hồ Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liênquan đến đời sống con người

Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nướcngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa do UNESCO đưa

ra vào năm 1994 Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩahẹp Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ- tổng hợp các đặc trưng diện mạo vềtinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng giađình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật,văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giátrị, những truyền thống, tín ngưỡng…”[4]; còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổngthể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộngđồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”[11]… Dựa theo mục đích nghiên cứu của báocáo khoa học này, chúng tôi cho rằng cách hiểu văn hóa theo chiều sâu (tức những giá trịtinh hoa của nó: nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…) của GS TSKH Trần NgọcThêm và cách hiểu theo nghĩa rộng của UNESCO là xác đáng hơn cả

Mỗi khi nhắc đến khái niệm Tài nguyên, chúng ta thường nghĩ ngay đến Tàinguyên thiên nhiên, tuy nhiên khái niệm tài nguyên hiện nay được hiểu theo nghĩa rộng,như tài nguyên con người, tài nguyên giáo dục, tài nguyên du lịch và Nói cách khác,mọi thứ đều có thể thành tài nguyên cho mục đích nào đó trong những điều kiện nhấtđịnh [30] Hiện nay người ta sử dụng khái niệm Tài nguyên Văn hoá[28] thay cho cácthuật ngữ Di sản hay Tài sản Văn hoá và những cách thức/phương pháp mới khai thác sửdụng nguồn tài nguyên này

Trang 23

Theo Hiệp hội Nghiên cứu Tài nguyên Văn hoá Nhật Bản “Tài nguyên văn hoá là

dữ liệu quan trọng giúp chúng ta hiểu xã hội và văn hoá của xã hội đó ở một thời điểmnào đó, tài nguyên văn hoá bao gồm cả vật thể và phi vật thể không chỉ lưu giữ trong cácbảo tàng, như công trình lịch sử, phong cảnh đô thị, trình diễn nghệ thuật cổ truyền, lễhội…”

Theo Từ điển tiếng Việt, “vốn” (capital) là tổng thể nói chung những gì có sẵn haytích lũy được dùng trong một lĩnh vực hoạt động nào đó, nói về mặt cần thiết để hoạtđộng có hiệu quả Theo đó, có thể thấy vốn văn hóa (cutural capital) là tổng thể nhữngyếu tố đã tích lũy được, thúc đẩy hoạt động của con người trong xã hội Cũng theo Từđiển Tiếng Việt, “cộng đồng” là toàn thể những người cùng sống, có những điểm giốngnhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội

Có thể thấy tài nguyên văn hóa – vốn văn hóa của cộng đồng chính là những giá trịtinh hoa của văn hóa, những đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tìnhcảm… vốn có, khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng Văn hóa không chỉ bao gồmnghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệthống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…đã có từ lâu đời

Phát triển sản phẩm du lịch gắn với tài nguyên văn hóa – vốn văn hóa của cộng đồng tức là phát triển hệ thống dịch vụ phục vụ du lịch dựa trên những giá trị văn hóa vốn có của cộng đồng nơi đó.

1.2 Diễn xướng hát văn – hầu đồng và tín ngưỡng hầu Thánh

1.2.1 Diễn xướng hát văn – hầu đồng

1.2.1.1 Diễn xướng dân gian “Diễn xướng” là thuật ngữ được dùng khá quen thuộc trong nghiên cứu văn học,văn hoá dân gian Cho đến nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này

Theo giáo sư Nguyễn Phạm Hùng trong cuốn “Văn hóa du lịch” thì “Diễn xướng

là một bộ phận của văn hóa, thể hiện khả năng thẩm mỹ của con người Nó mang tính lịch sử và tính dân tộc rõ rệt, nó giúp con người có thể tiếp cận những đặc sắc và khác

Trang 24

biệt văn hóa ở trạng thái sống động, hấp dẫn nhất Diễn xướng là nghệ thuật biểu diễn và trình bày bằng âm thanh, hình ảnh, động tác, hình thể của con người, phục vụ nhu cầu thưởng thức là nghe và nhìn, rất thuận lợi cho phát triển du lịch, vốn nhu cầu nghe nhìn.”

Tác giả Lê Trung Vũ trong bài viết “Từ diễn xướng truyền thống đến nghệ thuật sân khấu” đã xác định: “Diễn xướng vừa là hình thức sinh hoạt văn hóa xã hội định kỳ (như Hội Gióng, Hội Xoan, Hội chùa Keo, Lễ mở đường cày đầu năm…) quy mô làng xã; lại vừa là hình thái sinh hoạt văn hóa xã hội không định kỳ, nhưng định lệ (lễ làm nhà mới, đám cưới, đám tang, lễ thành niên, lễ thượng thọ…) quy mô một gia đình hoặc việc của một người; lại cũng vừa là lối trình diễn rất tự nhiên không định kỳ cũng không định

lệ mà do nhu cầu sinh hoạt, lao động (Ru con, hát trong lúc lao động, vì lao động hoặc để giải trí)…” [26] Theo tác giả, có thể phân loại diễn xướng dựa vào chủ đề và quy cách.

Dựa vào chủ đề, diễn xướng được chia thành hai loại theo hai nội dung lớn của xã hội làdựng nước và giữ nước Diễn xướng theo chủ đề dựng nước lại có thể chia thành hai loạinhỏ là sản xuất và sinh hoạt Dựa vào quy cách tiến hành diễn xướng, có thể chia diễnxướng thành diễn xướng tự nhiên, tự do (Thường là hát không động tác hoặc động tác đơngiản, không kèm tập tục, nghi lễ) và diễn xướng định kỳ, định lệ (phức tạp về thành phầncấu tạo, đa dạng về nội dung, theo quy cách nhất định) Tác giả Lê Trung Vũ còn lưu ýrằng đã gọi là diễn xướng thì thường phải có diễn (múa, động tác, âm nhạc) và xướng(nói, ngâm ngợi, ca hát)

Bên cạnh đó, tìm hiểu về diễn xướng, tác giả Nguyễn Hữu Thu quan niệm: “Thuật ngữ diễn xướng là để chỉ chung việc thể hiện, trình bày những sáng tác văn nghệ của con người gồm nhiều yếu tố hợp thành (…) diễn xướng là tất cả những phương thức sinh hoạt văn nghệ mang tính chất nguyên hợp của loài người từ lúc sơ khai cho đến thời đại văn minh hiện nay” [23] Nguyễn Hữu Thu liệt kê ra 13 yếu tố cấu thành diễn xướng như: con

người (xét về mặt sáng tạo), tác phẩm (tiểu phẩm truyền miệng trong dân gian), địa điểm(các kiểu diễn trường), thời gian (mùa hay dịp), động tác (đi đứng, cử chỉ, nhảy múa),ngôn ngữ (nói năng, ngâm, bình, xướng, kể)… và nhấn mạnh vào yếu tố con người –xuất phát điểm của nghệ thuật biểu diễn

Trang 25

Bàn về khái niệm này, nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu cho rằng: “Nói diễn xướng dân gian là hình thức sinh hoạt văn nghệ của nhân dân…, là cái nôi sinh thành của nền văn nghệ dân tộc” là đúng nhưng chưa đủ và nhất là chưa rõ Bởi nhân dân đã làm ra nhiều hình thức văn nghệ khác nhau Vậy thì diễn xướng dân gian là hình thức văn nghệ nào của nhân dân? Nghệ thuật sân khấu dân gian có thuộc phạm trù diễn xướng dân gian không hay thuộc về nghệ thuật sân khấu? Các hình thức sáng tác dân gian khác ít mang tính chất diễn xướng hơn như tục ngữ, câu đố, ca dao, truyện kể… có phải là thành phần của diễn xướng không hay diễn xướng dân gian chỉ bao gồm những hình thức văn nghệ đậm tính diễn xướng như các thể loại ca vũ và trò diễn dân gian?” Theo ông, thuật ngữ

diễn xướng dân gian có thể và cần được hiểu với hai nghĩa rộng và hẹp khác nhau Vớinghĩa rộng, diễn xướng dân gian là tất cả mọi hình thức biểu diễn (hay diễn xướng) và íthoặc nhiều đều mang tính chất tổng hợp tự nhiên, (hay tính chất nguyên hợp) mà lâu nay

ta quen gọi là văn học dân gian; còn nghĩa hẹp nó chỉ bao gồm các thể loại diễn (như tròdiễn, trò tế lễ dân gian ) Hoàng Tiến Tựu đã chia diễn xướng dân gian thành 4 loại: nói,

kể, hát, diễn tương ứng với 4 phương thức phản ánh chủ yếu của văn học dân gian là suy

lý, tự sự, trữ tình, kịch [25]

Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) đã định nghĩa diễn xướng một cách ngắn

gọn là: “Trình bày các sáng tác dân gian bằng lời lẽ, âm thanh, nhịp điệu” [16].

Tác giả Tô Ngọc Thanh trong bài viết “Trình diễn dân gian Việt Nam” đặt vấn đề

sử dụng thuật ngữ “trình diễn” thay cho thuật ngữ “diễn xướng” bởi theo ông “Thuật ngữ diễn xướng” dễ dẫn đến liên tưởng về các loại hình nghệ thuật như âm nhạc, múa, sân khấu, trong đó bao gồm các yếu tố diễn xuất và ca xướng, tức là các nghệ thuật biểu diễn (Performing arts) ( ) Để có một hàm nghĩa rộng hơn, thuật ngữ “trình diễn” (Presentation) tỏ ra thích hợp, theo đó, “diễn xướng” là một dạng của trình diễn [19].

Qua tìm hiểu các ý kiến bàn về diễn xướng và những vấn đề có liên quan đến diễnxướng trong tiến trình lịch sử, chúng tôi thấy bên cạnh những điểm chưa thống nhất, các

nhà nghiên cứu đều cho rằng: Diễn xướng là hình thức biểu hiện, trình bày các sáng tác dân gian bằng lời lẽ, âm thanh, điệu bộ, cử chỉ ; diễn xướng có sự biến đổi theo thời

Trang 26

gian; cần phải linh hoạt khi tìm hiểu về diễn xướng và lưu ý đến tính ước lệ của thuật ngữ này

Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy rằng:

Thứ nhất, diễn xướng dân gian là một loại hình của văn hóa phi vật thể, giá trị vănhóa của nó được bảo tồn và lưu truyền trong các hoạt động biểu diễn mang tính tập thể, vìvậy nó mang tính dân gian đặc thù

Thứ hai, diễn xướng do người Việt sáng tạo nên, phù hợp với điều kiện, hoàncảnh, môi trường sống Các trò diễn dân gian, cách thức tổ chức hội làng, đồng dao trẻem… xuất phát từ quan niệm cộng sinh, cộng cảm, nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần.Diễn xướng là sự liên kết, gắn bó tất cả mọi người tham gia, hình thành nên cộng đồngbền vững với ý thức cùng chung sống Như vậy, diễn xướng mang tính nguyên hợp khôngphân tách, gồm hai thành tố cơ bản đặc hữu cùng tham gia theo dẫn giải: “diễn”: hànhđộng xảy ra, “xướng”: hát lên, ca lên Với nội hàm trên, khái niệm diễn xướng có nghĩasau: Diễn xướng là tổng thể các phương thức nghệ thuật, cùng thể hiện đồng nhất giữa cahát và hành động của con người theo chiều thẩm mỹ

Diễn xướng bao gồm các diễn xướng truyền thống và các loại hình giải trí hiện đại.Tuy còn hơi “lép vế” so với những loại hình giải trí hiện đại, nhưng những diễn xướngtruyền thống đóng một vai trò quan trọng trong lõi văn hóa của dân tộc mà còn là sự hấpdẫn với những nhà nghiên cứu, những du khách và góp phần tham gia vào nền côngnghiệp giải trí nói chung Chúng ta có thể dễ bắt gặp những diễn xướng truyền thốngtrong đời sống, bình dị như hơi thở của cuộc sống này, một làn điệu dân ca quan họ Bắc

Ninh, một vở chèo cổ mà người xưa đã phát “thèm”: “Chẳng thèm ăn chả, ăn nem/ Thèm

no cơm tẻ, thèm xem hát chèo”, hay như nghe một điệu ca trù, xem một vở rối nước đặc

sắc, một canh hầu đồng ngày xưa Diễn xướng truyền thống xuất phát từ trong đời sống

mà ra, lại phục vụ nhu cầu nghe nhìn, thưởng thức của bà con Ngày nay, các loại hìnhnày được khai thác nhiều hơn, vừa để phục vụ nhu cầu kinh tế, vừa làm sống dậy một nềnvăn hóa dân gian vốn đã sống trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam

Trang 27

Diễn xướng dân gian là kết quả của một nền văn hóa lâu đời, nó phản ánh tâm tư,khát vọng về một cuộc sống no đủ, hay một tình cảm trân trọng dành cho những người cócông với đất nước, dân tộc mà diễn xướng hát văn – hầu đồng được trình bày dưới đây làmột ví dụ điển hình.

1.2.1.2 Hát văn – hầu đồng

a, Hát văn

Hiện các tài liệu ghi chép về hát chầu văn còn rất ít, nhưng các tài liệu đều thốngnhất: Hát chầu văn có lịch sử hình thành lâu dài, ra đời sớm hơn so với các loại hình dân

ca khác Trong sách “Kiến văn tiểu lục”, nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 – 1784) có ghi:

“Thời Trần (1225 – 1400) có lối hát trước mặt Đế Vương, gọi là hát Chầu”

Từ thế kỷ XVII, chầu văn phát triển mạnh ở Nam Định cùng với quá trình hìnhthành quần thể các di tích trọng điểm ở Nam Định như phủ Dầy (xã Kim Thái, huyện VụBản), phủ Quảng Cung (xã Yên Đồng, huyện Ý Yên), đền Bảo Lộc (xã Mỹ Phúc, huyện

Mỹ Lộc), đền Cố Trạch (phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định)…, sau đó phát triển

ra các vùng lân cận như Hà Nam, Thái Bình và ngày càng lan tỏa ra nhiều vùng trên cảnước

Giai đoạn cuối triều Nguyễn (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) là thời kỳ thịnhvượng nhất của nghi lễ hát chầu văn của người Việt nói chung, ở Nam Định nói riêng, có

sự tham gia của các quan lại địa phương và triều đình.Vào thời gian này, thường có cáccuộc thi hát để chọn người hát cung văn Từ năm 1954, hát văn dần dần bị mai một vìhầu đồng bị cấm do bị coi là mê tín dị đoan Từ năm 2000 đến nay, cùng sự phát triển củakinh tế xã hội, với các chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước về văn hoá, tôn giáo, tínngưỡng, nghi lễ này được khôi phục, phát triển trở lại và nay còn được sân khấu hoá, trìnhdiễn để phục vụ đời sống đương đại Những địa điểm phát triển hát văn hiện nay có thể kểđến là: Phủ Giầy – Nam Định, Phủ Tây Hồ - Hà Nội, Đền Trần – Nam Định, Đền Bắc Lệ

- Lạng Sơn, Đền Sòng – Thanh Hóa, Điện Hòn Chén – Huế,

Trang 28

Hát văn còn gọi là chầu văn hay hát bóng, là một loại hình nghệ thuật ca hát cổtruyền đặc sắc của Việt Nam, sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh cùng lời văn chautruốt, trang nghiêm mang ý nghĩa chầu Thánh, gắn liền với nghi thức hầu đồng của tínngưỡng thờ Mẫu và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Đức Thánh Vương Trần Hưng Đạo)

- một tín ngưỡng dân gian Việt Nam có xuất xứ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Hát văn chủyếu gồm hát và diễn xướng phục vụ các buổi lên đồng còn gọi là hầu bóng của tín ngưỡng

Tứ phủ và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần Nhạc sĩ Thao Giang – phó Giám đốc trungtâm nghệ thuật âm nhạc Việt Nam trong bài nghiên cứu “ Nghệ thuật hát chầu văn” ởphần vài nét về lịch sử Nghệ thuật hát chầu văn đã khá dặt dè về định nghĩa Hát

văn:“Hát chầu văn là loại hình nghệ thuật dân gian gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ,có nguồn gốc từ Nam Định và Hà Nội”.

Lời văn trong hát văn được phổ từ thơ ca dân gian, có khi vay mượn cả trong cáctác phẩm văn thơ bác học, thường là thể lục bát, lục bát biến thể, thất ngôn, bốn chữ Giaiđiệu của hát văn khi thì mượt mà, hấp dẫn, khi lại dồn dập, khoẻ khoắn vui tươi Chất thơcủa bài văn đó được nâng cao trong không khí tâm linh thành kính, khói hương nghi ngút,

có dàn nhạc, lời ca phụ hoạ và các điệu múa thiêng của Thánh thể hiện qua người hầuđồng

Bên cạnh ba hệ thống làn điệu của riêng mình – Cờn, Dọc, Xá, hát văn còn thu nạpnhiều bài bản, làn điệu từ các thể loại dân ca nhạc cổ khác, hình thành nhiều làn điệumang tính chuyên dùng khá cao thể hiện những vai vế, tính cách và giới tính riêng biệt

Đó chính là một phần quan trọng biểu hiện mối quan hệ hữu cơ giữa âm nhạc và tínngưỡng Ngoài ra hát chầu văn còn mượn các làn điệu nhạc cổ truyền khác như ca trù,quan họ, hò Huế và kể cả những điệu hát của các dân tộc thiểu số Xen kẽ những đoạn hát

là đoạn nhạc không lời, gọi là lưu không Tuỳ theo khu vực mà tên gọi các điệu văn cũng

có khác nhau

Với sự đề cao những mô hình nhịp điệu có chu kỳ, âm nhạc Hát văn giống nhưnhững vũ điệu của thánh thần, dìu dặt và mê hoặc lòng người Cả cung văn cùng các connhang đệ tử như tỉnh như say trong sự hòa quyện đồng điệu Bên cạnh việc diễn tấu

Trang 29

những khúc nhạc không lời với vai trò độc lập, đàn nguyệt có nhiệm vụ dẫn dụ giọng điệu

và nâng đỡ cho lời ca tiếng hát Giai điệu tiếng đàn, giọng hát Chầu văn có một sức quyến

rũ đặc biệt.Tựu trung, Hát văn có 13 điệu, hay còn gọi là lối hát Đó là: Bỉ, Miễu, Thổng,Phú Bình, Phú Chênh, Phú Nói, Phú Rầu, Đưa Thơ, Vãn, Dọc, Cờn, Hãm và Dồn

 Bỉ mang sắc thái trịnh trọng, được dùng để hát trước khi chính thức vào một bảnvăn thờ hoặc văn thi Có 2 cách hát: Bỉ 4 câu và Bỉ 8 câu Bỉ được lấy theo dâylệch, nhịp theo lối dồn phách

 Miễu là lối hát rất nghiêm trang, đĩnh đạc, chỉ được dùng trong hát thi và hát thờ,tuyệt nhiên không bao giờ được dùng trong hát hầu Miễu được lấy theo dây lệch,nhịp đôi

 Thổng chỉ giành riêng cho văn thờ và văn thi, được lấy theo dây bằng, nhịp ba

 Phú Bình dành riêng cho hát văn thờ, rất đĩnh đạc, và dùng để hát ca ngợi các namthần Phú Bình được lấy theo dây lệch, nhịp 3

 Phú Chênh là lối hát buồn, thường dùng để hát trong những cảnh chia ly Được lấytheo dây bằng, nhịp 3

 Phú nói thường dùng để mô tả cảnh hai người gặp gỡ, nói chuyện với nhau Dùngtrong hát văn thờ, văn thi và cả trong hát hầu Lấy theo dây bằng, nhịp ba hoặckhông có nhịp mà chỉ dồn phách

 Phú rầu là lối hát rất buồn, được lấy theo dây bằng nhưng hát theo nhịp đôi

 Đưa thơ được lấy theo dây bằng, nhịp 3 và dồn phách, nhưng chủ yếu là dồnphách

Trang 30

 Vãn lấy theo dây bằng, nhịp đôi, hát theo lối song thất lục bát, hát theo lối vay trả hát vay của câu trước rồi trả lại trong câu sau.

- Dọc lấy theo dây bằng, nhịp đôi, hát theo lối song thất - lục bát và hát theo nguyêntắc vay trả Nếu hát từng câu thì gọi là nhất cú Nếu hát liền hai câu song thất - lụcbát thì gọi là "Dọc gối hạc" hay "Dọc nhị cú"

 Cờn dùng để ca ngợi sắc đẹp các vị nữ thần Cờn được lấy theo dây lệch, nhịp đôi

Có thể hát theo dây bằng, nhưng hầu hết là hát kiểu dây lệch cho phép biến hóagiai điệu

 Hãm lấy theo dây bằng, nhịp đôi, đây là lối hát rất khó vì phải hát liền song thấtlục bát Trong lối hát này có một tuyệt chiêu là Hạ Tứ Tự, có nghĩa là mượn bốnchữ của câu sau, khi sang một câu mới thì lại trả lại bốn chữ ấy

 Dồn được lấy theo dây bằng, nhịp 3

Hát văn là lễ nhạc hát chầu Thánh nên có vai trò quan trọng trong lễ hầu đồng Lời

ca, tiếng nhạc của cung văn nhằm mời gọi các vị Thánh về Hát văn làm cho buổi lễ sốngđộng Những người hát văn vừa chơi nhạc cụ vừa thay nhau hát trong một vấn hầu thườngkéo dài từ 4-8 tiếng

Các nhạc cụ chính gồm đàn nguyệt, trống ban (trống con), phách, cảnh, thanh la,ngoài ra còn sử dụng nhiều nhạc cụ khác như: trống cái, sáo đàn thập lục, đàn nhị, kènbầu, chuông, mõ, đàn bầu

b, Hầu đồng

Xét từ giá trị tâm linh, “hầu đồng” là một loại hình sinh hoạt văn hóa tâm linhthuộc về dân gian có từ lâu đời, nghi lễ "Hầu Thánh”, ”lên đồng" có ý nghĩa tôn vinh cácnhân vật lịch sử cùng với công trạng của các vị dưới hình thức diễn xướng có nghi lễ vàhát văn

Trang 31

"Hầu bóng" bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Thực chất, nó xuấtphát từ thế giới quan của người Việt cho rằng mỗi thế giới hữu hình luôn tồn tại songsong với một thế giới vô hình, như câu của người Việt nói rằng: "bên âm, bên dương" chứkhông phải "trên dương, dưới âm" như của đạo Phật Người Việt cổ cho rằng có bốn thếgiới: Thế giới trên trời (ở nước nông nghiệp như ta chỉ đơn thuần coi thế giới trời là nơitrú ngụ các tác nhân gây mưa); thế giới dưới nước; thế giới rừng (nơi sinh ra, nơi quần tụcủa tổ tiên ta); thế giới người Điểm đặc biệt ở VN là các thế giới này đều do các bà mẹ(Mẫu) cai quản.

Hầu đồng (Lên đồng, Hầu bóng) là một nghi lễ quan trọng trong tín ngưỡng thờMẫu của người Việt Khác với nhiều hình thức tín ngưỡng tôn giáo khác, tín ngưỡng thờMẫu không hướng con người vào thế giới sau khi chết mà là một thế giới hiện tại, trầntục với mong muốn sức khỏe, tài lộc Trong tâm thức của người dân để đạt tới ước vọngtrần tục ấy thì điểm tựa lại là thế giới siêu nhiên với các thần linh, các cuộc hành trình củathần linh từ cõi hư vô trở về tái sinh trên thân xác của các ông Đồng, bà Đồng trong nghi

lễ Lên đồng

Hầu đồng là một nghi lễ chính trong tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần và thờ MẫuLiễu Hạnh ở đồng bằng Bắc Bộ Thực hiện nghi lễ Hầu đồng thờ hai vị Thánh này củangười Việt ở đồng bằng Bắc Bộ cũng chia thành hai: dòng Thánh Cha, tức thờ Đức ThánhTrần và Vua Cha Bát Hải và dòng Đồng Cốt thờ Thánh Mẫu Các đệ tử của dòng thờ ĐứcThánh Trần và Vua Cha Bát Hải được gọi là Thanh đồng, “Thanh” ở đây nguyên là

“thanh tiên đồng tử” tức tiên đồng Chữ “Thanh” nghĩa là màu xanh, chỉ thanh thiếu nhitrẻ tuổi, nhiều người còn hiểu Thanh đồng nghĩa là thanh trừ tà ma quỷ quái

Từ “Đồng” trong Hầu đồng có nghĩa là trẻ con Con người khi sinh ra thường bịcuộc sống nhân tạo chi phối, kìm hãm khả năng tiếp cận với sự ẩn tàng của thiên nhiên,

vũ trụ Và chỉ trong khi lên đồng, bằng xuất thần, để trở về với tâm hồn trẻ thơ mang bảnchất trong trắng, hồn nhiên con người mới tạm thời gạt bỏ được những sự rang buộc nhântạo đó Người ta tin rằng có như vậy mới đồng cảm được với thần linh, hòa hợp được vớithiên nhiên, vũ trụ và mới biết được sự dạy bảo của đấng thiêng liêng

Trang 32

“Đồng” còn có nghĩa là cùng Con người bằng xuất thần đẩy linh hồn ra khỏi thânxác nhằm tìm lấy một tâm hồn đồng điệu trong hệ tứ phủ vạn linh, để vị thần đó mượnxác thân con đồng mà tiếp cận với chúng sinh, tín đồ.

Như vậy, ta thấy ở đây từ “Đồng” dung để chỉ đối tượng là trẻ em Từ “Cốt” cónghĩa là Bà Cốt, là thuật ngữ biến âm từ bà cô tí (cô gái nhỏ) được người nước ngoài gọi

là “bacoti” rồi chuyển sang thành Bà Cốt, từ “Cốt” còn được hiểu là xương cốt, thân xáccủa người trần và Thần linh sẽ mượn thân xác ấy mà nhập vào Tuy nhiên, hiện nay, cácThanh đồng không còn là trẻ con còn trinh nguyên nữa mà là người đã có gia đình, haythanh niên mà chưa có vợ hoặc chồng

Tuy nhiên ở đây còn một thuật ngữ nữa là “Hầu bóng”, vậy “bóng” có nghĩa là gì?Theo tác giả Ngô Đức Thịnh thì “bóng” chỉ vị Thần linh nào đó chiếu nhập cái bóng

“hồn” của mình vào ông Đồng hay bà Đồng và ông bà Đồng này chỉ là người hầu hạ cáibóng của Thần linh đó[22]

Theo quan niệm dân gian, một cuộc Hầu đồng được coi là một canh hầu hay mộtvấn hầu Trong một canh hầu ở người Việt Bắc Bộ có rất nhiều vị Thần giáng về nhập vàongười ngồi đồng Lúc đó chủ thể là người ngồi đồng chỉ là lấy thân xác mình làm cái cốtcho Thần linh nhập vào để giáng trần Mỗi lần một vị Thánh giáng, làm việc Thánh vàthăng (ra đi) được gọi là một ghế đồng Ghế ở đây được gọi là con đồng, là nơi để Thầnlinh “ngự” vào (nhập vào) Điều này có thể hiểu là cách nói lịch sự, kính cẩn với Thánh(bề trên) người Việt dùng tiếng Hán “ngự” Như vậy, vấn đè là ai ám thị tốt thì vào vai rấtđạt (được coi là Thánh nhập), ai ám thị kém thì vào vai không đạt (gọi là đồng lì, đồngđá) Tuy nhiên, để có thể tự ám thị được bản thân, các Đồng phải có một quá trình luyệntập và cần luôn sự hỗ trợ của các Đồng thầy Trong câu khấn của các Hầu dâng khi Thánh

về thường có câu “Hôm nay ngày… chúng con bắc ghế Quan/Chầu ngồi, bắc ngôi Quan/Chầu ngự….” xét từ khía cạnh này có nghĩa là thân thể con Đồng lúc ấy chỉ đóng vai trò

là cái giá hay cái ghế để Thần linh mượn xác ấy mà ngự vào đó thôi, còn phần bên trong,phần tinh thần bên trong là thuộc về Thánh Thần Cái ghế đó cũng để cho nhiều vị Thánhngự chứ không phải một vị, vì thế cũng khác với hiện tượng lên đồng trong Saman giáo,

Trang 33

mỗi lần lên đồng, một căn Đồng có thể lên rất nhiều giá Đồng, có người lên tới 36 giá,thay tới 36 lần trang phục và thể hiện đầy đủ tính cách của các vị Thánh đó.

Như vậy, Hầu đồng là một nghi lễ chính trong tín ngưỡng thờ Mẫu Đó là nghi lễ nhập hồn nhiều lần của các vị thần linh Tam phủ, Tứ phủ vào thân xác các ông Đồng, bà Đồng, là sự tái hiện hình ảnh của các vị Thánh, nhằm phán truyền, chữa bệnh, ban phước cho các tín đồ Đạo Mẫu Trong Hầu đồng, mỗi lần một vị Thần linh nhập hồn (giáng đồng), rồi làm việc quan (tức thời gian thực hiện các nghi lễ, nhảy múa, ban lộc, phán truyền) và xuất hồn (thăng đồng) được gọi là một giá đồng Trong nghi lễ lên đồng có tất

cả 36 giá đồng, nhưng thường trong một buổi lên đồng không thể lên hết được hết tất cả các giá.

Xét từ giá trị nghệ thuật, "Hầu bóng" là một trạng thái thăng hoa của con người do

tự kỷ ám thị thánh nhập vào mình, dẫn đến chỗ vô thức, tái diễn lại những cử chỉ, độngtác của vị thánh đó cùng với lời hát, tiếng đàn của cung văn

"Hầu bóng" là một phức thể văn hoá, nó tạo ra một không gian "ảo"; do đó khôngthể tách rời riêng từng giá trị của làn điệu, lời ca hay động tác, mà nó là một sự tổng hoà

Có thể thấy hầu đồng mang yếu tố tín ngưỡng và văn hóa đan xen, là một nghi lễchính trong tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần và thờ Mẫu Liễu Hạnh ở đồng bằng Bắc Bộ

1.2.1.3 Diễn xướng hát văn - hầu đồng

Từ bao đời nay, Hát văn - hầu đồng luôn gắn bó mật thiết, hữu cơ đến nỗi khôngthể thiếu được trong đời sống tâm linh người Việt Cái tâm linh đó luôn hiện hữu trongmọi mặt đời sống của con người từ thời nguyên thủy Từ tâm linh trong tín ngưỡng thờMẫu, tín ngưỡng thần Thánh, trời đất cho đến tâm linh trong cá nhân, gia đình, cộng đồnglàng xã, tang ma, thờ cúng tổ tiên…Tất cả sự phức hợp đó luôn đan xen trong cái thế giới

vô hình và hữu hình, trong cái vô hạn và hữu hạn mà con người từng ngày từng giờ đãgắn bó từ bao đời nay

Diễn xướng hát văn - hầu đồng là loại hình mang tính nghi lễ diễn xướng tín ngưỡng, đã hội tụ trong đó các bộ môn nghệ thuật khác nhau, tạo sức hấp dẫn, lôi cuốn

Trang 34

đến kỳ diệu cho đông đảo cộng đồng tham gia hưởng ứng một cách tự nguyện mà không loại hình nghệ thuật nào có thể so sánh được.

Tính cộng đồng ở đây không chỉ thể hiện ở những yếu tố hưởng ứng bên ngoài

mà từ trong sâu thẳm của tâm thức mỗi con người đã hiện hữu khá đầy đủ những yếu tốtâm linh Chúng góp phần quan trọng để tạo nên một sân khấu diễn xướng phức hợp hoànchỉnh, một sự giao hòa đồng cảm với người hầu đồng vừa mang yếu tố tâm linh lại vừamang tính nghệ thuật cao

Hát văn - hầu đồng thường được tổ chức trong một không gian thiêng của đền,phủ thờ Mẫu Không gian văn hóa tâm linh này là cái hữu hình kỳ diệu đến huyền bí, mờ

mờ ảo ảo, làm cho trí tưởng tượng của con người như được đi trong một thế giới vô hình

để cảm nhận, ước mơ, khát khao về một cuộc sống tốt đẹp với những giá trị đạo đức, nhânvăn trên nền tảng của “cái tâm” làm gốc

Trong cái không gian thiêng đó ta được chiêm ngưỡng cả một nghệ thuật trìnhbày, sắp đặt lễ vật Ở đây, lễ vật trình đồng phải khác với lễ vật hầu bản mệnh hay tiệckhao, đặc biệt màu sắc phải là màu chính của Tứ phủ Chẳng hạn, Mẫu Cửu trùng - màu

đỏ, Mẫu Địa tiên - màu vàng, Mẫu Thượng ngàn - màu xanh và Mẫu Thoải - màu trắng.Đây là bốn phân khu hay cõi trong vũ trụ hiện hữu của truyền thống tín ngưỡng Địa Mẫu

cổ xưa

Khi trình diễn Hát văn - hầu đồng, thế giới tâm linh bao trùm lên điện thần Tứphủ là thánh Mẫu Vì thế, về bản chất và nguồn cội của đạo Tứ phủ là đạo thờ Mẹ mà cácáng văn chương trong Hát văn - hầu đồng đã hết lời ngợi ca Từ ngàn đời nay, ngoài Phậtgiáo, Nho giáo và Lão giáo, dân tộc Việt Nam còn có những phong tục đặc trưng là thờrất nhiều các chư vị thần linh, sự sùng bái này có mối quan hệ sâu xa với thờ các thánhMẫu Các chư vị thần linh ấy đều là những biểu hiện linh thiêng của quyền năng tạo hóatrong khắp bốn phương của vũ trụ bao la, khác nhau như điện lực trong không trung Tuynhiên, đức linh thiêng luôn luôn biểu hiện như có năng lực, nhưng lại có trình độ khácnhau trong những biểu hiện ấy Như vậy, khi nghiên cứu về Hát văn - hầu đồng cũng cầntìm hiểu qua đôi nét về mối tương tác hữu cơ của nó với cấu trúc Tứ phủ mà cấu trúc này

Trang 35

lại vô cùng phức tạp và luôn có sự biến hóa khôn lường Qua một số giá trị về văn hóatâm linh, không gian diễn xướng và nghệ thuật trình bày, sắp đặt lễ vật trong Hát văn -hầu đồng, chúng ta đi tới một số giá trị nghệ thuật khác được coi là nền tảng rất quantrọng.

Về văn hóa, cũng đã có nhiều công trình của các nhà nghiên cứu đề cập tới vấn

đề này, ở đây tôi muốn nhấn mạnh đôi nét về cái di sản văn học đồ sộ của kho tàng vănhọc đã được sử dụng trong Hát văn - hầu đồng Trước hết phải nói đến nghệ thuật nhânthần hóa và lịch sử hóa các vị thánh Tứ phủ được phản ánh trong các áng văn chầu kể lailịch, sự tích liên quan đến các truyền thuyết, huyền thoại về cuộc đời và sự nghiệp của các

vị tiên hiền Trong đó có các thể thơ tiếp thu từ văn học cổ Trung Hoa như phú, thơ luật

và những bài sử dụng lối thơ dân gian rất quen thuộc như: lục bát, song thất lục bát, hátnói Một số bài văn chầu, Hát văn bước đầu đã được ghi chép bằng chữ Hán, chữ Nômhay chữ Quốc ngữ Các bài thơ này được diễn tả theo lối hành văn chau chuốt, đẹp đẽ,thanh cao, đúng với phong cách và cá tính của từng vị thánh

Nội dung của các bài thơ này ca ngợi cảnh đẹp nơi tiên giới, phong thái uy linhcủa các vị thần,kể lai lịch, sự tích liên quan đến các huyền thoại truyền thuyết về cuộc đời,

sự nghiệp của các vị tiên hiền Khi những bài thơ đó được ngâm lên theo các làn điệu khácnhau sẽ mang lại một xúc cảm khó tả Bản thân cái hào hùng, huyền diệu, trữ tình của lờivăn chầu không thể hấp dẫn và lôi cuốn cộng đồng mạnh mẽ đến thế nếu như không đặt

nó vào cái môi trường diễn xướng hài hòa với âm nhạc và nhảy múa Có thể kể ra đâymột số bài văn nổi tiếng như: văn thỉnh Tam tòa thánh Mẫu, văn thỉnh Quan lớn TuầnTranh, văn thỉnh Chầu Lục, văn ông Hoàng Bảy, văn ông Hoàng Mười, văn Cô ĐôiThượng ngàn, văn Cô Chín đền Sòng, văn Cậu Bé Tất cả những nét tinh túy của vănchương đó được chắt lọc trong các giá hầu ca ngợi các nhân thánh và thiên thánh đã cócông với dân, với nước

Khi nói đến Hát văn - hầu đồng là chúng ta nói đến cuộc hội ngộ của thi ca, âmnhạc, vũ đạo và hội họa mang đậm phong cách thuần Việt Ở đây, vai trò của âm nhạc là

vô cùng quan trọng, nó không chỉ đi đệm cho Hát văn trong mỗi giá đồng mà nó mang

Trang 36

tính độc lập bằng tài nghệ ngẫu hứng điêu luyện của mỗi nhạc công Âm nhạc đã tạo tínhcân bằng âm dương, tính hưng phấn và thăng hoa trong không gian thiêng của mỗi buổihầu đồng Nhạc cụ cơ bản là đàn nguyệt, rồi đến phách, cảnh, sênh, trống chầu, chuông,trống và sáo, trong đó đàn nguyệt là linh hồn tạo sự cân bằng âm dương trong dàn nhạc.Phương thức diễn tấu phải phù hợp với yêu cầu của mỗi giá hầu: giá buồn có tiếng tiêu,giá vui có tiếng sáo cao vút đi cùng với tiết tấu vui nhộn của trống cái và tiếng giòn giãcủa đàn nguyệt hoặc những giá hầu các thánh miền rừng núi phải có tiếng sáo Hmông haysáo bầu.

Âm nhạc trong Hát văn - hầu đồng gần với thể loại âm nhạc thính phòng có quyđịnh nghiêm ngặt về cách thức trình diễn, về cấu trúc cân đối, hoàn chỉnh nhưng vẫn mở

Về kỹ thuật thanh nhạc có hai phong cách điển hình là Hát văn Nam Định và Hát văn HàNội, Hải Phòng

Nếu nhìn một cách tổng thể thì chưa có một thể loại âm nhạc nào lại hội tụ trongnhiều chất liệu dân ca, nhiều thang âm điệu thức như trong Hát văn Đó là sự tiếp nhậndân ca châu thổ sông Hồng như Sa mạc, Bồng mạc, Cò lả; âm nhạc thính phòng, dân giannhư Bình bán, Lưu thủy, Kim tiền, Hành vân, Ngũ đối; ở Ca trù như các điệu Phú xuân,Phú bình, Phú chênh, Phú nói, Phú Tỳ bà; ở Chèo như Phú dầu, Lới lơ; của dân ca TrungQuốc như Xá Quảng, dân ca miền núi phía Bắc, dân ca miền núi phía Nam như điệu Xá;dân ca Huế như Hò Huế, Hò nhịp một, Cờn Huế Tuy nhiên, ở đây chưa nói đến sự phongphú và đa dạng của dàn nhạc, thang âm, điệu thức, giai điệu, tiết tấu, đặc biệt là thủ phápchuyển hệ “Métabole” cho phù hợp với phong cách của các vị thánh trong mỗi giá hầu

Ngoài giá trị về tâm linh, múa đồng là một hình thức vũ đạo dân gian, tồn tại vàphát triển trong qua trình hình thành tục thờ Mẫu và đạo Mẫu ở Việt Nam Có tới hàngchục điệu múa trong Hát văn - hầu đồng như: múa kiếm, long đao, đi chợ, múa quạt, chèothuyền, thêu hoa, dệt gấm v.v… rất mềm mại, duyên dáng và uyển chuyển Múa ở đây làmúa thiêng với sự thể hiện đầy đủ các hình thức và ngôn ngữ như: múa tính cách (thể hiện

rõ tính cách riêng biệt của từng vị thần linh), múa trang trí (chú trọng đến ngôn ngữ tạohình, vươn tới cái đẹp, cái cao cả, thánh thiện), múa mô phỏng (cưỡi ngựa, ngã ngựa,

Trang 37

chèo thuyền, quẩy hàng) Trong hầu đồng, chỉ trừ ba giá hầu thánh Mẫu là không có múa,còn lại tùy theo từng vị thánh mà động tác múa có khác nhau Các vị thánh hàng Quan thìđộng tác múa uy nghi, có kèm theo kiếm, kích, long đao Các ông Hoàng thì múa hèo,múa cung, múa khăn, múa tay không mô tả phong thái ung dung, phong nhã Các vị hàngChầu thì múa quạt, múa mồi, chèo đò, tay không Các Cậu thì múa sư tử mang tínhnghịch ngợm, đùa vui Giá hàng các Cô có múa quạt, múa hoa, chèo đò, múa thêu thùa.Trong Hát văn - hầu đồng tuy có tiếp thu nhiều điệu múa dân gian, nhưng có cách điệu đểphù hợp với tính chất của sân khấu tâm linh.

Trình tự thực hiện việc diễn xướng hát văn – hầu đồng hay còn gọi là nghi lễ hátchầu văn phục vụ hầu đồng có thể chia thành bốn phần chính: 1) Mời thánh nhập, 2) Kể

sự tích và công đức, 3) Xin thánh phù hộ , 4) Đưa tiễn Bài hát thường chấm dứt với câu:

"Thánh giá hồi cung!"

Gắn liền với tín ngưỡng Tứ phủ, diễn xướng hát văn – hầu đồng đóng vai tròđặc biệt quan trọng trong việc phụ trợ, kích thích sự thăng hoa, giao cảm giữa con nhang

đệ tử với thế giới thần linh Đây là mối quan hệ hữu cơ giữa một thể loại âm nhạc và mộthình thức tín ngưỡng Nghệ thuật âm nhạc dường như là một thứ phương tiện không thểthiếu khi con người muốn giao tiếp với thánh thần Muốn tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Mẫuthì tìm hiểu về diễn xướng hát văn là điều hết sức cần thiết Ngược lại, khi tìm hiểu hátvăn chúng ta cũng nên tìm hiểu về thần tích, thần phả các vị thánh Nghe những bản văn,

ta rất dễ nhận biết sự tích của các vị thánh cũng như những phong cảnh nơi các ngài giángự và hiển thánh Vì thế không thể không có hát văn trong nghi lễ hầu thánh

Nghe hát văn, dường như chúng ta có thể tìm thấy sự phát triển tột bậc cả về lànđiệu âm nhạc cũng như hệ thống kỹ thuật biểu cảm của nhạc thanh; cảm nhận được rằngkhó có một thể loại âm nhạc tôn giáo tín ngưỡng nào ở Việt Nam lại đạt được tầm cao vềtính thẩm mỹ nghệ thuật như hát văn Hiện thực sống động đó khiến cho âm nhạc hát vănnhiều khi mang dáng vẻ của một thể loại âm nhạc sân khấu biểu diễn hơn là âm nhạc củatín ngưỡng Sức quyến rũ của diễn xướng hát văn chính là một lực hấp dẫn đặc biệt quantrọng, thu hút công chúng đến với tín ngưỡng Tứ phủ Sức hấp dẫn, quyến rũ của nó đã

Trang 38

được minh chứng trong nhiều giai thoại lịch sử Bên cạnh việc đáp ứng các nhu cầu chungcủa con người khi tìm đến với cõi tâm linh thì sự thỏa mãn nhu cầu thưởng thức, thụ cảmnghệ thuật âm nhạc được đẩy vọt lên tầm cao nhất khi thưởng thức hát văn trong khungcảnh hầu đồng.

Nói cách khác, nếu như các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng nói chung thường lấy

hệ thống giáo lý, kinh kệ làm phương tiện chủ đạo để xoa dịu nỗi đau của con người thìtín ngưỡng Tứ phủ lại sử dụng nghệ thuật âm nhạc hát văn làm công cụ Đó cũng chính làđiểm khác biệt trong “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam” – di sản văn hóa phivật thể tại Việt Nam được UNESCO công nhận năm 2016

1.2.2 Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần

Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần là tín ngưỡng dân gian Việt nam, được hình thành

từ quá trình thánh hóa, thần hóa một nhân vật có thật trong lịch sử, anh hùng dân tộcHưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, ông là vị thánh phù hộ cho sự nghiệp chống giặcngoại xâm, bảo vệ đất nước, hộ quốc an dân, diệt trừ tà ma và chữa bệnh

Đức Thánh Trần tên thật là Trần Quốc Tuấn, mất ngày 20/8, ông là con trai thứ củaTrần Liễu, anh trai vua Trần Thái Tông ( Trần Cảnh), về gốc tích ra đời của ông dân giantruyền lại, ông chính là Thanh tiên đồng từ trên Thiên Đình phụng lệnh Ngọc Hoàng đầuthai xuống hạ giới mang theo phi thân kiếm, cờ ấn, tam bảo của Lão Tử, Ngũ Tài củaThái Công Như vậy xét về nguồn gốc nhà Trần cũng xuất phát từ dòng tu tiên Đạo giáo,gốc của pháp Tứ Phủ (Đạo Mẫu) chính là Tam Phủ (Đạo Tiên) Nhà Trần không thuộc TứPhủ có lối thờ phụng riêng và phép tắc khác bên Tứ Phủ - nhưng Thần Chủ của Tứ Phủ vàcủa bên Nhà Trần đều thuộc dòng Thiên Tiên - tuân chỉ Ngọc Hoàng Thượng Đế màgiáng phàm để cứu dân độ thế, khuyến Thiện phạt Ác - tuy xuất xứ khác nhau nhưngnhiệm vụ thì là một, vì vậy hiện nay có sự phối thờ Trần triều và tứ phủ

Tương truyền khi Đức Thánh Trần mất, để tránh sự trả thù của quân Nguyên ôngtruyền lệnh lập mộ giả ở vườn An Lạc, Bảo Lộc ( Hiện nay tại Bảo Lộc có 1 lăng mộ ghitên Hưng Đạo Đại Vương nhưng thực chất đó là mộ của 1 viên bộ tướng)

Trang 39

Khi hóa Đức thánh đã về thiên đình nhận chỉ của Ngọc Hoàng phong là Cửu Thiên

Vũ Đế, với sứ mệnh diệt trừ yêu ma ở cả 3 cõi thiên đình, trần gian, âm phủ.Theo như vịhiệu thì Đức Thánh ngài Cửu Thiên Vũ Đế - Là Thiên Tinh nên tả Nam Tào, hữu BắcĐẩu phù cho Thiên Tinh Dân gian đã gắn hình ảnh hai vị tướng tâm phúc nhất của ĐứcThánh Trần là ông Yết Kiêu và ông Dã Tượng vào vị trí phò tà của Đức Thánh Trần , khisang thế giới bên kia họ sẽ trở thành quan Nam Tào, Bắc Đẩu tiếp tục giúp việc ĐứcThánh Trần trong việc cứu dân giúp đời

Trong hàng thánh nhà Trần có thầy dậy Văn và thầy dậy Võ thể hiện Triều đìnhnhà Trần trọng tài nên có phối Tự chứ từ thời đức Khổng Tử truyền Đạo Nho cho tới triềuTrần thì biết bao nhiêu triều đại Vương Hầu Công Tử đều phải có Thầy dạy mới nên bậchiền tài chứ không chỉ có triều Trần

Nét đặc sắc khi hầu nhà Trần là phép lên đai thượng, xiên lình, lấy dấu mặn, Đứcông khi thượng đồng xiên lình hai tai và hai lình quân, Tứ vị vương tử ngự đồng lên đaithượng, xiên lình, Vương cô đệ nhị về đồng mang theo cờ kiếm,lấy dấu mặn, Đức ông vềchứng Dấu mặn dùng để chữa bệnh, trị tà, chữa điên, trấn yểm thường là trấn yểm choĐền to phủ lớn, trấn những vùng long mạch lớn, nếu dùng máu Thánh để trấn thì khó màphá được Phép lên đai thượng, xiên lình, lấy dấu mặn thường chỉ những người căn caonặng mới hầu được, vì khi lên đai thượng hai người đứng hai bên kéo dây thít chặt vào cổ,mắt ngầu đỏ lộn tròng, mặt hổ phù, nhiều người không phải căn cao mà lên đai thượngchết ngay trên sập hầu Hiện nay có nhiều quan điểm cho rằng chỉ Đức ông đệ tam mớilên đai thượng vì giống gông xiềng khi bị oan, tuy vậy ý nghĩa thực sự của lên đai thượng

là khi lên đai thượng mặt của người hầu sẽ thành mặt hổ phù thể hiện sư uy linh, thần oaicủa Thánh, vì vậy không chỉ đức ông đệ tam mà tứ vị vương tử khi ngự đồng làm việcđều lên đai thượng, xiên lình Xiên lình là hình thức của Sa man giáo, ở Việt Nam xiênlình tượng trưng cho những hiện tượng siêu nhiên, thần thông của bề trên, một số ngườicho rằng xiên lình do đâm vào huyệt đạo nên không chảy máu, nhưng sự thực khi hầu làxiên lung tung trên má, miệng, tai, không cứ vào huyệt đạo mà không chảy một giọt máu,tương tự như vậy, việc lấy dấu mặn, sau khi đạp vỡ, lấy mảnh sành rạch lưỡi phun máuvào bùa, nhưng khi thư hương vào chén rượu ngậm vào máu lập tức ngừng chảy

Trang 40

Theo Võ Hoàng Lan trong Tạp chí di sản văn hóa phi vật thể số 1(18) – 2007: Tín

ngưỡng thờ Đức Thánh Trần là một hiện tượng đặc biệt trong đời sống tâm linh dân dã của người Việt Từ một anh hùng dân tộc có thật, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn theo dòng tư duy dân gian đã trở thành đức Thánh Trần có khả năng trừ tà ma, bệnh tật cho con người Muốn “giao tiếp” được với Ngài, con người phải nhờ đến các thanh đồng, với một hình thức hành lễ khá đặc biệt chính là “Hầu đồng”

Ngày đăng: 30/09/2019, 20:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Nguyễn Đức Lữ (Chủ biên), Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, nhà xuất bản Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Lữ
Nhà XB: nhà xuất bản Tôn giáo
15. Hồ Chí Minh Toàn Tập, in lần 2, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 3, tr. 431 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn Tập
Nhà XB: nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
16. Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bản Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng, 2001, tr.85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: nhà xuất bản Đà Nẵng
Năm: 2001
19. Tô Ngọc Thanh, Trình diễn sân khấu dân gian Việt Nam in trong Ghi chép về văn hóa và âm nhạc, nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2007, tr.25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trình diễn sân khấu dân gian Việt Nam in trong Ghi chép về văn hóa và âm nhạc
Tác giả: Tô Ngọc Thanh
Nhà XB: nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2007
22. Ngô Đức Thịnh(1996), Đạo Mẫu ở Việt Nam, nhà xuất bản Văn Hóa- Thông Tin, tr.45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo Mẫu ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: nhà xuất bản Văn Hóa- Thông Tin
Năm: 1996
23. Nguyễn Hữu Thu, Diễn xướng dân gian và nghệ thuật sân khấu in trong “Kỷ yếu Hội nghị khoa học chuyên đề: Mối quan hệ giữa diễn xướng dân gian và nghệ thuật sân khấu”, Viện Nghệ thuật - Bộ Văn hóa, H, 1977, tr.56-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hộinghị khoa học chuyên đề: Mối quan hệ giữa diễn xướng dân gian và nghệ thuật sânkhấu
24. Phạm Thị Mai Thu (2015) , Đặc điểm ngôn ngữ của ca từ trong diễn xướng dân gian (Trường hợp diễn xướng hát chầu văn), luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngôn ngữ của ca từ trong diễn xướng dân gian (Trường hợp diễn xướng hát chầu văn)
Tác giả: Phạm Thị Mai Thu
Nhà XB: trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Năm: 2015
25. Hoàng Tiến Tựu, Góp phần xác định khái niệm diễn xướng dân gian và tìm hiểu những yếu tố có tính chất kịch in trong “Kỷ yếu Hội nghị khoa học chuyên đề: Mối quan hệ giữa diễn xướng dân gian và nghệ thuật sân khấu”, Viện Nghệ thuật - Bộ Văn hóa, H, 1977, tr.64-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần xác định khái niệm diễn xướng dân gian và tìm hiểu những yếu tố có tính chất kịch
Tác giả: Hoàng Tiến Tựu
Nhà XB: Viện Nghệ thuật - Bộ Văn hóa
Năm: 1977
26. Lê Trung Vũ, Từ diễn xướng truyền thống đến nghệ thuật sân khấu in trong “Kỷ yếu Hội nghị khoa học chuyên đề: Mối quan hệ giữa diễn xướng dân gian và nghệ thuật sân khấu”, Viện Nghệ thuật - Bộ Văn hóa, H, 1997, tr.35-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếuHội nghị khoa học chuyên đề: Mối quan hệ giữa diễn xướng dân gian và nghệ thuật sânkhấu
27. Trần Quốc Vượng (2008), Cơ sở văn hóa Việt Nam, nhà xuất bản Giáo Dục Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Nhà XB: nhà xuất bản Giáo Dục Tài liệu nước ngoài
Năm: 2008
28. Haruya Kagami (2010), Introduction: The Aim and Scope of Cultural Resource Studies Asian Linkage Building Seminar 2010, trong Cultural Resource Studies Asian Linkage Building Seminar 2010, Working Papers, Kanazawa University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cultural Resource Studies Asian Linkage Building Seminar 2010
Tác giả: Haruya Kagami
Nhà XB: Kanazawa University
Năm: 2010
29. J.R. Brent Ritchie, Geoffrey I. Crouch (2003), The competitive destination: a sustainable tourism perspective, CABI Pulishing, tr.89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The competitive destination: a sustainable tourism perspective
Tác giả: J.R. Brent Ritchie, Geoffrey I. Crouch
Nhà XB: CABI Publishing
Năm: 2003
30. Shinji Yamashita (2010), Cultural Heritage in the Age of Globalization: A Perspective from the Anthropology of Cultural Resource, trong Cultural Resource Studies Asian Linkage Building Seminar 2010, Working Papers, Kanazawa University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cultural Heritage in the Age of Globalization: A Perspective from the Anthropology of Cultural Resource
Tác giả: Shinji Yamashita
Nhà XB: Kanazawa University
Năm: 2010
31. Victor T.C. Middleton, Jackie Clarke (2001), Marketing in travel and tourism (Marketing trong lĩnh vực du lịch và lữ hành), Butterworth-Heinemann, tr.55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing in travel and tourism
Tác giả: Victor T.C. Middleton, Jackie Clarke
Nhà XB: Butterworth-Heinemann
Năm: 2001
14. Nguyễn Thị Bích Liên (2013), Hội đền Kiếp Bạc, xã Hưng Đạo, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Luận văn Tiến sĩ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Khác
17. Trần Đăng Sinh(2002), Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội 18. Nguyễn Đức Tân (2016), “Bàn về phát triển sản phẩm du lịch”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w