Bình luận các giả thuyết nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc điểm, năng lực kinh doanh của doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HOÀNG LA PHƯƠNG HIỀN
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC ĐIỂM VÀ NĂNG LỰC KINH DOANH CỦA DOANH NHÂN ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ
VÀ VỪA TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ Ở THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HUẾ - NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HOÀNG LA PHƯƠNG HIỀN
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC ĐIỂM VÀ NĂNG LỰC KINH DOANH CỦA DOANH NHÂN ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ
VÀ VỪA TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ Ở THỪA THIÊN HUẾ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 9340101
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS TRƯƠNG TẤN QUÂN PGS.TS NGUYỄN TÀI PHÚC
HUẾ - NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận án được tổng hợp, phân tích và thực hiện một cách trung thực, phù hợp với bối cảnh thực tế
Nghiên cứu sinh
Hoàng La Phương Hiền
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Luận án này không thể thực hiện và hoàn thành nếu thiếu đi sự đóng góp quan trọng của các tổ chức và cá nhân Do đó, tôi vô cùng cảm kích và trân quý sự hỗ trợ và giúp đỡ tận tính của tất cả tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trương Tấn Quân và PGS.TS Nguyễn Tài Phúc là những người đã tận tâm hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các Thầy, Cô, Cán bộ Phòng Đào tạo sau Đại học; các Thầy cô, Anh chị em đồng nghiệp Khoa Quản trị kinh doanh Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế đã đặc biệt dành cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo và các anh chị tại Cục thuế, các Chi cục thuế, Hội doanh nghiệp, Hội doanh nhân trẻ, Cục thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế; và đặc biệt là các doanh nhân tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đã nhiệt tình đóng góp ý kiến, chia sẻ những thông tin, tư liệu hữu ích
để tôi có thể hoàn thành luận án
Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè thân thiết đã luôn động viên, ủng hộ và đồng hành cùng tôi trong suốt thời gian qua
Mặc dù bản thân đã nỗ lực hết mình nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế
và thiếu sót nhất định khi thực hiện luận án Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy giáo, Cô giáo, các nhà khoa học và bạn đọc gần xa
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận án
Hoàng La Phương Hiền
Hiền
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cám ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình ix
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Câu hỏi nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Đóng góp của luận án 5
6 Kết cấu của luận án 7
PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 9
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC ĐIỂM, NĂNG LỰC KINH DOANH CỦA DOANH NHÂN ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 9
1.1 Cơ sở lý thuyết về doanh nhân 9
1.1.1 Khái niệm về doanh nhân 9
1.1.2 Đặc điểm doanh nhân 10
1.1.3 Năng lực kinh doanh của doanh nhân 16
1.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ 24
1.2.1 Dịch vụ 24
1.2.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ 25
1.2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 28
1.3 Ảnh hưởng của đặc điểm, năng lực kinh doanh của doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 34
1.3.1 Ảnh hưởng của đặc điểm doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 34
1.3.2 Ảnh hưởng của năng lực kinh doanh của doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 39
1.4 Khoảng trống trong vấn đề nghiên cứu 46
Trang 61.4.1 Khoảng trống nghiên cứu về lý thuyết và phương pháp tiếp cận đặc điểm, năng
lực kinh doanh và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 46
1.4.2 Khoảng trống nghiên cứu về lý thuyết và phương pháp phân tích sự ảnh hưởng của đặc điểm, năng lực kinh doanh của doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 49
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA DOANH NHÂN, DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ Ở THỪA THIÊN HUẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 52
2.1 Khái quát về đặc điểm của doanh nhân và doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 52
2.1.1 Đặc điểm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 52
2.1.2 Đặc điểm của doanh nhân tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 56
2.2 Phương pháp nghiên cứu 57
2.2.1 Phương pháp tiếp cận và phân tích ảnh hưởng của của đặc điểm, năng lực kinh doanh của doanh nhân đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 57
2.2.2 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu của luận án 60
2.2.3 Nghiên cứu định tính 67
2.2.4 Nghiên cứu định lượng 71
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC ĐIỂM VÀ NĂNG LỰC KINH DOANH CỦA DOANH NHÂN ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ Ở THỪA THIÊN HUẾ 80
3.1 Kết quả khảo sát về đặc điểm doanh nhân và doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 80
3.1.1 Đặc điểm nhân chủng học của doanh nhân tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 80
3.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 81 3.2 Kiểm định thang đo các biến nghiên cứu 83
3.2.1 Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) 83
3.2.2 Phân tích nhân tố khẳng định (Confirmatory Factor Analysis - CFA) 83
Trang 73.3 Phân tích thực trạng đặc điểm tâm lý và năng lực kinh doanh của doanh nhân tại
các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 86
3.3.1 Đặc điểm tâm lý của doanh nhân tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 86
3.3.2 Năng lực kinh doanh của doanh nhân tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 89
3.4 Kết quả phân tích ảnh hưởng của đặc điểm, năng lực kinh doanh của doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 103
3.4.1 Kết quả phân tích ảnh hưởng của đặc điểm tâm lý, năng lực kinh doanh của doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 103
3.4.2 Kiểm định ước lượng mô hình bằng Boostrap 104
3.4.3 Bình luận các giả thuyết nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc điểm, năng lực kinh doanh của doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 104
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ HÀM Ý QUẢN TRỊ NÂNG CAO NĂNG LỰC KINH DOANH CỦA DOANH NHÂN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ Ở THỪA THIÊN HUẾ 121
4.1 Đối với năng lực định hướng chiến lược 122
4.2 Đối với năng lực phân tích - sáng tạo 123
4.3 Đối với năng lực tổ chức - lãnh đạo 125
4.4 Đối với năng lực thực hiện trách nhiệm xã hội 127
4.5 Đối với năng lực cam kết 128
4.6 Đối với năng lực thiết lập quan hệ 129
4.7 Đối với năng lực chuyên môn nghiệp vụ 130
4.8 Đối với năng lực cá nhân 130
4.9 Đối với năng lực nắm bắt cơ hội 131
4.10 Đối với năng lực học tập 131
PHẦN IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 134
1 Kết luận 134
2 Kiến nghị 136
2.1 Đối với Nhà nước 136
Trang 82.2 Đối với các cấp lãnh đạo của tỉnh, thành phố 137
2.3 Đối với các hiệp hội của tỉnh 138
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 140
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
PHỤ LỤC 151
PHỤ LỤC 1 152
PHỤ LỤC 2 170
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tổng hợp các khái niệm về doanh nhân 9 Bảng 1.2 Tổng hợp một số nhóm đặc điểm tâm lý doanh nhân 14 Bảng 1.3 Tổng hợp một số khái niệm về năng lực 17 Bảng 1.4 Tổng hợp các hành vi phản ánh trong từng nhóm năng lực kinh doanh
thành phần cấu thành năng lực kinh doanh của doanh nhân từ nhiều tác giả 19 Bảng 1.5 Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam 26 Bảng 1.6 Các khái niệm về kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 28 Bảng 1.7 Tổng hợp các chỉ tiêu đo lường kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp 29 Bảng 1.8 Tổng hợp các nội dung đo lường trong hệ thống đánh giá kết quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp 31 Bảng 1.9 Ảnh hưởng của một số đặc điểm tâm lý của doanh nhân đến kết quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp 37 Bảng 1.10 Tổng hợp một số nội dung và phương pháp nghiên cứu về mối quan hệ
giữa năng lực kinh doanh và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 46 Bảng 2.1 Số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa phân theo loại hình dịch vụ ở
Thừa Thiên Huế giai đoạn 2013 - 2016 52 Bảng 2.2 Đặc điểm của các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế
năm 2016 53 Bảng 2.3 Qui mô vốn, lao động và kết quả hoạt động kinh doanh của các DNNVV
trong lĩnh vực dịch vụ phân theo ngành nghề kinh doanh trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2016 55 Bảng 2.4 Đặc điểm của đội ngũ doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch
vụ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2016 56 Bảng 2.5 Nhận diện phương pháp phân tích ảnh hưởng của đặc điểm, năng lực
kinh doanh của doanh nhân đến kết quả kinh doanh của DNNVV 57 Bảng 2.6 Bảng phân bố tỷ lệ cỡ mẫu cần điều tra theo ngành dịch vụ 72 Bảng 3.1 Đặc điểm nhân chủng học của doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh
vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế theo kết quả điều tra năm 2018 80
Trang 10Bảng 3.2 Qui mô và cơ cấu DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn Thừa
Thiên Huế theo loại hình, lĩnh vực hoạt động, qui mô lao động và địa bàn hoạt động theo kết quả điều tra năm 2018 82 Bảng 3.3 Các chỉ số đánh giá sự phù hợp của mô hình cấu trúc bậc 2 của các khái
niệm nghiên cứu 84 Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả phân tích và đo lường mô hình cấu trúc bậc 2 cho các
biến nghiên cứu 85 Bảng 3.5 Đánh giá giá trị phân biệt cho thang đo các biến nghiên cứu 86 Bảng 3.6 Tổng phương sai rút trích (AVE) của các khái niệm và ma trận tương
quan giữa các khái niệm 86 Bảng 3.7 Kết quả phân tích ảnh hưởng của đặc điểm, năng lực kinh doanh của
doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 103 Bảng 3.8 Kiểm định phân phối chuẩn cho các biến nghiên cứu 107 Bảng 3.9 Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo các nhóm đặc điểm
nhân chủng học của doanh nhân 108 Bảng 3.10 Năng lực kinh doanh của doanh nhân theo các nhóm đặc điểm nhân
chủng học 113
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình Năng lực cá nhân (ASK) 16 Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu 67 Hình 2.2 Mô hình phân tích mức độ quan trọng và thực hiện (Importance –
Performance Analysis – IPA) 78 Hình 3.1 Đặc điểm tâm lý của doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ
ở Thừa Thiên Huế 86 Hình 3.2 Đánh giá tầm quan trọng và mức độ đáp ứng về năng lực kinh doanh của
doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 90 Hình 3.3 Kết quả phân tích tầm quan trọng và mức độ đáp ứng của các nhóm năng
lực kinh doanh thành phần theo mô hình IPA (Importance – Performance Analysis) 91 Hình 3.4 Đánh giá tầm quan trọng và mức độ đáp ứng về năng lực định hướng
chiến lược của doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 92 Hình 3.5 Đánh giá tầm quan trọng và mức độ đáp ứng về năng lực phân tích –
sáng tạo của doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 95 Hình 3.6 Đánh giá tầm quan trọng và mức độ đáp ứng về năng lực tổ chức - lãnh
đạo của doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ trên ở Thừa Thiên Huế 95 Hình 3.7 Đánh giá tầm quan trọng và mức độ đáp ứng về năng lực thực hiện trách
nhiệm xã hội của doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 97 Hình 3.8 Đánh giá tầm quan trọng và mức độ đáp ứng về năng lực cam kết của
doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 98 Hình 3.9 Đánh giá tầm quan trọng và mức độ đáp ứng về năng lực thiết lập quan
hệ của doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 99 Hình 3.10 Đánh giá tầm quan trọng và mức độ đáp ứng về năng lực chuyên môn
nghiệp vụ của doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 99
Trang 12Hình 3.11 Đánh giá tầm quan trọng và mức độ đáp ứng về năng lực cá nhân của
doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 101 Hình 3.12 Đánh giá tầm quan trọng và mức độ đáp ứng về năng lực nắm bắt cơ hội
của doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 101 Hình 3.13 Đánh giá tầm quan trọng và mức độ đáp ứng về năng lực học tập của
doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế 102
Trang 13DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASK Thái độ - Kỹ năng – Kiến thức Attitude - Skill -
DN Doanh nghiệp
DNNVV Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa
DM Xu hướng đổi mới
DTPT Đào tạo phát triển
EFA Phân tích nhân tố khám phá Exploratory Factor
Analysis HDDN Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp DHCL Định hướng chiến lược
KH Khách hàng
KSNT Kiểm soát nội tại
NLDN Năng lực kinh doanh của doanh nhân
Alfa Hệ số Cronbach’s Alpha
AVE Tổng phương sai rút trích Average Variance Extract
Trang 14PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, đặc biệt là các địa phương miền Trung, các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ được xem là động lực then chốt cho tăng trưởng kinh tế, tăng cơ hội việc làm, tăng nguồn thu ngân sách, đẩy mạnh xuất khẩu và tạo ra sự bùng nổ năng
suất địa phương và quốc gia Số liệu cục thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế (2017) [1] cho
thấy trong năm 2016, toàn tỉnh có đến gần 64% số doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa đang hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ Tổng vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này trên địa bàn năm 2016 đạt gần 14.059 tỷ đồng, tổng doanh thu đạt 21.518 tỷ đồng Các doanh nghiệp này đã nộp ngân sách gần 1.023 tỷ đồng, trong tổng thu ngân sách ước đạt 5.048,9 tỷ đồng của tỉnh Ngoài ra, đã giải quyết việc làm cho 21.250 lao động, trong đó các doanh nghiệp trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy
và xe có động cơ khác; dịch vụ lưu trú và ăn uống; vận tải kho bãi đóng vai trò tích cực nhất cho quá trình giảm bớt áp lực về tỷ lệ thất nghiệp, đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều vùng địa lý và nhiều đối tượng lao động ở vùng sâu vùng xa
Với đặc thù nhỏ bé về quy mô, có đến 79,71% doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ trong tổng số các doanh nghiệp dịch vụ ở Thừa Thiên Huế nên các doanh nhân tại các doanh nghiệp này đồng thời vừa là người chủ vừa trực tiếp tham gia vào hoạt động điều hành quản lý doanh nghiệp Thực tế quản lý tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa này phản ánh tính tập quyền cao, hầu như mọi quyền ra quyết định đều tập trung trong tay người chủ doanh nghiệp Do đó, kết quả hoạt động kinh doanh, sự thành bại của các doanh nghiệp này chịu sự chi phối rất lớn từ phía doanh nhân
Các nghiên cứu trước đây về doanh nhân và doanh nghiệp cũng chỉ ra được những kết quả tương tự khi cho rằng năng lực kinh doanh và một số đặc điểm cá nhân khác của doanh nhân được xem như yếu tố tài sản vô hình, quý giá không chỉ với bản
được của doanh nghiệp phải kể đến vai trò và sự cống hiến của các doanh nhân - người được xem là chủ thể của tiến trình khởi nghiệp và kinh doanh
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một nghiên cứu thực nghiệm nào xây dựng và phát triển thang đo đa chiều với các năng lực kinh doanh thành phần phù hợp để đo lường năng lực kinh doanh của đội ngũ doanh nhân trong lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn
tỉnh Thừa Thiên Huế [32] Các nhóm năng lực kinh doanh thành phần cấu thành năng
Trang 15lực kinh doanh chung của doanh nhân trong các tài liệu nghiên cứu liên quan rất đa
dạng và chưa thống nhất [141] Hầu hết các thang đo năng lực kinh doanh đều được
nghiên cứu và phát triển trong bối cảnh xã hội phương Tây trong khi đó, Pearson và
Chatterjee (2001) [112] cho rằng năng lực kinh doanh của doanh nhân chịu sự chi phối
bởi một số điều kiện và hoàn cảnh nghiên cứu như văn hóa quốc gia, văn hóa doanh nghiệp, môi trường kinh doanh… Bên cạnh đó, hầu hết các mô hình năng lực kinh doanh được xây dựng và phát triển vào những năm 90 trong bối cảnh đặc thù của điều
kiện kinh tế, chính trị, xã hội… vào thời kỳ này Theo Iverson (2000) [76] sẽ không
còn phù hợp nếu vẫn tiếp tục sử dụng các mô hình năng lực kinh doanh trước đó để đánh giá năng lực kinh doanh của doanh nhân thế kỷ 21 Tương tự, Temtime và
Pansiri (2005) [141] cho rằng trước bối cảnh các biến số môi trường kinh doanh ngày
càng trở nên phức tạp, áp lực cạnh tranh ngày càng khốc liệt nên có sự phát triển và
mở rộng các nhóm năng lực kinh doanh cho phù hợp với hơi thở của thời đại Điều này đòi hỏi luận án cần có sự kế thừa và phát triển thang đo đa chiều với một số năng lực kinh doanh thành phần mới cần bổ sung để đo lường năng lực kinh doanh mang tính chất đặc thù của đội ngũ doanh nhân trong lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Ngoài cách tiếp cận xã hội học, phương pháp tiếp cận tâm lý học cũng được sử dụng và khai thác các yếu tố xúc cảm, nhận thức, động cơ, nhân cách như các tiền tố của hành vi kinh doanh nên có thể giúp phản ánh trọn vẹn hơn bức chân dung của
doanh nhân trong quá trình hoạt động kinh doanh của họ [83] Tuy nhiên, phương
pháp tiếp cận tâm lý, đặc biệt là tâm lý kinh doanh chưa được các nghiên cứu sử dụng phổ biến như phương pháp tiếp cận xã hội học Trong khi đó, không dễ để xây dựng thang đo đa chiều phù hợp để đo lường đặc điểm tâm lý doanh nhân bởi vì có quá nhiều đặc điểm tâm lý thành phần được các tác giả phân tích trong các nghiên cứu
khác nhau [71] Đặc biệt, khai thác những đặc điểm tâm lý này đang là xu thế nghiên cứu phổ biến hiện nay về doanh nhân, doanh nghiệp và kinh doanh [83] Do đó, việc
xây dựng một thang đo đa chiều với các nhóm đặc điểm tâm lý thành phần phù hợp để đánh giá đặc điểm tâm lý doanh nhân có tính cấp thiết cao trong luận án này
Ngoài ra, để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì việc chỉ
sử dụng các chỉ tiêu tài chính không đảm bảo được sự cân bằng lợi ích giữa các đối tác bên trong và bên ngoài, giữa mục tiêu ngắn hạn và chiến lược lâu dài, giữa các phương
diện hoạt động của doanh nghiệp [80] Dù rằng các chỉ tiêu phi tài chính đã bắt đầu
Trang 16nhận được sự quan tâm của một số nghiên cứu gần đây nhưng vẫn còn rất hạn chế và chỉ có một số ít nghiên cứu sử dụng kết hợp đồng thời cả 2 nhóm chỉ tiêu trên để đo
lường kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp [20] Do đó, Kaplan và Norton (1993) [80] cho rằng việc phát triển thang đo đa chiều để đo lường kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp dựa trên sự kết hợp đồng thời chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, cân bằng được các phương diện hoạt động của doanh nghiệp là rất cần thiết
Nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm, năng lực kinh doanh của doanh nhân và
kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, Man (2001) [96], Ahmad (2007)
[16], Zoysa & Herath (2007) [158] và một số tác giả khác đã kiểm chứng sự ảnh hưởng riêng lẻ hoặc của đặc điểm doanh nhân, hoặc của năng lực kinh doanh của doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc đồng thời kiểm chứng sự tác động của đặc điểm doanh nhân (đặc điểm nhân chủng học, đặc điểm tâm lý) và năng lực kinh doanh của doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn chưa phổ biến mặc dù hướng nghiên cứu này sẽ giúp mô
tả trọn vẹn bức chân dung của doanh nhân và giải thích tốt hơn vai trò của doanh nhân
trong việc tạo ra kết quả kinh doanh của doanh nghiệp [96]
Thực tiễn kinh doanh cho thấy, bên cạnh những thành công đạt được thì việc nhận diện được những khoảng trống còn thiếu hụt về đặc điểm, năng lực kinh doanh của đội ngũ doanh nhân tại các doanh nghiệp dịch vụ có quy mô nhỏ và vừa trên địa bàn Thừa Thiên Huế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Điều này giúp họ có được góc nhìn tổng hợp hơn về viễn cảnh kinh doanh và có sự chuẩn bị tốt hơn về hành trang tri thức, kỹ năng và thái độ khi khởi nghiệp và trong quá trình vận hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để đạt được thành quả cao
Từ những phân tích trên, nghiên cứu “Ảnh hưởng của đặc điểm và năng lực kinh
doanh của doanh nhân đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế” được lựa chọn bởi nó có tính cấp thiết cả
về mặt lý luận và thực tiễn trong bối cảnh kinh doanh của đội ngũ doanh nhân và doanh nghiệp dịch vụ có quy mô nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung của luận án là phân tích và đánh giá ảnh hưởng của đặc điểm và năng lưc kinh doanh của doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế và đề xuất một
số hàm ý quản trị nhằm nâng cao năng lực kinh doanh của đội ngũ doanh nhân trên địa bàn nghiên cứu
Trang 17Để đạt được mục tiêu này luận án hướng đến các mục tiêu cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và làm rõ khung lý thuyết để đo lường và đánh giá đặc điểm, năng lực kinh doanh của doanh nhân, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và sự ảnh hưởng của những yếu tố trên đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Đánh giá đặc điểm, mức độ quan trọng và khả năng đáp ứng đối với từng nhóm năng lực kinh doanh thành phần của doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
- Kiểm chứng và phân tích sự ảnh hưởng đồng thời của đặc điểm, năng lực kinh doanh của doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn nghiên cứu
- Ðề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao năng lực kinh doanh của doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
3 Câu hỏi nghiên cứu
Nhằm giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đặt ra, một số câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
- Lý thuyết/ khung nghiên cứu nào phù hợp để đo lường đặc điểm, năng lực kinh doanh của doanh nhân, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và ủng hộ cho mối quan hệ giữa đặc điểm, năng lực kinh doanh của doanh nhân và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp?
- Đặc điểm, mức độ quan trọng và khả năng đáp ứng đối với từng nhóm năng lực kinh doanh thành phần của doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế như thế nào?
- Đặc điểm và năng lực kinh doanh của doanh nhân có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn nghiên cứu?
- Làm thế nào để nâng cao năng lực kinh doanh của doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian tới?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm, năng lực kinh doanh của doanh nhân và sự ảnh hưởng của các yếu tố này đến kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 184.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt nội dung:
Luận án nghiên cứu đặc điểm doanh nhân, năng lực kinh doanh của doanh nhân, mối quan hệ giữa đặc điểm, năng lực kinh doanh của doanh nhân và kết quả hoạt động kinh doanh của các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Trong đó:
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ được phân loại theo tiêu thức về quy mô lao động theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính Phủ
- Doanh nhân trong phạm vi luận án này là chủ doanh nghiệp và tham gia trực tiếp vào hoạt động điều hành, quản lý doanh nghiệp
- Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Firm Perfomance) được đo lường và phản ánh thông qua chỉ tiêu kết quả và hiệu quả nhưng trong phạm vi của luận án này hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu, giới hạn và tiếp cận ở góc độ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Luận án chỉ tập trung phân tích sự ảnh hưởng của đặc điểm và năng lực kinh doanh của doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do đó, mối quan hệ giữa đặc điểm tâm lý của doanh nhân và năng lực kinh doanh của doanh nhân
sẽ không được giải quyết trong luận án
Về mặt không gian: Luận án thu thập dữ liệu về đội ngũ doanh nhân và
DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Về mặt thời gian: Dữ liệu thứ cấp trong giai đoạn 2013 – 2016 được thu thập để
phục vụ cho mục đích nghiên cứu Dữ liệu sơ cấp được thu thập và phân tích trong
khoảng thời gian 2017-2018, hệ thống các hàm ý quản trị đề xuất đến năm 2025
5 Đóng góp của luận án
Về mặt lý luận: Luận án này đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung những
tri thức mới vào hệ thống lý luận liên quan đến vấn đề khởi nghiệp và kinh doanh ở
Việt Nam Cụ thể là:
Luận án đã tổng hợp, bổ sung và làm rõ các khái niệm nghiên cứu, khung lý thuyết về doanh nhân, đặc điểm doanh nhân, năng lực kinh doanh của doanh nhân, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và mối quan hệ giữa các khái niệm nghiên cứu này Trên cở sở kế thừa các nghiên cứu trước đây, tác giả đã xây dựng và phát triển thang đo đa chiều để đo lường đặc điểm, năng lực kinh doanh của doanh nhân và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong đó:
Trang 19- Thang đo năng lực kinh doanh của doanh nhân được bổ sung 2 nhóm năng lực kinh doanh thành phần mới để để phù hợp với bối cảnh hoạt động của doanh nhân tại các doanh nghiệp dịch vụ có quy mô nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Thang đo năng lực kinh doanh của doanh nhân ngoài 8 nhóm năng lực kinh doanh thành phần (Năng lực định hướng chiến lược, năng lực cam kết, năng lực phân tích - sáng tạo, năng lực học tập, năng lực nhận thức cơ hội, năng lực tổ chức – lãnh đạo, năng lực thiết lập quan hệ, năng lực cá nhân) được tổng hợp từ các nghiên cứu liên quan thì năng lực thực hiện trách nhiệm xã hội và năng lực chuyên môn nghiệp vụ được tác giả đề xuất bổ sung vào thang đo này Do đó, thang đo năng lực kinh doanh của doanh nhân được phát triển từ luận án vừa phản ánh tính đặc thù của các doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế vừa có tính tổng hợp và cập nhật cao
- Luận án cũng đã phát triển thang đo đa chiều để đo lường đặc điểm tâm lý của doanh nhân với sự cấu thành của các nhóm các đặc điểm tâm lý thành phần có tính đại diện cho doanh nhân như: Nhu cầu thành đạt, xu hướng chấp nhận rủi ro, xu hướng đổi mới, xu hướng kiểm soát nội tại
- Thang đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng được tiếp cận
đa chiều gồm 4 phương diện: Tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, học tập – phát triển Thông qua 4 phương diện này, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá một cách toàn diện hơn cả về chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, đảm bảo được sự cân bằng giữa mục tiêu chiến lược và mục tiêu trước mắt, giữa các phương diện hoạt động của doanh nghiệp, giữa lợi ích của các đối tác hữu quan bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
Luận án đã tìm ra được những bằng chứng thống kê thuyết phục về sự ảnh hưởng đồng thời của đặc điểm, năng lực kinh doanh của doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế từ việc khảo sát 418 doanh nhân Đây là một đóng góp quan trọng của luận án giúp mô tả trọn vẹn bức chân dung của doanh nhân và giải thích tốt hơn vai trò của doanh nhân trong việc tạo ra kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Về mặt thực tiễn:
Đối với doanh nhân:
Luận án đã làm rõ được nhiều vấn đề thực tiễn liên quan đến đặc điểm doanh nhân, mức độ quan trọng và khả năng đáp ứng của từng nhóm năng lực kinh doanh thành phần
Trang 20của doanh nhân tại các doanh nghiệp dịch vụ có quy mô nhỏ và vừa ở Thừa Thiên Huế
Từ đó các doanh nhân và những người khởi nghiệp có được góc nhìn tổng hợp hơn về viễn cảnh kinh doanh và có sự chuẩn bị hành trang tri thức, kỹ năng và thái độ phù hợp khi khởi nghiệp kinh doanh và chinh phục các rào cản kinh doanh trên thương trường để đạt được thành quả cao trong kinh doanh
Luận án cũng đã đề xuất được các hàm ý quản trị quan trọng và phù hợp giúp các doanh nhân và những người khởi nghiệp có cơ sở đáng tin cậy để hoàn thiện hơn về năng lực kinh doanh, phát huy tốt hơn những lợi thế từ đặc điểm cá nhân và nâng cao kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Đối với nhà nghiên cứu khoa học, các viện và trung tâm đào tạo:
Đề tài là một tài liệu tham khảo bổ ích cho các nhà nghiên cứu khoa học, các giảng viên và sinh viên quan tâm đến chủ đề khởi nghiệp bởi vì rất nhiều các vấn đề lý luận và thực tiễn còn rất mới mẻ và hấp dẫn ở Việt Nam liên quan đến doanh nghiệp, doanh nhân, vai trò của doanh nhân đối với kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tổng hợp trong luận án này
Dựa vào kết quả của luận án, các viện, trung tâm đào tạo và trường đại học sẽ có những định hướng thiết kế nội dung chương trình đào tạo, xây dựng chuẩn đầu ra cho các học phần khởi sự doanh nghiệp phù hợp hơn với nhu cầu của nhà tuyển dụng, người học và xã hội
Đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách:
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là cơ sở đáng tin cậy giúp các nhà quản lý và hoạch định chính sách tại các sở ban ngành ban hành các chủ trương, chính sách phù hợp, thiết thực giúp hoàn thiện năng lực kinh doanh cho đội ngũ doanh nhân và nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng và cả nước nói chung trong thời gian tới
6 Kết cấu của luận án
Nội dung chính của luận án được kết cấu như sau:
Phần I Mở đầu Phần II Nội dung và kết quả nghiên cứu
Chương 1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu ảnh hưởng của đặc điểm, năng lực kinh doanh của doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chương 2 Đặc điểm của đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế và phương pháp nghiên cứu
Trang 21Chương 3 Kết quả phân tích sự ảnh hưởng của đặc điểm và năng lực kinh doanh của doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế
Chương 4 Một số hàm ý quản trị nâng cao năng lực kinh doanh của doanh nhân tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế
Phần III Kết luận và kiến nghị
Trang 22PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC ĐIỂM, NĂNG LỰC KINH DOANH CỦA DOANH NHÂN ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý thuyết về doanh nhân
1.1.1 Khái niệm về doanh nhân
Ahmad (2007) [16] cho rằng vẫn còn nhiều khác biệt trong các khái niệm về
doanh nhân và không có một khái niệm nào được xem là hoàn hảo để phản ánh đầy đủ chân dung của một doanh nhân bởi sự đa dạng và phức tạp trong chức năng và nhiệm
vụ mà một doanh nhân phải thực hiện trên con đường khởi nghiệp Một số tác giả thì cho rằng sự đa dạng trong các định nghĩa là để mô tả một cách đầy đủ những phẩm
chất mà một doanh nhân cần có trong tiến trình kinh doanh [22] Khái niệm doanh
nhân được phản ánh ở bảng 1.1 dựa trên các quan điểm và cách tiếp cận khác nhau của nhiều tác giả
Bảng 1.1 Tổng hợp các khái niệm về doanh nhân
Khái niệm doanh nhân Nguồn
Doanh nhân là người mua các yếu tố đầu vào ở một mức giá cụ thể rồi thông
qua quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm và bán ra thị trường với những
mức giá khác nhau dựa trên cơ sở chi phí sản xuất
Cantillon (1755)
[42]
Doanh nhân là người đổi mới, năng động, biết tạo dựng sự nghiệp kinh
doanh và tận dụng cơ hội làm bệ đỡ cho những ý tưởng mới mẻ
Doanh nhân là người sáng tạo nên cái mới, sự khác biệt, họ thay đổi giá trị…
và nhận thấy rằng sự thay đổi là một điều hiển nhiên
Drucker (1985) [54]
Doanh nhân là người chấp nhận rủi ro liên quan đến sự không chắc chắn,
người cung cấp tài chính, người cải tiến, người ra quyết định, nhà lãnh đạo,
nhà quản trị, người tổ chức và kết hợp nguồn lực kinh tế, là chủ của doanh
nghiệp, là người tập hợp các yếu tố phục vụ sản xuất, nhà thầu, nhà đầu cơ,
người điều phối nguồn lực
Hébert & Link
(1989) [66]
Doanh nhân là người sáng tạo, người đổi mới, người tạo ra sự thay đổi và
cũng là người có năng lực nhận diện các cơ hội và tổ chức nguồn lực để đạt
được mục tiêu
O' Connor & Fiol
(2002) [109]
Doanh nhân là người có thói quen sáng tạo và cải tiến để tạo dựng điều gì đó
trên cơ sở của việc nhận thức những cơ hội có giá trị xung quanh
Bolton & Thompson
(2004) [34]
Trang 23Doanh nhân là người tham gia vào tiến trình khởi sự kinh doanh trong bối
cảnh phải luôn đương đầu với rủi ro và sự không chắc chắn nhằm đạt được
lợi nhuận và sự tăng trưởng thông qua việc xác định được những cơ hội quan
trọng và huy động những nguồn lực cần thiết
Zimmerer &
Scarborough (2005) [157]
Doanh nhân là người chủ của doanh nghiệp và làm công việc quản trị trong
doanh nghiệp Họ là những người có năng khiếu đặc biệt về kinh doanh, có
kỹ năng đặc biệt về kinh doanh, có kinh nghiệm phong phú để ứng dụng
trong kinh doanh
Hoàng Văn Hoa
(2010) [4]
(Nguồn: Tổng hợp bởi tác giả)
Rõ ràng, mỗi nhóm tác giả có những cách định nghĩa khác nhau về doanh nhân nhưng điểm chung lớn nhất giữa các khái niệm này đều cho rằng doanh nhân là người kết hợp các yếu tố sản xuất và tổ chức quá trình sản xuất, kinh doanh để tạo ra giá trị mới cao hơn, không phân biệt hình thức sở hữu, loại hình và quy mô kinh doanh Họ cũng là những người dám chấp nhận rủi ro và là người đổi mới sáng tạo
Từ những phân tích trên, trong phạm vi luận án này để phù hợp với đặc trưng của
doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nhân được hiểu là người chủ, tham gia quản lý và điều
hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục tiêu lợi nhuận; phải luôn đương đầu với rủi ro và sự không chắc chắn trong tiến trình kinh doanh để đạt được sự tăng trưởng; đồng thời họ cũng phải là người gắn liền với quá trình sáng tạo và đổi mới
để thành công trên cơ sở của việc nhận thức những cơ hội kinh doanh có giá trị
1.1.2 Đặc điểm doanh nhân
1.1.2.1 Khái niệm đặc điểm doanh nhân
Theo từ điển Oxford cho người học nâng cao [147], đặc điểm cá nhân là những
nét đặc trưng hoặc là phẩm chất của một người nào đó
Từ sự kết hợp của định nghĩa về đặc điểm cá nhân trong từ điển Oxford cho
người học nâng cao [147] và những quan niệm về doanh nhân thì đặc điểm doanh
nhân được xem như là những nét đặc trưng hoặc là phẩm chất thuộc về doanh nhân
1.1.2.2 Phân loại đặc điểm doanh nhân
Phương pháp tiếp cận đặc điểm cá nhân được đánh giá là phổ biến trong các nghiên cứu về doanh nhân và khởi nghiệp kinh doanh Phương pháp này cho rằng một
số đặc điểm cá nhân sẽ giúp tạo ra sự khác biệt giữa doanh nhân và các đối tượng khác Trong phương pháp phân tích đặc điểm cá nhân, phương pháp tiếp cận xã hội học và phương pháp tâm lý học được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về chủ đề này Theo các phương pháp này có các nhóm đặc điểm cơ bản sau:
Trang 24a Đặc điểm nhân chủng học
Nhóm đặc điểm này bao gồm: tuổi tác, nền tảng gia đình, giới tính, kinh nghiệm
công việc, trình độ học vấn Những đặc trưng này sẽ ảnh hưởng đến ý định và hành vi
kinh doanh của doanh nhân cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Tuổi tác
Tuổi tác được sử dụng như một trong những biến số quan trọng trong nghiên cứu khoa học xã hội đương đại để phân loại và giải thích sự khác biệt trong hành vi và ý định kinh doanh giữa các cá nhân Tuổi tác tăng lên kéo theo là sự tích lũy của kỹ năng, kiến thức và một số phẩm chất cá nhân khác Khi người ta già đi thì ý định khởi
nghiệp có xu hướng giảm dần [139] Ở các nước phát triển, độ tuổi khởi nghiệp phổ
biến từ 25-34, trong khi đó ở các nước đang phát triển thì độ tuổi từ 35-44 lại phổ biến
[35] Ở Việt nam, theo báo cáo chỉ số khởi nghiệp Việt Nam (2015) của VCCI (2016) [15], nhóm người khởi nghiệp ở độ tuổi 25-34 là phổ biến nhất ở Việt Nam (chiếm
18%), xếp thứ hai là nhóm người ở tuổi 35-44 (chiếm 16%) và tiếp đến là nhóm tuổi 18-24, 45-54 và 55-65 chiếm tỷ lệ lần lượt là 13%, 8%, 8% trong tổng số 2000 người tham gia khảo sát Đây cũng là một thực trạng chung về độ tuổi khởi nghiệp kinh doanh trên thế giới, riêng đối với nhóm người ở độ tuổi 45-54 xếp thứ 3 nhưng nhóm tuổi này lại có tỷ lệ thấp nhất trong bối cảnh khởi nghiệp Việt Nam Ngoài ra, tổ chức này cho thấy rằng so với nhóm doanh nhân từ trung niên trở lên 35-64 thì nhóm doanh nhân trẻ tuổi từ 18-34 nhạy bén hơn với các cơ hội kinh doanh, có ý định khởi nghiệp cao hơn, dám mạo hiểm hơn trong kinh doanh, tuy nhiên lại non kém hơn về năng lực kinh doanh
Nền tảng gia đình
Gia đình có truyền thống kinh doanh được xem là bệ đỡ đầu tiên, là nguồn động viên khích lệ cho các doanh nhân khởi sự doanh nghiệp, và vai trò này càng đặc biệt quan trọng trong bối cảnh kinh doanh của các doanh nghiệp có quy mô nhỏ Trong các
nghiên cứu của Davidsson (1995) [52] và Blackman (2003) [33] thì những doanh nhân
thành đạt phần lớn đều xuất thân từ những gia đình có bố mẹ hoặc người thân làm kinh doanh và và khả năng sống sót cũng như cơ hội thành công trên thương trường của nhóm doanh nhân này cũng sẽ cao hơn so với nhóm còn lại Theo nghiên cứu của Pant
(2015) [110], có ít nhất 3 lý do chứng minh cho tầm quan trọng của nền tảng gia đình
đối với các quyết định kinh doanh của doanh nhân và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Đầu tiên, khi tham gia vào các hoạt động khởi nghiệp, gia đình tạo thành một
Trang 25nhóm doanh nhân rất đặc thù Vì có cùng huyết thống, sự gắn bó mật thiết, và chia sẻ cùng một nền tảng giá trị và văn hóa nên mức độ cam kết gắn bó và niềm tin giữa các thành viên trong doanh nghiệp sẽ cao hơn bất kỳ nhóm doanh nhân nào khác Thứ hai, gia đình cung cấp cho doanh nhân các nguồn lực cần thiết cho tiến trình kinh doanh và
để tạo đà và lợi thế tăng trưởng Nguồn lực này có thể là nguồn nhân sự giá rẻ, trung thành, tin cậy từ các thành viên trong gia đình; nguồn hỗ trợ tài chính; mạng lưới các mối quan hệ với đối tác, khách hàng sẵn có của gia đình… Ngoài ra, kinh nghiệm thương trường để lại từ thế hệ cha anh cũng là nguồn tài sản vô giá cho các doanh nhân Thứ ba, truyền thống kinh doanh của gia đình có thể được xem là một trong những yếu
tố tiếp lửa và truyền cảm hứng khởi nghiệp cho các thành viên Người ta tin rằng nếu một cá nhân trưởng thành trong một gia đình đề cao tinh thần và văn hóa đổi mới và nét văn hóa này được chuyển đổi thành công thành một đế chế kinh doanh vĩ đại hoặc một khối tài sản khổng lồ thì hậu duệ của gia đình có xu hướng tiếp bước và phát huy Truyền thống gia đình sẽ là nguồn cảm hứng cho nhiều người trong số họ tạo ra một doanh nghiệp khởi nghiệp riêng, nơi họ không chỉ kế thừa truyền thống kinh doanh vẻ vang mà còn có cơ hội để chứng minh khí phách của doanh nhân
Giới tính
Giới tính có thể tạo nên sự khác biệt về năng lực, hành vi và ý định kinh doanh
của doanh nhân [55] Các nghiên cứu cho thấy tinh thần khởi nghiệp của nam cao hơn
nữ doanh nhân [150] [52] Ngoài ra, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
do nữ làm chủ không tốt bằng nam doanh nhân bởi vì phụ nữ thường khởi nghiệp ở độ tuổi sớm hơn, thiếu kinh nghiệm thương trường, chiếm tỷ lệ lớn trong lĩnh lực bán lẻ
và dịch vụ, hạn chế về cơ hội tiếp cận các yếu tố nguồn lực kinh doanh do rào cản của
sự bất bình đẳng giới [43] Tuy nhiên, một số khác lại cho rằng chẳng có sự khác biệt
nào giữa nữ và nam doanh nhân, thậm chí nữ doanh nhân thường có xu hướng quan tâm đến chất lượng, sự cẩn trọng và tỉ mỉ của họ rất phù hợp để quản trị rủi ro trong kinh doanh, không thua kém về kinh nghiệm quản lý, có năng lực thực hiện trách
nhiệm xã hội cao hơn, xem đổi mới như là xu hướng tất yếu để phát triển [44] [155]
Bên cạnh đó, ý định khởi nghiệp của nữ giới cũng rất quyết liệt ở các quốc gia đang
phát triển để thoát nghèo và có được sự tự chủ về mặt tài chính [44]
Kinh nghiệm kinh doanh
Kinh nghiệm có thể mang lại tác động tích cực hoặc tiêu cực hoặc không ảnh
hưởng gì đến hoạt động kinh doanh của doanh nhân [77] Kinh nghiệm có thể giúp
Trang 26nhà quản trị né tránh hay giải quyết một số khó khăn một cách nhanh chóng và giúp
nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh [51] [87] [67] nhưng cũng có thể kìm hãm sự
sáng tạo và giảm đi khả năng thích nghi của doanh nhân bởi họ bị rập khuôn theo
những giải pháp đã từng thực hiện hay đã thử nghiệm trong quá khứ [40] Mặt khác,
một số nghiên cứu thì cho rằng số năm kinh nghiệm không đóng vai trò quyết định đến
sự tồn vong và phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa [130]
Trình độ học vấn
Trình độ học vấn được xem như nền tảng của kiến thức, kỹ năng, thái độ của
doanh nhân [51] Do đó, đặc điểm này là một loại tài sản cá nhân đặc biệt quan trọng
cần được trau dồi và phát triển Kết quả khảo sát của GEM (2016) cho thấy ở các nước
có thu nhập cao, 75% doanh nhân có trình độ từ cấp 2 trở lên và các chương trình đào tạo kiến thức và kỹ năng khởi nghiệp được trang bị rất sớm trong hệ thống giáo dục của họ Trong khi đó, một nửa doanh nhân ở các quốc gia có thu nhập thấp thì chưa học hết cấp 2 Ở các nước có thu nhập trung bình, phần lớn trình độ học vấn của các doanh nhân rơi vào khoảng giữa của 2 nhóm quốc gia trên và có xu hướng ngày càng nâng cao về trình độ
b Đặc điểm tâm lý
Ngoài cách tiếp cận phổ biến về đặc điểm nhân khẩu học của doanh nhân thì một số nghiên cứu khác dành sự quan tâm đặc biệt đến đặc điểm tâm lý để nhấn mạnh vào khía cạnh cảm xúc và tinh thần của các doanh nhân trên cơ sở tiếp cận
động cơ, thuộc tính cá nhân, giá trị cá nhân, mục tiêu và thái độ [84] Trong đó, mô
hình về hệ thống nhân cách doanh nhân (Entrepreneurial Personality System - EPS) đóng vai trò là lý thuyết nền tảng cho các nghiên cứu về đặc điểm tâm lý doanh
nhân Theo Timmons (2011) [143], mô hình này đã kết nối hai luồng nghiên cứu
riêng biệt liên quan đến tính cách doanh nhân: Nghiên cứu về các đặc điểm rộng như mô hình 5 tính cách (Big Five Personality Model) của McCrae và Costa (1987)
và nghiên cứu về các đặc điểm cụ thể như nhu cầu thành đạt của McClelland (1987),
xu hướng chấp nhận rủi ro của Knight (1957), xu hướng kiểm soát nội tại của Rotter (1954), xu hướng đổi mới sáng tạo của Schumpeter (1934)
Timmons và cộng sự (2011) [143] đã tổng hợp một số đặc điểm tâm lý của
doanh nhân dựa trên nền tảng của hệ thống nhân cách doanh nhân (EPS) trong bảng 1.2
Trang 27Bảng 1.2 Tổng hợp một số nhóm đặc điểm tâm lý doanh nhân
STT Nhóm đặc điểm tâm lý Tác giả
1 Xu hướng chấp nhận rủi ro
Mill (1848), Palmer (1971), Thomas & Mueller (2000), Casson (1982), Begley & Boyd (1987), Thomas & Mueller (2000), Begley & Boyd 1987); Lumpkin & Dess (1996); Nandram & Samson (2000)
3 Sáng tạo và đổi mới
Schumpeter (1936), Hornaday & Aboud (1971), Casson (1982), Thomas & Mueller (2000), Begley & Boyd(1987); Lumpkin & Dess(1996); Nandram & Samson(2000)
4 Tinh thần trách nhiệm Sutton (1954), Davids (1963), Davids (1963)
5 Nhu cầu thành đạt
McClelland (1961), Davids (1963), Pickle (1964), Caid (1988), Hornaday & Aboud (1971), Mitchell, Frija & Mitchell (2005), Begley & Boyd (1987); Lumpkin & Dess (1996); Nandram & Samson (2000)
6 Xu hướng kiểm soát nội tại
Davids (1963), Borland (1974), Thomas & Mueller (2000), Lee and Tsang (2001), Begley
& Boyd (1987); Lumpkin & Dess (1996); Nandram & Samson (2000)
7 Sự tự chủ, hiếu chiến Hornaday & Aboud (1971)
9 Khả năng chấp nhận sự mơ hồ Begley & Boyd (1987)
10 Trực giác Mitchell, Frija & Mitchell (2005)
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Timmons và cộng sự năm 2011[143])
Mặc dù có hơn mười nhóm các đặc điểm tâm lý được các nhà nghiên cứu quan
tâm, Korunka và cộng sự (2003) [83] cho rằng có bốn đặc điểm tâm lý nổi trội và kinh
điển bao gồm: Nhu cầu thành đạt, xu hướng kiểm soát nội tại, xu hướng chấp nhận rủi
ro, xu hướng đổi mới luôn được đề cập trong rất nhiều nghiên cứu của Begley và Boyd (1987), Brockhaus và Horwitz (1986); Duchesneau và Gartner (1990)
Nhu cầu thành đạt (Need for Achivement)
Đây là đặc điểm tâm lý có lịch sử lâu đời nhất và có mối quan hệ mật thiết với vấn
đề khởi nghiệp và kinh doanh [99] Chell và cộng sự (1991) [47] nhấn mạnh rằng
những người có được nhu cầu này thì không thích sự thành công một cách ngẫu nhiên hay may mắn mà họ luôn phấn đấu bằng chính năng lực của mình để đạt được mục tiêu Nhu cầu này có mối liên hệ với nhu cầu tự hoàn thiện trong tháp nhu cầu của Maslow và
nó được thừa nhận như là một yếu tố thôi thúc và tiếp lửa cho cá nhân trở thành doanh nhân thành đạt Đặc điểm này không chỉ đơn thuần là một đặc điểm cố hữu mà nó có thể
được rèn dũa và phát triển [148] Theo Koh (1996) [82], những cá nhân có nhu cầu này
cao sẽ rất tập trung và mang trong mình những tham vọng mạnh mẽ để thành công và
Trang 28điều này khiến họ sẵn sàng mạo hiểm và chấp nhận rủi ro Có từ 20 đến 23 nghiên cứu
quan trọng về vấn đề khởi nghiệp được tổng hợp bởi Koh (1996) [82] đề cập đến mối
quan hệ giữa nhu cầu thành đạt và vấn đề khởi nghiệp kinh doanh
Xu hướng kiểm soát nội tại (Internal Locus of Control)
Rotter (1966) [122] đã phát triển quan điểm về xu hướng kiểm soát như một phần
quan trọng của lý thuyết xã hội học về con người Đặc điểm này là mức độ mà các cá nhân tin rằng hành động hoặc đặc điểm cá nhân của họ ảnh hưởng đến kết quả đạt được
[127] Henry và cộng sự (2003) [67] tiến hành phân biệt giữa xu hướng kiểm soát nội
tại và xu hướng kiểm soát ngoại tại phát hiện rằng những cá nhân có xu hướng kiểm soát nội tại cao thì tin vào khả năng, kỹ năng và nỗ lực của bản thân trong việc tạo ra những tác động tích cực để vượt qua số phận và chinh phục mọi thách thức Ngược lại, những người có xu hướng kiểm soát ngoại tại cao thì tin rằng kết quả của cuộc đời họ chủ yếu chịu sự định đoạt của các tác lực bên ngoài như là hoàn cảnh khách quan, số phận Những cá nhân có được xu hướng kiểm soát nội tại tốt sẽ có tinh thần trách nhiệm cao với sự thành công hay thất bại của bản thân, có thể tạo ra những thành quả tốt đẹp bằng khả năng và sự cố gắng của chính mình
Xu hướng chấp nhận rủi ro (Risk- taking Propensity)
Xu hướng chấp nhận rủi ro được định nghĩa là khả năng mà một cá nhân chấp nhận đối mặt với những những tình huống tiềm ẩn nhiều rủi ro hay nguy cơ thất bại
[37] Doanh nhân là những người có khả năng chấp nhận rủi ro và khả năng đối đầu
với sự bất định hơn những người không phải là doanh nhân [49] Brockhaus (1980)
[37] cho rằng những nhà sáng nghiệp sẽ sẵn sàng chấp nhận rủi ro trong một hoạt
động hay lĩnh vực nào đó nếu họ có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực đó và ngược lại Ngoài ra, những doanh nhân với đặc điểm này thì chấp nhận những rủi ro được tính toán trước với một thái độ cẩn trọng và suy nghĩ thấu đáo khi họ quyết định tham gia
vào một hoạt động kinh doanh mạo hiểm [90] Chiến lược của họ là cùng với nhà đầu
tư, nhà cung ứng, đối tác kinh doanh chia sẻ những rủi ro tài chính và kinh doanh Người có xu hướng chấp nhận rủi ro thì cũng biết cách giảm thiểu rủi ro và có khả năng chịu đựng sự không chắc chắn Những người này có khả năng thực hiện những công việc trong những môi trường căng thẳng và điều này khiến họ trở nên thành công
hơn và khả năng sống sót cao hơn trong kinh doanh [90]
Xu hướng đổi mới (Innovativeness)
Xu hướng đổi mới là tâm điểm của doanh nhân và là đặc điểm kinh doanh thiết
yếu [126] [50] Xu hướng này đề cập đến những nhận thức, nhu cầu thực hiện các
Trang 29hoạt động mới mẻ, độc đáo và đột phá trong kinh doanh Một số nghiên cứu cho thấy rằng xu hướng này của doanh nhân cao hơn hẳn so với các đối tượng khác không phải
là doanh nhân [50] Tuy nhiên, xu hướng đổi mới của các doanh nhân không đồng
nhất bởi sự khác biệt về trình độ, mức độ chấp nhận rủi ro và kinh nghiệm quản lý
[50] Những điều kiện cần thiết để thực hiện hoạt động đổi mới thành công là: Phải có
có một chiến lược kinh doanh rõ ràng, nguồn lực đủ lớn để đối mới sáng tạo, các thành viên trong tổ chức phải có năng lực đổi mới, sự thấu hiểu nhu cầu thị trường, sự dự báo nhu cầu tương lai, các tiêu chí đánh giá hoạt động cải tiến, khung thời gian cụ thể
cho từng hoạt động đổi mới [50]
1.1.3 Năng lực kinh doanh của doanh nhân
1.1.3.1 Khái niệm năng lực
Năng lực là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong khoa học quản trị từ rất lâu và được định nghĩa rất đa dạng tùy thuộc vào đặc thù, tính chất công việc của các cá nhân ở những bối cảnh khác nhau Năng lực là yếu tố tiềm ẩn trong mỗi con người, nó có thể do bẩm sinh và cũng có thể do quá trình học tập, tích lũy và rèn luyện mà có được Có thể chia năng lực thành nhiều nhóm như: năng lực quản lý, năng lực chuyên môn, năng lực
tư duy… Tuy nhiên, cơ sở khoa học của các định nghĩa và các cách phân chia các nhóm năng lực thành phần đều dựa trên cách tiếp cận mô hình năng lực cá nhân (mô hình ASK) Trên cơ sở kế thừa kết quả xây dựng bước đầu về mô hình năng lực cá nhân
ASK, Bass (1990) [24] đã phát triển và sử dụng mô hình này trong quản trị nhân sự
nhằm đào tạo và phát triển năng lực cá nhân Mô hình đưa ra các tiêu chuẩn nghề nghiệp cho các chức danh công việc trong tổ chức dựa trên ba nhóm tiêu chuẩn chính: Phẩm chất hay thái độ (Attitude), kỹ năng (Skills) và kiến thức (Knowledges) Theo mô hình này, năng lực là tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ mà một cá nhân cần có
(Nguồn: Bass B.M.,1990 [24])
Hình 1.1 Mô hình năng lực cá nhân (ASK)
Trang 30Chi tiết hóa phù hợp với bối cảnh và mục tiêu nghiên cứu, dựa trên nền tảng của
mô hình năng lực cá nhân ASK, khái niệm về năng lực được phát triển khá đa dạng như sau
Bảng 1.3 Tổng hợp một số khái niệm về năng lực
Boyatzis (1982)[36] Năng lực là những thuộc tính của con người như là động cơ, kỹ năng, hình
ảnh cá nhân, vai trò xã hội hay kiến thức Woodruffe (1993)[152] Năng lực là tổng của những hành vi cần thiết để cá nhân hoàn thành nhiệm
vụ hay thực hiện những chức năng cần thiết phù hợp với vị trí công việc Thompson & cs (1997)
Pickett (1998)[114] Năng lực là tổng của kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng, gía trị và thái độ
mà mỗi một cá nhân đạt được trong suốt đời người Brophy &
Rowley(2010)[104]
Năng lực còn được biết đến như những hành vi cá nhân mà họ nên có và
có thể đạt được
(Nguồn: Tổng hợp bởi tác giả)
Dựa trên các quan niệm hay định nghĩa về năng lực, có thể thấy rằng năng lực
được hiểu một cách tổng quát như sau: Năng lực là sự hợp nhất của kiến thức, kỹ
năng, thái độ, hành vi và một số phẩm chất cá nhân khác của con người nhằm đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao Sự kết hợp giữa các yếu tố này càng cao bao nhiêu thì năng lực càng cao bấy nhiêu và ngược lại
Khái niệm hay định nghĩa trên vừa là sự tổng hợp, kế thừa của các khái niệm, vừa là gắn kết giữa các yếu tố cấu thành Điều này làm cho khái niệm phản ánh có tính bao quát và toàn diện hơn
1.1.3.2 Khái niệm năng lực kinh doanh
Trên nên tảng lý thuyết về năng lực của Boyatzis (1982) [36], Bird (1995) [32]
đã định nghĩa năng lực kinh doanh của doanh nhân là những hành vi được kết tinh từ một số đặc điểm cá nhân như là niềm tin, động cơ, vai trò xã hội, kiến thức, kỹ năng và tính cách giúp doanh nhân thực hiện hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả và thành công Cũng theo quan niệm của Bird thì một số hành vi hay đặc điểm của năng lực kinh doanh là bẩm sinh trong khi một số khác thì có thể được phát triển trong quá trình học tập và đào tạo
Trang 31Tương tự, Man và cộng sự (2002) [95] cho rằng năng lực kinh doanh là sự tựu
trung của kiến thức, kỹ năng, tính cách được hình thành từ sự giáo dục, nền tảng gia đình, kinh nghiệm và một số đặc điểm nhân chủng học khác để doanh nhân hoàn thành được các mục tiêu kinh doanh và gặt hái được thành công
Trên cơ sở tham khảo nghiên cứu của Bird (1995) [32], Mitchelmore và Rowley (2010) [104] định nghĩa năng lực kinh doanh là sự kết tinh của những đặc điểm cần
thiết như là kiến thức, động cơ, tính cách, hình ảnh cá nhân, vai trò xã hội và kỹ năng giúp doanh nhân thành lập, duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh của mình
Một tiếp cận khác căn cứ theo sự phân biệt những đặc tính mang tính di truyền với những đặc tính có thể đạt được của năng lực kinh doanh của doanh nhân thông qua đào
tạo, bồi dưỡng, Muzychenko và Saee (2004) [107]chia năng lực kinh doanh của doanh
nhân thành những nhân tố bên trong và những nhân tố bên ngoài Nguồn gốc nguyên thủy của tính cách, thái độ, hình ảnh cá nhân và vai trò xã hội được biết đến như là
“những nhân tố bên trong” nên chúng mang tính bẩm sinh Những nhân tố như là kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm hình thành thông qua quá trình trải nghiệm công việc, lĩnh hội từ lý thyết hay thực hành thì được biết đến như là “những nhân tố bên ngoài”
Tiếp cận theo góc độ tổng thể, Ahmad (2007) [16] cho rằng năng lực kinh doanh
của doanh nhân là sự tựu trung của thái độ và hành vi giúp doanh nhân đạt được và duy trì sự thành công trong kinh doanh Một trong những thách thức lớn nhất khi đánh giá năng lực kinh doanh của doanh nhân là việc đo lường các thuộc tính cá nhân bên trong góp phần định hướng hành vi Bởi vì những thuộc tính này không thể quan sát trực tiếp nên chúng thường được đo lường thông qua sự tường thuật cá nhân, phân tích nội tâm
và biểu hiện hành vi
Đúc kết từ những khái niệm trên ta có thể thấy rằng năng lực kinh doanh của doanh nhân có những đặc điểm cơ bản sau:
- Năng lực kinh doanh đề cập những đặc điểm tổng hợp của doanh nhân và có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nhân
- Năng lực kinh doanh được bộc lộ thông qua hành vi của doanh nhân do đó nó
có thể quan sát và đo lường được
- Năng lực kinh doanh giúp đạt được mục đích và hoàn thành mục tiêu kinh doanh của doanh nhân
- Năng lực kinh doanh của doanh nhân là tài sản của tổ chức và năng lực kinh doanh có thể được nuôi dưỡng và phát triển
Trang 32Trên cơ sở phân tích và tổng hợp những định nghĩa khác nhau về năng lực kinh doanh
của các nghiên cứu trước đây, đặc biệt là cách tiếp cận hành vi của Bird (1995) [32], trong khuôn khổ của luận án này “Năng lực kinh doanh là sự hợp nhất giữa kiến thức, kỹ năng,
thái độ, hành vi và một số phẩm chất cá nhân của doanh nhân nhằm đáp ứng những yêu cầu của hoạt động kinh doanh và duy trì sự thành công trong kinh doanh”
Sở dĩ cách tiếp cận trên được lựa chọn vì những lý do sau Thư nhất, các thuộc tính năng lực trên biểu hiện cụ thể qua hành vi nên có thể quan sát và đo lường được Điều này hoàn toàn phù hợp mục tiêu cuối cùng của các nghiên cứu đó là đo lường hay lượng hóa được các thuộc tính cũng như từ đó xác định mối quan hệ của các thuộc tính trên với các thuộc tính cần nghiên cứu khác Thứ hai, đây chính là cách tiếp cận được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng ngày càng phổ biến trong thời gian gần đây
1.1.3.3 Các năng lực kinh doanh thành phần
Trên nền tảng của sự hợp nhất của thái độ, kiến thức, kỹ năng và một số phẩm chất cá nhân khác của doanh nhân, năng lực kinh doanh của doanh nhân được phân chia thành các năng lực thành phần khác nhau Việc phân loại năng lực giúp doanh nhân đồng thời hoàn thành vai trò của nhà kinh doanh, nhà quản lý và nhà chuyên môn
trong mọi lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp [41]
Kết quả tổng hợp ở bảng 1.4 cho thấy, các nhóm năng lực kinh doanh thành
phần được đề xuất bởi Man (2001) [96] được sử dụng rất phổ biến ở các nghiên cứu
Tuy nhiên, các nghiên cứu phát triển mô hình năng lực kinh doanh của doanh nhân trong lĩnh vực dịch vụ vẫn còn rất hạn chế
Bảng 1.4 Tổng hợp các hành vi phản ánh trong từng nhóm năng lực kinh doanh thành phần cấu thành năng lực kinh doanh của doanh nhân từ nhiều tác giả
Năng lực kinh doanh Hành vi liên quan Nguồn
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Năng lực định hướng
* * * * * * * *
Năng lực thiết lập
quan hệa
Tận dụng được các mối quan hệ cá nhân và
kỹ năng giao tiếp, khả năng ảnh hưởng và
hỗ trợ người khác
* * * * * * * *
Trang 33(Nguồn: Tổng hợp bởi tác giả) Ghi chú
a: Những nhóm năng lực kinh doanh xác định bởi Man (2001) [96]
*: Nguồn tác giả: (1) Baum (1995) [25]; (2) Chandler & Jansen (1992) [46]; (3) Georgellis & cs (2000) [60]; (4) Man (2008) [94]; (5) Martin & Staines (1994) [98]; (6) McClelland (1987)[99]; (7) McGee & Peterson (2000) [101]; (8) Snell & Lau (1994) [132]; (9) Thompson & cs (1997) [142]; (10) Winterton (2002) [151]
Mô hình năng lực kinh doanh của doanh nhân trong luận án này cơ bản kế thừa
từ nghiên cứu của Man (2001) [96] với 8 nhóm năng lực kinh doanh thành phần
Ngoài ra, năng lực chuyên môn nghiệp vụ và năng lực thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nhân được đề xuất bổ sung vào mô hình để phù hợp hơn với điều kiện và bối cảnh nghiên cứu mới Thông tin mô tả nội dung cụ thể của từng nhóm năng lực kinh doanh thành phần như sau:
Năng lực nắm bắt cơ hội (Opportunitiy Competency): Khả năng nhận diện và
nắm bắt cơ hội được xem như là một trong những năng lực quan trọng quyết định sự thành công của một doanh nhân Năng lực này thể hiện ở khả năng phát hiện cơ hội, vẽ
ra viễn cảnh, xây dựng tầm nhìn để tận dụng các cơ may và vận hội trong môi trường
kinh doanh [25] [46] [96] Ngoài ra, nhóm năng lực này cũng bao gồm những hành
động táo bạo của doanh nhân trong việc nắm bắt và đón nhận cơ hội hiếm hoi, chủ
động trong việc tìm kiếm và khai thác những cơ hội mới [99] [132] [142]
Năng lực tổ chức – lãnh đạo (Organizing – leading Competency): Năng lực
này có nhiều điểm tương đồng với năng lực quản trị [36] và bao gồm những khả năng
liên quan đến công tác hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra và giám sát các yếu tố
nguồn lực bên trong và bên ngoài tổ chức [25] [46] [98] [99] Cụ thể hơn, năng lực
này giúp doanh nhân tổ chức một cách hiệu quả các nguồn lực như con người, tài chính, thông tin, công nghệ… Bên cạnh đó, hoạt động thiết lập nhóm, lãnh đạo, động viên, khích lệ, huấn luyện, giải quyết xung đột và kiểm soát nhân sự cũng là một phần
không thể thiếu của nhóm năng lực này [101] [132] [142] [151]
Trang 34Năng lực định hướng chiến lược (Strategic Competency) Một doanh nhân khi
vào vai người chủ doanh nghiệp thì phải là đầu tàu định hướng mọi hoạt động của toàn
bộ tổ chức Nhóm năng lực này đòi hỏi doanh nhân phải có tầm nhìn hoặc là thấy trước bức tranh toàn cảnh về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình trong bối cảnh tương lai xa để từ đó xây dựng các mục tiêu rõ ràng, thiết lập và ứng dụng chiến
lược kinh doanh một cách hợp lý [60] [96] [101] Tóm lại, năng lực này liên quan đến
khả năng lập kế hoạch chiến lược, đánh giá và thực thi chiến lược cho doanh nghiệp
[132] [142] [151]
Năng lực thiết lập quan hệ (Relationship Competency): Năng lực này dựa vào
khả năng thiết lập mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân hay cá nhân với tập thể [46]
[60] [96] [98] [99] Biểu hiện hành vi cụ thể của nhóm năng lực này là khả năng tạo
dựng được niềm tin và sự hợp tác, tận dụng được các mối quan hệ và tăng cường sự
kết nối, khả năng thuyết phục, kỹ năng giao tiếp [101] [132] [142] [151] Bird (1995)
[32] mô tả những hoạt động hướng đến việc tạo dựng quan hệ như là khung xương
quan trọng trong hoạt động kinh doanh của nghiệp chủ và năng lực này không chỉ dừng lại ở việc kiến tạo mối quan hệ mà c òn là quá trình tái cấu trúc những mối quan
hệ đó trong suốt tiến trình phát triển của tổ chức Mạng lưới quan hệ xã hội là yếu tố quan trọng đặc biệt đối với các doanh nghiệp quy mô nhỏ để kêu gọi và tận dụng được
sự trợ lực của các chuyên gia như luật sư, kế toán viên, và tư vấn viên kinh doanh, quan chức chính phủ, nhà nghiên cứu, các viện nghiên cứu - đào tạo và ngay cả nhà
cung ứng hay khách hàng [96]
Năng lực cam kết (Commitment Competencies): Một doanh nhân thành đạt
phải có thái độ làm việc chăm chỉ, chịu khó, chịu khổ, có ý chí mạnh mẽ, lập trường kiên định với các mục tiêu đặt ra để hoàn thành nhiệm vụ và bổn phận của mình Năng lực này được kết tinh bởi một số phẩm chất như: Có động lực mạnh mẽ để hoàn thành công việc; kiên gan, bền chí theo đuổi mục tiêu trong kinh doanh; nỗ lực và sẵn sàng
cống hiến hết mình cho tiến trình khởi nghiệp [46] [96] [99] [142] Tóm lại, năng lực
này sẽ đồng hành, giúp các doanh nhân chinh phục khó khăn, đương đầu với thách thức trên thương trường
Năng lực phân tích – sáng tạo (Analytical and Innovative Competency):
Năng lực này được cho là những biểu hiện hành vi khó xác định nhưng lại là nhân tố quan trọng để đương đầu với những tình huống kinh doanh phức tạp, bất ngờ và có tính mới cao Do đó, năng lực phân tích – sáng tạo giúp tạo sự khác biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng và trước xu hướng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Năng lực
Trang 35này bao gồm khả năng nhận thức và suy nghĩ biện chứng; khả năng học hỏi, ra quyết định và giải quyết vấn đề; khả năng cải tiến, đổi mới, tiên phong; khả năng thích nghi
với những sự bất định và rủi ro kinh doanh [25] [46] [60] [96] Năng lực này liên
quan đến những hoạt động nhận thức ở cấp độ cao và được phản chiếu thông qua hành
vi của doanh nhân khi họ phân tích tình huống, học hỏi, ra quyết định và giải quyết
vấn đề [98] [132] [142][151] Tương tự như năng lực định hướng chiến lược, năng
lực này có mức độ trừu tượng cao hơn so với các năng lực khác Tuy nhiên, năng lực phân tích – sáng tạo lại liên quan đến những mục tiêu ngắn hạn, giải quyết những sự kiện mang tính tức thời hoặc đòi hỏi những phản ứng mang tính trực giác
Năng lực học tập (Learning Competency): Năng lực học tập là khả năng lĩnh
hội và vận dụng các kỹ năng cần thiết của doanh nhân vào thực tiễn kinh doanh Theo
Man (2001) [96], McGee và Peterson (2000) [101], Snell và Lau (1994) [132] năng
lực này được biểu hiện thông qua khả năng học tập từ nhiều hình thức khác nhau (ví
dụ như: học tập từ trường lớp, sách vở và từ những trải nghiệm thực tế trong kinh doanh…), chủ động tìm kiếm và sẵn lòng đón nhận những thông tin và tri thức mới
Do đó, với năng lực này, doanh nhân có thể trang bị nền tảng kiến thức phù hợp để ngày một hoàn thiện hơn các nhóm năng lực kinh doanh thành phần khác trong tiến
trình kinh doanh [101]
Năng lực cá nhân (Personal Competency): Là những phẩm chất và khả năng đặc
biệt của bản thân doanh nhân giúp tạo dựng sức mạnh cá nhân để chinh phục các rào cản
và thách thức trong kinh doanh và cũng đóng vai trò nền tảng cho việc phát triển, hoàn thiện các nhóm năng lực khác của doanh nhân Năng lực này giúp doanh nhân nhận thức được điểm mạnh, điểm yếu của bản thân để đối đầu với thách thức và tận dụng các thời
cơ trên thương trường Ngoài ra, việc sở hữu động cơ cá nhân mạnh mẽ, tự tin, có tham vọng, có kỹ năng quản lý thời gian, có trách nhiệm, bền bỉ và quyết tâm cũng được
xem là các thuộc tính của nhóm năng lực này [94] [151]
Năng lực chuyên môn nghiệp vụ (Technical Competency): Năng lực này bao
gồm khả năng sử dụng và ứng dụng các kỹ năng về kỹ thuật, công nghệ, kiến thức
chuyên môn, hiểu biết ngành và thị trường vào thực tiễn kinh doanh [46] Quản trị nội
bộ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế thường mang tính gia đình, người chủ sở hữu thường đồng thời là người quản lý, là người quản đốc, và kiêm luôn vị trí của người cán bộ kỹ thuật trong doanh nghiệp Nói cách khác, chủ DNNVV hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ cùng một lúc thực hiện quá nhiều chức năng và đảm nhận quá nhiều vai trò khác nhau
Trang 36trong doanh nghiệp và trong đó không thể thiếu vai trò của nhà chuyên môn Do đó, việc trang bị các kiến thức về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh và các kỹ năng liên quan đến kỹ thuật và công nghệ là cần thiết đối với đội ngũ doanh nhân tại các DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn nghiên cứu Có thể nói, với năng lực chuyên môn nghiệp
vụ, doanh nhân sẽ trở thành các chuyên gia trong mắt tập thể người lao động tại doanh nghiệp và rất cần thiết trong quá trình triển khai và thực thi kế hoạch kinh doanh trong
phạm vi doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa [98] Do đó, nhóm năng lực này của
doanh nhân được đề xuất như một nhóm năng lực thành phần trong mô hình năng lực kinh doanh của doanh nhân
Năng lực thực hiện trách nhiệm xã hội (Social Responsibility Competency):
Các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước những cơ hội cũng như những thách thức to lớn, đòi hỏi phải nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ bằng năng suất, chất lượng, hiệu quả mà còn bằng uy tín, thương hiệu được tạo dựng trên nền tảng bền vững của đạo đức kinh doanh và tinh thần trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Hiện nay, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở Việt Nam chỉ nhận được sự quan tâm của các doanh nghiệp có quy mô lớn, có phạm vi hoạt động toàn cầu
và chủ yếu thông qua các hoạt động thiện nguyện Ngoài ra, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp này thì vẫn chưa có sự gắn kết và quan tâm đến lợi ích của các đối tác hữu quan như người lao động, khách hàng, cộng đồng và xã hội Nhiều công ty chỉ bỏ
ra các khoản chi phí lớn cho hoạt động từ thiện để thể hiện với cộng đồng về tinh thần trách nhiệm xã hội của mình trong khi hoạt động sản xuất kinh doanh của họ phá hủy một cách nghiêm trọng môi trường sinh thái Trường hợp nhà máy giấy Việt Trì, công
ty Vedan Việt Nam đã xã thải làm ô nhiễm sông Đồng Nai, Miwon Việt Nam và Formosa Việt Nam ở Hà Tĩnh là những ví dụ điển hình, đắt giá cho việc thiếu trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội khi doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh
Năng lực thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nhân lần đầu tiên được đề xuất vào mô hình đo lường năng lực kinh doanh của doanh nhân trong nghiên cứu của
Ahmad (2007) [16] Theo Fülöp và cộng sự (2000) [58], năng lực này bao gồm những
hành vi tích cực của doanh nhân trong việc thể hiện trách nhiệm của họ đối với các đối tác hữu quan như khách hàng, người lao động, cộng đồng và môi trường sinh thái Với năng lực này doanh nhân luôn nỗ lực để thiết lập sự cân bằng giữa mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu môi trường và mục tiêu xã hội để đạt được một kết quả hoạt động kinh doanh mang tính bền vững và toàn diện Do đó, để hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu
và tạo dựng một tương lai phát triển bền vững thì việc nâng cao nhận thức và phát
Trang 37triển năng lực thực hiện trách nhiệm xã hội trong kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đội ngũ doanh nhân tại các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Thừa Thiên Huế Nhận thức được vai trò to lớn này, năng lực thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ được đề xuất như một nhóm năng lực thành phần mới cấu thành năng lực kinh doanh của doanh nhân tại các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
1.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ
1.2.1 Dịch vụ
Xuất phát từ hoạt động của các dịch vụ, một số nhà nghiên cứu, tác giả sách giáo khoa, từ điển luật và từ điển tiếng Anh định nghĩa dịch vụ là các hoạt động, quá trình
thực hiện hoặc nỗ lực [125] Hàm ý trong định nghĩa này là các hoạt động được thực
hiện sau khi người mua và người bán hoàn tất thỏa thuận, hành vi được thực hiện bởi
người bán hoặc đại lý của họ và các hoạt động này có tính phi vật chất [125]
Dựa vào việc không chuyển nhượng quyền sở hữu của dịch vụ, dịch vụ được định nghĩa là giao dịch thị trường, trong đó đối tượng của giao dịch thị trường không
phải là chuyển quyền sở hữu của một hàng hóa hữu hình [125]
Căn cứ vào đặc điểm của dịch vụ, các dịch vụ được xác định bởi một tập hợp các đặc điểm được coi là đặc trưng của nó Các đặc trưng của dịch vụ là tính vô hình (dịch
vụ là phi vật chất), tính không đồng nhất (dịch vụ được tùy chỉnh), không thể tách rời (dịch vụ được sản xuất và tiêu thụ đồng thời) và tính dễ hỏng (dịch vụ không thể được
vụ tiêu dùng bao gồm: các hoạt động bán buôn, bán lẻ, du lịch, các dịch vụ cá nhân (như y tế, giáo dục, thể dục thể thao) và các dịch vụ công bao gồm: các dịch vụ hành
chính công, các hoạt động đoàn thể [2]
Trang 38Luận án này cũng tiếp cận và phân tích các lĩnh vực dịch vụ cụ thể ở Thừa Thiên Huế theo cách phân loại ngành kinh tế từ niên giám thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế và cách phân loại này hoàn toàn tương đồng, phù hợp với 3 nhóm lĩnh vực dịch vụ cơ bản trên
1.2.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ
12.2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ
DNNVV hay SMEs (Small and Medium Enterprises) là những doanh nghiệp có
số lao động hay doanh số ở dưới một mức giới hạn nào đó Hiện nay, chưa có một định nghĩa chung về DNNVV Trên thế giới, tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp, đặc điểm kinh tế - kỹ thuật, trình độ phát triển của vùng lãnh thổ, mặt bằng giá trị sức lao động, trị giá tài sản, thiết bị hay mục đích xếp loại doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định mà các nước có những tiêu chí khác nhau để xác định DNNVV Do đó, việc xác định DNNVV này chỉ mang tính chất tương đối Phần lớn khi xác định DNNVV, các quốc gia đã dựa chủ yếu vào các tiêu chí sau: Số lượng lao động thường xuyên;
số lượng vốn góp; doanh thu hàng năm; đặc điểm ngành nghề kinh doanh
Theo tiêu chí phân loại của Ngân hàng thế giới (World Bank), DNNVV có
số lao động dưới 300 người, tài sản dưới 15 triệu đô la, doanh thu hàng năm không quá
15 triệu đô la hoặc có quy mô vay trung bình dưới 1 triệu đô la (dưới $2 triệu đô la đối với một số quốc gia tiên tiến)
Ngoài ra, tại mỗi quốc gia có nền kinh khác nhau, theo từng giai đoạn phát triển kinh tế thì quan niệm về DNNVV cũng khác nhau Chẳng hạn tại các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, DNNVV là những doanh nghiệp có số lượng nhân viên dưới 250 người và doanh thu hàng năm là nhỏ hơn 50 triệu Euro Còn tại Châu
Mĩ, cụ thể là Hoa Kỳ thì DNNVV là những doanh nghiệp có số lượng người lao động dưới 500 người (cho phần lớn hoạt động sản xuất và khai thác) và có doanh thu hàng năm là dưới 7 triệu đô la đối với đa số các ngành không liên quan tới sản xuất
(dao động tới mức tối đa là 35.5 triệu đô la) [75]
Tại Châu Á, các DNNVV tại HongKong được phân loại theo ngành sản xuất và
số lượng nhân viên Theo đó, các DNNVV trong các ngành sản xuất có số nhân viên dưới 100 người và ngành phi sản xuất có số nhân viên dưới 50 người Bên cạnh
đó, từ góc độ là bên cung cấp dịch vụ, các ngân hàng tại HongKong còn đưa ra việc phân loại dựa vào các tiêu chí như doanh thu hàng năm, mức độ tập trung tư bản, năng
lực tín dụng [75]
Trang 39Ở Việt Nam, theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30
tháng 6 năm 2009 [7] thì DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy
định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm Trong đó, quy mô của DNNVV cũng được xác định theo lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp (bảng 1.5)
Là một bộ phận của DNNVV, DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ trong luận án này
được hiểu là cơ sở đã đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ theo quy định pháp
luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm, cụ thể như sau: Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực dịch vụ
có số lao động không vượt quá 10 người, doanh nghiệp nhỏ hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ có số lao động từ trên 10 đến 50 người hoặc tổng nguồn vốn không vượt quá 10
tỷ đồng, doanh nghiệp vừa hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ có số lao động từ trên 50 người đến 100 người hoặc tổng nguồn vốn từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng [7]
Bảng 1.5 Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Quy mô
Lĩnh vực
Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động (người)
Tổng nguồn vốn (tỷ đồng)
Số lao động (người)
Tổng nguồn vốn (tỷ đồng)
Số lao động (người)
I Nông, lâm nghiệp
và thủy sản <10 <20 10 - 200 20 - 100 200 - 300
II Công nghiệp và
xây dựng <10 <20 10 - 200 20 - 100 200 - 300 III Thương mại và
độ khoa học công nghệ, tay nghề lao động, trình độ quản lý nói chung của DNNVV là thấp so với các doanh nghiệp lớn Thiếu thông tin, thị trường nhỏ bé, quan hệ kinh doanh hạn hẹp Sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất ra là thấp, khó tiêu thụ, độ rủi ro cao Hoạt động của các DNNVV lại phân tán, rải rác nên khó hỗ trợ
Ngoài những đặc thù chung của hầu hết các DNNVV trên thế giới, DNNVV Việt Nam cụ thể là DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ còn có những đặc thù riêng của nó
Trang 40Sau đây là các đặc thù của DNNVV hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam nói chung và ở Thừa Thiên Huế nói riêng:
- Kinh tế tư nhân tuy rộng lớn nhưng về cơ bản là kinh tế hộ quy mô nhỏ và
đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Nguyên nhân chủ yếu là do DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ là những doanh nghiệp có qui mô khá khiêm tốn về vốn, về lao động, về sản lượng, về ảnh hưởng thị trường… Chính vì vậy, DNNVV hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ khó khai thác lợi thế về qui mô, lợi thế về vốn, lợi thế
về đầu tư
- Khả năng về công nghệ thấp Nhìn chung trình độ công nghệ trong các
DNNVV hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ còn lạc hậu so với mức trung bình của thế giới, hơn nữa tốc độ đổi mới lại quá chậm Hạn chế về năng lực cán bộ, công tác nghiên cứu trong doanh nghiệp, nghiên cứu để ứng dụng trong sản xuất - kinh doanh Ngoài ra do hạn chế về vốn nên hầu hết các DNNVV này không có khả năng tiếp cận với các công nghệ tiên tiến, hiện đại và cũng gần như chưa có hoạt động nghiên cứu
và phát triển dịch vụ mới
- Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động còn hạn chế Thực tế cho
thấy khả năng quản lý của chủ DNNVV hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ không cao Quản trị nội bộ của các này thường mang tính gia đình, người chủ sở hữu thường đồng thời là người quản lý, là người quản đốc, là người cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp Nói cách khác, chủ DNNVV hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ ở Việt nam cùng một lúc thực hiện quá nhiều chức năng và đảm nhận quá nhiều vai trò khác nhau trong doanh nghiệp Do vậy, chất lượng quản trị nội bộ rất yếu kém, thiếu cơ bản, chỉ dựa vào kinh nghiệm kinh doanh của bản thân Ngoài ra tuy Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào, trình độ học vấn tương đối cao so với các nước có cùng trình độ phát triển, nhưng chủ yếu là lao động làm việc giản đơn, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo thấp, hạn chế về sức khỏe, năng suất lao động không cao, thiếu kỹ năng…
- Sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ còn thấp Nguyên nhân
là do trình độ công nghệ thấp dẫn đến chất lượng dịch vụ không cao, không đa dạng khiến giá trị gia tăng của dịch vụ thấp Hạn chế về thông tin, hạn chế về vốn… sự bảo
hộ của Nhà nước với các doanh nghiệp nhà nước làm hạn chế năng lực cạnh tranh của DNNVV này Chính những điều này đã làm cho khả năng tiếp cận thị trường của DNNVV hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ kém Các DNNVV gần như chưa nhận thức được tầm quan trọng của nghiên cứu thị trường nhằm nắm bắt nhu cầu thị trường, nhu cầu khách hàng, tìm kiếm các thị trường tiềm năng cho sản phẩm của doanh nghiệp