Chấn thương bàng quang kín vỡ bàng quang bao gồm 3 loại hình tổnthương [1]: Những bệnh nhân vỡ bàng quang vào viện với 3 loại bệnh cảnh khácnhau: vỡ bàng quang đơn thuần, vỡ bàng quang t
Trang 1NGUYỄN VĂN ĐỨC
§¸NH GI¸ KÕT QU¶ PHÉU THUËT NéI SOI §IÒU TRÞ
Vì BµNG QUANG TRONG PHóC M¹C DO CHÊN TH¦¥NG
T¹I BÖNH VIÖN H÷U NGHÞ VIÖT §øC
GIAI §O¹N 2014 – 2019
Chuyên ngành : Ngoại khoa
Mã số : 60720123
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Đỗ Trường Thành
2 TS Trần Chí Thanh
HÀ NỘI – 2019
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 2BQ : Bàng quang
Chụp CLBQ : Chụp cắt lớp vi tính bàng quangChụp CLVT : Chụp cắt lớp vi tính
CTBK : Chấn thương bụng kín
NKVM : Nhiễm khuẩn vết mổ
NSOB : Nội soi ổ bụng
TNGT : Tai nạn giao thông
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Đặc điểm về giải phẫu và chức năng của bàng quang 3
1.1.1 Giải phẫu 3
1.1.2 Cấu tạo 3
1.1.3 Liên quan bàng quang với phúc mạc và các tạng 4
1.1.4 Chức năng của bàng quang 6
1.2 Nguyên nhân, tổn thương giải phẫu bệnh của vỡ bàng quang do chấn thương 6
1.2.1 Nguyên nhân 6
1.2.2 Tổn thương giải phẫu bệnh của vỡ bàng quang trong phúc mạc do chấn thương 8
1.3 Chẩn đoán và điều trị vỡ bàng quang do chấn thương 9
1.3.1 Chẩn đoán 9
1.3.2 Điều trị 15
1.3.3 Kết quả điều trị 18
1.4 Tình hình nghiên cứu chấn thương BQ trong nước và thế giới 19
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 19
1.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 23
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 27
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 27
Trang 42.3 Triển khai nghiên cứu 28
2.3.1 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng nhóm nghiên cứu 28
2.3.2 Điều trị 33
2.3.3 Kết quả điều trị 35
2.4 Xử lý số liệu 37
2.5 Đạo đức nghiên cứu 37
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
3.1 Đặc điểm chung bệnh nhân 38
3.1.1 Giới 38
3.1.2 Tuổi 38
3.1.3 Nguyên nhân chấn thương vỡ bàng quang 39
3.2 Đặc điểm lầm sàng, cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân nghiên cứu .39
3.2.1 Triệu chứng lâm sàng 39
3.2.2 Thời gian chẩn đoán 40
3.2.3 Thông đái 40
3.2.4 Triệu chứng cận lâm sàng 40
3.2.5 Thời điểm chẩn đoán VBQTPM do CTBK 41
3.2.6 Đặc điểm tổn thương VBQTPM do CTBK 41
3.3 Điều trị và kết quả 42
3.3.1 Số lượng Trocar sử dụng trong phẫu thuật 42
3.3.2 Số đường vỡ của BQ trên 1 bệnh nhân 42
3.3.3 Kích thước đường vỡ 42
3.3.4 Cách thức khâu phục hồi bàng quang qua nội soi 42
3.3.5 Thời gian phẫu thuật 43
Trang 53.4.2 Thời gian có trung tiện sau mổ 44
3.4.3 Thời gian rút sonde dẫn lưu ổ bụng 44
3.4.4 Thời gian rút ống thông BQ qua niệu đạo 44
3.5 Biến chứng sau mổ 45
3.6 Đánh giá kết quả điều trị sau phẫu thuật 45
3.7 Đánh giá kết quả theo dõi xa 45
CHƯƠNG 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 46
4.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân 46
4.1.1 Về tuổi 46
4.1.2 Về giới 46
4.1.3 Về nguyên nhân chấn thương gây vỡ bàng quang 46
4.2 Về chẩn đoán 46
4.2.1 Đặc điểm lâm sàng 46
4.2.2 Đặc điểm cận lâm sàng 46
4.2.3 Về thời gian chẩn đoán 46
4.2.4 Đặc điểm tổn thương VBQTPM do chấn thương bụng kín: 46
4.3 Kết quả ptns ổ bụng điều trị VBQTPM: 46
4.3.1 Phát hiện sốc và chống sốc 46
4.3.2 Bàn luận về phương pháp phẫu thuật 46
4.3.3 Kết quả điều trị 46
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Bảng 3.1 Tỷ lệ gặp vỡ bàng quang theo giới 38
Bảng 3.2 Tỷ lệ gặp vỡ bàng quang theo nhóm tuổi 38
Bảng 3.3 Nguyên nhân chấn thương gây vỡ bàng quang 39
Bảng 3.4 Bảng các triệu chứng lâm sàng của VBQ 39
Bảng 3.5 Hình ảnh siêu âm của vỡ bàng quang 40
Bảng 3.6 Hình ảnh chụp bụng không chuẩn bị của BN VBQ 40
Bảng 3.7 Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính của BN VBQ 41
Bảng 3.8 Thương tổn của bệnh nhân trong VBQ 41
Bảng 3.9 Thương tổn ổ bụng phối hợp với VBQTPM 42
Bảng 3.10 Số lượng trocar sử dụng trong PTNS ổ bụng 42
Bảng 3.11 Cách thức khâu phục hồi BQ qua nội soi 42
Bảng 3.12 Thời gian phẫu thuật 43
Bảng 3.13 Số ngày nằm viện điều trị 43
Bảng 3.14 Thời gian rút dẫn lưu ổ bụng 44
Bảng 3.15 Thời gian rút dẫn lưu bàng quang qua niệu đạo 44
Bảng 3.16 Kết quả điều trị chung sau phẫu thuật 45
Trang 7Biểu đồ 3.1 Phân bố vỡ bàng quang theo giới 38
Biểu đồ 3.2 Nguyên nhân chấn thương gây vỡ bàng quang 39
Biểu đồ 3.3 Thương tổn của bệnh nhân trong VBQTPM 41
Trang 8Hình 1.1 Thiết đồ đứng dọc chậu hông nữ 5 Hình 1.2 Thiết đồ đứng dọc chậu hông nam 5 Hình 1.3 Vị trí các trocar thường sử dụng 17
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương bàng quang (Bladder injury) cho tới hiện nay theo trườngphái Anh – Mỹ được chia làm 3 loại [1]:
- Chấn thương bàng quang kín (Blunt injury to the bladder)
- Vết thương bàng quang (Penetrating injury to the bladder): vếtthương bàng quang do hỏa khí, vết thương bàng quang do dao
- Chấn thương bàng quang do các thủ thuật tại bàng quang (Iatrogenicbladder injury): sau soi bàng quang, sau đặt sonde niệu đạo, sau cắt
u xơ tuyến tiền liệt nội soi
Chấn thương bàng quang kín (vỡ bàng quang) bao gồm 3 loại hình tổnthương [1]:
Những bệnh nhân vỡ bàng quang vào viện với 3 loại bệnh cảnh khácnhau: vỡ bàng quang đơn thuần, vỡ bàng quang trong bệnh cảnh đa chấnthương (chấn thương sọ não, chấn thương ngực, vỡ xương chậu) và vỡ bàngquang trong bệnh cảnh chấn thương bụng kín có tổn thương tạng trong ổ bụng(tạng đặc hoặc tạng rỗng kèm theo)[2]
Vấn đề điều trị chấn thương bàng quang ngoài phúc mạc với đườngrách nhỏ, không rò nước tiểu ra ngoài thì điều trị bảo tổn Nếu có biến chứngapxe chỉ định phẫu thuật Vỡ bàng quang trong phúc mạc thì chỉ định phẫu
Trang 11thuật là tuyệt đối, nếu không phẫu thuật sớm sẽ gây viêm phúc mạc do nướctiểu, để càng lâu bệnh nhân càng có nguy cơ tử vong [3].
Tại Việt Nam, phương pháp mổ mở điều trị vỡ bàng quang trong phúcmạc được áp dụng từ những năm 1980 [4] Tới năm 2003, phương pháp điềutrị vỡ bàng quang nội soi được áp dụng lần đầu tiên [5] Ngày nay, phươngpháp phẫu thuật điều trị vỡ bàng quang trong phúc mạc bằng nội soi được ápdụng ở rất nhiều các cơ sở y tế, đa phần các bác sĩ đều có thể thực hiện được
kỹ thuật này Đối với vỡ bàng quang trong phúc mạc, phẫu thuật nội soi chorất nhiều lợi thế trong điều trị [6].Phẫu thuật nội soi có thế mạnh đối với vỡbàng quang tại vị trí đáy bàng quang, thành trước và thành sau bàng quang
Nhược điểm của phẫu thuật nội soi điều trị vỡ bàng quang không thựchiện được ở những bệnh nhân có vỡ khung chậu kèm theo, khối máu tụ ngoàiphúc mạc lớn, bệnh nhân đến muộn bụng chướng nhiều Phẫu thuật nội soikhông thể thực hiện được khi tổn thương bàng quang tại vị trí tam giác Trigol
và vùng cổ bàng quang [7]
Do vậy chúng tôi thực hiện đề tài "Đánh giá kết quả phẫu thuật nội
soi điều trị vỡ bàng quang trong phúc mạc do chấn thương tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức giai đoạn 2014 - 2019" với 2 mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân vỡ bàng
quang trong phúc mạc do chấn thương được điều trị bằng phẫu thuật nội soi ổ bụng.
2 Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi ổ bụng điều trị vỡ bàng quang
trong phúc mạc do chấn thương tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức giai đoạn 2014 - 2019
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Đặc điểm về giải phẫu và chức năng của bàng quang
1.1.1 Giải phẫu
Bàng quang là một tạng rỗng, nằm dưới phúc mạc, trong chậu hông bé,sau xương mu, trên cơ nâng hậu môn, trước các tạng sinh dục (túi tinh củanam, tử cung của nữ) và trực tràng Khi bàng quang không có nước tiểu sẽnằm trong tiểu khung sau xương mu và được bảo vệ bởi khung chậu và tầngđáy chậu nên khó vỡ Khi BQ chứa đầy nước tiểu sẽ nhô lên trên xương mu,
có khi lên tới rốn hình thành cầu BQ Bình thường BQ ở người lớn chứa được
từ 250 - 350 ml, khi bí đái BQ sẽ căng to, có thể chứa được một, hai lít nướctiểu và rất dễ vỡ khi có sang chấn trực tiếp
Bàng quang ở trẻ nhỏ nằm cao hơn ở trẻ lớn và người lớn, phần lớn BQ
ở ngoài tiểu khung, vì vậy khi khám dễ sờ thấy Khi có cầu BQ, bệnh nhân dễ
bị chấn thương gây vỡ bàng quang trong phúc mạc Dung tích BQ trẻ em tăngdần theo tuổi [8]:
Thành BQ từ ngoài vào trong gồm có 3 lớp:
- Thanh mạc (lớp ngoài cùng) là các mô liên kết xơ
- Lớp cơ gồm 3 lớp: Lớp ngoài là thớ dọc, lớp giữa là thớ vòng và lớptrong là thớ rối
Trang 13- Lớp niêm mạc BQ được cấu tạo bởi lớp biểu mô chuyển tiếp, lớp dướiniêm mạc có các mô liên kết chun.
Niệu đạo ở cổ BQ hình tròn và cách giữa khớp mu khoảng 3 cm Hainiệu quản chọc chếch qua thành sau BQ để đổ vào BQ Hai lỗ niệu quản và lỗniệu đạo tạo nên tam giác BQ, vùng tam giác tạo thành đáy BQ, cơ thắt ngoàiniệu đạo thuộc loại cơ vân, trong khi cơ thắt trong niệu đạo chỉ là hỗn hợp củasợi cơ vòng của cổ BQ và các sợi cơ dọc trong của niệu đạo sau
1.1.3 Liên quan bàng quang với phúc mạc và các tạng
Bàng quang rỗng nằm trong chậu hông bé sau xương mu Phía trước
BQ được che chở bởi nhánh ngang của xương mu và chỗ tiếp hợp hai xương
mu Phúc mạc che ở mặt trên và trải xuống mặt sau BQ Qua phúc mạc, BQliên quan với ổ bụng và các tạng trong ổ bụng như ruột, gan, lách Phía sau
BQ liên quan với các tạng sinh dục Phần lớn BQ gồm mặt trước, hai mặt bên,đáy bàng quang không được phúc mạc che phủ Đáy BQ ở nam áp vào thànhtrực tràng, gần cổ BQ có ống dẫn tinh và túi tinh Đáy BQ ở nữ áp vào thànhtrước âm đạo
Phúc mạc chỉ phủ mặt trên BQ, trải xuống phía sau BQ, đi ra sau vàphủ mặt trước tử cung ở nữ, phủ trước trực tràng ở nam tạo nên túi cùngDouglas (túi cùng bàng quang - trực tràng ở nam, túi cùng bàng quang - tửcung ở nữ) Phúc mạc chỉ phủ một phần trên của hai mặt bên BQ Phần lớn
BQ không liên hệ trực tiếp với phúc mạc Phúc mạc dính rất chặt với BQ ởphần trước của chỏm BQ, nên việc bóc phúc mạc ra khỏi ở phần này rất khó,khi vỡ BQ thì phúc mạc cũng rách theo
Trang 14Hình 1.1 Thiết đồ đứng dọc chậu hông nữ [25]
Hình 1.2 Thiết đồ đứng dọc chậu hông nam [25]
Trang 15Do cách cấu tạo các lớp cơ của BQ, liên quan của phúc mạc và BQ nên
có hai hình thái vỡ BQ về giải phẫu:
- Ở mặt trước BQ, hai bên và phía sau không được phủ phúc mạc Phầnnày nếu vỡ là vỡ BQ ngoài phúc mạc Qua khoang chậu hông dưới phúc mạc,
BQ liên quan với khoang Retzius phía trước, trực tràng và các hố ngồi trựctràng ở phía sau Đây là khoang lỏng lẻo, nên nếu vỡ BQ ở mặt trước và haimặt bên thì nước tiểu sẽ lan vào các khoang này
- Qua phúc mạc, BQ liên quan với các tạng trong ổ bụng Nếu vỡ phầnvòm BQ nước tiểu và máu sẽ vào ổ bụng qua lỗ thủng Đây là vỡ bàng quangtrong phúc mạc (VBQTPM) [9]
1.1.4 Chức năng của bàng quang
Bàng quang có 2 chức năng chủ yếu là: Giãn nở ra để chứa nước tiểu
từ thận chảy xuống và co bóp để tống nước tiểu ra ngoài qua niệu đạo.Hoạt động nhịp nhàng này do tác động của thần kinh và cấu tạo đặc biệtcủa cơ BQ
Trong quá trình chứa nước tiểu, bàng quang có đặc điểm:
- Không tái hấp thu nước tiểu
- Có cảm giác mót tiểu lúc BQ đầy (vai trò của vùng tam giác BQ và cổBQ) đảm bảo việc đi tiểu có kiểm soát) Lưu ý khi tổn thương vùng tam giác
BQ, cắt lọc phải tiết kiệm và tránh không khâu vào hai lỗ niệu quản
- Lúc BQ co bóp, không có hiện tượng trào ngược nước tiểu từ bàng quanglên niệu quản và thận mà chỉ có nước tiểu tống ra ngoài qua niệu đạo [10]
1.2 Nguyên nhân, tổn thương giải phẫu bệnh của vỡ bàng quang do chấn thương
1.2.1 Nguyên nhân [11]
Nguyên nhân trực tiếp:
Bao gồm những nguyên nhân do lực tác động trực tiếp vào vùng hạ vị
Trang 16Một nguyên nhân gây vỡ BQ hay gặp là chấn thương bụng kín vùngtrên xương mu, khi BQ đang căng (sau khi uống rượu bia hoặc uống nhiềunước, chưa đi tiểu đã lâu) do bị đánh bằng gậy hoặc đá, đấm, hoặc dotường đổ, sập hầm lò đè vào vùng này Những trường hợp n gã cao (máinhà, giàn giáo, cầu thang, trên cây) đập vùng bụng dưới rốn vào vật cứng lúc
BQ đang căng cũng có thể gây nên chấn thương vỡ BQTPM
Vỡ xương chậu do tai nạn giao thông (tai nạn ô tô, mô tô, xe máy, xecông nông, xe bò, xe đạp), hoặc do tai nạn lao động (ngã giàn giáo, đổ tường,sập hầm lò) Xương chậu gãy, ép vào thành BQ khi đang căng nước tiểu bằngmột lực đột ngột gây vỡ BQ Mặt khác, các mảnh nhọn sắc của xương chậugãy chọc thủng BQ khi đang căng, kể cả khi BQ ít hoặc không có nước tiểu.Khi vỡ xương chậu không vững, xương bị di lệch đột ngột và co kéo các dâychằng giữa xương mu và BQ, kéo giật đột ngột gây rách, vỡ BQ Trong vỡ xươngchậu gây vỡ BQ sẽ gặp vỡ BQ ngoài phúc mạc do đầu nhọn của xương chậu gãychọc thủng, hoặc sẽ là vỡ BQ trong phúc mạc do BQ bị ép khi đang căng đầy
Đối với vỡ BQ ngoài phúc mạc thì chỗ vỡ thường nằm ở mặt trước (đặcbiệt phần trên) và thường do đầu sắc nhọn của mảnh xương chậu vỡ di lệchđột ngột chọc thủng khi BQ ít nước tiểu hoặc không chứa nước tiểu, ở mặtsau và hai bên thì hiếm gặp Xương chậu gãy không vững làm đứt các dâychằng BQ - mu, đồng thời làm giật rách BQ ở tại nơi bám của dây chằng đó.Trong gãy xương chậu không vững di lệch làm các đầu sắc nhọn của cácmảnh xương chậu vỡ đâm thủng BQ Nước tiểu và máu lan vào khoangRetzius và các khoang quanh trực tràng Đây là vỡ BQ ngoài phúc mạc [2],[3],[4]
Trang 171.2.2 Tổn thương giải phẫu bệnh của vỡ bàng quang trong phúc mạc do chấn thương [12].
* Đụng dập
Tổn thương thường chỉ ở một phần chiều dầy thành BQ, rách niêm mạc
BQ hoặc tụ máu xen kẽ giữa các lớp cơ bị rách Thương tổn luôn đi từ trong
ra ngoài, sau một thời gian, chỗ dập BQ có thể hoại tử, gây ra thủng BQ muộnnếu không được điều trị Đây là loại tổn thương khó chẩn đoán xác định, dễnhầm với đứt niệu đạo sau không hoàn toàn hoặc với chấn thương dập thậnloại nhẹ Loại thương tổn thành BQ chưa vỡ hoàn toàn có thể điều trị bảo tồnbằng đặt ống thông vào BQ qua niệu đạo, điều trị kháng sinh và theo dõi sátdiễn biến lâm sàng
*Vỡ bàng quang trong phúc mạc
Đường vỡ cả ba lớp của thành bàng quang
- Vị trí chỗ vỡ BQ nằm ở vùng vòm hay mặt sau BQ đường vỡ thườngrộng dọc từ trước ra sau, thường là trong phúc mạc, chiếm khoảng gần 60%các trường hợp vỡ BQ Vỡ BQ cả ba lớp mở thông vào ổ bụng (VBQTPM),máu và nước tiểu vào trong ổ bụng qua chỗ vỡ, lúc đầu chưa có phản ứngthành bụng (nước tiểu vô khuẩn), sau một vài giờ máu lẫn nước tiểu nhiễmkhuẩn gây viêm phúc mạc
*Vỡ bàng quang ngoài phúc mạc
- Chỗ vỡ BQ nằm ở hai mặt bên hay mặt trước của BQ thường là ngoàiphúc mạc, nó mở thông vào tổ chức khoang chậu hông dưới phúc mạc.Đường rách cả ba lớp của BQ chỗ không có phúc mạc phủ hoặc một lỗ thủngnhỏ do mảnh xương vỡ đâm thủng, máu và nước tiểu sẽ qua lỗ thủng vàokhoang Retzius và các khoang của vùng đáy chậu Những trường hợp vỡ BQ
lỗ nhỏ nằm ở mặt trước BQ nhiều khi rất khó chẩn đoán, dễ bị bỏ sót hoặcchẩn đoán muộn Nước tiểu lẫn máu theo chỗ vỡ lan toả vào vùng trước BQ
Trang 18và thâm nhiễm vào khoang sau xương mu có khi xuống cả vùng dương vật vàbìu, lan cả vào chỗ xương chậu gãy
Bệnh nhân đến bệnh viện sau chấn thương do tai nạn giao thông (xe ô
tô, mô tô, xe công nông, xe máy, xe đạp), tai nạn lao động (đổ tường, ngãgiáo), tai nạn sinh hoạt (bị đá, đánh bằng gậy vào vùng dưới rốn) khi BQ đangcăng với các dấu hiệu sau:
- Sốc chấn thương: Ngay sau khi bị chấn thương bệnh nhân có thể rơi vàotình trạng sốc chấn thương có thể dẫn tới tử vong nếu không được cấp cứu kịpthời Dấu hiệu của sốc chấn thương do đau, mất máu, các thương tổn phối hợp
dễ làm cho triệu chứng của vỡ BQ bị lu mờ, bị bỏ qua
- Đau bụng vùng dưới rốn, nếu là vỡ BQ trong phúc mạc, đau sẽ lan toảdần khắp bụng
- Rối loạn tiểu tiện: bệnh nhân không đái được, mót đi tiểu liên tục, khóđái, nhưng nếu có đái được thì chỉ đái được vài giọt hoặc vài ml nước tiểu lẫnmáu Tiểu tiện buốt, đôi khi mất cảm giác tiểu tiện
- Cầu bàng quang: không có cầu bàng quang khi khám, mặc dù bệnhnhân chưa đi tiểu trước đó nhiều giờ hoặc chưa được thông đái trước đó
Một số tình huống có thể gặp:
Trang 19+ Khi vỡ BQ mà chấn thương vùng tiểu khung, các cơ thành bụng vùngdưới rốn bị đụng dập co cứng hoặc phản ứng, tụ máu lớn, đau bụng tăng nênkhó khám xác định được cầu bàng quang
+ Khi khám có cầu bàng quang không chỉ riêng trong đứt niệu đạo cótriệu chứng này, mà còn gặp khi vỡ BQ trong phúc mạc lỗ thủng BQ đượcmạc nối lớn và các quai ruột bịt lại
+ Những bệnh nhân lúc đầu tổn thương dập thành BQ (vẫn có thể cócầu bàng quang) đi đái nước tiểu có thể vàng hoặc đái máu vi thể Vài ngàysau nước tiểu có máu, lúc này BQ hoại tử tại chỗ dập và gây vỡ thủng, ởnhững bệnh nhân này thường khó chẩn đoán, mà thường phát hiện khi đã cóviêm phúc mạc
+ Tụ máu lớn vùng dưới rốn ngay trên xương mu, tiến triển lan nhanhcùng với biểu hiện mất máu
Khám bụng có thể phân biệt được hai bệnh cảnh lâm sàng đặc biệt sau:
* Đối với vỡ bàng quang trong phúc mạc:
- Nếu bệnh nhân đến sớm: bụng mềm không có phản ứng hoặc chỉ phảnứng nhẹ vùng dưới rốn, thường đau bụng dưới Nếu khi vỡ bàng quang đangcăng thì khám bụng có dấu hiệu có dịch trong ổ bụng (gõ đục vùng thấp)
- Nếu bệnh nhân đến muộn: bệnh nhân đau nhiều vùng dưới rốn, có thể
có phản ứng thành bụng vùng dưới rốn, có cảm ứng phúc mạc hoặc co cứngthành bụng và gõ đục vùng thấp (dấu hiệu của viêm phúc mạc nước tiểu)
- Khám không thấy cầu bàng quang
- Thăm trực tràng hoặc âm đạo, trong vài giờ đầu chưa có tình trạngviêm phúc mạc chỉ thấy túi cùng Douglas đầy vì có dịch đọng và hơi đau.Muộn hơn khi có tình trạng viêm phúc mạc, thì thăm trực tràng hoặc thăm âmđạo (ở nữ đã có chồng con) túi cùng Douglas sẽ rất đau
Trang 20* Đối với vỡ bàng quang ngoài phúc mạc:
- Khám bụng sẽ thấy một khối lình phình nước tiểu, hoặc nước tiểu lẫnmáu ở vùng bụng dưới sát trên xương mu, khối này có thể lan cả sang hai bên
hố chậu, hoặc xuống tới gốc dương vật và bìu
- Khi thăm trực tràng hoặc âm đạo có thể thấy khối này, những giờ đầuđau ít, sau vài giờ có viêm nhiễm sẽ rất đau
- Khám xương chậu thấy toác hoặc di lệch khớp mu, dồn ép khungchậu, bệnh nhân đau, điểm đau chói (dấu hiệu vỡ xương chậu)
1.3.1.2 Thông đái
Chỉ định thông đái: khi không có nghi ngờ bị đứt niệu đạo (vì nguy cơkhi thông đái sẽ biến 1 niệu đạo đứt không hoàn toàn thành 1 niệu đạo đứthoàn toàn, hoặc nếu đã đứt rồi thì 2 đầu đứt càng dễ xa nhau), thông đái sẽgóp phần khá quan trọng trong việc chẩn đoán vỡ BQ
Tiến hành thủ thuật nhẹ nhàng, đảm bảo vô trùng tuyệt đối và do thầythuốc chuyên khoa có kinh nghiệm hoặc bác sĩ trực có kinh nghiệm tiến hành,chỉ dùng ống thông Nelaton hoặc Foley để thông đái, không được dùng ốngthông kim loại để thông đái trong trường hợp này
Kết quả thông đái: ống thông qua niệu đạo vào BQ dễ dàng, ra vài mlnước tiểu lẫn máu cục, có khi ra 100 - 200ml nước tiểu đỏ lẫn máu, tia nướctiểu yếu, nhưng không có tia nước tiểu cuối bãi (Tia nước tiểu cuối bãi: khinước tiểu theo ống thông ra gần hết có một tia mạnh nước tiểu do co bóp củabàng quang, sau đó hết hẳn)
Tuy nhiên, nên cẩn thận trong những trường hợp VBQTPM, đôi khinước tiểu vẫn rút ra được rất nhiều qua ống thông đái Tình trạng này có thể
do chỗ BQ vỡ bị bịt bởi ruột hay mạc nối lớn hoặc chỗ vỡ quá lớn làm thông
dễ dàng giữa BQ và ổ bụng nên nước tiểu đã vào ổ bụng có thể ngược trở lại
BQ qua chỗ vỡ hoặc khi đặt ống thông đái đã vào BQ mà đầu ống thông đái
Trang 21tiếp tục vượt qua thành BQ tại chỗ vỡ vào ổ bụng, nên nước tiểu từ ổ bụngtheo ống thông ra ngoài, chú ý quan sát tia nước tiểu khi thông đái kể cả khinhiều nước tiểu vẫn không có tia nước tiểu cuối bãi
Ngoài ra, qua ống thông đái có thể bơm từ 300ml đến 500ml dungdịch Natriclorua 0,9% vô khuẩn vào BQ Nếu thể tích bơm vào được rút rađầy đủ thì BQ có thể không vỡ Nếu thể tích rút ra rất ít so với thể tích bơmvào thì có thể BQ đã bị vỡ Tuy nhiên một số tác giả không đồng ý dùngphương pháp này vì có thể gây nhiễm khuẩn rộng ổ bụng, đôi khi phươngpháp này cũng hạn chế khi có sự thông thương giữa BQ và ổ bụng do chỗ
vỡ BQ quá rộng
Thông đái còn giúp chẩn đoán phân biệt giữa vỡ BQ và đứt niệu đạosau: Trong đứt niệu đạo sau, thông đái không thông được, khi rút ống thông
có máu chảy ra miệng sáo hoặc ống thông đái có dính máu, đứt niệu đạo sau
có cầu bàng quang Khi vỡ BQ kèm đứt niệu đạo sau sẽ vừa không thông đáiđược và không có cầu BQ
1.3.1.3 Triệu chứng cận lâm sàng
Siêu âm ổ bụng và hệ tiết niệu:
Có các dấu hiệu sau:
- Có dịch trong ổ bụng
- Có thể thấy máu cục trong BQ, hoặc hình ảnh tổn thương thành BQ(đường vỡ, thành BQ mất liên tục) Có thể không thấy hình ảnh BQ, mặc dùtrước khi siêu âm bệnh nhân chưa đi đái hoặc chưa thông đái (BQ vỡ khôngcòn nước tiểu)
- Có thể thấy hình ảnh đầu ống thông đái vượt qua thành BQ vào ổbụng, hoặc ra ngoài
- Qua ống thông đái bơm nước muối sinh lý vô khuẩn rồi quan sát dướisiêu âm khi bơm, sẽ thấy nước tràn vào ổ bụng qua chỗ vỡ của BQ [5]
Trang 22- Có thể thấy các hình ảnh tổn thương tạng phối hợp: vỡ gan, vỡ lách,
vỡ thận, vỡ tử cung
Chụp bụng không chuẩn bị cấp cứu:
Có thể có các hình ảnh:
+ Dịch trong ổ bụng: hình ảnh ổ bụng bị mờ ở vùng thấp, hình ảnhthành quai ruột dầy lên, quai ruột bị giãn hơi (nhưng ngoài nước tiểu do vỡ
BQ còn có dịch và máu do vỡ ruột, vỡ gan, vỡ lách )
+ Hình ảnh gãy xương chậu
+ Tổn thương các tạng rỗng kết hợp: hình ảnh liềm hơi dưới vòm hoànhmột bên hoặc hai bên
Những hình ảnh này chỉ cho biết có chấn thương bụng, không đặc hiệucho chẩn đoán vỡ bàng quang
Chụp bàng quang ngược dòng
Trong những điều kiện cho phép như: tình trạng bệnh nhân có huyếtđộng ổn định và tổn thương phối hợp nhẹ cho phép, những trường hợp nàychụp BQ ngược dòng rất có giá trị để chẩn đoán vỡ BQ nhất là trong nhữngtrường hợp khó, nhưng chỉ áp dụng trong trường hợp không đứt niệu đạo, đặtđược thông đái vào BQ Qua ống thông đái bơm thuốc cản quang với khốilượng vừa đủ (300 ml), rồi chụp phim bụng lấy cả vùng tiểu khung Nếukhông có vỡ BQ thì thuốc sẽ ở trong lòng BQ Nếu vỡ BQ sẽ thấy thuốc cảnquang tràn ra ngoài trông như hình túi gắn liền với BQ hoặc thuốc cản quanglan toả vào ổ bụng xen giữa các quai ruột (VBQTPM) Kết quả chụp BQngược dòng mà hình ảnh BQ bình thường thì có thể khẳng định chắc chắnkhông có vỡ BQ [13]
Lưu ý: khi bơm dưới 250ml chất cản quang để chụp bàng quang ngượcdòng, nhiều khả năng sẽ được kết quả âm tính giả
Trang 23Bằng cách bơm hơi vào bàng quang: sau khi thông đái nước tiểu ra hết,bơm khoảng 300 ml hơi vào qua ống thông, kẹp ống thông lại và chụp phim,
sẽ thấy liềm hơi dưới vòm hoành trên phim chụp
Chụp UIV
Khi chụp UIV, cần chú ý thì BQ: chất cản quang qua lỗ thủng toả ra lantoả ra khắp ổ bụng, lan lên các rãnh đại tràng và quanh các quai ruột non, trongcác phim chụp chậm có thể thấy những hình ảnh đặc biệt của VBQTPM [13]
Nội soi ổ bụng chẩn đoán và điều trị VBQTPM
Trong những trường hợp chấn thương bụng kín, việc xác định BQ có vỡhay không vỡ, có tổn thương tạng khác trong ổ bụng phối hợp hay không đôi khigặp nhiều khó khăn Đó cũng là mối lo âu của phẫu thuật viên, dẫn đến việc phải
mở một đường rất rộng để không bỏ sót tổn thương Nội soi đã giúp chẩn đoánnhanh chóng các thương tổn phối hợp trong ổ bụng khi chưa có chướng bụng.Hơn nữa VBQTPM thường nằm ở vùng vòm và đường vỡ thường từ trước rasau, vị trí này dễ được tiếp cận bởi phẫu thuật nội soi Khi VBQTPM đơn thuần,đến sớm, chưa có triệu chứng viêm phúc mạc, nên chưa có chướng bụng rấtthuận lợi cho việc chẩn đoán và khâu BQ bằng nội soi [15]
Soi bàng quang
Có thể thực hiện phương pháp này Nhưng có một số bất lợi như dễ gâytình trạng nhiễm khuẩn, BQ vỡ nên khó có thể làm căng BQ, do đó quan sát
BQ rất khó
Trang 241.3.2 Điều trị
Nguyên tắc:
- Phát hiện sốc và điều trị sốc
- Phát hiện và điều trị các tổn thương ảnh hưởng tính mạng
- Điều trị thương tổn bàng quang
1.3.2.1 Phát hiện sốc và điều trị sốc nếu có:
Tìm các dấu hiệu của sốc: da và niêm mạc nhợt, tái, vã mồ hôi, chântay lạnh, thở nhanh nông Kiểm tra thấy mạch nhanh, nhỏ, trên 100 lần /1phút, huyết áp hạ <90 mmHg Có trường hợp huyết áp không đo được, mạchnhanh nhỏ khó bắt
Tìm xem nguyên nhân sốc ở đây là do đau đớn của chấn thương haysốc mất máu để hồi sức chống sốc có hiệu quả bằng truyền máu dịch hoặc chogiảm đau và khám phát hiện các tổn thương khác
1.3.2.2 Xử trí các tổn thương phối hợp nặng khác
Các tổn thương nguy hiểm đe doạ đến tính mạng bệnh nhân: chấnthương sọ não, chấn thương ngực, vết thương mạch máu, vỡ tạng đặc trong ổbụng, vỡ cơ hoành
1.3.2.3 Xử lý tình trạng thương tổn vỡ bàng quang:
Xử lý thương tổn của BQ có thể là đơn độc hoặc xử lý song song đồngthời với các tổn thương phối hợp khác
* Chỉ định phẫu thuật nội soi ổ bụng vỡ bàng quang trong phúc mạc
- Chẩn đoán xác định bệnh nhân có vỡ bàng quang
* Chống chỉ định phẫu thuật vỡ bàng quang nội soi [16]
- Bệnh nhân đang có tình trạng sốc nhiễm trùng, rối loạn huyết động
- Bệnh nhân có chống chỉ định bơm hơi vào ổ bụng: suy tim, cao huyết
áp, tăng áp lực nội sọ
Trang 25- Bệnh nhân có đa chấn thương nặng:
+ Chấn thương sọ não nặng: bệnh nhân hôn mê hoặc có máu tụ trongnão có tăng áp lực nội sọ
+ Lồng ngực: chấn thương đụng dập phổi gây suy hô hấp nặng
+ Đa gãy xương có kèm theo sốc không đáp ứng với hồi sức ban đầukhi vào viện
+ Bệnh nhân có mổ bụng cũ với đường mổ lớn hoặc mổ nhiều lần
* Kỹ thuật mổ:
- Vô cảm trong mổ
Phẫu thuật được thực hiện với gây mê Nội khí quản
- Dụng cụ phẫu thuật: Bộ dụng cụ phẫu thuật nội soi ổ bụng thông
thường
- Quá trình thực hiện:
Bệnh nhân nằm ở tư thế Trendelenburg
Phẫu thật viên đứng bên trái, phụ mổ đứng bên phải bệnh nhân
Đặt sonde niệu đạo
+ Bước 1: Vị trí các trocar:
Trocar thứ nhất: là trocar 10mm tại rốn Trocar thứ hai: ở hố chậu bên phải 10 mm ở đường giữa đònhoặc bờ ngoài cơ thẳng bụng
Trocar thứ 3: trocar 5mm nằm trên xương mu tại đường trắnggiữa dưới rốn
Trang 26Hình 1.3 Vị trí các trocar thường sử dụng [13]
+ Bước 2: Đánh giá tổn thương
Hút, làm sạch ổ bụng, lấy dịch ổ bụng cấy khuẩn, làm kháng sinh đồ Qua lỗ thủng BQ do vỡ đánh giá mức độ tổn thương: đường vỡ, vỡ trongphúc mạc đơn thuần hay phối hợp với vỡ ngoài phúc mạc, đường vỡ có ảnhhưởng đến cấu trúc quan trọng của BQ không như: lỗ đổ niệu quản vào BQ,tam giác BQ
Xử lý thương tổn BQ:
- Cắt lọc gọn, sạch, tiết kiệm mép BQ vỡ
- Nếu đường rách nằm ở vùng đáy bàng quang:
Khâu phục hồi thành BQ một lớp hoặc hai lớp, sử dụng mũi khâu rời hay vắttùy theo vị trí tổn thương, theo kinh nghiệm của phẫu thuật viên Chỉ khâu làchỉ Vicryl 2/0, 3/0, chú ý lộn niêm mạc BQ vào trong
- Nếu đường rách bàng quang nằm vùng tam giác Trigol: phải đặtsonde JJ vào niệu quản một bên hoặc hai bên trước khi khâu bàng quang
- Sau khi khâu kín BQ xong tiến hành bơm 300-500ml nước muốisinh lý làm căng BQ kiểm tra xem còn xì nước tiểu ra không, đảm bảođường khâu chắc và kín
- Đặt dẫn lưu ổ bụng
Trang 27- Đóng da theo các lớp giải phẫu
* Điều trị sau mổ:
- Cho kháng sinh ngay từ đầu
- Đảm bảo dinh dưỡng cho bệnh nhân
- Ống dẫn lưu ổ bụng: chăm sóc kiểm tra không được để tắc, chỉ rútkhi hết dịch chảy ra
- Dẫn lưu BQ trên mu (nếu có): không được để tắc, nếu có máu cụchoặc cặn thì phải bơm rửa hoặc thay sonde, sau mổ từ 7 đến 10 ngày kẹp thửnếu bệnh nhân đái tốt thì rút
- Dẫn lưu BQ qua niệu đạo: thì thường để 4 đến 7 ngày sau mổ, rút dẫnlưu qua niệu đạo cho bệnh nhân tự đái Qua dẫn lưu đánh giá nước tiểu hàngngày, chăm sóc chú ý không được để tắc sonde Tốt nhất nên đặt sonde Foley
3 chạc bơm rửa liên tục hàng ngày
1.3.3 Kết quả điều trị
1.3.3.1 Khỏi bệnh
Sau 4 - 7 ngày bệnh nhân không sốt, vết mổ khô, liền tốt, các ống dẫnlưu được rút, bệnh nhân tiểu tự chủ tốt
- Khả năng chứa đựng nước tiểu của bàng quang trong giới hạn cho phép
- Tiểu phải dễ, phải hết nước tiểu, không có tiểu đêm
- Không có biến chứng trong mổ, sau mổ
Các tổn thương kết hợp hoàn toàn ổn định và có ý kiến của chuyên khoa
1.3.3.2 Biến chứng
- Tắc ống dẫn lưu BQ (qua niệu đạo hoặc trên xương mu) do máu cục:
có thể bơm rửa bằng dung dịch Natriclorua 0,9% vô khuẩn, hoặc thay bằngống dẫn lưu to hơn (lưu ý: ống dẫn lưu BQ phải đủ to và phải tráng silicon).Nếu vẫn tắc do chảy máu nhiều phải mổ lại kiểm tra và cầm máu rồi dẫn lưu
BQ lại
Trang 28- Chảy máu sau mổ:
+ Chảy máu gây tắc ống dẫn lưu BQ chỉ cần bơm rửa, hoặc thay ốngdẫn lưu BQ khác
+ Chảy máu nhiều phải mổ lại để cầm máu và dẫn lưu lại
- Vết mổ nhiễm khuẩn: Có thể thấy tấy đỏ chân chỉ vết mổ hoặc chảy
mủ vết mổ hoặc toác vết mổ
- Nhiễm khuẩn bàng quang: Đái ra mủ, đái máu, đái đục, đái buốt
- Áp xe tiểu khung: Do dẫn lưu Douglas không được tốt, dịch ứ lại gâyviêm nhiễm
- Bục vết khâu BQ: Rò nước tiểu vào ổ bụng gây viêm phúc mạc toànthể Phải phát hiện sớm để mổ cấp cứu lại ngay
- Tử vong: Nguyên nhân tử vong thường do các thương tổn nặng phối
hợp, do sốc đa chấn thương, tỉ lệ gặp trong vỡ bàng quang khoảng từ 10-20%
1.4 Tình hình nghiên cứu chấn thương BQ trong nước và thế giới
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Tình hình nghiên cứu chẩn đoán vỡ bàng quang.
Phát hiện ra thương tổn vỡ BQ và tìm ra các phương pháp điều trị đã cólịch sử lâu đời Ghi nhận trong y văn, thời Hypocrates, ông đã cho rằng vếtthương bàng quang là một bệnh nặng mà việc chẩn đoán, điều trị còn gặpnhiều khó khăn và tử vong là điều khó tránh
Richard A Santucci, Jack W Mc Aninch cho rằng: Vỡ BQ là một bệnhhiếm, thường liên quan với chấn thương nặng và tử vong cao [17]
Theo Cass AS (1989) sau một chấn thương, bệnh nhân có đau vùngbụng dưới rốn, bí đái, đái máu đại thể hoặc vi thể, phải xem ngay bệnh nhân
có tổn thương BQ, niệu đạo sau, hay tổn thương cả hai không Cũng theo ôngthì chụp BQ ngược dòng với 400ml thuốc cản quang sẽ thấy hình ảnh vỡ BQ
Trang 29trong hoặc ngoài phúc mạc nếu BQ vỡ, kết quả nhiều khả năng sẽ âm tính giảnếu chỉ bơm <250ml thuốc cản quang khi chụp BQ ngược dòng [3].
Low FC, Fishman EK, Oesterlng JE (1989) có nghiên cứu về chụp cắtlớp vi tính trong chẩn đoán vỡ bàng quang [14] Trong 316 bệnh nhân chụpcắt lớp vi tính phát hiện vỡ bàng quang với độ nhạy và độ đặc hiệu tương ứng
là 95% và 100% Đối với vỡ bàng quang trong phúc mạc thì độ nhạy là 78%
và độ đặc hiệu là 99%
Năm 2000, Jonathan P Vaccaro, MD and Jeffrey M Brody, MD đãchia vỡ BQ thành 5 nhóm, căn cứ vào hình ảnh chụp cắt lớp vi tính BQ và tổnthương giải phẫu [18]:
- Nhóm 1: Đụng dập BQ đơn thuần (simple bladder contusion)
- Nhóm 2: Vỡ BQ trong phúc mạc (intraperitoneal rupture)
- Nhóm 3: Chấn thương khe, kẽ giữa các lớp BQ (interstitial bladder injury)
- Nhóm 4: Vỡ BQ ngoài phúc mạc (extraperitoneal rupture)
- Nhóm 5: Vỡ BQ kết hợp (intraperitoneal and extraperitoneal rupture).Năm 2001, Sarah Shaves và cộng sự nhận thấy trong 44 BN được chụpcắt lớp vi tính (CTcystography) có bơm thuốc cản quang vào BQ để chẩnđoán chấn thương VBQ cho kết quả độ nhạy và độ chính xác của phươngpháp này là từ 95-99% [19]
Năm 2002, Hsieh CH nghiên cứu thấy trong 33 BN bị VBQ do chấnthương bụng được chụp cắt lớp vi tính chỉ có 20 BN (60,6%) cho chẩn đoánchính xác vỡ BQ Trong 24 BN bị vỡ BQ được chụp BQ ngược dòng có 23
BN (95,9%) cho chẩn đoán chính xác vỡ BQ Nhóm nghiên cứu cho biếtnhững hạn chế của chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán VBQ Cũng theonhóm tác giả trên trong 51 BN bị vỡ BQ thì có 3 BN (5,88%) chẩn đoán chậmtrễ, còn lại 48 BN có thời gian trung bình để chẩn đoán là 3,2 giờ Họ còn chorằng thời gian cần để chẩn đoán không liên quan với mức độ nặng của chấn
Trang 30thương trên bệnh nhân, nhưng thời gian bệnh nhân nằm viện phụ thuộc vàomức độ nặng của chấn thương trên bệnh nhân, mà không phụ thuộc vào tổnthương của bàng quang [20].
Trong một nghiên cứu của khoa Tiết niệu thuộc đại học Y Ayub,Abbottabad (2004): trong 10 năm có 260 BN phẫu thuật VBQ do chấnthương Tuổi BN bị VBQ từ 5-75 tuổi, về giới thì nam nhiều hơn nữ Vềnguyên nhân gây VBQ: có 35% BN bị VBQ do tai nạn giao thông, 35% BN
bị VBQ do tai biến của thầy thuốc (đặc biệt là thầy thuốc Phụ khoa), 20% BN
bị VBQ do ngã cao, 10% BN bị VBQ do đạn súng ngắn Như vậy có 70% số
BN phẫu thuật VBQ là do tai nạn giao thông và do thầy thuốc gây nên [11]
Ziran BH (2005) đã có nghiên cứu về khó khăn và chậm trễ trong chẩnđoán chấn thương đường tiết niệu thấp trong vỡ xương chậu Kết quả nghiêncứu có 23% chẩn đoán chấn thương đường tiết niệu thấp (VBQ và đứt niệuđạo sau) do vỡ xương chậu bị chậm, bỏ sót Sự chẩn đoán và điều trị chậmtrung bình đối với VBQTPM là 19 h, còn đối với VBQNPM là 6,7 ngày [21]
Tình hình nghiên cứu điều trị vỡ bàng quang
Tình hình nghiên cứu điều trị vỡ bàng quang bằng phương pháp mổ mở
Tarnowsky 1930, Baker 1940, Culp 1942 đã có những nghiên cứu vềđiều trị bảo tồn không mổ cho những bệnh nhân bị vỡ BQ ngoài phúc mạc cókết quả, xong tỷ lệ tử vong quá cao vì những biến chứng nhiễm khuẩn, nênkhuynh hướng điều trị bảo tồn nhanh chóng bị lãng quên [22]
Từ những năm 1970 trở lại đây xuất hiện trở lại khuynh hướng điều trịbảo tồn có chọn lọc đối với những bệnh nhân bị vỡ BQ ngoài phúc mạc
Cass AS, Flancblaum L, Richarson JR đã lựa chọn BN trong những BN
bị vỡ BQ ngoài phúc mạc để điều trị bảo tồn, họ đã thu được kết quả khá hơn,nhưng tỷ lệ biến chứng vẫn còn cao [3],[5]
Trang 31Richardson J.R và Leabetter G.W đã lựa chọn BN điều trị bảo tồn dựatheo tiêu chuẩn sau:
- Những BN chẩn đoán chắc chắn có vỡ BQ nhưng không có tổnthương tạng phối hợp khác của ổ bụng, đến bệnh viện sớm, không có tiền sửviêm nhiễm đường tiết niệu, không có bệnh về tiết niệu và sinh dục
- Những BN này được điều trị bằng đặt ống thông đủ lớn qua niệu đạovào BQ để nước tiểu lẫn máu từ BQ qua ống thông này ra hết, cho kháng sinhphổ rộng, theo dõi chặt chẽ BN và ống dẫn lưu Nếu diễn biến tốt, tiếp tụcđiều trị bảo tồn Nếu BN diễn biến xấu đi, sẽ chuyển mổ cấp cứu ngay để sửachữa khâu BQ và dẫn lưu BQ [23]
Theo Corriere JN,Sandler CM, (1999) nhận thấy: tất cả bệnh nhân bịVBQTPM đều phải mổ khâu sửa chữa bàng quang vỡ và dẫn lưu BQ, kiểmtra và xử lý các tạng khác trong ổ bụng có tổn thương kèm theo, lau rửa sạch
ổ bụng và dẫn lưu tốt ổ bụng Những bệnh nhân bị vỡ BQ ngoài phúc mạc cóthể chọn lọc để điều trị bảo tồn không mổ, bằng dẫn lưu BQ, nếu nước tiểu lẫnmáu loãng dần, dẫn lưu BQ thông tốt, cổ BQ không tổn thương Những trườnghợp điều trị bảo tồn không kết quả, các trường hợp vỡ BQ không có chỉ định bảotồn, chỉ định mổ sửa chữa bàng quang là bắt buộc [24]
Margolin DJ, Gonzalez RP (2004): Trong nhóm những bệnh nhân vỡ
BQ nghiên cứu đã loại trừ những bệnh nhân vỡ BQ có kèm đứt niệu đạo sau.Kết luận cho thấy: không có sự khác biệt về thời gian dẫn lưu giữa nhóm dẫnlưu BQ qua niệu đạo với nhóm dẫn lưu bàng trên mu kết hợp với dẫn lưu quaniệu đạo Dẫn lưu qua niệu đạo có thể áp dụng cho tất cả bệnh nhân chấnthương BQ khi không có đứt niệu đạo kèm theo [25]
Theo Alli, Mohammad Ozair, Singh, Bhugwan (2003): 42 bệnh nhân bị
vỡ BQ có tuổi trung bình 29,6, chia làm 2 nhóm sau khi khâu phục hồi BQ,một nhóm dẫn lưu BQ trên mu, nhóm còn lại dẫn lưu qua niệu đạo Kết quả là
Trang 32nhóm BN dẫn lưu BQ qua niệu đạo có thời gian nằm viện ngắn hơn và tỷ lệ biếnchứng thấp hơn nhóm BN dẫn lưu trên mu hoặc hai đường [26]
Tình hình nghiên cứu điều trị vỡ bàng quang bằng phương pháp nội soi
Năm 1990 Harry Reich thực hiện thành công lần đầu tiên việc nội soi ổbụng để khâu lỗ thủng BQ do tai biến trong PTNS sản phụ khoa [27]
Năm 1994 Para H đã thực hiện khâu lỗ thủng BQ qua nội soi ổ bụng ởbệnh nhân bị tai biến thủng BQ sau sinh thiết bàng quang với kết quả tốt [28]
Cottam D, Gorecki PJ và cộng sự (2001) đã nội soi chẩn đoán và điều trịcho bệnh nhân vỡ BQ vùng vòm dài 4 cm đạt kết quả tốt, khi các dấu hiệu lâmsàng và cận lâm sàng khác chưa cho chẩn đoán xác định [29]
Matsui Y, Ohara H và cộng sự (2003) đã thực hiện PTNS cấp cứu chobệnh nhân nam 61 tuổi bị vỡ bàng quang hỗn hợp cũng đạt kết quả tốt [30]
Các tác giả trên đều cho rằng khâu thủng BQ qua nội soi chỉ nên thựchiện có chọn lọc: khi thương tổn nhỏ, dễ tiếp cận, vỡ BQ đơn thuần đến sớmchưa có viêm phúc mạc, chưa có trướng bụng, tình trạng huyết động ổn định.Một số tác giả cho rằng PTNS để chẩn đoán và điều trị vỡ BQ nên đượcnghiên cứu và thảo luận tiếp
1.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Tình hình nghiên cứu chẩn đoán vỡ bàng quang.
Năm 1965, Trần Mạnh Chu đã đề cập đến vết thương BQ trong cuốn
“Điều lệ xử trí vết thương” và đã báo cáo kinh nghiệm điều trị vết thươngbàng quang ở Viện Quân y 108 năm 1966 [31]
Năm 1976 Lê Ngọc Từ đã báo cáo kinh nghiệm về chẩn đoán và điềutrị 14 trường hợp vỡ BQ do gãy xương chậu trong 3 năm (1972 – 1975) tạibệnh viện Việt Đức [12]
Năm 1977 Nguyễn Bửu Triều, Lê Ngọc Từ đã báo cáo các biến chứng tiếtniệu trong vỡ xương chậu trong đó có 7-15% trường hợp vỡ bàng quang [32]