A. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong quá trình hội nhập thế giới sâu rộng như hiện nay, giáo dục - đào tạo ngày càng có vai trò to lớn, nó thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức, là phương thức đặc biệt để giữ gìn, sáng tạo và phát triển văn hóa, giáo dục đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thông qua ứng dụng và thúc đẩy tiến bộ công nghệ; giáo dục và đào tạo được coi là chìa khóa của sự phát triển. Giáo dục và đào tạo không ngừng phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội vì mục tiêu nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo nhân lực, phát triển nhân tài. Đảm bảo cung cấp các kiến thức phổ thông tối thiểu cần thiết có trong chương trình của từng ngành học, chuẩn bị cho thế hệ trẻ hành trang bước vào cuộc sống hay tiếp tục học tập ở những giai đoạn sau cao hơn. Trong những năm qua xã Mai Sơn đã đạt được nhiều thành tích lớn trong giáo dục, cả ba trường (Mầm non, Tiểu học, THCS) được xây dựng kiên cố, khang trang sạch đẹp, đều được công nhận đạt chuẩn Quốc gia. Việc huy động học sinh trong độ tuổi đến lớp từ mẫu giáo, tiểu học đến trung học cơ sở luôn đạt tỷ lệ cao và tăng dần cả về số lượng học sinh, quy mô trường lớp qua các năm. Chất lượng giáo dục nhiều năm qua từng bước được nâng lên đặc biệt là trẻ mầm non dược nuôi dưỡng giáo dục tốt, chất lượng đại trà, kết quả thi vào lớp 10-THPT cả hai hệ luôn nằm ở tốp đầu cua huyện. Tuy vậy giáo dục - đào tạo xã Mai Sơn vẫn còn nhiều vấn đề hạn chế, bất cập như chất lượng mũi nhọn, nguy cơ thiếu phòng học, trang thiết bị cần thiết phục vụ cho dạy và học, việc phân luồng học sinh, công tác xã hội hóa giáo dục, sự phối hợp giữa các tổ chức ban ngành đoàn thể của địa phương... cần được tháo gỡ trong thời gai tới nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của xã trong giai đọn hiện nay. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Phát triển giáo dục - đào tạo ở xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Thực trạng và giải pháp” để làm khóa luận tốt nghiệp chương trình Trung cấp lý luận chính trị - hành chính nhằm khẳng định rõ hơn vai trò to lớn của giáo dục – đào tạo đối với sự phát triển của địa phươg, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm góp phần phát triển giáo dục – đào tạo của xã Mai Sơn trong thời gian tới. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu - Mục tiêu: Tìm hiểu thực trạng hoạt động giáo dục – đào tạo ở xã Mai Sơn huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình từ năm 2016 đến nay trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển giáo dục – đào tạo của xã Mai Sơn trong thời gian tới. - Nhiệm vụ nghiên cứu: + Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận chính sách, đường lối phát triển giáo dục – đào tạo nước ta trong giai đoạn hiện nay. + Nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng giáo dục – đào tạo của xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình + Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển giáo dục – đào tạo xã Mai Sơn theo hướng bền vững, có chiều sâu đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội, phục vụ tốt cho sự phát triển kinh - tế xã hội của địa phương. 3. Đối tượng nghiên cứu: - Về lý luận: Nghiên cứu lý luận các chủ chương, chính sách phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước, của tỉnh, của huyện và xã Mai Sơn. - Về thực tiễn: Nghiên cứu thực trạng phát triển giáo dục xã Mai Sơn cụ thể là nghiên cứu sự phát triển của ba bậc học Mầm non, Tiểu học và THCS. 4. Phạm vị nghiên cứu: - Về không gian: xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. - Về thời gian: Nghiên cứu tình hình phát triển giáo dục của xã Mai Sơn từ năm học 2016 đến tháng 10 năm 2018. 5. Phương pháp nghiên cứu: 5.1. Phương pháp chung: Đề tài được nghiên cứu dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. 5.2. Phương pháp cụ thể: - Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tổng hợp, hệ thống, khái quát phân tích các tài liệu có liên quan đến vấn đề giáo dục- đào tạo để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài. - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: + Tiến hành điều tra, khảo sát thực tế tại xã Mai Sơn. Thông qua, năm bắt số liệu, trò chuyện, trao đổi với lãnh đạo UBND xã, các cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh các trường Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở để tìm hiểu thực trạng và các giải pháp lãnh đạo, quản lý hoạt động giáo dục – đào tạo tại xã Mai Sơn + Phương pháp so sánh, đối chiếu số liệu rút ra kết luận... 6. Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3 phần: Phần I: Cơ sở lý luận. Phần II: Thực trạng phát triển giáo dục tạo ở xã Mai Sơn, huyện Yên Mô từ năm 2016 đến nay. Phần III: Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển giáo dục của xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. B. NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC - VÀ ĐÀO TẠO 1. Khái niệm, vai trò của giáo dục – đào tạo 1.1.. Khái niệm giáo dục – đào tạo Giáo dục là lĩnh vực trọng yếu quyết định sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Nội hàm khái niệm giáo dục có cội nguồn từ khái niệm văn hóa (culture) được hiểu là trồng trọt tinh thần, vun đắp trí tuệ cho con người: “Văn trị giáo hóa” “nhân văn giáo hóa”. Giáo dục là hiện tượng xã hội, diễn ra quá trình trao truyền tri thức, kinh nghiệm giữa con người với con người thông qua ngôn ngữ và các hệ thống ký hiệu khác nhằm kế thừa, duy trì sự tồn tại, tiến hóa và phát triển nhân loại. Có thể nói, nếu không có giáo dục, loài người không thể tồn tại. Trong giáo dục đã bao hàm cả vấn đề đào tạo. Quan điểm giáo dục học hiện đại đã cho rằng cơ cấu của hoạt động giáo dục gồm bốn yếu tố: giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường; giáo dục xã hội và quá trình tự giáo dục của mỗi cá nhân con người. Ba yếu tố trên là hoàn cảnh bên ngoài quyết định gián tiếp, yếu tố sau cùng quyết định trực tiếp chất lượng giáo dục, hình thành và hoàn thiện nhân cách con người bao gồm phẩm chất (đức) và năng lực (tài). 1.2. Vai trò của giáo dục – đào tạo Đảng ta đã nhiều lần khẳng định giáo dục – đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo là cơ sở đề thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng chiến lược con người của Đảng và Nhà nước ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp giáo dục mà chúng ta xây dựng là sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp giáo dục này có nhiệm vụ đào tạo ra những công dân trung thành với sự nghiệp cách mạng, có đầy đủ tài năng, phẩm chất và bản lĩnh để vượt qua những thách thức của thời đại và dân tộc, đưa đất nước tiến lên đuổi kịp trào lưu phát triển chung của khu vực và quốc tế. Trong thời đại chuyển dịch mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kiểu cũ dựa vào bóc lột sức lao động và tàn phá môi trường tự nhiên là chính sang cuộc cách mạng khoa học kiểu mới hướng tới nâng cao năng suất lao động, bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao chất lượng cuộc sống con người, hàm lượng khoa học kết tinh trong các sản phẩm hàng hóa ngày càng tăng Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội gắn liền với sản xuất hàng hóa và thị trường, gắn liền với phân công lao động và hợp tác quốc tế, gắn liền với trình độ và năng lực sáng tạo, tiếp nhận và trao đổi công nghệ mới. Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa trong lĩnh vực kinh tế - xã hội làm cho các quốc gia kể cả các quốc gia phát triển và cả các quốc gia đang phát triển phải cấu trúc lại nền kinh tế. Tài năng và trí tuệ, năng lực và bản lĩnh trong lao động và sáng tạo của con người không phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên, tự phát mà phải trải qua một quá trình chuẩn bị và đào tạo công phu, bền bỉ, có hệ thống. Vì vậy, giáo dục và đào tạo hiện nay được đánh giá là yếu tố bên trong, yếu tố cấu thành của nền sản xuất xã hội. Giáo dục - đào tạo có tác động to lớn trong quá trình hình thành phát triển và hoàn thiện con người. Giáo dục và đào tạo không chỉ có ý nghĩa quyết định trong việc làm thay đổi nền sản xuất vật chất của xã hội mà còn là cơ sở để xây dựng nền văn hóa tinh thần của chế độ xã hội chủ nghĩa. Giáo dục - đào tạo còn có tác dụng vô trong việc truyền bá hệ tư tưởng chính trị xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng lối sống, đạo đức và nhân cách mới của toàn xã hội. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước không chỉ là quá trình đổi mới về khoa học - công nghệ, hiện đại hóa, thị trường hóa nền sản xuất xã hội mà còn là quá trình chuyển đổi về tâm lý, phong tục tập quán, lối sống thích ứng với nhịp độ và tốc độ của xã hội công nghiệp và hội nhập quốc tế. 2. Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục – đào tạo 2.1. Tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo dục – đào tạo trong thởi kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016) của Đảng xác định: “Phấn đấu trong những năm tới, tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”. Để thực hiện mục tiêu trên, từ nay đến năm 2020 cần tập trung thực hiện: - Xây dựng, hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi. Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình. - Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện bậc tiểu học, trung học cơ sở. Hoàn thành phổ cập giáo dục trung học phổ thông vào năm 2020. Phát triển giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn, phấn đấu giảm chênh lệch về phát triển giáo dục giữa các vùng lãnh thổ. - Phát triển đào tạo đại học, trung học chuyên nghiệp, đẩy mạnh đào tạo công nhân lành nghề, bảo đảm có được nhiều nhân tài cho đất nước trong thế kỉ XXI. - Nâng cao chất lượng và đảm bảo đủ số lượng giáo viên cho toàn bộ hệ thống giáo dục. Tiêu chuẩn hóa và hiện đại hóa các điều kiện dạy và học. Phấn đấu sớm có một số cơ sở đại học và trung học chuyên nghiệp, dạy nghề đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo dục – đào tạo trong thời gian tới là: Một là, thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhận thức sâu sắc giáo dục – đào tạo là một trong những nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho con người, cho phát triển bền vững. Phải có chính sách phù hợp để phát triển giáo dục, đàotạo. Hai là, phát triển giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Đó là mục tiêu mang tính chiến lược, là sứ mệnh vẻ vang của giáo dục, đào tạo góp phần phát triển kinh tế tri thức, tạo động lực phát triển bền vững đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Ba là, chuyến mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học ; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Đây là vấn đề quan trọng có ý nghĩa sống còn về đổi mới nội dung, phương thức, găn với những nguyên lý cơ bản của giáo dục, đào tạo hiện đại. Bốn là, phát triển giáo dục – đào tạo gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động. Phải trên cơ sở yêu cầu trước mắt và lâu dài về phát triển kinh tế - xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chiến lược bảo vệ Tổ quốc, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước để phát triển giáo dục – đào tạo. Để chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục – đào tạo phải gắn với những tiến bộ của khoa học – công nghệ. 2.2. Định hướng đổi mới căn bản toàn diện giáo dục – đào tạo Kế thừa, phát triển các quan điểm của Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII, nghị quyết của các kì Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI về giáo dục – đào tạo. Hội nghị làn thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ra Nghị quyết “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” (Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 4/11/2013) hệ thống bảy quan điểm chỉ đạo như sau: - Một là: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. - Hai là: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp. - Ba là: Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. - Bốn là: Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng. - Năm là: Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo. - Sáu là: Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo. - Bảy là: Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước. 2.3. Nhiệm vụ trọng tâm phát triển giáo dục – đào tạo phát triển nguồn nhân lực trong thời gian tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định sáu nhiệm vụ trọng tâm phát triển giáo dục trong thời gian tới: Một là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục – đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, lương lực của người học. Muốn vậy, phải đổi mới chương trình, nội dung giáo dục – đào tạo theo hướng tinh giảm, hiển đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ, ngành nghề. Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục – đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người. Tiếp tục đổi mới
Trang 1A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình hội nhập thế giới sâu rộng như hiện nay, giáo dục - đào tạongày càng có vai trò to lớn, nó thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh tế trithức, là phương thức đặc biệt để giữ gìn, sáng tạo và phát triển văn hóa, giáo dụcđóng góp vào tăng trưởng kinh tế thông qua ứng dụng và thúc đẩy tiến bộ côngnghệ; giáo dục và đào tạo được coi là chìa khóa của sự phát triển
Giáo dục và đào tạo không ngừng phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu phát triểnkinh tế xã hội vì mục tiêu nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo nhân lực, phát triểnnhân tài Đảm bảo cung cấp các kiến thức phổ thông tối thiểu cần thiết có trongchương trình của từng ngành học, chuẩn bị cho thế hệ trẻ hành trang bước vàocuộc sống hay tiếp tục học tập ở những giai đoạn sau cao hơn
Trong những năm qua xã Mai Sơn đã đạt được nhiều thành tích lớn tronggiáo dục, cả ba trường (Mầm non, Tiểu học, THCS) được xây dựng kiên cố, khangtrang sạch đẹp, đều được công nhận đạt chuẩn Quốc gia Việc huy động học sinhtrong độ tuổi đến lớp từ mẫu giáo, tiểu học đến trung học cơ sở luôn đạt tỷ lệ cao
và tăng dần cả về số lượng học sinh, quy mô trường lớp qua các năm Chất lượnggiáo dục nhiều năm qua từng bước được nâng lên đặc biệt là trẻ mầm non dượcnuôi dưỡng giáo dục tốt, chất lượng đại trà, kết quả thi vào lớp 10-THPT cả hai hệluôn nằm ở tốp đầu cua huyện Tuy vậy giáo dục - đào tạo xã Mai Sơn vẫn cònnhiều vấn đề hạn chế, bất cập như chất lượng mũi nhọn, nguy cơ thiếu phòng học,trang thiết bị cần thiết phục vụ cho dạy và học, việc phân luồng học sinh, công tác
xã hội hóa giáo dục, sự phối hợp giữa các tổ chức ban ngành đoàn thể của địaphương cần được tháo gỡ trong thời gai tới nhằm đáp ứng được yêu cầu pháttriển kinh tế - xã hội của xã trong giai đọn hiện nay
Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Phát triển giáo dục - đào tạo ở xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình Thực trạng và giải pháp” để làm khóa luận tốt nghiệp
chương trình Trung cấp lý luận chính trị - hành chính nhằm khẳng định rõ hơn vai
trò to lớn của giáo dục – đào tạo đối với sự phát triển của địa phươg, từ đó đề ra
một số giải pháp nhằm góp phần phát triển giáo dục – đào tạo của xã Mai Sơntrong thời gian tới
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu: Tìm hiểu thực trạng hoạt động giáo dục – đào tạo ở xã Mai Sơn
huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình từ năm 2016 đến nay trên cơ sở đó đề xuất một sốgiải pháp nhằm phát triển giáo dục – đào tạo của xã Mai Sơn trong thời gian tới
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận chính sách, đường lối phát triển giáo dục –đào tạo nước ta trong giai đoạn hiện nay
+ Nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng giáo dục – đào tạo của xã Mai Sơn,huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình
Trang 2+ Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển giáo dục– đào tạo xã Mai Sơn theo hướng bền vững, có chiều sâu đáp ứng được yêu cầungày càng cao của xã hội, phục vụ tốt cho sự phát triển kinh - tế xã hội của địaphương.
3 Đối tượng nghiên cứu:
- Về lý luận: Nghiên cứu lý luận các chủ chương, chính sách phát triển giáodục của Đảng và Nhà nước, của tỉnh, của huyện và xã Mai Sơn
- Về thực tiễn: Nghiên cứu thực trạng phát triển giáo dục xã Mai Sơn cụ thể
là nghiên cứu sự phát triển của ba bậc học Mầm non, Tiểu học và THCS
4 Phạm vị nghiên cứu:
- Về không gian: xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình
- Về thời gian: Nghiên cứu tình hình phát triển giáo dục của xã Mai Sơn từnăm học 2016 đến tháng 10 năm 2018
5 Phương pháp nghiên cứu:
5.1 Phương pháp chung:
Đề tài được nghiên cứu dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử
5.2 Phương pháp cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tổng hợp, hệ thống, khái quát phân tíchcác tài liệu có liên quan đến vấn đề giáo dục- đào tạo để xây dựng cơ sở lý luậncủa đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Tiến hành điều tra, khảo sát thực tế tại xã Mai Sơn Thông qua, năm bắt sốliệu, trò chuyện, trao đổi với lãnh đạo UBND xã, các cán bộ quản lý, giáo viên vàhọc sinh các trường Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở để tìm hiểu thực trạng
và các giải pháp lãnh đạo, quản lý hoạt động giáo dục – đào tạo tại xã Mai Sơn+ Phương pháp so sánh, đối chiếu số liệu rút ra kết luận
6 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đềtài gồm 3 phần:
Trang 3B NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC - VÀ ĐÀO TẠO
1 Khái niệm, vai trò của giáo dục – đào tạo
1.1 Khái niệm giáo dục – đào tạo
Giáo dục là lĩnh vực trọng yếu quyết định sự tồn tại và phát triển của nhânloại Nội hàm khái niệm giáo dục có cội nguồn từ khái niệm văn hóa (culture)được hiểu là trồng trọt tinh thần, vun đắp trí tuệ cho con người: “Văn trị giáo hóa”
“nhân văn giáo hóa”
Giáo dục là hiện tượng xã hội, diễn ra quá trình trao truyền tri thức, kinhnghiệm giữa con người với con người thông qua ngôn ngữ và các hệ thống ký hiệukhác nhằm kế thừa, duy trì sự tồn tại, tiến hóa và phát triển nhân loại Có thể nói,nếu không có giáo dục, loài người không thể tồn tại
Trong giáo dục đã bao hàm cả vấn đề đào tạo Quan điểm giáo dục học hiệnđại đã cho rằng cơ cấu của hoạt động giáo dục gồm bốn yếu tố: giáo dục gia đình,giáo dục nhà trường; giáo dục xã hội và quá trình tự giáo dục của mỗi cá nhân conngười Ba yếu tố trên là hoàn cảnh bên ngoài quyết định gián tiếp, yếu tố sau cùngquyết định trực tiếp chất lượng giáo dục, hình thành và hoàn thiện nhân cách conngười bao gồm phẩm chất (đức) và năng lực (tài)
1.2 Vai trò của giáo dục – đào tạo
Đảng ta đã nhiều lần khẳng định giáo dục – đào tạo có sứ mệnh nâng cao dântrí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triểnđất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đàotạo là cơ sở đề thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng chiến lượccon người của Đảng và Nhà nước ta Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp giáodục mà chúng ta xây dựng là sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa Sự nghiệp giáodục này có nhiệm vụ đào tạo ra những công dân trung thành với sự nghiệp cáchmạng, có đầy đủ tài năng, phẩm chất và bản lĩnh để vượt qua những thách thức củathời đại và dân tộc, đưa đất nước tiến lên đuổi kịp trào lưu phát triển chung của khuvực và quốc tế Trong thời đại chuyển dịch mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa họckiểu cũ dựa vào bóc lột sức lao động và tàn phá môi trường tự nhiên là chính sangcuộc cách mạng khoa học kiểu mới hướng tới nâng cao năng suất lao động, bảo vệmôi trường sinh thái và nâng cao chất lượng cuộc sống con người, hàm lượng khoahọc kết tinh trong các sản phẩm hàng hóa ngày càng tăng Sự phát triển của lựclượng sản xuất xã hội gắn liền với sản xuất hàng hóa và thị trường, gắn liền vớiphân công lao động và hợp tác quốc tế, gắn liền với trình độ và năng lực sáng tạo,tiếp nhận và trao đổi công nghệ mới Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa trong lĩnhvực kinh tế - xã hội làm cho các quốc gia kể cả các quốc gia phát triển và cả cácquốc gia đang phát triển phải cấu trúc lại nền kinh tế Tài năng và trí tuệ, năng lực
và bản lĩnh trong lao động và sáng tạo của con người không phải xuất hiện một cách
Trang 4ngẫu nhiên, tự phát mà phải trải qua một quá trình chuẩn bị và đào tạo công phu,bền bỉ, có hệ thống Vì vậy, giáo dục và đào tạo hiện nay được đánh giá là yếu tốbên trong, yếu tố cấu thành của nền sản xuất xã hội.
Giáo dục - đào tạo có tác động to lớn trong quá trình hình thành phát triển vàhoàn thiện con người Giáo dục và đào tạo không chỉ có ý nghĩa quyết định trongviệc làm thay đổi nền sản xuất vật chất của xã hội mà còn là cơ sở để xây dựngnền văn hóa tinh thần của chế độ xã hội chủ nghĩa
Giáo dục - đào tạo còn có tác dụng vô trong việc truyền bá hệ tư tưởng chínhtrị xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xâydựng lối sống, đạo đức và nhân cách mới của toàn xã hội Sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước không chỉ là quá trình đổi mới về khoa học - công nghệ,hiện đại hóa, thị trường hóa nền sản xuất xã hội mà còn là quá trình chuyển đổi vềtâm lý, phong tục tập quán, lối sống thích ứng với nhịp độ và tốc độ của xã hộicông nghiệp và hội nhập quốc tế
2 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục – đào tạo
2.1 Tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo dục – đào tạo trong thởi kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016) của Đảng xác định: “Phấn đấutrong những năm tới, tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quảgiáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc
và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàndiện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu giađình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả Phấn đấu đến năm
2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực” Để thực hiệnmục tiêu trên, từ nay đến năm 2020 cần tập trung thực hiện:
- Xây dựng, hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ emtrong độ tuổi Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện bậc tiểu học, trung học cơ sở Hoànthành phổ cập giáo dục trung học phổ thông vào năm 2020 Phát triển giáo dục ởcác vùng dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn, phấn đấu giảm chênh lệch về pháttriển giáo dục giữa các vùng lãnh thổ
- Phát triển đào tạo đại học, trung học chuyên nghiệp, đẩy mạnh đào tạo côngnhân lành nghề, bảo đảm có được nhiều nhân tài cho đất nước trong thế kỉ XXI
- Nâng cao chất lượng và đảm bảo đủ số lượng giáo viên cho toàn bộ hệthống giáo dục Tiêu chuẩn hóa và hiện đại hóa các điều kiện dạy và học Phấn đấu
Trang 5sớm có một số cơ sở đại học và trung học chuyên nghiệp, dạy nghề đạt tiêu chuẩnquốc tế.
Tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo dục – đào tạo trong thời gian tới là:
Một là, thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc giáo
dục – đào tạo là một trong những nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và pháttriển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho con người, cho phát triển bền vững.Phải có chính sách phù hợp để phát triển giáo dục, đàotạo
Hai là, phát triển giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Đó là mục tiêu mang tính chiến lược, là sứ mệnh vẻ vang của
giáo dục, đào tạo góp phần phát triển kinh tế tri thức, tạo động lực phát triển bềnvững đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam
Ba là, chuyến mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học ; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn Đây là vấn đề quan trọng có ý nghĩa sống còn về đổi mới nội dung,
phương thức, găn với những nguyên lý cơ bản của giáo dục, đào tạo hiện đại
Bốn là, phát triển giáo dục – đào tạo gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế
-xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động Phải trên cơ sở yêu cầu trước mắt và
lâu dài về phát triển kinh tế - xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chiếnlược bảo vệ Tổ quốc, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứngyêu cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước để phát triển giáo dục – đàotạo Để chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục – đào tạo phải gắn với những tiến bộ củakhoa học – công nghệ
2.2 Định hướng đổi mới căn bản toàn diện giáo dục – đào tạo
Kế thừa, phát triển các quan điểm của Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII,nghị quyết của các kì Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI về giáo dục –đào tạo Hội nghị làn thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ra Nghịquyết “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH,HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhậpquốc tế” (Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 4/11/2013) hệ thống bảy quan điểm chỉđạo như sau:
- Một là: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng,
Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên
đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội
- Hai là: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những
vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nộidung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ
sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ
Trang 6sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thânngười học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học
Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triểnnhững nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiênquyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc Đổi mới phải bảo đảm tính
hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giảipháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp
- Ba là: Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thứcsang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lýluận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáodục xã hội
- Bốn là: Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh
tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luậtkhách quan Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sangchú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng
- Năm là: Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông
giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo Chuẩn hóa,hiện đại hóa giáo dục và đào tạo
- Sáu là: Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế
thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đàotạo Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa cácvùng, miền Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệtkhó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đốitượng chính sách Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo
- Bảy là: Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào
tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để pháttriển đất nước
2.3 Nhiệm vụ trọng tâm phát triển giáo dục – đào tạo phát triển nguồn nhân lực trong thời gian tới
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định sáu nhiệm vụ trọngtâm phát triển giáo dục trong thời gian tới:
Một là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục – đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, lương lực của người học.
Muốn vậy, phải đổi mới chương trình, nội dung giáo dục – đào tạo theo hướngtinh giảm, hiển đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ, ngành nghề Đa dạnghóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trìnhgiáo dục – đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người Tiếp tục đổi mới
Trang 7mạnh mẽ phương pháp dạy và học, hình thức và phương pháp thi, kiểm tra vàđánh giá kết quả giáo dục – đào tạo đảm bảo trung thực, khách quan, không tạo ranhững áp lực ảo.
Hai làm, hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập Muốn vậy, phải quy hoạch
lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch pháttriển kinh tế - xã hội của cả nước, của từng địa phương, phải quy hoạch phát triểnnguồn nhân lực, tránh lãng phí, mất cân đối trong giáo dục – đào tạo Xây dựngchiến lược phát triển nguồn nhân lực cho cả nước cho từng ngành, lĩnh vực vớinhững giải pháp đồng bộ , trong đó tập trung cho giải pháp đào tạo, đào tạo lạinguồn nhân lực trong nhà trường cũng như trong quá trình sản xuất kinh doanh,chú trọng nâng cao tính chuyên nghiệp và kỹ năng thực hành Phát triển hợp lý,hiệu quả các loại hình trường ngoài công lập đối với giáo dục nghệ nghiệp và giáodục đại học
Ba là, đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục – đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng cường tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ sở giáo dục – đào tạo; coi trong quản chất lượng Quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan
quản lý giáo dục – đào tạo Thực hiện nghiêm túc Luật Giáo dục (2005), sửa đổi,
bổ sung năm 2009, Luật Giáo dục đại học (2012), Luật Giáo dục nghề nghiệp(2014) Xử lý nghiêm các hiện tượng tiêu cực trong giáo dục – đào tạo Đổi mới
cơ chế quản lý, sắp xếp, chấn chỉnh và nâng cao năng lực quản lý của bộ máy quản
lý giáo dục – đào tạo Hoàn thiện hệ thống thanh tra giáo dục Giao quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục – đào tao; thực hiện giám sát của cácchủ đề trong nhà trường và xã hội, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơquan quản lý các cấp, đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch
Bốn là, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý phải đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục – đào tạo Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý là nhân tố quyết
định chất lượng giáo dục – đào tạo Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theotừng cấp học và trình độ đào tạo Vì vậy, cần củng cố, đầu tư, nâng cấp các trường
sư phạm Có chính sách thu hút học sinh giỏi vào ngành sư phạm để đào tạo độingũ nhà giáo có đức, có tài, tâm huyết phấn đấu cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo.Nâng cao địa vị xã hội và địa vị kinh tế của đội ngũ nhà giáo
Năm là, đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội ; năng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục – đào tạo Nhà
nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục – đào tạo, ngân sách nhànước chi cho giáo dục – đàotạo tối thiểu ở mức 20% tổng chi ngân sách; nâng caohiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước Đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chínhsách giá dịch vụ giáo dục – đào tạo Đẩy mạnh xã hội hóa, trước hết đối với giáodục nghề nghiệp và giáo dục đại học, huy động xã hội tham gia vào quá trình giáodục – đào tạo, tạo điều kiện và cơ hội để mọi người dân được hưởng thụ thành quả
Trang 8của giáo dục – đào tạo Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học;từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất – kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệthông tin.
Sáu là, nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý Khuyến khích
thành lập viện, trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, doanh nghiệpkhoa học – công nghệ Nghiên cứu sáp nhập một số tổ chức nghiên cứu khoa học
và triển khai công nghệ với các trường đại học công lập
2.4 Sự lãnh đạo chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Ninh Bình về phát triển giáo dục – đào tạo đến năm 2020 và định hướng đến 2030
Nghị quyết Đại hội lần thứ XXI của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình, Nghị quyết số
06 – NQ/TU ngày 28-12-2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triểnnguồn nhân lực tỉnh Ninh Bình đến năm 2020, định hướng 2030, Nghị quyết số 10–NQ/TU ngày 26-6-2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng và phát triểnvăn hóa, con người Ninh Bình đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đáp ứngyêu cầu hội nhập và phát triển bền vững đã xác định một số mục tiêu chủ yếu trênlĩnh vực giáo dục – đào tạo của tỉnh như sau:
có phòng ứng dụng công nghệ thông tin được kết nối Internet tốc độ cao; đảm bảo
đủ thiết bị dạy học tối thiểu đối với mầm non 5 tuổi và các lớp phổ thông từ lớp 1đến lớp 12
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 80%; tỷ lệ lao động đào tạo nghề đạt55%
* Giai đoạn 2021- 2030
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 95%
- 100% nhà trường đạt trường học văn hóa và đưa các loại hình nghệ thuậttruyền thông vào giảng dạy
Đặc biệt, ngày 13/01/2014 Tỉnh ủy Ninh Bình đã ban hành Kế hoạch hànhđộng số 92-KH/TU thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW; UBND tỉnh Ninh Bình
đã ban hành Kế hoạch số 14/KH-UBND ngày 24/3/2014 thực hiện Kế hoạch hànhđộng số 92-KH/TU của Tỉnh ủy Trong đó, Tỉnh ủy và UBND tỉnh đã xác địnhnhiệm vụ: Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển giáo dục toàn diện Nângcao chất lượng giáo dục đại trà, chú trọng giáo dục mũi nhọn Tăng cường đầu tư
Trang 9xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia Nâng cao số lượng, chất lượng học sinhđoạt giải trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế Phát triển một số loại hình trườngchất lượng cao; thu hút nguồn nhân lực quản lý, khoa học, công nghệ trình độ cao
về công tác tại tỉnh Chú trọng đào tạo, đào tạo lại và cập nhật kiến thức cho độingũ cán bộ, nhất là cán bộ trẻ được đào tạo cơ bản Tiếp tục thực hiện tốt chủtrương xã hội hoá, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư cho giáo dục, đàotạo và dạy nghề
Thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ và chính quyền địa phương, SởGiáo dục Ninh Bình, Phòng Giáo dục Yên Mô tiếp tục huy động các nguồn lựcxây dựng cơ sở vật chất hiện đại theo chuẩn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viêngiỏi về chuyên môn nghiệp vụ, tận tụy với nghề; đẩy mạnh công tác xã hội hóagiáo dục, tăng cường đầu tư mua sắm trang thiết bị, đồ dùng dạy học, xây dựng cơ
sở vật chất, trường chuẩn Quốc gia gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới;tiếp tục củng cố, duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục các cấp học
Như vậy, với vị trí và vai trò quan trọng, trong những năm gần đây, giáo dục
- đào tạo ngày càng được Đảng và Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương đặcbiệt quan tâm Những thành tựu mà giáo dục – đào tạo Việt Nam đạt được sau hơn
30 năm đổi mới đã tác động trực tiếp, to lớn và tích cực đến sự phát triển kinh tế
-xã hội của đất nước, góp phần quan trọng đưa nước ta nhanh chóng hoàn thànhquá trình CNH, HĐH, thực hiện thắng lợi mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thànhnước công nghiệp theo hướng hiện đại trong thời gian sớm nhất
II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO Ở XÃ MAI SƠN TỪ NĂM 2016 ĐẾN THÁNG 10 NĂM 2018.
1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội ảnh hưởng đến phát triển giáo dục ở Mai Sơn.
1.1 Đặc điểm tự nhiên
Mai Sơn là xã miền núi của huyện Yên Mô, cách trung tâm huyện khoảng 6
km về phía Tây Nam, Phía Bắc giáp xã Ninh An và xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư,phía Nam giáp xã Yên Thắng, phía Đông giáp xã Khánh Thượng, phía Tây giáp xãYên Bình thành phố Tam Điệp
Diện tích đất tự nhiên là 453,27ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm khoảng229,29ha (đất sản xuất nông nghiệp 212,66ha, đất nuôi trồng thủy sản 13,07ha);đất phi nông nghiệp 194,28ha; đất ở 27,1ha; đất chuyên dùng 145,98ha; đất tôngiáo, tín ngưỡng 0,43ha; đất nghĩa trang, nghĩa địa 11,31ha; đất sông suối, mặtnước chuyên dùng 9,25ha Nhìn chung đất đai màu mỡ, thuận lợi để phát triểnnông nghiệp
Trang 101.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội
Mai Sơn là xã thuần nông có 8 đơn vị thôn, xóm với 1182 hộ và 4.409 khẩu(trong đó có 54 hộ theo đạo thiên chúa giáo với 164 khẩu chiếm 3,72 % dân số).Tổng số lao động trên địa bàn xã trong độ tuổi lao động là 1.920 người, số laođộng có việc làm thường xuyên là 1.875 người đạt 97,66% Trên địa bà xã có 1cụm công nghiệp với 6 công ty, doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực kinhdoanh dịch vụ, 1 nhà máy gạch và có 15 doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trongnhiều lĩnh vực khác nhau
Xã có 01 HTX NN ; Đảng bộ xã có 286 đảng viên sinh hoạt tại 13 chi bộtrực thuộc, trong đó có 8 chi bộ nông nghiệp, 3 chi bộ trường học, 1 chi bộ y tế và
1 chi bộ cơ quan
Trong những năm qua kinh tế - xã hội của xã có bước phát triển nhanh vàbền vững; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nânglên; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững và ổn định; tỷ lệ hộnghèo trên địa bàn xã hết năm 2017 là 2,8 %, hộ cận nghèo 1,4 %
Xã có vị trí tương đối thuận lợi, giáp với thị xã Tam Điệp, có nguồn nướcvới hệ thống kênh mương quy hoạch đảm bảo tưới tiêu chủ động tạo điều kiện đểphát triển sản xuất nông nghiệp; hệ thống đường giao thông tạo điều kiện cho địaphương phát triển kinh tế và các ngành nghề dịch vụ, thương mại
1.3 Thuận lợi, khó khăn
* Thuận lợi:
Năm 2017, xã Mai Sơn đã về đích Nông thôn mới nên đời sống kinh tế - xãhội có nhiều chuyển biến tốt, kết cấu hạ tầng nông thôn phát triển khá đồng bộ,giao thông thuận tiện Trường học nằm ở trung tâm xã thuận lợi để học sinh đếntrường Các trường đều được xây dựng kiên cố khang trang sạch đẹp vào loại bậcnhất huyện Yên Mô
Hệ thống truyền thanh của xã được đầu tư, nâng cấp tạo thuận lợi cho côngtác tuyên truyền, phổ biến các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vàcủa địa phương
Đời sống của nhân dân trong xã ngày càng được nâng lên Tỷ lệ hộ nghèo,
hộ cận nghèo thấp nhất huyện Trình độ dân trí ngày càng được nâng lên, thuận lợicho việc triển khai thực hiện các chính sáchcủa Đảng, Nhà nước và các quy địnhcủa địa phương
Đại đa số nhân dân quan tâm đến việc học của con em mình với mong muốnphát triển giáo dục một cách toàn diện
* Khó khăn:
Kinh tế của xã những năm gần đây mặc dù đã có chuyển biến tích cựcnhưng vẫn dựa phần lớn vào nông nghiệp, vẫn còn một số gia đình khó khăn
Trang 11Đa số các gia đình có con em trong độ tuổi đi học đều đi làm công nhân nênkhông có nhiều thời gian quản lý, quan tâm đến việc học hành của con em mình,nhiều gia đình phó mặc cho nhà trường.
Mai Sơn là xã năm trên Quốc lộ 1A, tiếp giáp với thành phố Tam Điệpngoài thuận lợi thì vẫn có những khó khăn đó là sự du nhập các tệ nạn xã hội đốivới thanh thiếu niên rất khó kiểm soát
2 Kết quả hoạt động giáo dục ở xã Mai Sơn từ năm 2016 đến tháng 10 năm 2018
2.1 Ưu điểm và nguyên nhân
Trong kế hoạch thực hiện nhiệm vụ hàng năm của Đảng ủy xã đều đưa ramục tiêu, nhiệm vụ và chỉ tiêu cụ thể mang tính định hướng cho giáo dục và đàotạo trên cơ sở đó cùng với chỉ tiêu nhiệm vụ trọng tâm của ngành, Hội đồng giáodục của xã và các trường cụ thể hóa phù hợp với từng cấp học
b Những kết quả đạt cụ thể
* Về số lượng, quy mô trường lớp
Xã Mai Sơn có mạng lưới trường lớp hoàn thiện từ Mầm non đến THCS, cả 3trường đều đạt chuẩn Quốc gia: Trường Mầm non được công nhận đạt chuẩn Quốcgia mức độ II đầu tiên của huyện Yên Mô vào tháng 12/2017; Trường Tiểu học đạtchuẩn Quốc gia mức độ II tháng 12 năm 2017; Trường THCS được công nhậntrường chuẩn Quốc gia năm học 2012 và tái công nhận chuẩn Quốc gia năm 2017.Các Trường nhiều năm liền đạt danh hiệu trường tiên tiến cấp huyện, cấp tỉnh Tỷ
lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến lớp mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sởluôn ở mức cao tăng dần về số lượng, quy mô trường lớp qua các năm
Năm học 2016 – 2017, toàn xã có 807 học sinh thuộc 3 bậc học Mầm non,Tiểu học,THCS;
Năm học 2017 – 2018, toàn xã có 762 học sinh thuộc 3 bậc học Mầm non,Tiểu học,THCS; giảm 45 học sinh so với năm học 2016 – 2017;
Trang 12Năm học 2018 – 2019, toàn xã có 827 học sinh thuộc 3 bậc học Mầm non,
Tiểu học,THCS; tăng 65 học sinh so với năm học 2017 – 2018 (Cụ thể xem Bảng phụ lục 1 kèm theo)
* Về c hất lượng giáo dục toàn diện và mũi nhọn:
- Đối với giáo dục Mầm non
Chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ không ngừng được nâng lên
cả về số lượng và chất lượng qua các năm học Công tác phòng chống dịch bệnhluôn được quan tâm, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ 100 % số trẻ đến nhóm lớpđăng ký ăn bán trú Chất lượng bữa ăn đảm bảo yêu cầu theo quy định cả về lượng
và chất đối với từng độ tuổi (mức ăn đã tăng từ 14.000 đồng lên 15.000đồng/trẻ/ngày) Vệ sinh nhóm lớp, bếp, môi trường luôn sạch đẹp, các cháu có nềnếp vệ sinh văn minh sạch sẽ, ngoan ngoãn, có đủ nước sạch cho trẻ dùng 100%trẻ được rửa tay bằng xà phòng dưới vòi nước sạch, lớp thực hiện cân, đo theo dõibiểu đồ đúng quy định Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi ngày càng giảm Hằngnăm, 100% trẻ 5 tuổi được cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình cấp học
và chuyển lên học tiểu học
Nhà trường không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọnggiáo dục nhân cách, đạo đức và rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh bằng cách chỉđạo thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tínhtích cực, chủ động, sáng tạo của trẻ, đồng thời thực hiện ứng dụng công nghệthông tin và các công nghệ hiện đại khác vào giảng dạy Đánh giá chất lượnggiảng dạy của giáo viên và chất lượng học tập của trẻ theo đúng quy định của bậchọc một cách khách quan, chống bệnh thành tích số liệu cụ thể so sánh các năm
xem (Bảng phụ lục 2)
- Đối với giáo dục Tiểu học:
Tiếp tục triển khai các thành tố của mô hình trường học mới, triển khai thực hiệndạy Tiếng Việt 1 - Công nghệ giáo dục, giáo dục kỹ năng sống lớp 1,2 - Công nghệgiáo dục; dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”; chỉ đạo các giáo viên dạyTiếng Anh 4 tiết/tuần cho 100% học sinh từ lớp 3 đến lớp 5; triển khai việc hướng dẫn
cho học sinh dành thời gian hợp lý để tự học tiếng Anh trên internet, qua truyện, sách báo, tạp chí tiếng Anh; tiếp tục triển khai thực hiện chương trình làm quen với tiếng
Anh cho học sinh lớp 1, lớp 2 và môn Tin học tự chọn cho học sinh từ lớp 3 đến lớp 5phù hợp với điều kiện nhà trườn
Trường Tiểu học đã tiếp tục thực hiện khá tốt từ việc tổ chức các hoạt độngtập thể, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa sang hướng tổchức hoạt động trải nghiệm: Dạy Âm nhạc gắn với di sản địa phương, tổ chức Hộithi “Nét đẹp đội viên”, “ Búp măng xinh”, “Tìm hiểu an toàn giao thông”, “Chungtay bảo vệ môi trường - biển đảo quê hương” và “ Hội chợ quê”,”Em yêu làn điệudân ca”; các trò chơi dân gian, múa sạp; tổ chức các phần thi có lồng ghép nội
Trang 13dung tiếng Anh, tổ chức cho học sinh tham quan và tìm hiểu về làng nghề Gốm sứ
cổ Bồ Bát Yên Thành, xem băng đĩa về lịch sử, địa lý địa phương rồi thăm Nhàlưu niệm đồng chí Tạ Uyên, thăm Cố đô Hoa Lư, thăm Lăng Bác Hồ…
Kết quả đánh giá về năng lực, phẩm chất như: Tự phục vụ, tự quản, hợp tác, tựhọc, giải quyết vấn đề, chăm học, chăm làm, tự tin trách nhiệm, trung thực, kỷ luậtđoàn kết, yêu thương đều đạt và vượt chỉ tiêu đề Học sinh hoàn thành chương trìnhlớp học năm 2016 -2017, đạt tỷ lệ 99,2%, còn 02/247 học sinh chưa hoàn thànhchương trình lớp học chiếm tỷ lệ 0,8%, học sinh lớp 5 hoàn thành chương trình tiểuhọc: 47/47 đạt 100%.; năm học 2017 – 2018 đánh giá về năng lực, phẩm chất như:
Tự phục vụ, tự quản (Tốt: 75,62%, Đạt: 24,22%, cần cố gắng: 0,16%); hợp tác (Tốt: 72,7%, Đạt: 27,07%, cần cố gắng: 0,23%); tự học, giải quyết vấn đề (Tốt: 68,08%, Đạt: 31,65%, cần cố gắng: 0,27%); chăm học, chăm làm (Tốt: 71,65%, Đạt: 28,13%, cần cố gắng: 0,22%); tự tin trách nhiệm (Tốt: 72,53%, Đạt: 18,57%, cần cố gắng: 0,22%); trung thực, kỷ luật (Tốt: 81,28%, Đạt: 24,22%, cần cố gắng: 0,15%); đoàn kết, yêu thương (Tốt: 84,22%, Đạt: 15,67%, cần cố gắng: 0,11%) Học sinh
hoàn thành chương trình lớp học năm 2017 - 2018, đạt tỷ lệ 100%, học sinh lớp 5hoàn thành chương trình tiểu học: 51/51 đạt 100%
Kết quả tham gia các cuộc thi như Giải Bơi học sinh phổ thông cấp tỉnh ;
Tin học trẻ cấp tỉnh, giải Toán bằng tiếng Anh, Toán qua mạng Internet, Trạng
Nguyên Tiếng Việt qua Internet, Hội thi kể chuyện theo sách cấp tỉnh đều không
đạt chỉ tiêu qua các năm đây cũng là hạn chế lơn của cấp tiểu học trong nhiều nămqua cụ thể xem ( Bảng phụ lục 3)
- Đối với giáo dục Trung học cơ sở
Nhà trường không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọnggiáo dục nhân cách, đạo đức và rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh bằng cách chỉđạo thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tínhtích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, đồng thời thực hiện ứng dụng công nghệthông tin vào giảng dạy Đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên và chấtlượng học tập của học sinh đúng quy định của bậc học một cách khách quan côngbằng
Tiếp tục triển khai việc đổi mới hình thức tổ chức dạy học, các hoạt độngtrải nghiệm sáng tạo; đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển nănglực học sinh: thay vì đánh giá học sinh bằng thang điểm cụ thể một số môn họcnhư GDCD, Lịch sử, Địa lí đã thực hiện việc kết hợp đánh giá thường xuyên vớiđánh giá định kỳ, kiểm tra trắc nghiệm với tự luận để giúp học sinh phát huy nănglực, thông qua việc cho điểm và nhận xét, đánh giá qua các sản phẩm học tập củahọc sinh; Qua các kì kiểm tra các trường đã xây dựng bài kiểm tra kiến thức tổnghợp đối với học sinh lớp các khối lớp
Về dạy học ngoại ngữ được thực hiện nghiêm túc việc dạy thí điểm tiếng Anhlớp 9 theo Đề án Ngoại ngữ 2020, 100% học sinh khối lớp 6,7,8