Các điểm mốc và các góc mô mềm thường sử dụng trong phân tích hình thái khuôn mặt trên phim sọ nghiêng...35 3.2 Các điểm mốc và các góc mô mềm thường sử dụng trong phân tích hình thái kh
Trang 1CHU VĂN TUỆ BÌNH
CÁC CHỈ SỐ, TỶ LỆ ĐẦU-MẶT VÀ
MỘT SỐ PHÂN TÍCH ĐẦU-MẶT
CHUYÊN ĐỀ TIẾN SĨ
HÀ NỘI - 2019
Trang 2CHU VĂN TUỆ BÌNH
CÁC CHỈ SỐ, TỶ LỆ ĐẦU-MẶT VÀ MỘT SỐ PHÂN TÍCH ĐẦU-MẶT
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Huy
Cho đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình thái đầu-mặt bằng phương pháp đo trực tiếp trên người Kinh và người Mường
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ 1
NỘI DUNG 3
I Các phương pháp phân tích hình thái đầu-mặt hiện nay 3
1 Đo trực tiếp trên lâm sàng 3
2 Đo trên ảnh chụp chuẩn hoá 3
3 Đo trên phim X- quang 4
II Các chỉ số, tỷ lệ đầu-mặt 5
1 Phương pháp đo trực tiếp trên lâm sàng 5
1.1 Các kích thước thường dùng 5
1.2 Các chỉ số và tỷ lệ 8
1.3 Phân tích các tỷ lệ và hình dạng khuôn mặt 9
2 Phương pháp đo gián tiếp trên ảnh chuẩn hoá 19
2.1 Các kích thuớc thường dùng 19
2.2 Phân tích thẩm mỹ các đơn vị cấu trúc của mặt 24
3 Phương pháp đo trên phim X-quang từ xa 35
3.1 Các điểm mốc và các góc mô mềm thường sử dụng trong phân tích hình thái khuôn mặt trên phim sọ nghiêng 35
3.2 Các điểm mốc và các góc mô mềm thường sử dụng trong phân tích hình thái khuôn mặt trên phim sọ thẳng 49
KẾT LUẬN 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4Bảng 3 Các tỉ lệ thường được sử dụng phân tích trên ảnh thẳng 20
Bảng 4 Các tỉ lệ thường được sử dụng phân tích trên ảnh nghiêng 21
Bảng 5 Các kích thước, góc thường được sử dụng phân tích trên ảnh nghiêng 22
Bảng 6 Các khoảng cách và góc mô mềm thường được sử dụng trên phim sọ nghiêng36 Bảng 7 Các điểm mốc dùng trong phân tích Tweed 44
Bảng 8 Các mặt phẳng, đường thẳng trong phân tích Tweed 45
Bảng 9 Các góc trong phân tích của Tweed 46
Bảng 10 Các kích thước, tỉ lệ trên phim sọ mặt thẳng từ xa 49
Bảng 11 Các giá trị trung bình trong phân tích của Ricketts 53
Trang 5Hình 2: Các điểm mốc khi đo trực tiếp 7
Hình 3 Đường đỏ: mặt phẳng F, màu xanh: tứ giác Leonardo, màu xanh: mặt nghiêng 9
Hình 4.a Lúc trẻ - hình tam giác ngược xuống dưới; b lúc già hình tam giác quay ngược lên trên 9
Hình 5 Mặt được chia thành năm phần bằng nhau 10
Hình 6: Chiều cao 3 tầng mặt bằng nhau theo Da Vinci 11
Hình 7: Tầng giữa mặt na-sn chiếm 43% chiều cao mặt na-me 11
Hình 8: Cách xác định hình dạng khuôn mặt theo phương pháp của Celébie và Jerolimov 1-5: mặt hình vuông, 6-8: mặt ovale, 9-10: mặt tam giác 12
Hình 9 Các dạng khuôn mặt 13
Hình 10 Bộ ba nelson 14
Hình 11 Tương quan hình dạng răng và khuôn mặt 15
Hình 12 Tương quan hình dạng răng cửa với hình dạng cung răng 15
Hình 13 Đầu được xây dựng theo tỉ lệ vàng của Luca Pacioli 17
Hình 14 Khuôn mặt có tỉ lệ xấp xỉ tỷ lệ vàng 61%-62.1% 17
Hình 15 có tỷ lệ vàng giữa các phép đo 2 và 4, 3 và 5, 5 và 8, 6 và 7… 18
Hình 16 Khuôn mặt nhìn nghiêng có các kích thước theo tỷ lệ vàng theo Ricketts 18
Hình 17 Theo Baud Tỷ lệ III/(I+II) và (I+II)/(I+II+III) là 62% tức khoảng 61,8% 18
Hình 18 Các kích thước trên ảnh thẳng 20
Hình 19 Các kích thước trên ảnh nghiêng 21
Hình 20 Các đơn vị cấu trúc giải phẫu thẩm mỹ của mặt 24
Hình 21 Góc mũi trán lý tưởng 115-1350 26
Hình 22 Vị trí lý tưởng của mắt 26
Hình 23 Góc mũi môi nên có giá trị từ 95 – 1100 ở nữ và 90 – 950 ở nam 30
Trang 6Hình 28 Phương pháp hình chiếu của Goode 31
Hình 29: A Tỉ lệ đoạn từ đỉnh mũi đến đỉnh lỗ mũi và đoạn từ đỉnh lỗ mũi đến rãnh mũi má lý tưởng là 1:1 B Chiều dài trụ mũi khoảng 3-5mm 31
Hình 30 Nền mũi được chia thành ba phần bằng nhau 31
Hình 31 Các đơn vị giải phẫu của môi 33
Hình 32 Rãnh môi cằm (điểm si) nằm cách đường thẳng sn-li-pg khoảng 4mm về phía sau 33
Hình 33 Vị trí cằm lý tưởng khi mặt phẳng F vuông góc với đường n-pg 34
Hình 34 Góc cằm cổ lý tưởng 34
Hình 35 Trục dọc của tai song song với trục dọc của sống mũi 35
Hình 36 Các điểm mốc mô mềm 35
Hình 37 Các góc trong phân tích Down 38
Hình 38 Phân tích Wylie 39
Hình 39 Phân tích Steiner 40
Hình 40 Phân tích Wits 40
Hình 41 Phân tích Ricketts 41
Hình 42 Các góc trong tam giác Tweed 43
Hình 43 Phân tích phim sọ nghiêng theo Sassouni 48
Hình 44 Các điểm mốc 49
Hình 45 Các chỉ số trong nghiên cứu của Ricketts 53
Hình 46 Các điểm chuẩn, đường và góc thường dùng trong phân tích của Svanholt và Solow 54
Hình 47 Các điểm mốc giải phẫu và mặt phẳng sử dụng trong phân tích của Grummons 54
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo định nghĩa trong từ điển Tiếng việt, “thẩm mỹ” có nghĩa là “cảm nhận và hiểu biết về cái đẹp”; còn “khuôn mặt” có nghĩa là “hình dáng mặt người” Như vậy, khi nhắc tới cụm từ “thẩm mỹ khuôn mặt” có nghĩa là sự
cảm nhận và hiểu biết về cái đẹp của hình dáng khuôn mặt [1] Thẩm mỹkhuôn mặt có vai trò rất quan trọng, theo điều tra xã hội học ở các nước pháttriển cho thấy những người có khuôn mặt đẹp thì có khả năng thành côngtrong xã hội và gia đình cao hơn
Tuy nhiên, thẩm mỹ khuôn mặt thay đổi liên tục bởi chịu sự ảnh hưởngcủa nhiều yếu tố chủ quan như giới tính, chủng tộc, nền giáo dục, các yếu tố
xã hội, môi trường sống và ảnh hưởng của truyền thông
Người đầu tiên nhắc tới khái niệm này là Baumgarten và sau đó thuậtngữ thẩm mỹ khuôn mặt đã trải qua một chặng đường phát triển rất dài từPlaton, Aristote đến Hegel… Theo quan niệm của các nhà triết học này, khinhắc tới thẩm mỹ cần phải có sự cân xứng và hài hòa Theo Hegel, sự đều đặnhài hòa và trật tự là các đặc tính của thẩm mỹ Mỗi thời đại, mỗi giai cấp đều
có những tiêu chuẩn khác nhau về cái đẹp Do đó quan niệm về cái đẹp luôn
có tính giai cấp và xã hội Do vậy để đánh giá thẩm mỹ khuôn mặt là mộtcông việc rất khó và phức tạp và có rất nhiều tiêu chuẩn được đặt ra, cũng nhưtheo góc nhìn của mỗi lĩnh vực, ngành nghề khác nhau [1]
Với các nhà khoa học, thẩm mỹ khuôn mặt được thể hiện dựa trên cáccon số được đo đạc chính xác bằng nhiều phương tiện khác nhau
Khoảng năm 420 – 450 trước công nguyên, Polycleitus - nhà điêu khắc
Hy Lạp cổ đại - đã nghiên cứu và đưa ra các tiêu chuẩn có liên quan tới thẩm
mỹ của khuôn mặt như chiều cao mặt bằng 1/10 chiều dài cơ thể, chiều caotoàn bộ đầu bằng 1/8 chiều dài toàn bộ cơ thể, tổng chiều dài của đầu và cổbằng 1/6 chiều dài cơ thể Sau đó, Aristotle (384 - 322 TCN) đã đề xuất quanniệm về vẻ đẹp lý tưởng của khuôn mặt Nói chung, các mô tả và các quanniệm thầm mỹ ở các nền văn minh cổ đại đều mang tính chủ quan và khôngdựa trên những số đo chính xác
Trang 8nghiên cứu những tỷ lệ cơ thể và khuôn mặt được cho là lý tưởng, ứng dụngnhững tiêu chuẩn đó vào những tác phẩm nghệ hội họa và điêu khắc Bứctranh nổi tiếng về hình người trong vòng tròn của ông minh họa cho những tỷ
lệ được mô tả bởi tác giả người La Mã: Vitruvius Theo Leonardo Da Vinci, ởkhuôn mặt cân đối, kích thước của miệng bằng khoảng cách từ đường giữa 2môi tới cằm, tỷ lệ giữa 3 tầng mặt bằng nhau, chiều cao của tai bằng chiều caocủa mũi Dù đưa ra những chuẩn khá nghiêm ngặt về tỷ lệ lý tưởng, ông cũngkhông phủ nhận sự khác biệt và tính đa dạng vốn có giữa các cá thể [3]
Vào các Thế kỷ XVIII – XIX, hầu hết các phép đo khuôn mặt được thựchiện trực tiếp trên sọ và chỉ một số ít phần mềm được đo, với mục đích chủyếu là nhằm tìm ra các khác biệt nhân trắc giữa các các chủng tộc hay tầnglớp xã hội, hay chứng minh sự tiến hóa loài
Thế kỷ XX trở thành thời kì của những tỉ lệ và phép đo khách quan,nhưng phương pháp nghiên cứu vẫn chỉ là đo trực tiếp bằng các loại thước.Phải tới năm 1931, khi Holy Broadbent (1894 - 1977) sử dụng phim X –quang sọ mặt để nghiên cứu các cấu trúc sọ mặt một cách gián tiếp thì phim
sọ mặt từ xa mới chính thức trở thành một phương tiện gián tiếp để nghiêncứu nhân trắc sọ mặt [4] Mario Gonzalez Ulloa (1912 - 1995) nhấn mạnh tầmquan trọng của nét mặt nhìn nghiêng Ricketts đã tìm ra tỷ lệ vàng trên phim
sọ mặt từ xa Tỉ lệ vàng này được cho là hấp dẫn nhất khi nhìn và trong nhậnthức của con người, kí hiệu Φ được dùng để chỉ số 1,618 [3]
Ở Việt Nam, trước những năm 90 của thế kỷ trước, nhân trắc học sọ mặtchủ yếu được nghiên cứu bằng cách đo đạc trực tiếp trên xương sọ hay trênngười sống Những tác giả tiêu biểu ở thời kỳ này là Nguyễn Quang Quyền,
Lê Gia Vinh, Thẩm Hoàng Điệp, Lê Hữu Hưng [5], [6], [7], [8] Trong vònghơn 20 năm trở lại đây, việc đo đạc trên phim sọ mặt thẳng, nghiêng, trên ảnhchụp chuẩn hóa đã trở thành các phương pháp được dùng nhiều hơn, giúp cho
số liệu nhân trắc trên người Việt Nam trở nên ngày càng phong phú
Trang 9NỘI DUNG
I Các phương pháp phân tích hình thái đầu-mặt hiện nay
1 Đo trực tiếp trên lâm sàng
Đo trực tiếp trên lâm sàng cho chúng ta biết chính xác kích thước thật,các chỉ số trung thực Tuy nhiên, phương pháp này mất nhiều thời gian và cần
có nhiều kinh nghiệm để xác định các điểm chuẩn chính xác trên mô mềm.Tại Việt Nam, từ lâu phép đo trực tiếp đã được nhiều tác giả sử dụng trongnghiên cứu hình thái, điển hình là Nguyễn Quang Quyền (1974) [5], Vũ Khoái(1978) Nhiều kích thước đầu mặt như chiều dài đầu, chu vi vùng đầu phải sửdụng phương pháp này để đo đạc do vậy hiện nay phương pháp này vẫn đangđược sử dụng
2 Đo trên ảnh chụp chuẩn hoá
Phân tích thẩm mỹ của khuôn mặt đo trên ảnh chụp chuẩn hoá (thẳng vànghiêng) là phương pháp được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực như giảiphẫu, nhân trắc học, hội họa, điêu khắc, y học đặc trong lĩnh vực phẫu thuậtthẩm mỹ vùng hàm mặt hay chỉnh nha… với nhiều ưu điểm như: dễ thựchiện, không tốn kém Thông qua ảnh chụp chuẩn hóa, chúng ta có thể đánhgiá được tương quan các cấu trúc ngoài sọ bao gồm cơ và mô mềm
Trong phân tích thẩm mỹ khuôn mặt, chủ yếu là quan sát trực tiếp vàphân tích ảnh chuẩn hoá với đánh giá thẩm mỹ trên mô mềm [3] Do vậy sựphối hợp giữa đo trực tiếp và đo trên ảnh chụp chuẩn hóa có tác dụng hỗ trợ,
bổ trợ cho nhau Đo trực tiếp sẽ cho các giá trị kích thước chính xác hơn, đotrên ảnh chụp chuẩn chuẩn hóa giúp đánh giá về sự cân xứng của vùng mặt
Đo đạc trên ảnh chụp chuẩn hóa kết hợp với phần mềm chuyên dụng để đoảnh sẽ giúp tiết kiệm được nhiều thời gian, nhân lực so với đo trực tiếp Bêncạnh đó còn giúp chúng ta lưu trữ và bảo quản thông tin Qua quan sát ảnhchụp chuẩn hóa, chúng ta còn có thể đánh giá một cách định tính khuôn mặt
Trang 10phương pháp khoa học giúp đánh giá định lượng Trên thế giới cũng đã cónhiều tác giả nghiên cứu, phân tích ảnh chụp chuẩn hóa và đã đưa ra các tiêuchuẩn để chụp khuôn mặt với các tư thế khác nhau như Ferrario, Bishara,Farkas với mục đích để chuẩn hoá kỹ thuật chụp ảnh nhằm đánh giá và so sánh
dễ dàng hơn
3 Đo trên phim X- quang
Khi điều trị những vấn đề liên quan đến thẩm mỹ, chúng ta không thể chỉdựa vào cảm nhận qua quan sát lâm sàng mà phải kết hợp giữa quan sát lâmsàng và những đánh giá cận lâm sàng có cơ sở khoa học (như các tiêu chuẩnphân tích trên phim, ảnh) vì “tạo hình thẩm mỹ khuôn mặt là sự kết hợp giữakhoa học và nghệ thuật”
Phim XQ sọ nghiêng chụp theo kỹ thuật từ xa giúp chúng ta nghiên cứunhững thay đổi do phát triển, giúp đánh giá cấu trúc mô xương và mô mềmkhi chẩn đoán, lên kế hoạch điều trị, định hướng các thủ thuật điều trị chỉnhhình và phẫu thuật, và cuối cùng giúp theo dõi, đánh giá các kết quả điều trị.Năm 1931, Holly Broadbent (Mỹ) và Hofrath (Đức) giới thiệu về phim
sọ nghiêng với mục đích nghiên cứu các hướng phát triển của phức hợp sọmặt Nhưng rất nhanh chóng, nó được sử dụng với mục đích đánh giá sự cânđối của hàm mặt và làm sáng tỏ cơ sở giải phẫu của khớp cắn Hàng loạtnhững nghiên cứu về mặt đã được đánh giá qua phân tích trên phim
Phân tích phim sọ mặt cho phép chúng ta xác định được dạng mặt Tuynhiên, dạng mặt và các bất thường không phải khi nào cũng gắn liền nhau, vìnhiều trường hợp có lệch lạc xương nhưng khớp cắn hoàn toàn bình thường.Nghiên cứu về tương quan xương cũng cho phép chúng ta định hướng đượcđiều trị nhờ vào phân tích mối liên quan xương trong mặt phẳng đứng ngang
Trang 11và đứng dọc giữa giúp chúng ta có thể phân biệt được lệch lạc do xương hàmhay xương ổ răng
Không giống các loại phim XQ khác, phim chụp sọ mặt từ xa có đặcđiểm hết sức riêng biệt Nếu chỉ nhìn hình ảnh trên phim sẽ không nói lênđược điều gì, muốn phim có ý nghĩa phải tìm được những điểm mốc để đánhdấu và xác định sự liên quan giữa chúng với nhau Nói một cách khác đóchính là quá trình chuyển biến hầu hết những thông tin thu được trên phimthành những con số dễ hiểu, dễ phân tích và quản lý, thống kê Các điểm mốcđược định ra phải đủ hai tính chất: đặc trưng và dễ dàng xác định trên phim
Ưu điểm vượt trội của phương pháp đo trên phim sọ mặt là đánh giá được
mô xương bên dưới và mối tương quan giữa mô cứng và mô mềm, vấn đề đánhgiá mô mềm hạn chế hơn Khi đánh giá thẩm mỹ, các tác giả thường sử dụng cácgóc mô mềm và các đường thẩm mỹ như đường S và E, góc H và góc Z
Trang 12STT Các kích thước Định nghĩa Ký hiệu
1 Chiều rộng đầu Khoảng cách giữa hai điểm bên đầu eu-eu
2 Chiều dài đầu Khoảng cách giữa điểm sau đầu và
điểm trên gốc mũi gl-op
3 Chu vi vòng đầu Chu vi vòng đầu đo qua điểm sau đầu
và điểm trên gốc mũi cvvđ
4 Chiều rộng mắt Khoảng cách giữa điểm góc mắt trong
6 Chiều rộng mặt Khoảng cách giữa hai điểm gò má zy-zy
7 Chiều rộng mũi Khoảng cách giữa điểm ngoài nhất
cánh mũi trái-phải al-al
8 Chiều rộng hàm dưới Khoảng cách giữa hai điểm góc hàm
10 Chiều cao trán II Khoảng cách giữa điểm chân tóc và
điểm lõm mũi trên mặt phẳng dọc giữa
tr-n
11 Chiều cao mặt hình thái Khoảng cách giữa điểm lõm mũi và
điểm trước -dưới cằm
n-gn
12 Chiều dài mũi Khoảng cách giữa điểm lõm mũi và
điểm dưới mũi trên mặt phẳng dọc giữa
n-sn
13 Chiều dài tai Khoảng cách giữa điểm cao nhất và
thấp nhất của vành tai
sa-sba
14 Chiều dài môi trên Khoảng cách giữa điểm dưới mũi và
điểm gian môi
16 Khoảng cách po-pr Khoảng cách giữa điểm ống tai ngoài
và điểm nhú lợi hàm trên
po-pr
17 Khoảng cách n-pr Khoảng cách giữa điểm lõm mũi và
điểm nhú lợi hàm trên
n-pr
Trang 1318 Chiều cao tầng mặt trên Khoảng cách giữa điểm chân tóc và
điểm trên gốc mũi
tr-gl
19 Chiều cao tầng mặt giữa Khoảng cách giữa điểm trên gốc mũi
và điểm dưới mũi
Trang 14rất dài: < 71; đầu dài: 71-75,9; đầu trung bình: 76-80,9; đầu ngắn: 81-85,9;đầu rất ngắn: > 86.
Chỉ số vẩu = po-pr x100/ po-n
Theo thang phân loại thì chia 3 loại: Không vẩu: < 109; vẩu: 109-113;rất vẩu: > 113
Chỉ số mũi:
Chỉ số mũi = Chiều rộng mũi (al-al)x100/ Chiều dài mũi (n-sn)
Theo thang phân loại của Martin thì chia thành 7 mức: Mũi cực hẹp: <40; mũi rất hẹp: 40-54,9; mũi hẹp: 55- 69,9; mũi trung bình: 70-84,9; mũirộng: 85-99,9; mũi rất rộng: 100-114,9; mũi cực rộng: >115
1.3 Phân tích các tỷ lệ và hình dạng khuôn mặt
Dựa vào ba điểm đánh giá khuôn mặt: điểm gốc mũi (nasion), điểmdưới mũi (sn) và điểm lõm giữa môi dưới và cằm (b) Khuôn mặt hài hoà thìđường nối 3 điểm này là một đường cong lồi ra ngoài Còn ở khuôn mặt kémhài hoà hơn thì đường này là một đường thẳng và ở khuôn mặt không hài hoà
Trang 15thì là một đường cong lõm vào trong giống như khuôn mặt hình đĩa lõm hay
bộ mặt của phù thuỷ Khi còn trẻ, khuôn mặt đẹp là khuôn mặt nằm trongmột hình tam giác có đỉnh quay xuống dưới Khi già đi, đỉnh tam giác sẽ quaylên trên, má sẽ sệ xuống và tạo thành cạnh của tam giác Sẽ rất có ích khichúng ta khuyến khích bệnh nhân mang ảnh của họ chụp lúc còn trẻ khi đếnkhám Làm như vậy có thể đưa ra một kế hoạch đúng đắn cho quá trình phẫuthuật để tạo hình lại khuôn mặt lúc trẻ
ngược lên trên
Xét tính chất đối xứng khuôn mặt, hiếm có trường hợp có sự đối xứnghoàn hảo qua mặt phẳng dọc giữa Tuy nhiên, các điểm trên đường giữathường nằm trên một trục Các đường thẳng đi qua hai điểm ổ mắt, đồng tử,
gò má, góc hàm phải song song với nhau và vuông góc với trục giữa của mặt.Chiều rộng của khuôn mặt được đánh giá bằng cách chia khuôn mặt thành 5phần bằng nhau Chiều rộng một bên mắt nên bằng 1/5 chiều rộng cả khuônmặt, cũng như bằng khoảng cách 2 cánh mũi
Trang 16Hình 5 Mặt được chia thành năm phần bằng nhau
Chiều cao mặt thường được đánh giá bằng một hoặc hai phương pháp.Phương pháp thứ nhất là chia mặt thành 3 tầng mặt bằng nhau như minh họacủa da Vinci Các phép đo được thực hiện trên đường giữa từ trichion tớiglabella, từ glabella đến subnasale và từ subnasale đến menton Phương phápthứ hai không xét tầng mặt trên bởi vì vị trí của đường chân tóc thường rấtthay đổi Các phép đo được thực hiện từ nasion tới subnasale và từ subnasaleđến menton Với phương pháp thứ hai, tầng mặt giữa chiếm 43% chiều cao vàtầng mặt dưới chiếm 57%
Trang 17Hình 6: Chiều cao 3 tầng mặt bằng
nhau theo Da Vinci
Hình 7: Tầng giữa mặt na-sn chiếm 43% chiều cao mặt na-me
Theo nghiên cứu của Werli và cộng sự năm 2003 [9]ở sinh viên trường
mỹ thuật tạo hình Strasbourg, khuôn mặt nam lý tưởng thường thẳng hơn,cằm lồi hơn trong khi đó những khuôn mặt nữ được thu hút nhất có môi lồihơn, các khuôn mặt quá lồi được đánh giá xấu nhất
Celébie và Jerolimov [10] dựa vào mối tương quan giữa ba kích thướcngang của mặt: chiều rộng giữa 2 xương thái dương (ft-ft), chiều rộng giữa 2xương gò má (zy-zy) và chiều rộng hàm dưới (go-go) để xác định hình dạngkhuôn mặt Theo ông mặt hình vuông nếu go = zy = ft hoặc ft = zy hoặc zy =
go, mặt hình ovale nếu zy > ft và zy > go, mặt hình tam giác nếu ft > zy > gohoặc ft < zy < go (nếu 2 kích thước chênh nhau khoảng 2mm thì coi như làbằng nhau
Trang 18Hình 8: Cách xác định hình dạng khuôn mặt theo phương pháp của Celébie
và Jerolimov 1-5: mặt hình vuông, 6-8: mặt ovale, 9-10: mặt tam giác.
William [11]theo tư thế mặt nghiêng chia khuôn mặt ra làm ba loại baogồm: mặt thẳng, mặt nhô, mặt lõm căn cứ vào tương quan giữa mặt phẳng
Trang 19Gl’-Sn và Sn-Pg’.Theo mặt thẳng được chia ra thành ba loại: Mặt được coi làhình vuông khi zy-zy = go-go; hình ô van (hình trái xoan) khi zy-zy > go-gomức độ chênh lệch ít; hình tam giác khi zy-zy > go - go sự chênh lệch lớn,đỉnh tam giác ở dưới.
Khuôn mặt nhô Khuôn mặt thẳng Khuôn mặt lõm
1.
2.
Khuôn mặt vuông Khuôn mặt tam giác Khuôn mặt oval
Hình 9 Các dạng khuôn mặt
Trang 20của cung răng, khuôn mặt và thân răng cửa và gọi đó là bộ ba Nelson.
Hình 10 Bộ ba nelson
Leon Williams quan sát thấy đường viền của khuôn mặt khi xoayngược có thể tương đối trùng khớp với hình dạng răng cửa giữa hàm trên tạonên tính thẩm mỹ cao cho tổng thể khuôn mặt đặc biệt là nụ cười Thuyết hìnhhọc của ông nói về sự phù hợp của hình dáng khuôn mặt với hình dạng củarăng cửa giữa hàm trên Mặc dù thuyết này được đưa ra từ đầu thế kỷ 20nhưng nó vẫn là thuyết phổ biến nhất được áp dụng khi lựa chọn hình dạngrăng của phục hình thay thế
Trang 21Hình 11 Tương quan hình dạng răng và khuôn mặt
Bên cạnh tương quan răng – mặt thì tương quan giữa răng và cung răngcũng được cân nhắc trong chọn lựa điều trị Nhiều nghiên cứu chỉ ra sự tươngứng giữa một cung răng hẹp với răng cửa giữa hàm trên có dạng hình nón,hay một cung răng dạng vuông với một răng cửa giữa hàm trên có dạngvuông Tuy nhiên, nhiều tác giả khác lại cho rằng mối tương quan này khálỏng lẻo, thậm chí nhiều tác giả còn cho rằng hầu như không có sự tươngquan giữa hình thái cung răng và hình dạng của răng cửa giữa hàm trên
Hình 12 Tương quan hình dạng răng cửa với hình dạng cung răng
Trang 22khuôn mặt có một sự tương quan về hình dạng khá rõ Nhiều bác sĩ chỉnh nhacoi hình dạng khuôn mặt là một gợi ý để đưa ra lựa chọn hình dạng dây cungtrong điều trị chỉnh nha
Chỉ số vàng và các tỷ lệ khuôn mặt
Năm 1509, Fra Paccioli di Borgio xuất bản một cuốn sách viết về các tỷ
lệ thẩm mỹ, trong quyển sách này ông ta đã nhấn mạnh đến “chỉ số vàng”
“Chỉ số vàng” là một tỷ lệ vô tỷ: tỷ lệ giữa phần lớn nhất và phần nhỏ nhấtcủa hai phần cũng bằng tỷ lệ của cả hai phần đó với phần lớn nhất,b/a+b=a/b,a<b Qui luật này chỉ có thể đạt được khi đoạn nhỏ nhất bằng0.618 và đoạn lớn là 1, cả đoạn là 1.618 Núi theo cách khác, nếu chúng tachia một đoạn thẳng AC thành hai phần không bằng nhau sao cho tỉ lệ giữađoạn nhỏ AB/BC cũng bằng BC/AC: điều này chỉ có thể nếu AB = 0.618 và
BC = 1 (AB/BC=BC/AC= 61.8%) Khi chia như thế chúng ta sẽ được mộtdãy số sau: 0,618; 1; 1,618; 2,618 Số tiếp theo có thể tính được bằng cách:nhân hoặc chia cho 1,618 hoặc là cộng hoặc cho tổng của hai số đứng trước
nó (hoặc trừ cho số đứng sau nó)
Qui luật này được nhà toán học Luca Pacioli và hoạ sĩ Leonard DeVinci mô tả thành một công thức chính xác trong tác phẩm Da DivineProportione thời Phục hưng Và từ đó, tỷ lệ vàng được sử dụng rất nhiều tronghội hoạ, kiến trúc cũng như là phân tích thẩm mỹ khuôn mặt
Trang 23Hình 13 Đầu được xây dựng theo tỉ
lệ vàng của Luca Pacioli
Hình 14 Khuôn mặt có tỉ lệ xấp xỉ tỷ
lệ vàng 61%-62.1%
Ricketts năm 1982 đã tiến hành một nghiên cứu trên 10 khuôn mặtngười mẫu có các chủng tộc khác nhau trên ảnh thẳng kết quả nhận thấy cócác tỷ lệ vàng giữa chiều rộng mũi và miệng, miệng và mắt, giữa 2 mắt vàchiều rộng mặt [13]
Hình 15 có tỷ lệ vàng giữa các phép
đo 2 và 4, 3 và 5, 5
và 8, 6 và 7…
Trang 24hòa cũng có các kích thược theo tỷ lệ vàng.
Trang 252 Phương pháp đo gián tiếp trên ảnh chuẩn hoá
2.1 Các kích thuớc thường dùng
Các kích thước, góc và tỉ lệ trên ảnh thẳng
Bảng 2 Các kích thước, góc thường được sử dụng phân tích trên ảnh thẳng
trái- mép mí trong phải
en- en
điểm ngoài nhất của cánh mũi phải
al- al
6 Khoảng cách từ mũi đến
miệng
Khoảng cách tính từ điểm al đến đường thẳng đứng đi qua điểm khóe miệng ch
al-ch
7 Khoảng cách từ miệng đến
đồng tử
Khoảng cách tính từ điểm ch đến đường thẳng đứng đi qua điểm pp
ch-pp
Trang 26/Chiều rộng khe mí
ex
/Chiều rộng mặt
zy
Trang 27Các kích thước, góc, tỉ lệ trên ảnh nghiêng
Hình 19 Các kích thước trên ảnh nghiêng [14]
9: ex-sn; 10: pn-sn; 11: sn-ss; 12: ls-ss; 13: ss-si; 14: si-li; 15: si-gn; 16: n-sn; 17: sn-gn; 18: ex-pn; 19: ex-a; 20:ex-ls; 21: ex-li; 22: ex-b; 23: ex-pg.
Bảng 4 Các tỉ lệ thường được sử dụng phân tích trên ảnh nghiêng
Trang 28TT Các kích thước Định nghĩa Kí hiệu
Các khoảng cách
13 Chiều cao môi đỏ trên môi đỏ
dưới
15 Khoảng cách từ điểm lồi nhất
của môi trên đến đường E
Khoảng cách từ điểm ls đến đường E
ls to E
16 Khoảng cách từ điểm lồi nhất
của môi trên đến đường S
Khoảng cách từ điểm ls đến đường S
ls to S
17 Khoảng cách từ điểm lồi nhất
của môi dưới đến đường E
Khoảng cách từ điểm li đến đường E
li to E
18 Khoảng cách từ điểm lồi nhất
của môi dưới đến đường S
Khoảng cách từ điểm li đến đường S li to S
Các góc
mũi
Góc qua 3 điểm n, pn và pg (góc mũi cằm) n-pn-pg
Trang 299 Góc mũi môi Góc qua 3 điểm cm, sn và ls cm-sn-ls
li-pg
* Trục tham chiếu trên ảnh thẳng
- Trục ngang tham chiếu chính là đường thẳng nối 2 điểm ex Các ảnh đượcđịnh vị sao cho trục này song song với trục hoành của màn hình vi tính
- Trục dọc tham chiếu thì thẳng góc với trục ngang tham chiếu (ex-ex) vàsong song với trục tung trên màn hình vi tính
* Trục tham chiếu trên ảnh nghiêng
- Trục ngang tham chiếu được chọn chính là đường thẳng nối hai điểm po
và or (mặt phẳng Fancfort) Các ảnh được định vị sao cho trục này songsong với trục hoành của màn hình máy tính
- Trục dọc tham chiếu thẳng góc với trục ngang tham chiếu (po-or) và điqua điểm ex
Tất cả các kích thước ngang đều được tính song song với trục ngang thamchiếu, còn các kích thước dọc được tính song song với trục dọc tham chiếu
2.2 Phân tích thẩm mỹ các đơn vị cấu trúc của mặt
Trang 30cấu trúc xương và mô mềm, vị trí, kích thước, tỉ lệ Sự khác nhau giữa cáckhuôn mặt chính là vị trí, kích thước, hình dạng và các góc tạo bởi xương, da,
mô mềm và các yếu tố khác như lông mày, mắt, má, mũi, môi và cằm Khiphân tích sự hài hòa của khuôn mặt nói riêng chúng ta cần bỏ qua hai yếu tố
vị này lại tiếp tục được chia thành các tiểu đơn vị (dưới đơn vị) Các dưới đơn
vị chính được xác định trong phân tích khuôn mặt là trán, mắt, mũi, môi, cằm,tai, và cổ Các đơn vị và dưới đơn vị được dựa trên độ dày của da, màu sắc,cấu trúc và các đường viền cấu trúc nằm dưới Để lên được kế hoạch phẫuthuật và tạo hình lại chính xác cần phải phân tích toàn bộ các đơn vị và dướiđơn vị này Đường rạch phải song song với nếp da ở trạng thái nghỉ và tronggiới hạn của đơn vị hoặc đường ranh giới giữa các dưới đơn vị để có sự lànhthương thẩm mỹ nhất
Trán
Giới hạn của trán là từ đường chân tóc cho tới Glabella và tạo nên tầngmặt trên Trán chiếm 1/3 trên của toàn bộ mặt, hình thể xương và các hoạtđộng của cơ có liên hệ mật thiết đến thẩm mỹ và chức năng của ổ mắt, mũi.Khi phân tích xương trán, cần phân tích 3 đặc trưng thẩm mỹ cơ bản của trán
Trang 31là: hình thể chung, độ dốc, hình thái của thành trên ổ mắt Độ rộng của tránkhoảng gấp đôi chiều cao của nó Giải phẫu của trán phù hợp thẩm mỹ nhấtvới dạng mặt hơi lồi? Góc trán-mũi là góc tạo bởi đường tiếp tuyến quaGlabella và nasion và đường thẳng tiếp tuyến với sống mũi Để đạt thẩm mỹgóc này có giá trị từ 1150- 1350.
Hai đơn vị khung xương nhỏ được đánh giá là thành trên ổ mắt vàxương trán Thành trên ổ mắt phối hợp với gờ trên ổ mắt và vùng Glabellaảnh hưởng lớn đến thẩm mỹ lông mày, mi trên và gốc mũi là cấu trúc nâng đỡtrực tiếp đối với các vùng này Hình thể của nó khác nhau về độ rộng với sựphát triển của xoang trán, ở nam thì góc cạnh hơn và nhô ra trước hơn ở nữ
1/3 trên trán chiếm vị trí phía trên của thành ổ mắt bao gồm các đườngđứng và ngang cong lồi nhẹ Gờ của hố thái dương thường có thể nhìn thấy và
sờ thấy được, được gọi là gờ thái dương và cũng là đường viền bên của trán.Đường chõn tóc xác định đường viền phía trên của trán khác nhau giữa cácphái, nam thường bị húi ở phớa trước và có thể thay đổi theo tuổi
Dù trán có thể được thay đổi hình thể bằng phẫu thuật với các quy trình
rõ ràng, nhưng với phần rất lớn các trường hợp, chúng ta nên đánh giá nó như
là một cấu trúc xương ổn định và rõ ràng để tham chiếu trong các quá trìnhtiến hành phân tích hình thể, hình khối và vị trí trong không gian với các cấutrúc khác như: mũi, phần giữa mặt, răng phía trước và cằm
Vùng thái dương, được xác định phía dưới bằng cung gò má, phía trướcbằng bờ sau của mẩu trán xương gò má và mẩu gò má xương trán, phía trênbởi bờ của hố thái dương, có thể thay đổi từ cong lõm nhẹ đến cong lồi nhẹphụ thuộc vào khối cơ thái dương và phần mỡ dưới da Hình thể và vị trí củađường tóc của vùng thái dương đóng vai trò quan trọng là đường biên thẩm
mỹ của phần ba trên mặt