BÁO CÁOTÓM TẮT NỘI DUNG SÁNG KIẾN Tên cá nhân thực hiện: .......... Thời gian đó được triển khai thực hiện: Từ ngày 1792018 đến ngày 31122018 1. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến: Chương trình Vật lí THCS hiện nay bao gồm cơ học, nhiệt học, điện học, quang học (quang hình, các dụng cụ quang học). Mỗi phần được thể hiện bằng nhiều đơn vị kiến thức khác nhau, tương ứng với các cách tiếp cận kiến thức khác nhau. Với một lượng kiến thức như vậy, việc vận dụng kiến thức Vật lí vào thực tế cuộc sống của các em vụ cũng phong phú, vận dụng kiến thức của các em ở ngay trong đời sống, ở chính gia đình của mình, các em hoàn toàn có khả năng làm chủ được kiến thức của mình nếu các em được trực tiếp tự tay thực hiện các thí nghiệm khoa học.Ngày nay việc nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong xã hội. Trong bối cảnh toàn ngành giáo dục và đào tạo đang nổ lực đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong hoạt động học tập thì việc đề cao và coi trọng khả năng sáng tạo và ứng dụng kiến thức của học sinh vào thực tế cuộc sống càng có ý nghĩa hơn và là một đòi hỏi cần phải quan tâm.Yêu cầu đổi mới PPDH đối với môn Vật lí còn có một sắc thái riêng, phải hướng tới việc tạo điều kiện cho học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua họat động thực nghiệm và cao hơn nữa, cho học sinh tập dượt giải quyết một số vấn đề Vật lí trong thực tế. Trong đổi mới phương pháp dạy học việc “Phát huy tính sáng tạo của học sinh trong việc ứng dụng kiến thức Vật lí vào thực tế đời sống” cũng là một phương pháp dạy học tích cực, nhằm giúp HS hiểu sâu hơn kiến thức cơ bản của môn Vật lí. 2. Mô tả sáng kiến: Tên sáng kiến: “Phát huy tính sáng tạo của học sinh lớp 6A2 trường THCS ..........trong việc ứng dụng kiến thức Vật lí vào thực tế đời sống”. Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, kiến thức Vật lí gắn kết một cách chặt chẽ với thực tế cuộc sống con người, những hiện tượng Vật lí trong cuộc sống luôn đặt ra cho ta câu hỏi cần giải thích. Khi đó giải thích được ta sẽ giải quyết được nhiều vấn đề khác có liên quan đến kiến thức Vật lí đó.Đặc điểm ở lứa tuổi các em học sinh cấp THCS là luôn luôn thích tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh mình. Vậy để tiết học không khô khan, tránh học lý thuyết suông thì giáo viên cần đưa kiến thức Vật lí của bài học vào cuộc sống sẽ giúp các em thấy được niềm vui, thấy được lợi ích thiết thực của việc học môn Vật lí, nó không còn xa lạ với các em nữa, làm cho các em muốn học, yêu thích học môn Vật lí hơn, mà một khi các em đã thích học thì chắc chắn các em sẽ tự học, tự tìm tòi, tự khám phá, có hứng thú trong học tập có nghĩa là ta đã kích thích được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh. Hơn nữa, trong sách giáo khoa, bài tập định tính và câu hỏi liên hệ thực tế rất ít, không đa dạng, phong phú và không thật sự gần gũi với thực tế đời sống hàng ngày của các em. Từ thực tế đó, tôi tập trung tìm hiểu và viết sáng kiến “Vận dụng kiến thức Vật lí vào thực tế cuộc sống” nhằm phần nào khắc phục bớt những hạn chế nêu trên.3. Phạm vi triển khai thực hiện:Sáng kiến này thực hiện trong phạm vi các tiết dạy Vật lí 6 học kỳ I sách giáo khoa Vật lí 6.4. Tính mới của sáng kiến: Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, kiến thức vật lý gắn kết một cách chặt chẽ với thực tế đời sống con người những hiện tượng vật lí trong cuộc sống luôn đặt ra cho ta câu hỏi cần giải thích. Khi đã giải thích được ta sẽ giải quyết được nhiều vấn đề khác có liên quan đến kiến thức vật lí đó. Đặc điểm ở lứa tuổi các em học sinh cấp THCS là luôn luôn thích tìm hiểu, khám phá thế giới xung quang mình. Vậy để tiết học không khô khan tránh học lý thuyết suông thì giáo viên cần đưa kiến thức vật lí của bài học vào cuộc sống sẽ giúp các em thấy được nềm vui thấy được lợi ích thiết thực của việc học môn vật lí, nó không còn xa lạ với các em nữa làm cho các em muốn học, yêu thích học môn vật lí hơn mà một khi các em đã thích học thì chắc chắn các em sẽ tự học, tự tìm tòi, tự khám phá có hứng thú trong học tập có nghĩa là ta đã kích thích được tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh. Hơn nữa trong sách giáo khoa bài tập định tính và câu hỏi liên hệ thực tế rất ít, không đa dạng phong phú và không thực sự gần gũi với thực tế đời sống hàng ngày của các em . Từ thực tế đó tôi tập trung viết sáng kiến này với đề tài “ Phát huy tính sáng tạo của học sinh lớp 6A2 trường THCS ..........trong việc áp dụng kiến vật lí 6 vào thực tế đời sống nhầm phần nào khắc phục những hạn chế của các em. Sáng kiến có cải tiến so với giải pháp trước đây, cho phù hợp với trình độ đối tượng học sinh, trang thiết bị dạy học của nhà trường để việc dạy học vận dụng kiến thức Vật lí vào đời sống đạt kết quả tốt hơn, đồng thời cải thiện được vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo bộ môn.5. Kết quả, hiệu quả mang lại:Sau khi tìm ra một số ứng dụng trong thực tế, bản thân áp dụng trong lớp 6A2 mình phụ trách tôi nhận thấy học sinh hứng thú hơn khi đến tiết học Vật lí. Tiết học trở nên nhẹ nhàng hơn, học sinh chủ động, sáng tạo hiện tượng khác liên quan đến bài học đã thắc mắc trước lớp. Dạy học theo hướng vận dụng kiến thức Vật lí vào đời sống nhằm phát huy tính sáng tạo của học sinh trong thời gian qua đã đem lại một số kết quả, hiệu quả lạc quan sau:Khi áp dụng sáng kiến này, vẫn áp dụng câu hỏi khảo sát như trên cho lớp 6A1 so với 6A2 ở HKI năm học 20182019 như sau:Qua số liệu thống kê và so sánh bài khảo sát chất lượng KSCL vòng I và KSCL học kì I (HKI) năm học 2018 2019 của lớp 6A2, tôi thấy tỉ lệ học sinh từ trung bình trở lên của KSCL HKI năm học 2018 2019 cao hơn KSCL đầu năm học. Học sinh tích cực, mạnh dạn phát biểu xây dựng bài; biết cách tự học, có ý thức học tập theo nhóm; tích cực, chủ động và sáng tạo trong việc phát hiện và giải quyết các vấn đề; nắm vững các kiến thức một cách chắc chắn hơn và đặc biệt hứng thú, yêu thích học tập bộ môn hơn. Sáng kiến được áp dụng trong thực tiễn mang lại hiệu quả, giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ được giao.6. Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến: Sáng kiến“Phát huy tính sáng tạo của học sinh lớp 6A2 trường THCS ..........trong việc ứng dụng kiến thức Vật lí vào thực tế đời sống” vẫn có thể áp dụng rộng rãi ở các khối lớp 6,7,8 và khối 9 HKII trong trường và các khối lớp cho nhiều trường khác trong tỉnh Tây Ninh. 7. Kiến nghị, đề xuất:Đối với các cấp lãnh đạo: cần quan tâm về cơ sở vật chất như trang thiết bị, sách tham khảo... cho các nhà trường để phục vụ tốt cho công tác giảng dạy của giáo viên. Đối với Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên khuyến khích, động viên giáo viên tìm tòi, nghiên cứu và vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong việc truyền thụ kiến thức cho học sinh.Đối với Tổ chuyên môn cần tăng cường đổi mới nội dung sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn theo hướng vận dụng kiến thức vào đời sống, chủ đề dạy học phát huy tính sáng tạo qua các bài tập, cả về nội dung và phương pháp tổ chức.Đối với giáo viên: không ngừng tự học, tự bồi dưỡng, tự nghiên cứu để có phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng của bộ môn. Tôi cam đoan những điều khai trên là đúng sự thật và không vi phạm pháp luật. Ý kiến xác nhận Ngày 30 tháng 3 năm 2019 của Thủ trưởng đơn vị Tác giả
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- Cá nhân, tổ chức phối hợp (đối với sáng kiến có nhiều thành viên tham gia): không
Đề nghị Hội đồng sáng kiến công nhận sáng kiến năm học 2018-2019 như sau:
1 Tên sáng kiến: “Phát huy tính sáng tạo của học sinh lớp 6A2 trường THCS trong việc ứng dụng kiến thức Vật lí vào thực tế đời sống”
2 Sự cần thiết (lý do nghiên cứu): Việc nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những vấn
đề được quan tâm hàng đầu trong xã hội Trong bối cảnh toàn ngành giáo dục và đào tạo đang
nổ lực đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động củahọc sinh trong hoạt động học tập thì việc đề cao và coi trọng khả năng sáng tạo và ứng dụngkiến thức của học sinh vào thực tế cuộc sống càng có ý nghĩa hơn và là một đòi hỏi cần phảiquan tâm và nhằm giúp HS hiểu sâu hơn kiến thức cơ bản của môn Vật lí
3 Nội dung cơ bản của sáng kiến: Vận dụng kiến thức Vật lí vào thực tế cuộc sống sẽ giúpcho người học môn Vật lí trở nên nhẹ nhàng hơn, kích thích được tư duy, hứng thú của họcsinh, giúp học sinh có thói quen biết vận dụng tri thức đó, học không chỉ với môn Vật lí màcòn các môn học khác, là cầu nối giữa lý thuyết sách vở với thực tế, giữa nhà trường và xã hội
4 Phạm vi áp dụng: Sáng kiến “Phát huy tính sáng tạo của học sinh lớp 6A2 trường THCS trong việc ứng dụng kiến thức Vật lí vào thực tế đời sống” vẫn có thể áp dụng rộng rãi
ở các khối lớp 7, 8, 9 và HKII của lớp 6 trong trường và các khối lớp cho nhiều trường khác
5 Hiệu quả đạt được: Qua các bài giảng giúp tôi giáo dục tốt hơn học trò của mình, biết vậndụng kiến thức gắn liền với thực tiễn Giúp tiết học Vật lí không còn khô khan, nặng nề về lýthuyết mà học sinh có cảm giác như bản thân đang được chứng kiến trải nghiệm về cuộc sống.Lớp học trở nên thân thiện – học sinh trở nên tích cực, hứng thú hơn
Người đăng ký
Trang 2CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Tân Hòa, ngày tháng năm
BÁO CÁO TÓM TẮT NỘI DUNG SÁNG KIẾN
- Tên cá nhân thực hiện:
- Thời gian đó được triển khai thực hiện: Từ ngày 17/9/2018 đến ngày 31/12/2018
1 Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
Chương trình Vật lí THCS hiện nay bao gồm cơ học, nhiệt học, điện học, quang học(quang hình, các dụng cụ quang học) Mỗi phần được thể hiện bằng nhiều đơn vị kiến thứckhác nhau, tương ứng với các cách tiếp cận kiến thức khác nhau Với một lượng kiến thức nhưvậy, việc vận dụng kiến thức Vật lí vào thực tế cuộc sống của các em vụ cũng phong phú, vậndụng kiến thức của các em ở ngay trong đời sống, ở chính gia đình của mình, các em hoàntoàn có khả năng làm chủ được kiến thức của mình nếu các em được trực tiếp tự tay thực hiệncác thí nghiệm khoa học
Ngày nay việc nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những vấn đề được quan tâmhàng đầu trong xã hội Trong bối cảnh toàn ngành giáo dục và đào tạo đang nổ lực đổi mớiphương pháp dạy học (PPDH) theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh tronghoạt động học tập thì việc đề cao và coi trọng khả năng sáng tạo và ứng dụng kiến thức củahọc sinh vào thực tế cuộc sống càng có ý nghĩa hơn và là một đòi hỏi cần phải quan tâm
Yêu cầu đổi mới PPDH đối với môn Vật lí còn có một sắc thái riêng, phải hướng tới việctạo điều kiện cho học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua họat động thực nghiệm và caohơn nữa, cho học sinh tập dượt giải quyết một số vấn đề Vật lí trong thực tế
Trong đổi mới phương pháp dạy học việc “Phát huy tính sáng tạo của học sinh trong việc ứng dụng kiến thức Vật lí vào thực tế đời sống” cũng là một phương pháp dạy học tích
cực, nhằm giúp HS hiểu sâu hơn kiến thức cơ bản của môn Vật lí
2 Mô tả sáng kiến:
Tên sáng kiến: “Phát huy tính sáng tạo của học sinh lớp 6A2 trường THCS trong việc ứng dụng kiến thức Vật lí vào thực tế đời sống”
Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, kiến thức Vật lí gắn kết một cách chặt chẽ với thực
tế cuộc sống con người, những hiện tượng Vật lí trong cuộc sống luôn đặt ra cho ta câu hỏicần giải thích Khi đó giải thích được ta sẽ giải quyết được nhiều vấn đề khác có liên quan đếnkiến thức Vật lí đó
Đặc điểm ở lứa tuổi các em học sinh cấp THCS là luôn luôn thích tìm hiểu, khám phá thếgiới xung quanh mình Vậy để tiết học không khô khan, tránh học lý thuyết suông thì giáo
Trang 3viên cần đưa kiến thức Vật lí của bài học vào cuộc sống sẽ giúp các em thấy được niềm vui,thấy được lợi ích thiết thực của việc học môn Vật lí, nó không còn xa lạ với các em nữa, làmcho các em muốn học, yêu thích học môn Vật lí hơn, mà một khi các em đã thích học thì chắcchắn các em sẽ tự học, tự tìm tòi, tự khám phá, có hứng thú trong học tập có nghĩa là ta đãkích thích được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh Hơn nữa, trong sáchgiáo khoa, bài tập định tính và câu hỏi liên hệ thực tế rất ít, không đa dạng, phong phú vàkhông thật sự gần gũi với thực tế đời sống hàng ngày của các em Từ thực tế đó, tôi tập trungtìm hiểu và viết sáng kiến “Vận dụng kiến thức Vật lí vào thực tế cuộc sống” nhằm phần nàokhắc phục bớt những hạn chế nêu trên.
3 Phạm vi triển khai thực hiện:
Sáng kiến này thực hiện trong phạm vi các tiết dạy Vật lí 6 học kỳ I sách giáo khoa Vật
lí 6
4 Tính mới của sáng kiến:
Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, kiến thức vật lý gắn kết một cách chặt chẽ với thực
tế đời sống con người những hiện tượng vật lí trong cuộc sống luôn đặt ra cho ta câu hỏi cầngiải thích Khi đã giải thích được ta sẽ giải quyết được nhiều vấn đề khác có liên quan đếnkiến thức vật lí đó
Đặc điểm ở lứa tuổi các em học sinh cấp THCS là luôn luôn thích tìm hiểu, khám pháthế giới xung quang mình Vậy để tiết học không khô khan tránh học lý thuyết suông thì giáoviên cần đưa kiến thức vật lí của bài học vào cuộc sống sẽ giúp các em thấy được nềm vuithấy được lợi ích thiết thực của việc học môn vật lí, nó không còn xa lạ với các em nữa làmcho các em muốn học, yêu thích học môn vật lí hơn mà một khi các em đã thích học thì chắcchắn các em sẽ tự học, tự tìm tòi, tự khám phá có hứng thú trong học tập có nghĩa là ta đã kíchthích được tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh
Hơn nữa trong sách giáo khoa bài tập định tính và câu hỏi liên hệ thực tế rất ít, không đadạng phong phú và không thực sự gần gũi với thực tế đời sống hàng ngày của các em Từthực tế đó tôi tập trung viết sáng kiến này với đề tài “ Phát huy tính sáng tạo của học sinh lớp6A2 trường THCS trong việc áp dụng kiến vật lí 6 vào thực tế đời sống nhầm phần nàokhắc phục những hạn chế của các em
Sáng kiến có cải tiến so với giải pháp trước đây, cho phù hợp với trình độ đối tượnghọc sinh, trang thiết bị dạy học của nhà trường để việc dạy học vận dụng kiến thức Vật lí vàođời sống đạt kết quả tốt hơn, đồng thời cải thiện được vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quảđào tạo bộ môn
5 Kết quả, hiệu quả mang lại:
Sau khi tìm ra một số ứng dụng trong thực tế, bản thân áp dụng trong lớp 6A2 mình phụtrách tôi nhận thấy học sinh hứng thú hơn khi đến tiết học Vật lí Tiết học trở nên nhẹ nhànghơn, học sinh chủ động, sáng tạo hiện tượng khác liên quan đến bài học đã thắc mắc trước lớp
Trang 4Dạy học theo hướng vận dụng kiến thức Vật lí vào đời sống nhằm phát huy tính sáng tạo củahọc sinh trong thời gian qua đã đem lại một số kết quả, hiệu quả lạc quan sau:
Khi áp dụng sáng kiến này, vẫn áp dụng câu hỏi khảo sát như trên cho lớp 6A1 so với 6A2
ở HKI năm học 2018-2019 như sau:
Qua số liệu thống kê và so sánh bài khảo sát chất lượng KSCL vòng I và KSCL học kì I(HKI) năm học 2018 - 2019 của lớp 6A2, tôi thấy tỉ lệ học sinh từ trung bình trở lên củaKSCL HKI năm học 2018- 2019 cao hơn KSCL đầu năm học Học sinh tích cực, mạnh dạnphát biểu xây dựng bài; biết cách tự học, có ý thức học tập theo nhóm; tích cực, chủ động vàsáng tạo trong việc phát hiện và giải quyết các vấn đề; nắm vững các kiến thức một cách chắcchắn hơn và đặc biệt hứng thú, yêu thích học tập bộ môn hơn
Sáng kiến được áp dụng trong thực tiễn mang lại hiệu quả, giúp tôi hoàn thành nhiệm vụđược giao
6 Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến:
Sáng kiến“ Phát huy tính sáng tạo của học sinh lớp 6A2 trường THCS trong việc ứng dụng kiến thức Vật lí vào thực tế đời sống ” vẫn có thể áp dụng rộng rãi ở các khối lớp
6,7,8 và khối 9 HKII trong trường và các khối lớp cho nhiều trường khác trong tỉnh Tây Ninh
Đối với Tổ chuyên môn cần tăng cường đổi mới nội dung sinh hoạt tổ nhóm chuyên môntheo hướng vận dụng kiến thức vào đời sống, chủ đề dạy học phát huy tính sáng tạo qua cácbài tập, cả về nội dung và phương pháp tổ chức
Đối với giáo viên: không ngừng tự học, tự bồi dưỡng, tự nghiên cứu để có phương phápdạy học phù hợp với đặc trưng của bộ môn
Tôi cam đoan những điều khai trên là đúng sự thật và không vi phạm pháp luật
Ý kiến xác nhận Ngày 30 tháng 3 năm 2019
của Thủ trưởng đơn vị Tác giả
.
Trang 5A MỞ ĐẦU:
1 Tên sáng kiến: “Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS ”
2 Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
2.1 Sự cần thiết của sáng kiến:
Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng đã nhấn mạnh: “Phát triển Giáo dục - Đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện
để phát huy nguồn nhân lực, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế bền vững” Giáo dục là nơi đào tạo, xây dựng những thế hệ con người mới “Vừa Hồng vừa chuyên”: có đủ tài, đức, bản lĩnh để tạo ra những công dân có ích cho xã hội; đưa đất nước tiến lên sánh vai với các nước trên thế giới Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội Các cấp Đảng ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội, các thành viên trong xã hội đều có trách nhiệm vào sự nghiệp phát triển Giáo dục - Đào tạo của đất nước.
Giáo dục THCS chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong hệ thống Giáo dục quốc dân Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.( Trích điều 27-Luật GD-2005.)
Học sinh giai đoạn phát triển ở lứa tuổi THCS có tính quyết định đến thể lực, nhân cách, năng lực phát triển trí tuệ của trẻ trong suốt cả cuộc đời.
Có thể nói nhân cách con người trong tương lai như thế nào phụ thuộc lớn vào sự giáo dục của học sinh tuổi THCS Với nhiệm vụ là người cán bộ quản lí bậc học THCS, tôi luôn trăn trở, suy nghĩ làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh để các em phát triển toàn diện về Đức - Trí - Thể -
Mỹ Đây là nhiệm vụ quan trọng và cần phải có sự nỗ lực phấn đấu, quyết tâm cao; cần phải chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên, bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ, giáo viên để
họ duy trì và phát triển chất lượng giáo dục trong mỗi nhà trường; phải làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục trẻ nhằm đáp ứng với yêu cầu sự nghiệp giáo dục trong thời đại hiện nay Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Một số đổi mới công tác quản lí nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS ”.
2.2 Mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
Dạy học là một nghệ thuật, nó không chỉ đơn thuần là việc cung cấp kiến thức cho họcsinh, truyền cho các em những gì mình biết mà nó còn là cả một quá trình nghiên cứu, sángtạo để có được những con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất giúp học sinh tiếp cận và chiếm lĩnhkiến thức, rèn luyện và nâng cao khả năng vận dụng tri thức vào cuộc sống
Trang 6Vận dụng kiến thức Vật lí vào thực tế cuộc sống sẽ giúp cho người học môn Vật lí trởnên nhẹ nhàng hơn, kích thích được tư duy, hứng thú của học sinh, giúp học sinh có thói quenbiết vận dụng tri thức đó, học không chỉ với môn Vật lí mà còn các môn học khác, là cầu nốigiữa lý thuyết sách vở với thực tế, giữa nhà trường và xã hội.
3 Đối tượng nghiên cứu:
- Giáo viên dạy bộ môn và thực trạng việc dạy học phát huy tính sáng tạo của học sinhtrong việc ứng dụng kiến thức Vật lí vào thực tế đời sống
- Học sinh lớp 6A2 năm học 2018-2019, trường THCS
- Vấn đề đặt ra: Phát huy tính sáng tạo của học sinh lớp 6A2 trường THCS trong
việc áp dụng kiến thức Vật lí 6 vào thực tế đời sống
4 Phạm vi nghiên cứu:
Sáng kiến này thực hiện trong phạm vi các tiết dạy Vật lí 6 học kỳ I sách giáo khoa Vật lílớp 6
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu tài liệu
- Điều tra (dự giờ, đối chiếu)
Trang 7B NỘI DUNG:
1 Cơ sở lý luận:
Trong Diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người họp tại Senegan (2000) Chương trìnhhành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó mục tiêu 3 nói rằng “Mỗi quốc gia phải đảmbảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kĩ năng sống phù hợp” Còn trongmục tiêu 6 yêu cầu “Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá kĩ năng sống củangười học” Như vậy, học kĩ năng sống trở thành quyền của người học và chất lượng giáo dụcphải được thể hiện cả trong kĩ năng sống của người học
Việc thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông là đổi mới đồng bộ các phương diện giáo dục
từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện đến cách thức đánh giá, nhằm thay đổi lốidạy học truyền thụ một chiều sang dạy học tương tác, giúp học sinh phát triển năng lực cánhân, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, nănglực tự học, năng lực hợp tác, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, có tình cảmnhân văn và niềm vui, hứng thú trong học tập
Luật Giáo Dục 2005 (Điều 5) qui định, “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tíchcực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khảnăng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” Với mục tiêu giáo dục phổ thông là
“giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp,trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhâncách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.” Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu: “Phải phát huytính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc trưng môn học, đặcđiểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tựhọc, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tìnhcảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh” Nghị Quyết TW 2khóa 8 cũng khẳng định “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp Giáo dục, đào tạo, khắc phục lốitruyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụngcác phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện
16/2006/QĐ-và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh …”
Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm, bởi vậy đòi hỏi giáo viên bộ môn phải sử dụngcác phương pháp và kỹ thuật dạy học một cách hợp lí, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng củacấp học, môn học; phù hợp với nội dung, tính chất của bài học, đặc điểm và trình độ HS; phùhợp với thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa phương, nhất làtăng cường việc sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan trong quá trình dạy học Trong dạy học Vật lí, giáo viên cần phát huy tính tích cực của học sinh bằng cách tạohứng thú, kích thích tính tỉ mĩ, ham hiểu biết của học sinh; rèn luyện cho học sinh kĩ năng thựchành; rèn luyện khả năng sử dụng và diễn đạt ngôn ngữ Vật lí cho học sinh Qua đó việc vậndụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh sẽ được phát huy tối đa
Trang 8Chương trình Vật lí THCS hiện nay bao gồm cơ học, nhiệt học, điện học, quang học(quang hình, các dụng cụ quang học) Mỗi phần được thể hiện bằng nhiều đơn vị kiến thứckhác nhau, tương ứng với các cách tiếp cận kiến thức khác nhau Với một lượng kiến thức nhưvậy, việc vận dụng kiến thức Vật lý vào thực tế cuộc sống của các em cũng phong phú, vậndụng kiến thức của các em ở ngay trong đời sống, ở chính gia đình của mình, các em hoàntoàn có khả năng làm chủ được kiến thức của mình nếu các em được trực tiếp tự tay thực hiệncác thí nghiệm khoa học
Hơn nữa, trong sách giáo khoa, bài tập định tính và câu hỏi liên hệ thực tế rất ít, không đadạng, phong phú và không thật sự gần gũi với thực tế đời sống hàng ngày của các em Từ thực
tế đó, tôi tập trung tìm hiểu và viết sáng kiến “Phát huy tính sáng tạo của học sinh lớp 6A2
trường THCS trong việc áp dụng kiến thức Vật lý 6 vào thực tế đời sống” nhằm cảicách giáo dục; quan tâm đến đối tượng trung tâm của quá trình dạy và học là học sinh
2 Cơ sở thực tiễn:
Năm học 2018 - 2019 là “Năm học tiếp tục đổi mới quản lí và nâng cao chất lượng giáodục”, tiếp tục thực hiện “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”gắn với cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” vàphong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong toàn ngànhnhằm nâng cao chất lượng giáo dục
Để nâng cao chất lượng giáo dục thì phải đổi mới phương pháp giáo dục, khắc phục lốitruyền thụ một chiều, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, kích thích tính tự học, tựnghiên cứu của học sinh, phải biết kết hợp lý thuyết với thực hành, không tách rời kiến thứctrong nhà trường với thực tế cuộc sống Theo Gớttơ, triết gia Đức nói “Lý thuyết là màu xám,thực tiễn cây đời mãi mãi xanh tươi” Thật vậy, nói cho cùng, kiến thức giảng dạy ở nhàtrường nếu không được lồng ghép, tích hợp, liên hệ cụ thể bằng thực tế phong phú, sống độngcủa đời sống muôn màu muôn vẻ, không vận dụng vào cuộc sống thì sẽ chỉ là lý thuyết, là vấn
đề sách vở mà thôi Hơn nữa, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang đặt
ra cho ngành giáo dục nước ta những yêu cầu bức bách và những nhiệm vụ hết sức to lớn Sảnphẩm của giáo dục ngày nay phải là những con người năng động, có tri thức tiên tiến, nhữngcon người không chỉ biết học cách bắt chước, mà phải biết tạo ra những giá trị mới để giảiquyết những vấn đề nhiều mặt trong đời sống xã hội và kinh tế của địa phương mình Để tròsáng tạo thì người thầy phải biết sáng tạo trước, phải hướng tới việc tạo điều kiện cho học sinh
tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua việc cho học sinh tập dượt giải quyết một số vấn đề Vật lýtrong thực tế cuộc sống
Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, kiến thức Vật lí gắn kết một cách chặt chẽ với thực
tế cuộc sống con người, những hiện tượng Vật lí trong cuộc sống luôn đặt ra cho ta câu hỏicần giải thích Khi đó giải thích được ta sẽ giải quyết được nhiều vấn đề khác có liên quan đếnkiến thức Vật lý đó
Đặc điểm ở lứa tuổi các em học sinh cấp THCS là luôn luôn thích tìm hiểu, khám phá thếgiới xung quanh mình Vậy để tiết học không khô khan, tránh học lý thuyết suông thì giáo
Trang 9viên cần đưa kiến thức Vật lí của bài học vào cuộc sống sẽ giúp các em thấy được niềm vui,thấy được lợi ích thiết thực của việc học môn Vật lí, nó không còn xa lạ với các em nữa, làmcho các em muốn học, yêu thích học môn Vật lí hơn, mà một khi các em đó thích học thì chắcchắn các em sẽ tự học, tự tìm tòi, tự khám phá, có hứng thú trong học tập có nghĩa là ta đãkích thích được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh.
3 Nội dung vấn đề:
3.1 Vấn đề đặt ra:
Dạy học là một nghệ thuật, nó không chỉ đơn thuần là việc cung cấp kiến thức cho họcsinh, truyền cho các em những gì mình biết mà nó còn là cả một quá trình nghiên cứu, sángtạo để có được những con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất giúp học sinh tiếp cận và chiếm lĩnhkiến thức, rèn luyện và nâng cao khả năng vận dụng tri thức vào cuộc sống
Vận dụng kiến thức Vật lí vào thực tế cuộc sống sẽ giúp cho người học môn Vật lí trởnên nhẹ nhàng hơn, kích thích được tư duy, hứng thú của học sinh, giúp học sinh có thói quenbiết vận dụng tri thức đó, học không chỉ với môn Vật lí mà còn các môn học khác, là cầu nốigiữa lý thuyết sách vở với thực tế, giữa nhà trường và xã hội
3.2 Giải pháp, chứng minh vấn đề được giải quyết:
* Đối với các môn khoa học thực nghiệm như Vật lí người học càng cần thường trực ýthức ứng dụng:
Đừng học lý thuyết suông, cần coi trọng các thí nghiệm thực hành; thí nghiệm thực hành
mà chỉ “đọc” trong sách hoặc xem trên màn hình thì không đủ; muốn nâng cao tư duy kỹ thuậtbạn hãy cố gắng tìm mọi cách để được tiếp cận, được làm, được vận hành, được quan sát,được nhận xét để có thể nâng lên thành kỹ năng, kỹ xảo
Có bạn hỏi, tự học thì lấy vật tư, phòng thí nghiệm đâu ra mà làm, mà vận hành? Hiệnnay với công nghệ thông tin người ta có thể và đó xây dựng các thí nghiệm “ảo”, các phầnmềm dạy học và tự học, các sách giáo khoa điện tử và đưa vào đĩa CD; nhiều thí nghiệm rấtkhó về Vật lý, Hoá học, Sinh học, Địa lý, đó được mô tả y như thật và rất hấp dẫn Bạn cóthể thao tác các thí nghiệm đó nhiều lần mà không sợ nguy hiểm và cũng không tốn kém gì.Bạn cũng có thể quan sát nhiều lần các thí nghiệm, các hiện tượng tự nhiên kỳ thú, cả nhữnghiện tượng ở dưới lòng đại dương, trên vũ trụ hoặc cả thế giới vi mô mà mắt thường khôngbao giờ nhìn thấy được hoặc quan sát trên những băng hình chuyên đề khoa học mà tất cả cáccuốn sách không thể nào mô tả cho bạn được Thao tác trên máy tính, xem băng hình hayphim khoa học có liên quan cũng làm tăng năng lực nhận thức, tăng khả năng nghe - nhìn,quan sát của bạn lên rất nhiều Tất nhiên, với kỹ thuật số người ta có thể tạo ra cảnh người baytrên không, phóng chưởng phá thành, búp bê chạy nhảy, nên thí nghiệm ảo cũng chỉ là đểtham khảo chứ không thể thay thực nghiệm được
Thường xuyên phát động trong toàn thể học sinh tham gia làm đồ dùng học tập, học sinhhưởng ứng rất tích cực và đã làm được một số đồ dùng đơn giản ứng dụng vào đời sống như:
Trang 10máy hút đinh, khóa nắp túi xách, (ứng dụng của nam châm vĩnh cửu) Tự quấn ống dây để làmnam châm điện và phục vụ cho các thí nghiệm về từ trường của ống dây có dòng điện chạyqua Tự làm bình thông nhau với những vật liệu tự kiếm được Và nhiều dụng cụ thí nghiệmkhác
* Dạy học theo phương pháp thực nghiệm được tiến hành theo trình tự các bước sau: Nêucác sự kiện mở đầu, làm bộc lộ quan niệm có sẵn của HS - xây dựng mô hình - giả thuyết -suy luận đề xuất các phương án thí nghiệm kiểm tra - tiến hành thí nghiệm kiểm tra phát biểukết quả - dùng mô hình giải thích giả thuyết - luyện tập và ứng dụng thực tế
* Việc sử dụng thiết bị sẵn có để làm thí nghiệm đối với môn Vật lí đã có đến 90% số tiết
có thí nghiệm được giáo viên làm trên lớp cho HS
* Hướng dẫn HS làm các đồ dùng và thí nghiệm đơn giản kể cả những thiết bị dễ làm vàthông dụng mà ở phòng thực hành sẵn có Qua đó kích thích và tạo điều kiện cho các em pháthuy tính sáng tạo trong việc ứng dụng kiến thức Vật lí vào thực tế đời sống
* Bài tập định tính và câu hỏi thực tế sử dụng trong một tiết học phù hợp với nội dungkiến thức của từng bài, từng nhóm kiến thức Đây là những bài tập và câu hỏi có tính thực tếcao
* Đối với HS: bài tập định tính và câu hỏi thực tế là phương tiện để rèn luyện ngày cànghoàn thiện hơn những hoạt động nhận thức, các thao tác phổ biến, cần dựng trong lĩnh hội kiếnthức Vật lí Mức độ vận dụng cũng từ thấp tới cao, từ ứng dụng một cách máy móc đến sự vậndụng một cách nhuần nhuyễn, từ giải quyết những vấn đề, bài toán tương tự gần gũi tới việcgiải quyết những vấn đề phức tạp và những “bài toán” hóc búa, từ vận dụng để giải quyếtnhững vấn đề mang tính kiến thức đơn lẻ sang giải quyết các vấn đề phức hợp liên quan tới sựvận dụng nhiều nguyên tắc cho các bộ môn khác hay để giải quyết cả những vấn đề của đờisống và nghề nghiệp đặt ra cho mình
* Đối với giáo viên: bài tập định tính và câu hỏi thực tế là công cụ hữu hiệu để GV có thể
sử dụng hiệu quả trong tiến trình tổ chức và kiểm tra các hoạt động nhận thức của HS trên giờlên lớp
* Để định hướng cho HS tự lực xây dựng những phương án thí nghiệm loại này, GV nên
sử dụng các phép suy luận từ những bài tập định tính và câu hỏi thực tế sáng tạo Đây thựcchất là cách biến bài tập định tính thành loại bài tập thí nghiệm Các câu hỏi dùng trong trườnghợp này thường theo kiểu: “Bằng cách nào …?”, “Làm thế nào để …?” Câu hỏi có tính chấtphủ định theo kiểu “Nếu không có … thì sao?”.Câu hỏi gợi ý suy luận định tính theo kiểu
“Nếu …càng tăng (hay càng giảm)… thì sao?” Câu hỏi gợi ý tư duy sáng tạo kiểu “Hiệntượng sẽ thế nào … nếu …?” hay “Hiện tượng có xảy ra không …nếu …?”
Qua việc sử dụng các bài tập định tính và câu hỏi thực tế HS đó sử dụng các kiến thứcVật lý giải thích được các hiện tượng thực tế xảy ra hàng ngày xung quanh các em, từ đó các
em đó hiểu và nhớ sâu hơn kiến thức đã học Trong quá trình dạy học Vật lí, bài tập định tính
và câu hỏi thực tế có vai trò hết sức quan trọng
Trang 11* Các ảnh chụp thực tế, đoạn phim video ngắn phù hợp với nội dung kiến thức của từngbài, từng nhóm kiến thức, có tính giáo dục cao Dựa vào các ảnh chụp thực tế, các đoạn phimvideo ngắn HS đó thấy được tính trực quan, tính thực tế của kiến thức
Trong giai đoạn củng cố, vận dụng kiến thức, việc sử dụng các bài tập định tính và câuhỏi thực tế là biện pháp mang lại hiệu quả cao nhất Các dạng bài tập và câu hỏi nên tập trungvào ba dạng: giải thích hiện tượng, dự đoán hiện tượng và nêu phương án chế tạo thiết bị đápứng một yêu cầu của đời sống và sản xuất
* Mô tả nội dung giải pháp mới:
Thuyết minh tính mới: học sinh vẫn còn thói quen học vẹt, xem quá trình học tập là mộtquá trình ghi nhớ, học thuộc bài Từ đó, học sinh không rèn luyện được ý thức và thói quenvận dụng những điều đó vào cuộc sống hằng ngày Cho nên đề tài này giúp các em hiểu đượckiến thức đã học, nếu các em vận dụng tốt sẽ có hiệu quả trong cuộc sống Để vận dụng kiếnthức vật lí vào thực tế cuộc sống, theo tôi cần phải:
* Đưa bài tập định tính và câu hỏi có nội dung thực tế vào tiết dạy Vật lí:
Ví dụ 1: Bài 1 – Đo độ dài (Vật lí 6)
Giáo viên thông báo: trong đời sống, ngoài các đơn vị đo độ dài như đã học người ta còndùng các đơn vị khác như mm là li, cm là phân, dm là tấc
1 in ( inch) = 2,54 cm (chiều dài một lóng ngón tay)
- Kéo cắt giấy hay cắt kim loại
- Tay chèo ở thuyền
- Xà beng để di chuyển vật nặng
- Bập bênh
- Cân đòn hay cân Rôbecvan
Trang 12- Cần cẩu…
* Các tác dụng của từng đòn bẩy trên là:
- Các dụng cụ hoạt động dựa trên nguyên tắc của đòn bẩy có tác dụng cho ta lợi về lựcnhưng lại thiệt về đường đi: dùng búa để nhổ đinh, kéo cắt kim loại, xà beng để di chuyển vậtnặng
- Các dụng cụ hoạt động dựa trên nguyên tắc của đòn bẩy có tác dụng cho ta lợi về đường
đi nhưng lại thiệt về lực: dùng kéo cắt giấy, tay chèo thuyền
- Bập bênh, cân đòn hay cân Rôbecvan hoạt động dựa trên nguyên tắc của đòn bẩy khôngphải để lợi về lực hay lợi về đường đi mà có tác dụng tạo ra sự cân bằng
Ví dụ 3: Bài 16 – Ròng rọc (Vật lý 6)
Hãy nêu một số ứng dụng của ròng rọc trong đời sống thực tế?
Trả lời : Một số ứng dụng của ròng rọc trong đời sống thực tế:
- Cần cẩu hàng hóa trong các cảng
- Dùng để nâng các vật nặng lên cao (đưa vôi, gạch, lên cao để xây nhà cao tầng)
- Dùng ở giếng để kéo nước từ dưới sâu lên
- Dùng để kéo các tấm rèm ở cửa
- Dựng ở đầu cần câu
- Dùng ở đầu trụ cờ để kéo cờ lên
Ví dụ 4: Bài 18 – Sự nở vì nhiệt của chất rắn (Vật lí 6)
Khi đi khám răng, bác sĩ thường hay khuyên chúng ta không nên ăn thức ăn quá nónghoặc quá lạnh Tại sao?
Trả lời: Vì nếu chúng ta ăn thức ăn quá nóng hoặc quá lạnh thì răng của ta sẽ bị nở ra hay
co lại vì nhiệt nhiều dẫn đến hỏng men răng
Ví dụ 5: Bài 21- Một số ứng dụng của sự nở vì nhiệt (Vật lí 6)
a) Em hãy giải thích tại sao một số ngôi nhà sau khi xây dựng một thời gian thì hay bị nứttrần nhà hoặc tường ?
Trả lời : Một số ngôi nhà sau khi xây dựng một thời gian thì trần hay tường bị nứt, có thể
do hai lí do:
- Khi xây dựng, việc gia cố móng không tốt, nhà bị lún nhưng không đều nên dẫn đếnnứt
Trang 13- Khi xây tường hay đổ trần nhà, người thợ trộn bê tông không đúng tỉ lệ, nên khi trờinóng hay lạnh sự dãn nở vì nhiệt của bê tông và sắt, thép không đều nên gây ra nứt
b) Em hãy tìm hiểu các nguyên tắc sử dụng bình ga trong gia đình và trao đổi với bạn bècùng nhau phòng tránh nguy hiểm?
Trả lời: Không để bình ga gần lửa, ở nơi có nhiệt độ cao, không để ánh nắng mặt trờichiếu trực tiếp vào bình ga
Ví dụ 6 : Bài 26, 27 – Sự bay hơi và sự ngưng tụ (Vật lí 6)
a) Về mùa hè, trời nóng chúng ta thường ăn chè đá Mặc dù ly chè không bị nứt nhưngkhi ta cầm nó thì bị ướt? Hãy giải thích hiện tượng đó?
Trả lời: Về mùa hè trời nóng, không khí cũng nóng, nhưng trong không khí có hơi nước,hơi nước trong lớp không khí được tiếp xúc với ly chè gặp lạnh nên ngưng tụ thành nước.Nước đó có làm cho tay ta bị ướt khi cầm ly chè
b) Không có tủ lạnh và cũng không có đá, làm thế nào có được một ly nước chanh mát đểuống vào mùa hè?
Trả lời: Ta làm như sau:
- Ta pha nước chanh rồi đổ vào một chai bằng kim loại có đậy nắp hay tốt nhất là đổ vàomột bi đông bằng sắt
- Treo chai (bi đông) đó vào một chỗ càng nhiều gió càng tốt
- Lấy một khăn ướt phủ lên chai (bi đông)
- Luôn tưới nước lên chai khi khăn khô Sau một thời gian, nước chanh trong bi đông đóđược làm lạnh Vì gió càng nhiều tốc độ bay hơi càng nhanh, khi bay hơi nhiệt độ của khăngiảm Vì chai (bi đông) bằng sắt nên dẫn nhiệt tốt, nên nhiệt trong nước chanh sẽ truyền chokhăn làm cho nước chanh lạnh dần
c) Em hãy nêu một vài ứng dụng về sự bay hơi và ngưng tụ trong thực tế đời sống? Trảlời: Một vài ứng dụng về sự bay hơi và ngưng tụ trong thực tế đời sống:
- Khi trồng cây người ta cắt bớt lá để giảm sự bay hơi của nước
- Người ta thường làm muối vào mùa nắng
- Nấu rượu: để tách rượu, người ta đun cho rượu hóa hơi, sau đó làm lạnh cho ngưng tụthành rượu
- Chế tạo các lò sấy để làm cho sản phẩm chóng khô
- Muốn quần áo mau khô thì phải trải rộng ra và phơi ở những chổ nhiều nắng và gió