1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận xét về thái độ xử trí ở sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ tại bệnh viện phụ sản hà nội trong năm 2006 và phân tích các loại chỉ định mổ

73 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 3,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đây theo quan niệm của sản khoa cổ điển vẫn cho đẻđờng âm đạo bằng các thủ thuật thì nay đã đợc chỉ định mổ lấy thai để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và con.. cũng đã góp phần phát hiện sớmn

Trang 1

đây (theo quan niệm của sản khoa cổ điển) vẫn cho đẻ

đờng âm đạo bằng các thủ thuật thì nay đã đợc chỉ

định mổ lấy thai để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và con

Sự có mặt của nhiều máy móc phơng tiện hiện đại (máysiêu âm, monitoring ) cũng đã góp phần phát hiện sớmnhững trờng hợp suy thai trong giai đoạn chuyển dạ, nhữngtrờng hợp này sau đó đã đợc chỉ định mổ lấy thai Bởi

Trang 2

vậy ngày nay mổ lấy thai đã đợc áp dụng rộng rãi trongngành sản khoa trên toàn thế giới

Bên cạnh đó việc tỷ lệ mổ lấy thai tăng cao hiện naycòn là kết quả của sự tác động từ các yếu tố xã hội nh: Đờisống ngày càng cao, chế độ dinh dỡng đầy đủ và hợp lý

đã làm tăng trọng lợng trẻ sơ sinh Số lợng con trong các gia

đình ít hơn nên họ thờng chọn việc MLT thay cho đẻ ờng dới

đ-Tuy nhiên việc tỷ lệ MLT cao cũng đặt ngành sảnkhoa trớc những khó khăn bởi thai nghén ở một tử cung cósẹo mổ đẻ cũ là một nguy cơ sản khoa Có thể có rấtnhiều biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra trong quá trìnhmang thai cũng nh khi chuyển dạ ví dụ nh vỡ tử cung Thái

độ đối với sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ khi mang thai cũng

nh việc tiên lợng cuộc đẻ khi chuyển dạ là khó khăn và phứctạp Thái độ xử trí trớc một thai phụ có sẹo mổ đẻ cũ làmột thách thức đòi hỏi ngời thày thuốc phải có chuyên môntốt để có thể có những chỉ định đúng, xác đáng và phùhợp với xu thế sản khoa hiện đại, với mục đích cuối cùng là

đảm bảo an toàn cho cả mẹ và con (vì trong thực tế tỷ lệtai biến do mổ lấy thai vẫn thờng xảy ra nhất là ở cáctuyến còn hạn chế về chuyên môn kỹ thuật)

Mặt khác trên các sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ bên cạnhnhững chỉ định mổ lấy thai mang tính tuyệt đối thì

đa số các chỉ định là mang tính tơng đối và phối hợp

Đây cũng là một vấn đề cần bàn luận để những chỉ

định mổ lấy thai là đúng với thực tiễn lâm sàng

Trang 3

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu hồi cứu các ờng hợp mổ lấy thai ở sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ trong năm

tr-2006 tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội nhằm mục đích:

1 Nhận xét về thái độ xử trí ở sản phụ có sẹo mổ

đẻ cũ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong năm 2006

và phân tích các loại chỉ định mổ lấy thai ở sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ.

2 Đề xuất một số giải pháp trong việc xử trí, can thiệp đối với thai phụ có sẹo mổ đẻ cũ.

Trang 4

Chơng 1 Tổng quan1.1 Sơ lợc về lịch sử mổ lấy thai

Khoảng những năm 730 trớc công nguyên vị Hoàng

đế La Mã Numa Pompillius (715 - 762 trớc công nguyên) đãban hành một sắc lệnh: Tất cả các bà mẹ đang mang thaikhi bị chết chỉ đợc chôn sau khi thai nhi đã đợc lấy ra khỏibụng mẹ Điều này chứng tỏ PTLT đã có từ rất lâu

Suốt một thời gian dài PTLT cũng không có gì tiến bộ.Mãi đến thế kỷ thứ XVI cuộc mổ lấy thai lần đầu tiên đợcthực hiện trên ngời sống (năm 1610), nhng ngời mẹ bị chếtsau phẫu thuật 25 ngày Cho đến năm 1794 mới có ca phẫuthuật đầu tiên thành công đã cứu sống đợc cả mẹ và contại bang Virginia của Mỹ Đầu tiên ngời ta thực hiện PTLTbằng rạch thân tử cung mà không khâu phục hồi cơ TC do

đó hầu hết các bà mẹ đều tử vong sau đó do chảy máu

và nhiễm trùng vì thời kì đó cha có kháng sinh Vào năm

1865, tỷ lệ tử vong mẹ ở Anh là 85%, ở áo 100%, ở Pháp90% Năm 1876, Eduardo Porro thực hiện thành công PTLTtiếp theo đó là cắt TC bán phần và khâu mép cắt tử cungvào thành bụng

Đến năm 1882, Max Sanger ngời Đức đã đa ra cáchphẫu thuật là rạch dọc thân tử cung để lấy thai sau đókhâu phục hồi lại cơ tử cung, đem lại kết quả khả quanhơn mà ngày nay đợc gọi là PTLT theo phơng pháp cổ

điển vẫn đợc áp dụng

Trang 5

Năm 1805, Osiander lần đầu tiên đã mô tả phẫu thuậtrạch dọc đoạn dới tử cung để lấy thai Nhng mãi đến đầuthế kỷ XX, năm 1906 Frank cải tiến phơng pháp củaOSiander và sau đó đợc áp dụng rộng rãi nhờ công củaWilliam và Delee và cũng chính ông là ngời đầu tiên sosánh đối chiếu với mổ dọc thân TC với mổ dọc đoạn dới TC

Đến năm 1926, Kerr đề xuất thay đổi kỹ thuật từrạch dọc đoạn dới TC sang rạch ngang đoạn dới tử cung đểlấy thai, đây là bớc thay đổi kĩ thuật quan trọng đem lạikết quả cao đã đợc áp dụng và phổ biến rộng rãi thịnhhành cho tới ngày nay

1.2 Các phơng pháp phẫu thuật lấy thai

1.2.1 Mổ thân tử cung

Đợc chỉ định trong các trờng hợp: PTLT kèm cắt TC nhphong huyết tử cung rau, mẹ suy tim, MLT lần trớc TC dínhvào thành bụng, bàng quang không thể bóc tách đợc, khối

u tiền đạo

Sau khi vào ổ bụng, tiến hành rạch dọc theo đờnggiữa và phía trớc tử cung 12 - 15 cm, lấy thai bằng cách

Trang 6

cung bằng gạc Khâu vết rạch thân tử cung bằng 2 lớp chỉ.Lớp thứ nhất có thể khâu hết lớp cơ để lại niêm mạc TChoặc khâu lớp cơ để lại niêm mạc và phúc mạc bằng cácmũi khâu rời cách nhau 1,5 cm Khâu lớp thứ 2 trùm lên lớpthứ nhất, nguyên tắc là không để khoảng trống giữa 2 lớp.Cuối cùng là đóng thành bụng sau khi đã kiểm tra vòi tửcung, buồng trứng 2 bên bình thờng và không còn sót gạc,dụng cụ trong ổ bụng.

1.2.2 Mổ đoạn dới tử cung lấy thai

Phần lớn các trờng hợp khi không có chỉ định mổthân thì mổ đoạn dới tử cung lấy thai Phúc mạc đoạn dớibóc tách dễ dàng và dùng để phủ kín lớp cơ đã khâu Lớpcơ và lớp phúc mạc khâu riêng rẽ Sẹo tử cung ở vùng eo sau

mổ sẽ thu lại rất nhỏ Về kỹ thuật: đờng rạch bụng có thểtheo đờng giữa trên rốn hay ngang trên vệ Sau khi vào ổbụng, đa TC về vị trí trung gian (TC thờng lệch sangphải) Tiến hành chèn gạc 2 bên rồi mở phúc mạc ở mặt trớc

đoạn dới TC phía trên bàng quang khoảng 3cm Bóc táchphúc mạc theo đờng ngang hơi cong lên trên ở hai đầu dàikhoảng 12 - 15 cm Rạch ngang đoạn dới TC bằng dao, rạchchính giữa chỗ vừa bóc tách phúc mạc Đờng rạch ngang dàikhoảng 4 - 5cm Rạch nhẹ nhàng, vừa rạch vừa kiểm tra đểtránh cắt phải thai Mở hẳn đoạn dới cho tới buồng ối vàthai nhi Rạch xong, dùng kéo cắt đoạn dới theo chiềungang cho tới 2 bờ phải và trái đủ để lấy thai (có thể cho 2ngón tay trỏ xé rộng vết mổ sang 2 bên) Đoạn dới thờng đ-

ợc mở rộng dài 12 - 15cm Sau khi lấy thai, rau, nớc ối và lausạch buồng tử cung, tiến hành khâu phục hồi đoạn dới Có

Trang 7

nhiều cách khâu: khâu một hay 2 lớp trừ niêm mạc TC.Kiểm tra không chảy máu, khâu phủ phúc mạc đã đợc bóctách bằng chỉ nhỏ Cuối cùng kiểm tra buồng trứng, vòi tửcung 2 bên, kiểm tra không còn sót gạc, dụng cụ trong bụngthì đóng thành bụng.

1.3 Sơ lợc tình hình MLT ở Việt nam và một số nớc

Do tình hình tử vong quá cao vì cha có kháng sinh

và hạn chế của gây mê hồi sức, nên trớc thế kỉ XX ngời ta

ít áp dụng phẫu thuật này Đến nửa đầu của thế kỷ XX, tỷ

lệ PTLT còn rất thấp, các nhà sản khoa vẫn nghiêng về cácthủ thuật đờng dới thậm chí cả việc hủy một thai đủ thángcòn sống để tránh một cuộc phẫu thuật cho mẹ trongnhững trờng hợp ối vỡ sớm trên 12 tiếng và những cuộcchuyển dạ kéo dài có nguy cơ nhiễm trùng bởi vì thời kì

đó cha có kháng sinh Chỉ từ khi phát minh ra kháng sinhPenicillin của Fleming vào năm 1940 thì tỉ lệ tử vong donhiễm trùng mới giảm đi, tiếp theo sự cải tiến và phát triểncủa phẫu thuật, phơng tiện vô khuẩn, sự tiến bộ của kĩthuật gây mê hồi sức, tiến bộ của huyết học truyền máu,

đã giảm hẳn đi nguy cơ tử vong mẹ của PTLT, tiên lợng củathai nhi đã tốt hơn nhiều

Chính vì vậy, PTLT ngày càng đợc áp dụng rộng rãi,các chỉ định PTLT ngày càng đợc mở rộng hơn

Những vấn đề nêu trên đợc chứng minh qua các bảngsau:

Trang 8

B¶ng 1.1: Tû lÖ PTLT ë ViÖt Nam

1956 NguyÔn Th×n BÖnh viÖn B¹ch Mai 0,96

1959 NguyÔn Th×n BÖnh viÖn B¹ch Mai 3,19

1964 §inh V¨n Th¾ng ViÖn BVBMTSS 9,68

1966 - 1970 TrÇn Phi LiÖt BÖnh viÖn Nam Hµ 6,8

1967 - 1970 TrÇn NhËt HiÓn BÖnh viÖn Hµ T©y 10,9

1995 - 1998 §inh V¨n Nh÷ BV Phô s¶n Nam §Þnh 21,44

1996 - 1998 Bïi Minh TiÕn BV Th¸i B×nh 25,60

1998 NguyÔn §øc Hinh ViÖn BVBMTSS 34,9

1999 - 2000 Bïi Quang TØnh ViÖn BVBMTSS 34,91

Trang 9

2002 Vơng Tiến Hòa Viện BVBMTSS 36,97

2004 Võ Thị Thu Hà BV PS Tiền Giang 31

2005 Phạm Thu Xanh BV PSTƯ 39,71

* số PTLT/TS đẻ

Trang 10

1972 Phipott & Castele Zimbawue 9,90

1973 Kwast & Rogerso Malani 12,30

1976 Patoks Era Huddinsge Thôy§iÓn 12,00

Trang 11

1982 Olivares Santiago Central Military

cã chiÒu híng t¨ng nhanh trong nh÷ng n¨m gÇn ®©y

Trang 12

1.3.1 Nghiên cứu ở nớc ngoài

- Olivares Morales AS và cs đã nghiên cứu về chỉ

định và các biến chứng của PTLT trong 2 năm ở khoa phụsản bệnh viện quân sự trung tâm Mexico [37] Kết quảthấy rằng tỷ lệ PTLT chung là 22,84%, trong đó tỷ lệ PTLT ởsản phụ có sẹo mổ đẻ cũ là 22,86% trong PTLT chung.Viêm nội tâm mạc là biến chứng chính sau PTLT Tỷ lệ PTLTtăng khoảng 1% mỗi năm trong suốt hai thập kỷ qua

- Borthen I và cs ở trờng Đại học Bergen Na-uy đãnghiên cứu tỷ lệ PTLT chung từ 1,9% (1967-1969) đến9,7% (1982-1984) [34] Tác giả cũng đã phân tích các chỉ

- Theo tác giả Cunningham [35] tỷ lệ PTLT ở Mỹ tăng lêngấp 4 lần trong vòng 2 thập kỷ 70 và 80 từ 4,5% năm 1965

đến 25% năm 1988, tác giả đã đa ra một số nguyên nhân

nh sau:

+ Số con của mỗi bà mẹ giảm

+ Càng ngày tuổi của các bà mẹ sinh đẻ càng cao mà

tỷ lệ MLT lại tăng theo tuổi

Trang 13

+ Việc sử dụng rộng rãi Monitoring theo dõi liên tụcnhịp tim thai càng làm tăng tỷ lệ MLT so với các ph-

ơng pháp theo dõi tim thai không liên tục

+ Tâm lý sợ kiện tụng của thày thuốc: Kiện tụng tănglên làm cho các bác sỹ ngại theo dõi đẻ đờng dới

+ Yếu tố kinh tế xã hội: Nhóm ngời có thu nhập cao có

tỷ lệ MLT cao hơn nhóm ngời có thu nhập trungbình và thấp

1.3.2 Một số nghiên cứu, tổng kết ở Việt Nam

Trang 14

1983

-1992 Nguyễn Tân Quang [23] PhòngBV Phụ Sản Hải 65,98

1992 Tạ Xuân Lan [14] Viện BVBMTSS 84,9

1993 Nguyễn Thị Thu Viên BV Phụ Sản Hà Nội 58,0

-1998 Bùi Minh Tiến [26] BV Thái Bình 86,0

1999 Bùi Quang Tỉnh [28] BV Phụ sản Trung Ương 93,93

2000 Bùi Quang Tỉnh [28] BV Phụ sản Trung Ương 93,56

2002 Vơng Tiến Hòa [33] BV Phụ sản Trung Ương 94,5

2000

-2002 Nguyễn Thị Thắm [24] BV Phụ sản Trung Ương 90,24

2005 Phạm Thu Xanh [32] BV Phụ sản Trung Ương 94,35

ở Việt Nam chúng ta từ trớc tới nay đã có nhiều nghiêncứu tổng kết về tình hình PTLT và PTLT ở sản phụ có sẹo

mổ đẻ cũ

* Tại Viện Bảo vệ Bà mẹ Trẻ sơ sinh (nay là Bệnh viện Phụ

sản Trung ơng)

Giáo s Đinh Văn Thắng [25] đã tổng kết tình hìnhPTLT trong năm 1964, tỷ lệ PTLT chung là 7,8%; trong đó tỷ

Trang 15

lệ PTLT ở sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ chiếm 18% Năm 1970,theo nghiên cứu của giáo s Dơng Thị Cơng tỷ lệ này là13,90%; từ năm 1974 đến 1992 tỷ lệ này đã lên đến 20 -25% [1] Theo Vũ Công Khanh năm 1997 tỷ lệ này là34,60% [13].

Về PTLT ở sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ, năm 1965 tỷ lệnày là 54,50% theo nghiên cứu của Huỳnh Quế Phơng [22],

đến năm 1991 theo tác giả Nguyễn Thìn thì tỷ lệ này là74,1%, năm 1995 - 1996 tăng lên đến 87,60% [27] Năm

1997, nghiên cứu của Vũ Công Khanh tỷ lệ này là 91,90%[13]

So sánh với tình hình PTLT ở một số bệnh viện kháctrong khu vực: Năm 1990 - 1994, theo nghiên cứu của TrầnKim Văn tại khoa sản bệnh viện đa khoa Hải Dơng tỷ lệPTLT chung là 10,62% và PTLT ở sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ

là 63,60% [30] Năm 1994 - 1997, theo tác giả Nguyễn Đức

Vy tỷ lệ PTLT chung là 16,62% và tỷ lệ PLTL ở sản phụ cósẹo mổ đẻ cũ là 86,90% [31] Theo tác giả Bùi Minh Tiến(1986 - 1998) bệnh viện Phụ sản Thái Bình tỷ lệ PTLTchung là 25,60% và tỷ lệ PTLT ở sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ

là 86,00% [26] Tác giả Đinh Văn Nhữ nghiên cứu tại BVPSNam Định 1995 - 1998 tỷ lệ PTLT chung là 21,44%; PTLT ởsản phụ có sẹo mổ đẻ cũ 91,80% [21] Nh vậy tỷ lệ PTLTchung và PTLT ở sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ đều tăng lêntrong những năm gần đây

Các nguyên nhân mổ lấy thai ở những sản phụ cósẹo mổ đẻ cũ đợc các tác giả đề cập đến trong các

Trang 16

Bảng 1.4: Tỷ lệ các chỉ định PTLT ở những sản phụ

có sẹo mổ đẻ cũ

Chỉ định MLT

Vũ Công Khanh [13]

1997

Bùi Quang Tỉnh [28]

1999 2000

-Nguyễn Thị Thắm [24]

2000 2002

Trang 17

và đau vết mổ có xu hớng ngày một tăng Những năm gần

đây xuất hiện chỉ định mổ lấy thai trên sản phụ có sẹo

mổ đẻ vì sản phụ xin mổ, và nhóm nguyên nhân nàycũng có xu hớng tăng lên

1.4 Nghiên cứu các can thiệp lấy thai ở sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ ở Việt Nam và một số nớc

1.4.1 Các nghiên cứu của nớc ngoài

O.Kentic J.Opalic và cộng sự [40] đã nghiên cứu 406sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ tại trung tâm thực hành sản phụkhoa Serbia, Belgrade, Yuogoslavia năm 1999 - 2000 đã lựachọn mổ chủ động 346 sản phụ (85,2%) còn lại 60 sản phụthử thách đờng âm đạo, kết quả thành công 32 trờng hợp(53,3%) đẻ đờng dới, còn lại mổ cấp cứu 28 trờng hợp(46,7%) nh vậy tỷ lệ mổ lại chung là 92,1%

Trang 18

Nghiên cứu về tỷ lệ đẻ đờng dới trên sản phụ có sẹo

mổ đẻ cũ của một nhóm nghiên cứu của bệnh viện phụsản Mercy - Melbourn Australia [43], nghiên cứu tiến hànhtrong 5 năm từ tháng 7/1992 đến 7/1997 trên tổng số

234015 sản phụ, trong đó có 21452 trờng hợp đã có trên 1lần mổ đẻ trớc đó, kết quả trong nhóm này: tỷ lệ đẻ đờng

ÂĐ 25,3%, vỡ tử cung 0,03%, trẻ chết 0,05%, phải cắt bỏ tửcung 0,05%

Thorkild F Nielsen và cộng sự [41] đã nghiên cứutrong số 1008 sản phụ trong số 2036 đã có tiền sử mổ lấythai để thử đẻ đờng âm đạo tỷ lệ thành công là 92,2%(từ 1978 - 1987) trong 10 năm Caris năm 1995 đã nghiêncứu 41 ca truyền Oxytoxin trên sản phụ có sẹo mổ đẻ thì

32 ca đẻ đờng dới đạt 78%, Covsan nghiên cứu 67 ca tỷ lệ

đẻ đờng dới đạt 69 % Tỷ lệ vỡ tử cung trong các nghiên cứunày từ 0,2 - 0,8%

1.4.2 Các nghiên cứu ở trong nớc

Theo nghiên cứu của tác giả Bùi Quang Tỉnh [28] tỷ lệ

đẻ đờng dới ở sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ năm 1999 là 6,07%

và năm 2000 là 6,44% Trong đó tất cả các trờng hợp đẻ ờng âm đạo đều đợc can thiệp bằng foxcep

đ-Theo Nguyễn Thị Thắm [24] nghiên cứu tại BV PSTƯtrong 3 năm 2000 - 2002, kết quả cho thấy tỷ lệ đẻ đờng

âm đạo của năm 2000 là 10% (trong đó 100% là đẻfoxcep), năm 2001 là 10,5% (trong đó có 15% đẻ tự nhiên

và 85% foxcep) và năm 2002 là 9% (trong đó 95,8% làfoxcep và 4,5% đẻ tự nhiên)

Trang 19

Theo Phạm Thu Xanh [32] nghiên cứu trong 2 thời

điểm là 1995 và 2005 thấy tỷ lệ đẻ đờng dới năm 1995 có9,4% (trong đó 94,48% là đẻ foxcep) và năm 2005 là5,65% (trong đó 96,05% là đẻ foxcep)

Trang 20

Chơng 2

Đối tợng phơng pháp nghiên cứu

2.1 Đối tợng và cỡ mẫu nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

Các bệnh án sản phụ có thai đủ tháng có sẹo mổ đẻ

cũ vào sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà nội từ 1/1/2006 đếnngày 31/12/2006

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

Sẹo tử cung do bóc nhân xơ, vỡ tử cung, thủng tửcung do nạo hút, phẫu thuật tạo hình tử cung

2.1.3 Cỡ mẫu

Trong đó:

 N là số sản phụ cần nghiên cứu

 p = 0,94 là tỷ lệ mổ lấy thai ở sản phụ có sẹo mổ đẻ

cũ theo các nghiên cứu trớc đây

 δ = 0,05

 = 1,96 với độ tin cậy là 95% ( = 0,05)

Trong nghiên cứu này chúng tôi chủ động lựa chọn cỡmẫu là tất cả các trờng hợp sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ vàoviện, sau đó loại ra những trờng hợp không đủ tiêu chuẩn.Kết quả thu thập đợc 1531 trờng hợp, nh vậy là đủ lớn

2.2 Phơng pháp nghiên cứu

 Nghiên cứu hồi cứu dựa trên hồ sơ bệnh án

 Thống kê tổng kết số liệu bằng chơng trình SPSS13.0, so sánh từ đó rút ra kết luận

Trang 21

2.3 Các nội dung nghiên cứu

 Tỷ lệ PTLT chung

 Tỷ lệ PTLT ở sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ

 Tỷ lệ đẻ đờng dới ở sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ

 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu:

+ Nhóm nguyên nhân do đờng sinh dục (tử cung,

Trang 22

+ Nhóm nguyên nhân do bệnh lý của mẹ và cácnguyên nhân khác.

2.4 Đạo đức nghiên cứu

Việc nghiên cứu đợc giám đốc Bệnh viện Phụ sản HàNội cho phép tiến hành nghiên cứu tại bệnh viện

Các thông tin về đặc trng cá nhân tiền sử sản phụkhoa của các đối tợng nghiên cứu đều đợc giữ bí mật Cácthông tin thu đợc chỉ sử dụng cho nghiên cứu, không đợc

sử dụng với bất kỳ mục đích nào khác Bệnh án nghiên cứu

đợc lu giữ cẩn thận và bí mật thông qua việc mã hóa cácthông tin

Trang 23

Chơng 3 Kết quả

Qua nghiên cứu tình tình xử trí trên sản phụ có sẹo

mổ đẻ cũ tại BVPSHN trong năm 2006 chúng tôi thu đợcnhững kết quả sau:

Trong tổng số 18508 sản phụ vào sinh con thì có

8000 trờng hợp PTLT (chiếm 43,22%), tỷ lệ đẻ đờng dới là56,78%

Có 1707 trờng hợp có sẹo mổ đẻ cũ Nh vậy tỷ lệ MLT

ở sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ trên tổng số mổ là 21,33%.Trong nghiên cứu này chúng tôi đã thu thập đợc 1531 bệnh

Nhận xét: Tỷ lệ mổ lấy thai là rất cao, gần nh tất cả

các trờng hợp có sẹo mổ đẻ cũ vào viện đều đợc mổ lấythai Có 2 trờng hợp đẻ đờng dới thì đều là đẻ foxcep

3.2 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Chỉ có 2 trờng hợp đẻ đờng dới vì vậy chúng tôi lựa chọn nghiên cứu mẫu là 1529 trờng hợp đợc mổ lấy thai.

3.2.1 Yếu tố về mẹ

Bảng 3.2: Tỷ lệ nhóm tuổi của mẹ

Nhóm tuổi Số SP Tỷ lệ %

Trang 24

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ PTLT theo các nhóm tuổi

Nhận xét: Độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là

30,8 ± 4,0 Nhóm tuổi có tỷ lệ cao nhất là nhóm 30 - 34tuổi, chiếm 46 % Bởi đối tợng nghiên cứu là các SP có sẹo

mổ cũ do đó lứa tuổi thờng gặp nhất khi sinh con thứ 2 là

từ 25 đến 39 tuổi Tỷ lệ này cũng phù hợp với các nghiêncứu trớc đây

Bảng 3.3: Tỷ lệ các nghề nghiệp của mẹ

Nghề nghiệp Số

SP Tỷ lệ %

Nông dân 130 8,5

Trang 25

Công nhân 131 8,6 Cán bộ 725 47,4 Nội trợ 522 34,1

Tự do 21 1,4 Tổng số 1529 100

Biểu đồ 3.2: Nghề nghiệp của các sản phụ

Nhận xét: Từ bảng số liệu ta thấy trong nhóm nghiên

cứu thì nhóm nghề nghiệp cán bộ chiếm tỷ lệ cao nhất(47,4%) Tuy nhiên nhóm nội trợ chiếm tỷ lệ cũng khá cao sovới các nghiên cứu khác, có thể đây là một đặc điểmriêng liên quan tới địa điểm nghiên cứu là thành phố HàNội, nên số lợng các bà mẹ không đi làm là lớn

Bảng 3.4: Nơi sinh sống của các sản phụ

Trang 26

Địa d Số SP Tỷ lệ %

Hà Nội 1305 85,3 Tỉnh khác 224 14,7 Tổng số 1529 100

Nhận xét: Tỷ lệ các bà mẹ sinh sống ở khu vực Hà Nội

chiếm 85,3%, tỷ lệ các bà mẹ sống ở ngoại tỉnh là 14,7%

Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ PTLT theo nơi sinh sống

Bảng 3.5: Tỷ lệ về số lần đã sinh trong nhóm nghiên

cứu

Số lần đã sinh Số SP Tỷ lệ %

Trang 27

3 10 0,7

Tổng số 1529 100

Nhận xét: Theo thống kê có 90,6% số sản phụ vào

sinh lần này là lần thứ 2, điều này là phù hợp vì hiện nayphần lớn các gia đình có 2 con, nhóm các sản phụ có sốlần đã sinh từ 2 lần trở lên chiếm 9,4%

Trang 28

3.2.2 Yếu tố của con

Bảng 3.6: Tỷ lệ PTLT theo ngôi thai

Nhận xét: Nhóm ngôi chỏm lớn nhất chiếm 95,35%.

Các nhóm ngôi thai khác chỉ chiếm 4,65% Trờng hợp ngôikhác duy nhất trong nghiên cứu của chúng tôi đó là ngôimặt

Bảng 3.7: Tỷ lệ PTLT theo tuổi thai

Nhận xét: Qua bảng số liệu có thể thấy nhóm sản phụ

có tuổi thai từ 38 tuần đến 42 tuần chiếm 72,4% Tuynhiên nhóm sản phụ không xác định đợc tuổi thai chiếmtới 21,8% là một tỷ lệ cao, liệu có phải công tác phổ biến

Trang 29

tuyên truyền còn cha tốt nên các bà mẹ còn cha có ý thức

về việc quản lý thai nghén và khám thai định kỳ

Trang 30

Bảng 3.8: Điểm APGAR sau 5 phút của trẻ sơ sinh

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ cân nặng của trẻ sơ sinh

Nhận xét: Trọng lợng trung bình của trẻ trong nhóm

nghiên cứu là 3243,2 ± 466,2 (gram) Trong đó, nhóm trẻ cótrọng lợng từ 3000 - 3500 gram chiếm tỷ lệ cao nhất

Trang 31

(42,8%) Chúng ta thấy rằng nhóm thai có trọng lợng >3500g chỉ chiếm 24,3%, còn lại là dới 3500g, thậm chí cótới 3,4% là nhẹ cân.

Bảng 3.9: Tỷ lệ PTLT theo thời điểm mổ

Thời điểm mổ Số ca Tỷ lệ %

Khi cha chuyển dạ 634 41,5

Trong chuyển dạ 895 58,5

Nhận xét: Tỷ lệ mổ chủ động khi cha chuyển dạ là tới

41,5%, trung bình cứ 10 trờng hợp có sẹo mổ đẻ cũ vàoviện thì có tới 4 trờng hợp đợc mổ chủ động Tỷ lệ mổ lấythai chủ động của nghiên cứu này là cao hơn so với cácnghiên cứu của Bùi Quang Tỉnh và Phạm Thu Xanh, sự khácbiệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

Trang 32

Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ MLT theo thời điểm mổ

Trang 33

3.3 Các chỉ định mổ lấy thai trên sản phụ có sẹo

Do thai và ngôi thai 393 18,5

Trang 34

Biểu đồ 3.6: Các nhóm nguyên nhân MLT

Trang 35

Mổ cũ 2 lần 57 2,7

Dị dạng âm đạo 4 0,19 Cơn co kém 3 0,14

Đầu không lọt 10 0,5 Song thai 2 0,1

Trang 36

Nguyªn nh©n kh«ng

Ngày đăng: 29/09/2019, 16:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w