syndrome – PCOS là một nguyên nhân thường gặp, vì vậy với mong muốnlàm rõ và xác giá trị ngưỡng trong tiên lượng QKBT của các yếu tố tiên lượngnày ở nhóm bệnh nhân có và không có buồng t
Trang 1ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Hồ Sỹ Hùng
HÀ NỘI - 2019 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 2BVPSTW : Bệnh viện phụ sản trung ương
FSH : Follicle stimulating hormone (hormone kích thích nang trứng)GnRH : Gonadotropin – releasing hormone (hormone giải phóng
gonadotropin)hCG : Human chorionic gonadotropin (hormone rau thai người)HTSS : Hỗ trợ sinh sản
IVF : In vitro fertilization (thụ tinh trong ống nghiệm)
KTBT : Kích thích buồng trứng
LH : Luteinizing hormone (hormone hoàng thể hóa)
POR : Poor ovarian response (buồng trứng đáp ứng kém)
QKBT : Quá kích buồng trứng
WHO : World heath organization (Tổ chức y tế thế giới)
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đại cương về vô sinh 3
1.1.1 Định nghĩa vô sinh 3
1.1.2 Phân loại vô sinh 3
1.1.3 Tình hình vô sinh trên thế giới và tại Việt Nam 4
1.1.4 Nguyên nhân vô sinh nữ 4
1.2 Sự phát triển của nang trứng và phóng noãn 5
1.2.1 Giai đoạn nang trứng 5
1.2.2 Hiện tượng phóng nõan 6
1.3 Dự trữ buồng trứng 7
1.3.1 Anti - Mullerian Hormon 7
1.3.2 Đếm nang noãn thứ cấp 10
1.4 Kích thích buồng trứng 11
1.4.1 Cơ sở lý thuyết và nguyên lý của KTBT 12
1.4.2 Các phác đồ KTBT trong IVF 12
1.5 Buồng trứng đa nang 13
1.5.1 Định nghĩa 13
1.5.2 Chẩn đoán phân biệt 15
1.6 Hội chứng quá kích buồng trứng 15
1.6.1 Khái niệm 15
1.6.2 Cơ chế sinh bệnh học và triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng 16
1.6.3 Phân loại 17
1.6.4 Biến chứng 18
1.6.5 Điều trị 18
Trang 41.7 Buồng trứng đáp ứng kém với KTBT (Por – Poor ovarian response) .25
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu 28
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 28
2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 28
2.2.2 Các bước tiến hành nghiên cứu 29
2.2.3 Các biến số, chỉ số nghiên cứu 29
2.3 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu 31
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 31
2.5 Sai số trong nghiên cứu và cách hạn chế sai số 31
2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 32
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đặc điểm nhân khẩu học 33
3.1.1 Phân bố tuổi của bệnh nhân 33
3.1.2 Phân bố chỉ số BMI 33
3.1.3 Tiền sử QKBT 34
3.1.4 Nghề nghiệp 34
3.1.5 Bệnh kèm theo 35
3.2 Các nguyên nhân vô sinh 35
3.3 Các yếu tố liên quan đến QKBT 35
3.3.1 Phác đồ KTBT 36
3.3.2 Xét nghiệm nội tiết cơ bản 36
Trang 53.4.2 Phân tích mối liên quan giữa AMH và AFC ở mỗi nhóm BN với QKBT 38
3.4.3 Xác định độ nhạy và độ đặc hiệu của 2 xét nghiệm 38
3.5 Tình trạng quá kích buồng trứng ở mỗi nhóm 39
3.5.1 Nhóm bệnh nhân có BTĐN 39
3.5.2 Nhóm bệnh nhân không có BTĐN 39
CHƯƠNG 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 40
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 41
DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ 42
KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Bảng 3.1 Các bệnh kèm theo 35
Bảng 3.2 Các nguyên nhân vô sinh 35
Bảng 3.3 Mối liên quan giữa nồng độ nội tiết cơ bản với QKBT ở mỗi nhóm bệnh nhân 36
Bảng 3.4 Mối liên quan giữa nồng độ E2 ngày tiêm hCG và số noãn thu được với QKBT ở mỗi nhóm bệnh nhân 36
Bảng 3.5 Giá trị ngưỡng của AMH và AFC 37
Bảng 3.6 Mối liên quan giữa AMH và AFC với QKBT ở 2 nhóm bệnh nhân 38
Bảng 3.7 Độ nhạy và độc đặc hiệu của AMH và AFC 38
Bảng 3.8 Tỷ lệ QKBT ở nhóm bệnh nhân có BTĐN 39
Bảng 3.9 Tỷ lệ QKBT ở nhóm bệnh nhân không có BTĐN 39
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Phân bố tuổi của bệnh nhân 33
Biểu đồ 3.2 Phân bố chỉ số BMI của bệnh nhân 33
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử QKBT 34
Biểu đồ 3.4 Đặc điểm nghề nghiệp của bệnh nhân 34
Biểu đồ 3.5 Đường cong ROC trong tiên lượng QKBT của FSH, LH, E2, E2 ngày tiêm hCG, số noãn thu được 35
Biểu đồ 3.6 Đường cong ROC giá trị dự báo của AMH và AFC ở mỗi nhóm bệnh nhân 37
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Vô sinh luôn là vấn đề nhận được nhiều quan tâm trên thế giới cũngnhư ở Việt Nam Tỷ lệ vô sinh trên thế giới từ 10 – 18%, tại Việt Nam tỷ lệnày là 7,7% các cặp vợ chồng, tương đương với 1 triệu cặp vợ chồng [1] Các
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (HTSS) ngày càng phát triển giúp điều trị thành côngcho nhiều cặp vô sinh Điều đó vừa mang ý nghĩa nhân đạo vừa là một phầnquan trọng của chương trình chăm sóc sức khỏe Trong năm 2012 ước tính cóđến 5 triệu trẻ được sinh ra nhờ các kỹ thuật HTSS Trong đó thụ tinh trongống nghiệm (IVF) là phương pháp cuối cùng đối với các trường hợp vô sinhlâu năm, điều trị không kết quả và khoảng 1,5 triệu chu kỳ IVF được thựchiện mỗi năm trên toàn cầu [2]
Song song với sự phát triển của các kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
là các kỹ thuật khác liên quan trong đó có kích thích buồng trứng (KTBT)nhằm mang lại kết quả cao cho các kỹ thuật HTSS Tuy nhiên bên cạnhnhững thành công, một biến chứng có thể xảy ra thường gặp đó là quá kíchbuồng trứng (QKBT), đặc biệt ở những bệnh nhân dùng thuốc KTBT trongcác chu kỳ IVF
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu xác định một vài yếu tố liên quanđến nguy cơ QKBT ở bệnh nhân áp dụng các kỹ thuật HTSS và đưa ra giá trịngưỡng cho từng yếu tố để dự đoán nguy cơ QKBT Tuy nhiên giá trị ngưỡng
mà các nghiên cứu đưa ra còn khác nhau nhiều và chưa có tính thống nhất,hơn nữa giá trị ngưỡng này được tính chung cho nhiều nguyên nhân vô sinh
vì vậy độ đặc hiệu chưa cao, chưa thể hiện rõ được mối quan hệ giữa các yếu
tố nguy cơ và QKBT ở các nhóm bệnh nhân có đặc điểm riêng Trong nhómcác nguyên nhân vô sinh thì hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary
Trang 8syndrome – PCOS) là một nguyên nhân thường gặp, vì vậy với mong muốnlàm rõ và xác giá trị ngưỡng trong tiên lượng QKBT của các yếu tố tiên lượngnày ở nhóm bệnh nhân có và không có buồng trứng đa nang chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Giá trị ngưỡng của AMH và AFC trong tiên lượng quá kích buồng trứng ở bệnh nhân có và không có hội chứng buồng trứng đa nang trong hỗ trợ sinh sản” với hai mục tiêu sau:
1 Xác định tỷ lệ quá kích buồng trứng ở mỗi nhóm bệnh nhân có và
không có hội chứng buồng trứng đa nang trong hỗ trợ sinh sản.
2 Xác định giá trị ngưỡng chỉ số AMH và AFC trong tiên đoán hội
chứng quá kích buồng trứng của bệnh nhân có và không có hội chứng buồng trứng đa nang điều trị hỗ trợ sinh sản.
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương về vô sinh
1.1.1 Định nghĩa vô sinh
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), một cặp vợ chồng gọi là vô sinhkhi chung sống với nhau từ 1 năm trở lên, thường xuyên quan hệ tình dục vàkhông dùng bất cứ biện pháp tránh thai nào mà không có thai
Theo hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản(2006), “Vô sinh là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống, có quan hệtình dục trung bình 2 – 3 lần/ tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai màngười vợ vẫn không có thai (nếu người vợ trên > 35 tuổi, thời gian này chỉtính 6 tháng) [3]
Khi vô sinh có nguyên nhân rõ ràng thì yếu tố thời gian không cần đặt ra
1.1.2 Phân loại vô sinh
Vô sinh nữ là vô sinh có nguyên nhân từ người vợ, vô sinh nam là vôsinh có nguyên nhân từ người chồng, còn lại là các trường hợp vô sinh chưa
rõ nguyên nhân khi đã khám và làm các cận lâm sàng không phát hiện đượcnguyên nhân
Bộ Y tế phân loại vô sinh thành 2 nhóm sau:
Vô sinh nguyên phát (vô sinh I) là vô sinh khi người vợ chưa có thailần nào mặc dù đã sống với nhau trên một năm và không dùng biện pháptránh thai nào [4]
Vô sinh thứ phát (vô sinh II) là vô sinh khi người vợ có ít nhất 1 lầnmang thai trước đây, sau đó tối thiểu 1 năm muốn có con nhưng không có thailại dù không dùng biện pháp tránh thai nào [4]
Trang 101.1.3 Tình hình vô sinh trên thế giới và tại Việt Nam
Trên thế giới: tỷ lệ vô sinh thay đổi từ 10 – 18% Theo WHO vô sinh
nữ chiếm 40%, vô sinh nam chiếm 40% và 20% vô sinh chưa rõ nguyên nhân
Ở Việt Nam: Theo điều tra dân số 1982 tỷ lệ vô sinh nước ta là 13%,như vậy nước ta có khoảng 1 triệu cặp vô sinh Theo Nguyễn Viết Tiến kếtquả của nghiên cứu ở 14000 cặp vợ chồng tuổi sinh đẻ 15 – 49 tại tám tỉnh đạidiện cho 8 vùng sinh thái trên toàn quốc năm 2009 đã chỉ ra tỷ lệ vô sinh là7,7% các cặp vợ chồng [1]
1.1.4 Nguyên nhân vô sinh nữ
+ Bất thường phóng noãn (35%)
- Thiếu gonadotropin: rối loạn chức năng hạ đồi, tuyến yên
- Tăng gonadotropin: suy sớm buồng trứng, buồng trứng kém đáp ứngvới gonadotropin
- Gonadotropin bình thường: hội chứng buồng trứng đa nang, hộichứng cường androgen, cường prolactin, thiểu năng hoàng thể
- Bệnh tuyến giáp, u thượng thận, béo phì
+ Do vòi tử cung (chiếm 35%), do phúc mạc:
- Tắc vòi tử cung
- Nhiễm trùng, viêm phúc mạc tiểu khung
- Lạc nội mạc tử cung ở vòi tử cung
- Bất thường bẩm sinh, triệt sản
- Tiền sử phẫu thuật vùng chậu và vòi tử cung
+ Do tử cung:
- Bất thường bẩm sinh: tử cung hai sừng, một sừng, có vách ngăn,không có tử cung và cổ tử cung
- U xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung trong cơ tử cung
- Dính buồng tử cung (hội chứng Asherman)
- Nội mạc tử cung không phát triển (<7mm)
Trang 11+ Do cổ tử cung: chất nhầy kém, có kháng thể kháng tinh trùng, khoét chóp,đốt điện, cổ tử cung ngắn…
+ Nguyên nhân khác: tâm lý tình dục, dị dạng bẩm sinh đường sinh dục dưới + Vô sinh chưa rõ nguyên nhân
1.2 Sự phát triển của nang trứng và phóng noãn
1.2.1 Giai đoạn nang trứng
Sự tạo noãn bắt đầu từ trong thời kỳ phôi thai cho đến khi phóng noãn
Ở giai đoạn tăng sinh (giai đoạn estrogen) dưới tác dụng của hormone kíchthích nang trứng (follicle – stimulating hormone – FSH) và hormone hoàngthể hóa (luteinizing hormone – LH), buồng trứng có từ 6 – 12 nang noãnnguyên thủy phát triển [5] Noãn phát triển qua nhiều giai đoạn để có thể thụtinh Noãn nguyên thủy nguyên phân để trở thành noãn nguyên bào, noãnnguyên bào tiếp tục giảm phân để trở thành noãn sơ cấp và noãn thứ cấp.Noãn thứ cấp giảm phân để trở thành noãn trưởng thành và có thể phóng noãn
để thụ tinh
+ Noãn nguyên thủy (primodial follicle): là noãn bào ở cuối giai đoạn
kỳ trước giảm phân I, gồm 1 lớp tiền tế bào hạt hình thoi và 1 lớp màng đáy
+ Noãn sơ cấp (primary follicle): chuyển dạng lớp tiền tế bào hạt hìnhthoi thành dạng tế bào hạt hình khối Nang gồ nhiều lớp tế bào hạt hình khối,
1 lớp màng đáy và vỏ trong bắt đầu được hình thành Lớp áo trong có những
tế bào giống tế bào hạt có khả năng tiết hormon Dưới tác dụng của LH các tếbào lớp áo trong bắt đầu tiết dịch nang chứa estrogen
+ Noãn thứ cấp (Secondary follicle): noãn bào đã hoàn tất giảm phân I
và bắt đầu giảm phân II Nang gồm các lớp tế bào hạt, màng trong suốt, lớp
vỏ trong và lớp vỏ ngoài Lớp vỏ ngoài có nhiều mạch máu
Noãn sơ cấp được đánh dấu bằng sự tạo hang (antrum), vì vậy noãn sơcấp còn được gọi là nang có hốc (antral follicle) Dịch trong nang là dịch thấm
Trang 12từ mạch máu của lớp vỏ trong, và đi qua nhiều lớp tế bào hạt Lớp vỏ trong pháttriển đầy đủ hơn Khi nang noãn to dần lên, các mô đệm xung quanh bị chèn éptạo thành lớp vỏ ngoài Kích thước nang và lượng dịch nang tăng dần, đẩy noãncùng một số tế bào hạt về một cực của nang – gọi là gò trứng.
+ Nang trưởng thành (Graafian follicle): hang lúc này đã chứa đầy dịch.Nang gồm có noãn bào, các lớp tế bào hạt quanh noãn, hang chưa dịch nang, cáclớp tế bào hạt, màng đáy, hệ thống lưới mao mạch, lớp vỏ trong và lớp vỏ ngoài
Mỗi chu kỳ có 6 hiện tượng chính xảy ra đó là:
+ Sự chiêu mộ các nang noãn
+ Sự chọn lọc các nang noãn
+ Xuất hiện một nang trội
+ Sự thoái hóa của các nang còn lại
+ Sự trưởng thành của noãn
+ Sự phóng noãn
1.2.2 Hiện tượng phóng nõan
Sau 7 – 8 ngày phát triển, có một nang phát triển nhanh, kích thước vàlượng estrogen được bài tiết tăng nhanh gọi là nang trội, các nang còn lạithoái triển dần
Cuối giai đoạn tăng sinh estrogen tăng cao gây ra feedback dương tínhlên tuyến yên làm tăng tiết cả FSH và LH Dưới tác dụng của LH và FSH, tếbào hạt và lớp áo trong tăng sinh mạnh và bài tiết dịch nang chưa estrogen, do
đó làm cho nang phát triển đến cực đại Ở thời điểm phóng noãn, đường kínhnang noãn đạt tới 22 – 24mm với đầy đủ lớp áo trong, áo ngoài, dịch nang vànoãn đã trường thành và được gọi là nang noãn chín
Thời gian phóng noãn thay đổi nhiều ở từng người và từng kỳ kinh.Khoảng 2 ngày trước phóng noãn, tuyến yên tiết LH đột ngột và đạt cực đạivào thời điểm 16h trước phóng noãn Lượng FSH cũng tăng lên Cả 2 hormon
Trang 13này phối hớp làm noãn căng phồng Trước khi phóng noãn một ngày,estrogen bắt đầu giảm trong khi progesteron bắt đầu tăng dần do tác dụng của
LH và gây ra hiện tượng phóng noãn
Hai hiện tượng dưới tác dụng của progesteron đã gây ra tác dụng phóngnoãn là:
- Các tế bào lớp áo ngoài giải phóng các men tiêu protein từ các bọclyzozym, do đó thành nang trở nên mỏng và yếu hơn
- Mạch máu ở thành nang tăng sinh, prostaglandin được bài tiết làm tăngtính thấm và huyết tương thấm vào thành nang
Cả hai hiện tượng trên làm cho nang noãn căng phồng, thành nang yếu
đi và gây vỡ nang giải phóng noãn khỏi nang Phóng noãn thường xảy ra ởthời điểm 14 ngày trước khi hành kinh, mỗi chu kỳ kinh chỉ có một nang noãn
ở cả hai buồng trứng vỡ và xuất noãn
1.3 Dự trữ buồng trứng
1.3.1 Anti - Mullerian Hormon (AMH)
1.3.1.1 Sinh lý học Anti – Mullerian Hormone
Anti – Mullerian Hormone (AMH) là một phân tử gồm 2 chuỗiglycoprotein, thuộc nhóm TGF – β gồm các yếu tố tăng trưởng và biệt hóa.Năm 1947, Jost là người đầu tiên phát hiện ra hormone kháng ống Muller(AMH: anti – Mullerian hormone hay MIS: Mullerian inhibiting substance)[6, 7] Vai trò của AMH là giúp biệt hóa cơ quan sinh dục của thai nhi, nghĩa
là khi có AMH do tế bào Steroli tiết ra từ tuần 8 của thai nhi nam sẽ gây thoáitriển ống Muller, tạo điều kiện choviệc hình thành cơ quan sinh dục đực.Ngược lại ở bé gái, giai đoạn phôi thai sớm không có AMH nên ống Mullertiếp tục phát triển thành tử cung, vòi trứng và phần trên âm đạo [8] AMHđược sản xuất từ khi thai nhi được 36 tuần cho đến khi mãn kinh AMH đượcsản xuất từ tế bào hạt của nang noãn nhỏ đang phát triển, kể từ khi nang noãn
Trang 14nguyên thủy được chiêu mộ và tiết ra nhiểu nhất ở nang tiền hốc (preantral)
và nang có hốc nhỏ (antral) có đường kính 4 -8mm [9], sau đó AMH giảmdần khi nang trứng phát triển và bước vào giai đoạn phụ thuộc FSH cũng nhưkhông còn chế tiết ở các nang thoái triển, khi có nang trội AMH gần như biếnmất [10, 11] Sự giảm nhanh của AMH tương ứng với sự chọn lọc nang trội,khi đó nồng độ Estradiol cũng tăng nhanh AMH gây ức chế việc chiêu mộcác nang sơ cấp và AMH giảm là yếu tố quan trọng trong sự chọn lọc nangtrội và sự phóng noãn bởi vì AMH có vai trò ức chế buồng trứng do ức chếaromatase [12] Tế bào hạt của nang noãn tiết ra AMH nên nồng độ AMHphản ánh số lượng các nang noãn đang phát triển trong buồng trứng Vì vậyAMH được xem là yếu tố thể hiện độ tuổi hay dự trữ của buồng trứng [13]
Trong hội chứng buồng trứng đa nang nồng độ AMH có thể tăng lên gấpđôi, điều đó làm ức chế quá trình tạo nang và phóng noãn ở bệnh nhân có BTĐN[14, 15] AMH không bị tác động bởi các nang trội hay nang thoái triển nên có thêxét nghiệm vào bất kỳ ngày nào trong chu kỳ kinh nguyệt [16]
1.3.1.2 Xét nghiệm AMH
AMH Gen II Elisa là một xét nghiệm miễn dịch 2 vị trí được khuếchđại gắn với enzyme, trong xét nghiệm này, mẫu chuẩn (carlibrator), mẫu kiểmtra chất lượng (control) và mẫu bệnh nhân được ủ trong các giếng vi chuẩn độ(microtitration well) đã được phủ kháng thể anti – AMH Sau lần ủ và rửa thứnhất, thêm kháng thể phát hiện kháng thể anti – AMH được đánh dấu bằngbiotin vào mỗi giếng, sau lần ủ và rửa thứ hai, thêm streptavidin horseradishperoxidase (HRP) vào mỗi giếng, sau lần ủ và rửa thứ ba, thêm cơ chấttetramethylbelbzidine (TMB) vào mỗi giếng, cuối cùng, thêm dung dịch acidicstopping solution Đo độ hấp thụ bước sóng kép ở 450mm và 630mm, độ hấpthụ đo này tỉ lệ thuận với nồng độ AMH trong mẫu Bộ mẫu chuẩn AMH
Trang 15carlibrator được sử dụng để vẽ đường cong chuẩn giữa độ hấp thụ và nồng độAMH, từ đó có thể tính được nồng độ AMH dựa vào đường cong này.
1.3.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến AMH
Một số yếu tố được biết đến như AMH giả dần theo tuổi và có thể tiênđoán sự mãn kinh [17-19] AMH giảm khi có thai và tăng nhanh sau khi sinh[20] Ngoài ra AMH còn thay đổi giữa các chu kỳ, giữa các cá thể [21]
Ở những bệnh nhân vô sinh việc đánh giá dự trữ buồng trứng rất quantrọng Kết quả AMH giúp dự đoán chính xác sự đáp ứng của buồng trứng vớicác phác đồ kích trứng từ đó tiên lượng được khả năng đáp ứng kém [22] haynguy cơ QKBT [23] Từ đó tư vấn được tốt hơn cho các bệnh nhân trước khiđiều trị HTSS
Đánh giá tổn thương buồng trứng do điều trị bằng phẫu thuật, hóa
trị và xạ trị:
Sau phẫu thuật tại buồng trứng ví dụ như phẫu thuật u lạc nội mạc ởbuồng trứng làm giảm AMH đáng kể, tức là có ảnh hưởng đến dự trữ buồngtrứng [24-26]
Trang 161.3.2 Đếm nang noãn thứ cấp (Antral Follicle Count – AFC)
Nang noãn nguyên thủy có kích thước khoảng 30µm nên không thểphát hiện qua siêu âm được mà chỉ có thể phát hiện được khi nang chứa đầydịch nang và có đường kính từ 2mm trở lên Nang có hốc nhỏ (antral follicle)hay còn gọi là nang noãn thứ cấp (secondary follicle) được xác định trên lâmsàng là nang có đường kính từ 2 – 10mm [27] Xác định AFC là đếm số nangnoãn thứ cấp trên lâm sàng bằng siêu âm Tuy nhiên một số nang cũng cóđường kính nằm trong giới hạn này có thể đang trong giai đoạn đầu của sựthoái triển vì vậy việc đánh giá AFC thường cao hơn so với thực tế số nangtrứng nhạy cảm với FSH và số noãn thu được [28] Có mối tương quan giữa
số lượng nang noãn thứ cấp từ 2 – 10mm với số lượng noãn thu được sau khikích thích bằng FSH [29, 30]
Việc sử dụng phác đồ ngắn GnRH agonist hoặc thuốc tránh thai kếthợp không làm ảnh hưởng đến AFC Và AFC hầu như không bị ảnh hưởngbởi chu kỳ kinh nguyệt [27], tuy nhiên nhiêu nghiên cứu chỉ ra rằng AFC cóthể giảm rõ rệt [31] Các khuyến cáo chỉ ra rằng nên đánh giá AFC trong giaiđoạn nang noãn sớm của chu kỳ kinh để giảm thiểu sự dao động và giảm sựnhầm lẫn với nang hoàng thể [48] Hơn nữa trong thực hành lâm sàng ngàycác bác sĩ còn chỉ định xét nghiệm các hormon như FSH và E2 trong giai đoạnnang trứng sớm vì vậy sẽ có lợi trong việc sắp xếp thời gian với bệnh nhân đểđánh giá trước khi điều trị [27] Thực tế được quy ước đo AFC từ ngày 2 chođến ngày 4 của chu kỳ kinh nguyệt Và tính tất cả các nang noãn có đườngkính từ 2 – 10 mm quan sát được qua siêu âm
Các yêu cầu cơ bản về lâm sàng và kỹ thuật xác định AFC trong thựchành lâm sàng [27]:
Về lâm sàng:
+ Chọn bệnh nhân có kinh nguyệt đều, không có bệnh lý phối hợp làmảnh hưởng đến kết quả đo ví dụ như lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng hoặctiền sử phẫu thuật ở buồng trứng
Trang 17+ Đếm nang trứng từ ngày 2 đến ngày 4 của chu kỳ tự nhiên hoặc chu kỳnhân tạo bằng thuốc tránh thai đường uống.
+ Đếm các nang trứng có đường kính từ 2 – 10 mm
Về kỹ thuật:
+ Hạn chế số bác sĩ siêu âm và cần được đào tạo về siêu âm đầu dò âmđạo đo AFC Siêu âm 2D là đủ, sử dụng đầu dò âm đạo với tần số tối thiểu là
7 MHz, giúp đo và hiển thị các nang noãn có đường kính 2mm
+ Siêu âm theo một quy trình:
1 Xác định buồng trứng
2 Tìm hướng của hai mặt phẳng
3 Chọn hướng quét để đo và đếm nang trứng
4 Đo cả hai chiều cho nang trứng lớn nhất
a Nếu nang trứng lớn nhất ≤ 10mm: bắt đầu đếm từ ngoại vi củamột bên buồng trứng sang bên đối diện Coi mỗi cấu trúc có hìnhtròn hay bầu dục có viền là một nang trứng Thực hiện cả 2 bênbuồng trứng Tính tổng số nang trứng ở cả 2 bên để tính AFC
b Nếu nang trứng lớn nhất > 10mm thì tiếp tục tìm các nang ≤10mm và loại bỏ các nang > 10mm
Sự thay đổi AFC là do đo không chính xác hơn là sự biến đổi sinh học
vì vậy đo lại AFC là không cần thiết và không có giá trị hơn về lâm sàng [32]
1.4 Kích thích buồng trứng
KTBT đóng vai trò quan trọng trong các kỹ thuật HTSS Mục đích là
để tăng số nang noãn trưởng thành, đặc biệt với những bệnh nhân có rối loạnphóng noãn, từ đó thu được nhiều noãn để có nhiều phôi Số noãn và phôi này
có thể được sử dụng luôn trong chu kỳ KTBT đó hoặc được trữ lạnh khi chưa
có sự thuận lợi để chuyển phôi (QKBT, niêm mạc chưa tốt, chưa có tinh
Trang 18trùng…) Hơn nữa nhờ KTBT và theo dõi nang trứng trên siêu âm giúp bác sĩlâm sàng kiểm soát được tốc độ phát triển nang trứng, ngăn trứng rụng sớm tựnhiên (trứng chưa trưởng thành) và chọn thời điểm chọc hút trứng phù hợp [2].
1.4.1 Cơ sở lý thuyết và nguyên lý của KTBT
Cơ sở lý thuyết: dựa trên sinh lý phát triển của nang trứng và hiệntượng phóng noãn
Nguyên lý của KTBT gồm 3 yếu tố:
1 Gonadotropin ngoại sinh: kích thích sự phát triển của nang trứng
2 Dùng đồng thời GnRH agonist hoặc antagonist để ức chế tuyến yên
và ngăn phóng noãn sớm
3 Kích thích cho noãn trưởng thành 36 – 38 h trước khi lấy noãn [4]
1.4.2 Các phác đồ KTBT trong IVF
- Phác đồ dài (phác đồ down - regulation):
+ Tiêm GnRH đồng vận bắt đầu từ ngày 21 chu kì kinh (tiêm liên tụctrong 12 – 14 ngày)
+ Sau đó xét nghiệm LH, Estradiol máu và siêu âm nếu down - regulationđạt yêu cầu thì bắt đầu sử dụng gonadotropin Gonadotropin đượctiêm liên tục KTBT cho đến khi nang noãn trưởng thành
+ Tiêm hCG khi có ít nhất 3 nang ≥ 17 mm
+ Chọc hút trứng 36-38 giờ sau tiêm hCG
+ Chuyển phôi được thực hiện ngày 2, ngày 3 hoặc ngày 5 sau chọc húttrứng Sau chuyển phôi, hỗ trợ hoàng thể với liều 600-800mg/ngàyprogesterone
+ Thử thai 2 tuần sau chuyển phôi
- Phác đồ ngắn:
+ Bắt đầu sử dụng Gonadotropin KTBT vào ngày 2 hoặc 3 chu kỳ kinh
Trang 19+ GnRH antagonist 0,25mg/ngày được cho liên tục từ ngày thứ 6 chu
kỳ hoặc khi đường kính nang lớn nhất đạt 14 mm cho đến khi tiêm hCG gâyphóng noãn
+ Thời điểm tiêm hCG, chọc hút trứng và hỗ trợ hoàng thể tương tựnhư phác đồ dài
+ Trong trường hợp bệnh nhân có nguy cơ QKBT, có thể gây trưởngthành nang noãn và phóng noãn bằng GnRH agonist thay cho tiêm hCG Sau
đó, phải hỗ trợ giai đoạn hoàng thể tích cực hoặc phải trữ phôi toàn bộ
1.5 Buồng trứng đa nang
BTĐN là rối loạn nội tiết thường gặp nhất ở phụ nữ tuổi sinh đẻ và tỷ lệ
từ 6 - 10% [33] BTĐN xuất hiện như nhau ở các chủng tộc và quốc gia
1.5.1 Định nghĩa
Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng BTĐN năm 2003, Rotterdam, Hà Lanvới sự đồng thuận của Hiệp hội sinh sản người và phôi thai học châu Âu(ESHRE) và Hiệp hội y học sinh sản Mỹ (ASRM):
Chẩn đoán khi có từ 2 triệu chứng trở lên trong 3 triệu chứng sau:
1 Ít hoặc không phóng noãn:
Không phóng noãn có thể biểu hiện khi kinh nguyệt đều và ngắn dưới
21 ngày hoặc kinh nguyệt không đều kéo dài trên 35 ngày Đôi khi có thểkhông phóng noãn với cả chu kỳ kinh nguyệt bình thường (25 – 35 ngày).Bệnh nhân có thể vô kinh trên 6 tháng
2 Hội chứng cường androgen:
Biểu hiện lâm sàng:
Biểu hiện lâm sàng của hội chứng cường androgen gồm: chứng rậmlông (được định nghĩa là phát triển quá mức của lông ở các vùng ngoại vigiống như kiểu hình nam), mụn trứng cá và dấu hiệu hói đầu kiểu nam giới
Trang 20Trong đó chứng rậm lông là một dấu hiệu chỉ điểm chính và phần lớncác nhà thực hành lâm sàng sử dụng thang điểm Ferriman – Gallwey cải tiến
để đánh giá tình trạng rậm lông của bệnh nhân Phương pháp này được tínhđiểm trên 9 vùng của cơ thể, gồm có: môi trên, cằm, ngực, bụng trên, bụngdưới, đùi, lưng, tay và mông Mỗi vị trí được đánh giá với 4 mức độ tươngứng với điểm từ 0 đến 4 tăng dần theo độ nặng Và chứng rậm lông được xácđịnh khi điểm Ferriman – Gallwey cải tiến (modified Ferriman – Gallway –mFG) ≥8 [34, 35]
Biểu hiện hóa sinh:
Về cận lâm sàng cần định lượng nội tiết testosterone trong máu, gồm cótestosterone toàn phần, testosterone sinh khả dụng và testosterone tự do.Trong đó testosterone toàn phần có độ nhạy kém trong chẩn đoán cườngandrogen và testosterone tự do có giá trị chẩn đoán cao hơn, tuy nhiênphương pháp định lượng testosterone tự do còn nhiều khó khăn nên hiện naycác nhà lâm sàng thường sử dụng chỉ số testosterone tự do FTI (freetestosterone index) [36] Việc chuẩn hóa các xét nghiệm còn nhiều hạn chếnên rất khó đưa ra ngưỡng chẩn đoán cho hội chứng cường androgen vì vậykhuyến cáo theo các xét nghiệm hiện có tại mỗi khu vực [37] FTI được tínhtheo công thức: Testosterone toàn phần/SHBG × 100 (SHBG là hormone –binding globulin) Xác định cường androgen khi FTI >6
3 Buồng trứng nhiều nang xác định trên siêu âm:
BTĐN được xác định trên siêu âm khi có ≥ 12 nang trứng có đườngkính từ 2 – 9 mm và/hoặc tăng thể tích buồng trứng > 10mL (không có u nanghoặc nang trội) ở ít nhất 1 bên buồng trứng Siêu âm được thực hiện vào ngày
2 – 5 của chu kỳ kinh nguyệt hoặc ngày thứ 3 của chu kỳ nhân tạo
Trang 211.5.2 Chẩn đoán phân biệt
- Tăng sản thượng thận bẩm sinh (thể khởi phát muộn)
- Khối u tiết androgen
- Tăng prolactin máu
- Vô kinh
- Hội chứng Cushing
- Sử dụng steroid ngoại sinh
- Bệnh nhân có rối loạn kinh nguyệt và hội chứng cường androgen
- Chứng rậm lông vô căn
- Rậm lông có tính chất gia đình
- Cường giáp và nhiễm độc giáp
- Suy giáp
- Khối u buồng trứng
- Tác dụng của thuốc: danazol, progestin có hoạt tính androgen
1.6 Hội chứng quá kích buồng trứng
1.6.1 Khái niệm
QKBT là một biến chứng điều trị của kỹ thuật HTSS Hội chứng có đặctrưng là sự to lên của các nang buồng trứng kèm theo sự sản xuất quá mứccủa hormone buồng trứng và một loạt các chất vận mạch khác làm tăng tínhthấm thành mạch và gây nên sự di chuyển của dịch từ trong lòng mạch Nóxuất hiện phụ thuộc vào điều trị bằng hCG trong các kỹ thuật HTSS [38, 39]
Trang 22Tỷ lệ QKBT khác nhau giữa các kỹ thuật HTSS, trong IVF tỷ lệ QKBTnhẹ được ước tính chiếm khoảng 1/3 số chu kỳ, trong khi cả QKBT trungbình và QKBT nặng chiếm từ 3,1% đến 8 % [40] QKBT hiếm khi xảy ra vớiphác đồ cảm ứng rụng trứng bằng clomifen citrat hoặc cảm ứng rụng trứngđơn noãn (monofollicular ovulation induction) với gonadotropin Rất hiếmkhi QKBT xảy ra tự phát trong khi có thai.
1.6.2 Cơ chế sinh bệnh học và triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng
Sinh lý bệnh của QKBT chưa được biết rõ Nhưng tiến triển liênquan đến tăng tính thấm thành mạch ở vùng xung quanh buồng trứng và mạchmáu của buồng trứng Điểm mấu chốt là sự cân bằng giữa các yếu tốproangiogen và antiangiogen có trong của dịch nang β-hCG và các chấttương tự, estrogen, estradiol, prolactin, histamine và prostaglandin đều liênquan trong hội chứng KTBT và ngày nay càng có sự hiểu biết hơn về vai tròcác chất vận mạch như interleukin, TNF – α, endothelin – 1 và yếu tổ pháttriển thành mạch (VEGF) được tiết ra bởi buồng trứng, người ta thấy rằngchúng cũng liên quan đến việc tăng tính thấm thành mạch [38]
Trang 23- Tràn dịch đa màng nhiều mức độ: tràn dịch ổ bụng, tràn dịch màngphổi, tràn dịch màng tim Nặng có thể gây ra rối loạn các chức năng hô hấp,tim mạch.
- Dấu hiệu cô đặc máu thường gặp do hiện tượng thoát mạch và giảmalbumin máu Đây là dấu hiệu đáng tin cậy để chẩn đoán, điều trị cũng nhưtiên lượng bệnh Cô đặc máu là nguyên nhân chính gây ra huyết khối ở bệnhnhân QKBT
- Rối loạn điện giải và suy chức năng các tạng thường gặp ở thể nặng:
hạ natri máu, tăng kali máu, tăng men gan, thiểu niệu, vô niệu
1.6.3 Phân loại
1.6.3.1 Phân loại theo thời gian
- QKBT sớm: (trong vài ngày sau khi tiêm kích thích trưởng thành noãnbằng hCG) mặc dù được khởi phát bởi hCG, nó có liên quan đến sự đáp ứngquá mức của buồng trứng với sự kích thích của gonadotropin [38]
- QKBT muộn: (10 ngày sau tiêm hCG) chủ yếu liên quan đến sự tiết racủa hCG nhau thai Những trường hợp này tạo ra một thể QKBT nặng và kéodài sau khi mang thai [38]
1.6.3.2 Phân loại theo mức độ:
Hiện có nhiều phân loại QKBT theo mức độ và còn chưa thống nhất.Theo phân loại Golan gồm có 3 mức độ nhẹ, trung bình và nặng Đồng thuậnlâm sàng của Hiệp hội Y học sinh sản Mỹ (ASRM) năm 2006 và Hiệp hộiSản phụ khoa Hoàng gia Anh – RCOG lại phân chia QKBT thành 4 mức độnhẹ, trung bình, nặng và nguy kịch [41] [42]
Trang 24Bảng 1.1 Phân loại mức độ quá kích buồng trứng theo Golan (1989)[43] Phân loại Kích thước
buồng trứng
Triệu chứng
Nhẹ 5 – 10 cm Độ 1: căng bụng, khó chịu
Độ 2: buồn nôn, nôn, ± ỉa chảy
Trung bình 10 – 12 cm Độ 3: có dịch cổ chướng trên siêu âm
Nặng > 12 cm Độ 4: có dịch cổ trướng ± dịch màng phổi
hoặc khó thở
Độ 5: cô đặc máu (Hct > 45%), bạch cầu > 15G/L, giảm tưới máu thận và chức năng thận (thiểu niệu, tăng creatinine máu, ClCr
< 50ml/phút), rối loạn đông máu
- Điều trị dự phòng các biến chứng toàn thân nặng rất quan trọng
Quá kích buồng trứng nhẹ và trung bình:
Trang 25- Có thể theo dõi điều trị tại nhà
- Nghỉ ngơi, hạn chế vận động nặng
- Uống nhiều nước, bù dịch bằng đường uống, bổ sung đạm qua bữa ăn
- Theo dõi hàng ngày: cân nặng, vòng bụng, nước tiểu
- Cần nhập viện điều trị nếu dấu hiệu lâm sàng diễn biến xấu đi: nôn
nhiều, không uống được, khó thở, bụng chướng nhiều và tăng nhanh,tiểu ít <500ml/h
Quá kích buồng trứng nặng và rất nặng
- Điều trị tại khoa hồi sức tích cực
- Mục tiêu điều trị: duy trì thể tích máu trong mạch Đồng thời điều trịcác rồi loạn điện giải, giảm biến chứng thứ cấp do cổ trướng gây nên,tràn dịch màng phổi và dự phòng tắc mạch phổi
Các biện pháp điều trị gồm:
- Nghỉ ngơi tuyệt đối
- Bù dịch và điện giải bằng dung dịch đẳng trương và dung dịch cao
phân tử: albumin, NaCl 0,9%, Glucose 5% truyền nhanh với tốc độ độ
125 – 150 mL/h trong 4h, tránh dùng Ringer lactat do QKBT có tăngkali máu Theo dõi nước tiểu Nếu lượng nước tiểu được phục hồi, tiếptục duy trì phác đồ Nếu lượng nước tiểu không đủ cần chỉ định dịchcao phân tử bằng truyền 200mL albumin người 25% Dùng lợi tiểu khibệnh nhân tiểu ít và giảm thể tích tuần hoàn là phản tác dụng và gâynguy hiểm Bệnh nhân cần được theo dõi sát các dấu hiệu lâm sàng củaquá tải dịch
- Chọc dẫn lưu ổ bụng: khi bụng quá căng gây đau đớn khó chịu và ảnhhưởng đến hô hấp, thiểu niệu, ăn uống kém, suy kiệt
Trang 26- Chọc dò, dẫn lưu màng phổi, màng tim khi khó thở nhiều, SpO2<90%,tràn dịch màng tim làm giảm chức năng co bóp của tim.
- Khi QKBT nặng có nguy cơ suy thận cân nhắc dùng Dopamin liều thấp
(0,18 mg/kg/h)
- Có thể chấm dứt thai kỳ nếu QKBT nặng nguy hiểm tính mạng và
không thuyên giảm dù đã điều trị tích cực
- Để phòng ngừa huyết khối, tiêm dưới da 5000 – 7500 U/d heparin từ
ngày đầu nhập viện [38] Heparin làm tăng hoạt động của antithrombinIII và ngăn fibrinogen chuyển thành fibrin Ngăn chặn phản ứng củacục máu đông sau khi tiêu sợi huyết tự phát
- Theo dõi cân nặng, vòng bụng mỗi ngày Theo dõi cân bằng dịch mỗi 12h
- Dấu hiệu sinh tồn mỗi 6h
- Công thức máu, điện giải đồ, albumin máu, protein máu mỗi 24h
- Chức năng gan thận, đông máu mỗi 2 ngày
Tiến triển tốt:Sau vài ngày, dịch từ khoang thứ 3 bắt đầu trở lại lòngmạch, đảo ngược tình trạng tăng đông và bài tiết nước tiểu bình thường
Có thể giảm lượng dịch truyền khi lượng nước uống của bệnh nhântăng lên Bình phục hoàn toàn có thể kéo dài từ 10 – 14 ngày kể từ khi
có triệu chứng đầu tiên
1.6.6 Các yếu tố nguy cơ
- Nhân khẩu học: Tuổi trẻ, BMI, chủng tộc,
- Tiền sử đáp ứng quá mức với gonadotropin
- Tiền sử bị QKBT
- Nguyên nhân vô sinh:
+ Các rối loạn phóng noãn trong đó có buồng trứng đa nang
+ Do vòi tử cung và các nguyên nhân chưa rõ
Trang 27- QKBT phụ thuộc vào phác đồ điều trị:
Phác đồ GnRH antagonist có tỷ lệ QKBT thấp hơn phác đồ GnRHagonist Thuốc dùng để kích thích phóng noãn là hCG có nguy cơ caohơn là dùng GnRH agonist
+ Nồng độ E2 máu và tỷ lệ tăng E2 máu
- Số phôi được chuyển
1.6.7 Dự phòng
Dự phòng ở những đối tượng có nguy cơ cao
Dự phòng cấp I: ở những đối tượng có nguy cơ trước khi KTBT
- Sử dụng phác đồ thích hợp với liều thuốc thích hợp đối với cơ thểtừng
bệnh nhân, như chọn phác đồ gonadotropin liều thấp với bệnh nhânBTĐN,sử dụng phác đồ Antagonist Mục đích là để không vượt quángưỡng FSH và chỉ phát triển một vài nang trội hơn là kích thích nhiềunang
- Hủy chu kỳ:Tránh sử dụng hCG ngăn chặn cả QKBT sớm và muộn.
Quyết định này thường khó khăn về mặt tâm lý, đặc biệt trong IVF,bởi vì nó gây tổn thất về tài chính Tuy nhiên, trong vài trường hợpvới khả năng theo dõi kém thì đó là biện pháp duy nhất để tránh xảy
ra biến chứng [38]
Trang 28- Không sử dụng hCG trong hỗ trợ giai đoạn hoàng thể.Việc sử dụngProgestogen (P) dường như làm giảm một nửa nguy cơ QKBT, trongkhi đó được chứng minh là có sự cải thiện tương tự trong tỷ lệ mangthai và sảy thai [44].
- Trưởng thành noãn non (IVM – in vitro maturation): ở bệnh nhân cónguy cơ cao tiến triển thành QKBT, IVM mang lại khả năng lớn phòngngừa QKBT Mặc dù lợi ích về sự an toàn, nhưng IVM không được sửdụng rộng rãi vì làm giảm tỷ lệ sinh sống khi so sánh với IVF chuẩn.Tuy nhiên kết quả lâm sàng đã và đang được cải thiện trong vài nămgần đây, tỷ lệ mang thai được báo cáo là từ 20% đến 50% [1]
- Chỉ định NSAIDs: Một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có đối chứng
lớn đã chứng minh rằng liều thấp aspirin có liên quan đến việc giảm tỷ
lệ QKBT (0,25% với 8,4%) trong nhóm nguy cơ với tỷ lệ có thai tươngđương nhau [33]
Dự phòng cấp II: ở những đối tượng có đáp ứng quá mức khi KTBT
- Giảm liều hCG gây phóng noãn.
- Không tiêm hCG, thay kích thích rụng trứng bằng GnRH đồng vận.
(Triptorelin acetate 0,1 mg x 2 ống tiêm dưới da) 36 giờ trước khichọchút trứng
- Hủy chu kỳ.
- Không chuyển phôi, trữ phôi toàn bộ.
1.6.8 Tình hình các nghiên cứu trong nước và nước ngoài
1.6.8.1 Phác đồ điều trị: GnRH agonist và GnRH antagonist
Có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng KTBT bằng phác đồ GnRHantagonist có nguy cơ QKBT thấp hơn so với phác đồ GnRH agonist Cơ chế
có thể là do giảm lượng estradiol trong máu trong với sự ức chế của GnRH
Trang 29antagonist Một nghiên cứu ngẫu nhiên với 1050 bệnh nhân đã chỉ ra rằngphác đồ GnRH antagonist có tỷ lệ QKBT thấp hơn đáng kể so với phác dồGnRH agonist (5,1% so với 8,9%, P = 0,02) Và không có sự khác biệt về tỷ
lệ sinh sống ở 2 nhóm (22,8% và 23,8%) [45] Kết quả này giống với nhiềunghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng nhỏ hơn khác, và cần chú ý rằng tất cảcác nghiên cứu này đều sử dụng hCG (khôn dùng GnRH agonist) để kíchthích phóng noãn [41, 46] Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng phác đồGnRH antagonist cũng hiệu quả hơn, an toàn và dung nạp tốt hơn, giảm tỷ lệQKBT ở những bệnh nhân có BTĐN [47]
1.6.8.2 Nhân khẩu học (tuổi, BMI, chủng tộc, nguyên nhân vô sinh)
Theo nguồn dữ liệu của Hiệp hội kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (SART),trong một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu về đánh giá các yếu tố nguy cơ củaQKBT được tiến hành trên 214.219 chu kỳ HTSS từ năm 2004 – 2006 cho kếtquả các yếu tố làm tăng nguy cơ QKBT gồm: phụ nữ da đen (QKBT nặngAdjust OR = 2,93 khi so sánh với phụ nữ da trắng), nguy cơ QKBT giảm dầntheo tuổi, liên quan đến các nguyên nhân vô sinh như rối loạn phóng noãn(2,01), vô sinh do vòi trứng (1,24), các yếu tố chưa rõ (1,36), QKBT tăng lên
ở phụ nữ có thụ thai (1,58 với tất cả các mức độ QKBT và 1,86 với QKBTnặng) [42] Nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng tuổi càng trẻ càng cónguy cơ cao.[48-51] BMI thấp dường như là một yếu tố nguy cơ thêm vào sựtiến triển thành QKBT [51] [52]
Một tổng quan hệ thống thực hiện năm 2004 ở những bệnh nhân BTĐNcho thấy hội chứng BTĐN có mối liên chặt chẽ với QKBT với OR = 6,8(95% CI 4,9 – 9,6) [53] Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hợi năm 2017thực hiện trên 2100 bệnh nhân, đối tượng có BTĐN có nguy cơ cao gấp 5,3lần các đối tượng không có BTĐN với p = 0,000< 0,001 [54]
Trang 301.6.8.3 Về dự trữ buồng trứng:
AFC và ẠMH: theo một phân tích gộp được đăng tải trên trang HumanReproductive Update, thực hiện dựa trên 9 nghiên cứu về AMH và 5 báo cáo
về AFC đã kết luận cả hai yếu tố này đều là những yếu tố dự đoán chính xác
về sự đáp ứng quá mức vủa buồng trứng, hơn nữa cả 2 xét nghiệm đều có giátrị về mặt lâm sàng Và điều này đã mở ra hướng đi cá thể hóa trong liều FSHdựa trên dự trữ buồng trứng Độ nhạy và độ đặc hiệu của AMH là 82 và 76%,của AFC là 82 và 80% [55] Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu khác cũng chokết quả tương tự về vai trò dự đoán QKBT của chỉ số AMH nền, với giá trịcut – of là 3,36 ng/mL, nó có giá trị cao hơn chỉ số BMI với độ nhạy 90,5%
và độ đặc hiệu 81,3% [56] Giá trị ngưỡng của AMH theo Nguyễn Xuân Hợi
là 3,9 với độ nhạy 80%, độ đặc hiệu 70%, OR = 8,7 [54] Một nghiên cứu tiếncứu trên 1012 bệnh nhân thực hiện chu kỳ HTSS đầu tiên cho thấy với AFC
≤24 nguy cơ QKBT trung bình và nặng là 2,2% trong khi AFC > 24 thì nguy
cơ này là 8,8% [57] Trong khi đó ở nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hợi xác
AMH và AFC đều được tính chung cho tất cả các bệnh nhân làm IVF màchưa có nghiên cứu nào tính giá trị ngưỡng này cho từng nhóm bệnh nhân có
và không có BTĐN
Có một vài nghiên cứu đánh giá vai trò của Inhibin A và B trong dựđoán khả năng QKBT, tuy nhiên cả 2 nghiên cứu này đều chỉ ra không có mốiliên quan giữa chusg và tiến triển của QKBT [58] [59]
Trang 3111mm ≥ 13 nang (độ nhạy 85,5 % và độ đặc hiệu 69%), nếu phối hợp giữangưỡng sự đoán của số lượng nang ≥ 18 nang với nồng độ E2 ≥ 5000 ng/L thì
có khả năng dự đoán QKBT nặng với độ nhạy là 83% và đặc hiệu là 84% [60].Theo Nguyễn Xuân Hợi giá trị dự đoán của các chỉ số này lần lượt là nồng độ E2
≥ 5100 ng/L (độ nhạy 81%, độ đặc hiệu 79%), số noãn ≥ 13(độ nhạy 81%, độđặc hiệu 82%) [54] Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra số lượngnang noãn phát triển trong chu kỳ HTSS làm tăng nguy cơ QKBT, trong đó cómột nghiên cứu xác định giá trị ngưỡng là 20 nang [44]
Một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu khác trên 256381 chu kỳ IVF đượcthực hiện từ năm 2008 – 2010 cho kết quả rằng tỷ lệ QKBT tăng dần khi sốnoãn thu được vào ngày chọc hút là 15 noãn và sau đó tỷ lệ ít thay đổi Tuynhiên tỷ lệ QKBT lại có ý nghĩa lâm sàng hơn nếu số noãn thu được càng lớn
và ≥ 15 noãn [61]
Qua nhiều bằng chứng trong việc xác định các yếu tố như phác đồ điềutrị, BTĐN, AMH và AFC cao, đỉnh E2, nhiều nang phát triển, nhiều noãn thuđược có liên quan đến tăng tỷ lệ QKBT tuy nhiên giá trị cut – off của các chỉ
số này còn khác nhau nhiều giữa các nghiên cứu, đặc biệt tại Việt Nam mớichỉ có nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hợi và những giá trị này cũng khác cácnghiên cứu lớn trước đây trên thế giới Ngoài ra còn một số chỉ số như kíchthước nang, nồng độ LH, FSH, prolactin, inhibin B, testosteron có liên quanđến nguy cơ QKBT hay không thì chưa có nhiều nghiên cứu lớn và có thiết kế
đủ lớn để đưa ra kết luận
1.7 Buồng trứng đáp ứng kém với KTBT (Por – Poor ovarian response)
Một tổng quan hệ thống của 47 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đốichứng đã thống kê có tới 41 định nghĩa về POR Vì vậy đưa ra một tiêu chuẩnnhất quán cho POR là rất khó khăn [62] Trong đó có tiêu chuẩn Bologna