A. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; là hạt nhân đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng, Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời tôn trọng và phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội. Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp nông dân, đoàn kết chặt chẽ với các tổ chức thành viên khác trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quyết tâm tiến theo con đường cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra. Sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò trung tâm, nòng cốt trong các phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới. Nhiều phong trào do Hội Nông dân Việt Nam phát động, tổ chức đạt hiệu quả thiết thực. Trong những năm qua, Hội Nông dân xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình với tư cách là tổ chức chính trị - xã hội, thành viên của Mặt trận Tổ quốc đã cùng với các tầng lớp nhân dân trong xã có nhiều nỗ lực, cố gắng và giành được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nguồn đất canh tác bị thu hẹp, nhiều nông dân trong xã chuyển đổi nghề nghiệp, một bộ phận không nhỏ lao động ở nông thôn phải ra thành thị và các khu công nghiệp tìm kiếm việc làm. Một bộ phận nông dân chuyển đổi cây trồng, vật nuôi đúng hướng, thành lập được trang trại… nhưng gặp rất nhiều khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm. Đời sống của nông dân tuy đã được cải thiện, song ở nhiều vùng nông thôn, nông dân vẫn gặp khó khăn. Trong hoạt động thực tiễn, Hội Nông dân xã Yên Đồng cũng còn những hạn chế, khó khăn do vậy chất lượng hoạt động chưa cao. Việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Hội còn chậm và lúng túng. Hội Nông dân xã còn có nhiều bất cập cả về tổ chức bộ máy, cán bộ cũng như nội dung và phương thức hoạt động. Đội ngũ Chi hội trưởng nông dân các thôn, xóm còn hạn chế về chất lượng. Từ những lý do nêu trên và nhằm tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, đáp ứng chủ trương của Đảng trong Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn: "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là Hội Nông dân" góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Nông dân xã, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn xã cũng như sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tôi chọn đề tài “Hoạt động của Hội Nông dân xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình – Thực trạng và giải pháp” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp lớp Trung cấp lý luận chính trị - Hành chính tại Trường chính trị tỉnh Ninh Bình. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu: 2.1. Mục tiêu Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động của Hội Nông dân ở cơ sở và chỉ rõ nội dung hoạt động của Hội Nông dân xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Qua đó đánh giá thực trạng hoạt động của công tác Hội Nông dân trong giai đoạn từ năm 2012- 2017 và đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Hội Nông dân ở xã Yên Đồng trong thời gian tới. 2.2. Nhiệm vụ - Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động của Hội Nông dân hiện nay. - Phân tích thực trạng hoạt động của Hội Nông dân xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình giai đoạn từ năm 2012-2017. - Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động Hội Nông dân xã Yên Đồng trong thời gian tới. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 3.1. Về đối tượng nghiên cứu: Hoạt động của Hội Nông dân xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. 3.2. Về không gian: Khóa luận được nghiên cứu tại Đảng ủy – HĐND - UBND xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. 3.3. Về thời gian: Khóa luận đánh giá hoạt động của Hội Nông dân xã Yên Đồng giai đoạn 05 năm từ năm 2012 đến năm 2017. 3.4. Về Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở những quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong giai đoạn hiện nay. Sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp (phân tích tài liệu): thông qua các nguồn thông tin khác nhau từ sách, báo, tạp chí, báo cáo thường kỳ; phương pháp khảo sát thực tế cơ sở; phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh... B. PHẦN NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÔNG DÂN VÀ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG NÔNG DÂN. 1. Khái quát về Nông dân và Hội Nông dân Việt Nam 1.1. Khái niệm Nông dân ở nước ta là những người lao động sống ở nông thôn, nghề nghiệp chính là sản xuất nông nghiệp và nguồn sống chủ yếu dựa vào các sản phẩm từ nông nghiệp. Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 1.2. Chức năng của Hội Nông dân Việt Nam Tập hợp, vận động, giáo dục hội viên, nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt; Đại diện giai cấp nông dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn đân tộc; Chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nông dân; tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân trong sản xuất và đời sống. 1.3. Nhiệm vụ của Hội Nông dân Việt Nam - Tuyên truyền, giáo dục, khơi dậy và phát huy truyền thống cho cán bộ, hội viên, nông dân. - Vận động, tập hợp và làm nòng cốt tổ chức các phong trào nông dân. Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của hội viên, nông dân. - Hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp. Tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ và dạy nghề giúp nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, bảo vệ môi trường. - Đoàn kết, tập hợp đông đảo nông dân vào tổ chức hội, phát triển và nâng cao chất lượng hội viên. Xây dựng tổ chức hội vững mạnh về mọi mặt. - Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Tham gia giám sát và phản biện xã hội theo quy chế. - Mở rộng hoạt động đối ngoại theo quan điểm, đường lối của Đảng, tăng cường hợp tác với tổ chức nông dân, tổ chức quốc tế, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ trong khu vực và trên thế giới. 1.4. Cơ cấu tổ chức của Hội nông dân Việt Nam Hội Nông dân tổ chức theo 4 cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện và tương đương. Hội tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Cơ quan lãnh đạo của Hội và đại biểu dự đại hội các cấp được bầu cử trực tiếp bằng phiếu kín. 1.5. Nội dung hoạt động của Hội nông dân - Đẩy mạnh các phong trào nông dân, trực tiếp thực hiện một số chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới. - Tổ chức, hướng dẫn nông dân chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp. - Chủ động tham gia vào chương trình quốc gia về XĐGN, vươn lên làm giàu. - Phát huy vai trò làm chủ của nông dân tham gia xây dựng hương ước, quy ước làng, xã, thực hiện quy chế dân chủ ở nông thôn. - Đổi mới phương thức hoạt động theo hướng đa dạng, thiết thực để thu hút và tập hợp đông đảo nông dân tham gia hoạt động Hội. 2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nông dân và công tác vận động nông dân Trong quá trình lãnh đạo nhân dân Nga đấu tranh giành chính quyền, làm nên Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại và xây dựng chế độ xã hội mới ở nước Nga Xô viết, V.I.Lênin luôn đánh giá cao vai trò của nông dân và coi liên minh với lực lượng này là một điều kiện quan trọng để giai cấp vô sản Nga thực hiện thắng lợi cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đánh giá đúng vai trò của nông dân trong cách mạng xã hội chủ nghĩa cùng những chủ trương táo bạo, đúng đắn bắt đầu từ nông nghiệp, nông dân chính là một trong những nguyên nhân đem đến những thành công bước đầu của chính sách kinh tế mới (NEP) do V.I.Lênin khởi xướng. Trong các tác phẩm của mình, V.I.Lênin đã dành hàng nghìn trang để bàn về vấn đề nông nghiệp, nông dân. Đó thực sự là một di sản quý báu cho các thế hệ cách mạng đời sau tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi để kế thừa và phát triển. Thứ nhất, nông dân vừa là những người lao động, vừa là những người tư hữu nhỏ. Mặc dù khác nhau về trình độ, địa vị kinh tế và lợi ích, nhưng giữa họ có một điểm chung là đều sinh sống bằng cách làm thuê cho các giai cấp bóc lột ở nông thôn hoặc là tồn tại bằng chính lao động của bản thân mình với những điều kiện sẵn có về tư liệu sản xuất chứ không sống bằng việc bóc lột lao động của người khác. Thứ hai, nông dân không có hệ tư tưởng độc lập. Tư tưởng của họ luôn dao động, đầy tính thực tế và phụ thuộc rất lớn vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị. Nông dân chỉ sẵn sàng tin và đi theo giai cấp nào mang lại lợi ích cho họ. Đây có thể được xem là một đặc điểm quan trọng của nông dân trong bất kỳ giai đoạn nào. Với bản chất tư hữu và thái độ dao động, ngả nghiêng, người nông dân không dễ dàng và ngay tức khắc tin theo và ủng hộ giai cấp vô sản được. Thứ ba, cùng với sự phát triển của cơ cấu kinh tế thì cơ cấu giai cấp nông dân luôn có sự biến đổi mạnh mẽ. Trước cách mạng xã hội chủ nghĩa, do sự tác động của cơ chế kinh tế hàng hoá và nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ cấu giai cấp nông dân Nga có sự biến đổi mạnh mẽ. Một phần trong số họ gia nhập vào giai cấp bóc lột ở nông thôn, một phần lớn trở thành những người lao động làm thuê. Điển hình trong đó là tầng lớp trung nông. Tầng lớp này có thể do điều kiện vốn có của mình mà phát triển trở thành những người bóc lột sức lao động của người khác, nhưng cũng có không ít trung nông không chịu nổi sự cạnh tranh, bị phá sản và phải tham gia vào đội quân lao động làm thuê. Cách mạng vô sản thành công đã xoá bỏ sự áp bức, bóc lột giai cấp, xoá bỏ sự thống trị của bọn địa chủ đối với giai cấp nông dân, nhưng cũng chính điều kiện đó lại giúp cho người nông dân thiết lập cơ sở để trở thành tiểu chủ.
Trang 1A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, tôn trọng và phát huy quyềnlàm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, dựa vào nhân dân để xâydựng Đảng; là hạt nhân đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cáchmạng, Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời tôn trọng và phát huy vai tròcủa Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội
Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp
nông dân, đoàn kết chặt chẽ với các tổ chức thành viên khác trong Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam quyết tâm tiến theo con đường cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra Sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi
mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục phát huyvai trò trung tâm, nòng cốt trong các phong trào nông dân và công cuộc xây dựngnông thôn mới Nhiều phong trào do Hội Nông dân Việt Nam phát động, tổ chứcđạt hiệu quả thiết thực
Ninh Bình với tư cách là tổ chức chính trị - xã hội, thành viên của Mặt trận Tổquốc đã cùng với các tầng lớp nhân dân trong xã có nhiều nỗ lực, cố gắng và giànhđược nhiều thành tựu quan trọng
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nguồn đất canh tác bị thu hẹp, nhiềunông dân trong xã chuyển đổi nghề nghiệp, một bộ phận không nhỏ lao động ởnông thôn phải ra thành thị và các khu công nghiệp tìm kiếm việc làm Một bộphận nông dân chuyển đổi cây trồng, vật nuôi đúng hướng, thành lập được trangtrại… nhưng gặp rất nhiều khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm Đời sống của nôngdân tuy đã được cải thiện, song ở nhiều vùng nông thôn, nông dân vẫn gặp khókhăn
Trong hoạt động thực tiễn, Hội Nông dân xã Yên Đồng cũng còn những hạnchế, khó khăn do vậy chất lượng hoạt động chưa cao Việc đổi mới nội dung vàphương thức hoạt động của Hội còn chậm và lúng túng Hội Nông dân xã còn có
Trang 2nhiều bất cập cả về tổ chức bộ máy, cán bộ cũng như nội dung và phương thức hoạtđộng Đội ngũ Chi hội trưởng nông dân các thôn, xóm còn hạn chế về chất lượng
Từ những lý do nêu trên và nhằm tiếp tục đổi mới nội dung và phương thứchoạt động, đáp ứng chủ trương của Đảng trong Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X)
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn: "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là Hội Nông dân" góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Nông dân
xã, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nôngthôn trên địa bàn xã cũng như sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
tôi chọn đề tài “Hoạt động của Hội Nông dân xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh
Ninh Bình – Thực trạng và giải pháp” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp lớp Trung
cấp lý luận chính trị - Hành chính tại Trường chính trị tỉnh Ninh Bình
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1 Mục tiêu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động của Hội Nông dân ở cơ sở và chỉ rõnội dung hoạt động của Hội Nông dân xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh NinhBình Qua đó đánh giá thực trạng hoạt động của công tác Hội Nông dân trong giaiđoạn từ năm 2012- 2017 và đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm tăng cường và nângcao chất lượng, hiệu quả công tác Hội Nông dân ở xã Yên Đồng trong thời giantới
2.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động của Hội Nông dân hiện nay
- Phân tích thực trạng hoạt động của Hội Nông dân xã Yên Đồng, huyệnYên Mô, tỉnh Ninh Bình giai đoạn từ năm 2012-2017
- Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để tăng cường và nâng cao chất lượng,hiệu quả hoạt động Hội Nông dân xã Yên Đồng trong thời gian tới
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
3.1 Về đối tượng nghiên cứu: Hoạt động của Hội Nông dân xã Yên Đồng,
huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình
Trang 33.2 Về không gian: Khóa luận được nghiên cứu tại Đảng ủy – HĐND UBND xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình
3.3 Về thời gian:
Khóa luận đánh giá hoạt động của Hội Nông dân xã Yên Đồng giai đoạn 05
năm từ năm 2012 đến năm 2017
3.4 Về Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở những quan điểm của Đảng, chính sáchpháp luật của Nhà nước về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong giai đoạn hiệnnay
Sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp (phân tích tài liệu): thông quacác nguồn thông tin khác nhau từ sách, báo, tạp chí, báo cáo thường kỳ; phương phápkhảo sát thực tế cơ sở; phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
Trang 4Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp nông dân
do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là thành viên của Mặt trận Tổ quốc ViệtNam, cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.2 Chức năng của Hội Nông dân Việt Nam
Tập hợp, vận động, giáo dục hội viên, nông dân phát huy quyền làm chủ,tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt; Đại diện giai cấp nôngdân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn đân tộc; Chăm
lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nông dân; tổ chức các hoạtđộng dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân trong sản xuất và đời sống
1.3 Nhiệm vụ của Hội Nông dân Việt Nam
- Tuyên truyền, giáo dục, khơi dậy và phát huy truyền thống cho cán bộ, hộiviên, nông dân
- Vận động, tập hợp và làm nòng cốt tổ chức các phong trào nông dân.Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của hội viên, nông dân
- Hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp Tổchức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ và dạy nghề giúp nông dân phát triểnsản xuất, nâng cao đời sống, bảo vệ môi trường
- Đoàn kết, tập hợp đông đảo nông dân vào tổ chức hội, phát triển và nângcao chất lượng hội viên Xây dựng tổ chức hội vững mạnh về mọi mặt
- Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh Tham giagiám sát và phản biện xã hội theo quy chế
Trang 5- Mở rộng hoạt động đối ngoại theo quan điểm, đường lối của Đảng, tăngcường hợp tác với tổ chức nông dân, tổ chức quốc tế, các tổ chức chính phủ, phichính phủ trong khu vực và trên thế giới.
1.4 Cơ cấu tổ chức của Hội nông dân Việt Nam
Hội Nông dân tổ chức theo 4 cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh và tương đương,cấp huyện và tương đương Hội tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trungdân chủ Cơ quan lãnh đạo của Hội và đại biểu dự đại hội các cấp được bầu cử trựctiếp bằng phiếu kín
1.5 Nội dung hoạt động của Hội nông dân
- Đẩy mạnh các phong trào nông dân, trực tiếp thực hiện một số chươngtrình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới
- Tổ chức, hướng dẫn nông dân chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
- Chủ động tham gia vào chương trình quốc gia về XĐGN, vươn lên làmgiàu
- Phát huy vai trò làm chủ của nông dân tham gia xây dựng hương ước, quyước làng, xã, thực hiện quy chế dân chủ ở nông thôn
- Đổi mới phương thức hoạt động theo hướng đa dạng, thiết thực để thu hút
và tập hợp đông đảo nông dân tham gia hoạt động Hội
2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nông dân và công tác vận động nông dân
Trong quá trình lãnh đạo nhân dân Nga đấu tranh giành chính quyền, làmnên Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại và xây dựng chế độ xã hội mới ở nước Nga
Xô viết, V.I.Lênin luôn đánh giá cao vai trò của nông dân và coi liên minh với lựclượng này là một điều kiện quan trọng để giai cấp vô sản Nga thực hiện thắng lợicách mạng xã hội chủ nghĩa Đánh giá đúng vai trò của nông dân trong cách mạng
xã hội chủ nghĩa cùng những chủ trương táo bạo, đúng đắn bắt đầu từ nông nghiệp,nông dân chính là một trong những nguyên nhân đem đến những thành công bướcđầu của chính sách kinh tế mới (NEP) do V.I.Lênin khởi xướng Trong các tácphẩm của mình, V.I.Lênin đã dành hàng nghìn trang để bàn về vấn đề nông
Trang 6nghiệp, nông dân Đó thực sự là một di sản quý báu cho các thế hệ cách mạng đờisau tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi để kế thừa và phát triển.
Thứ nhất, nông dân vừa là những người lao động, vừa là những người tư
hữu nhỏ Mặc dù khác nhau về trình độ, địa vị kinh tế và lợi ích, nhưng giữa họ cómột điểm chung là đều sinh sống bằng cách làm thuê cho các giai cấp bóc lột ởnông thôn hoặc là tồn tại bằng chính lao động của bản thân mình với những điềukiện sẵn có về tư liệu sản xuất chứ không sống bằng việc bóc lột lao động củangười khác
Thứ hai, nông dân không có hệ tư tưởng độc lập Tư tưởng của họ luôn dao
động, đầy tính thực tế và phụ thuộc rất lớn vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị.Nông dân chỉ sẵn sàng tin và đi theo giai cấp nào mang lại lợi ích cho họ Đây cóthể được xem là một đặc điểm quan trọng của nông dân trong bất kỳ giai đoạn nào.Với bản chất tư hữu và thái độ dao động, ngả nghiêng, người nông dân không dễdàng và ngay tức khắc tin theo và ủng hộ giai cấp vô sản được
Thứ ba, cùng với sự phát triển của cơ cấu kinh tế thì cơ cấu giai cấp nông
dân luôn có sự biến đổi mạnh mẽ Trước cách mạng xã hội chủ nghĩa, do sự tácđộng của cơ chế kinh tế hàng hoá và nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ cấu giai cấpnông dân Nga có sự biến đổi mạnh mẽ Một phần trong số họ gia nhập vào giai cấpbóc lột ở nông thôn, một phần lớn trở thành những người lao động làm thuê Điểnhình trong đó là tầng lớp trung nông Tầng lớp này có thể do điều kiện vốn có củamình mà phát triển trở thành những người bóc lột sức lao động của người khác,nhưng cũng có không ít trung nông không chịu nổi sự cạnh tranh, bị phá sản vàphải tham gia vào đội quân lao động làm thuê Cách mạng vô sản thành công đãxoá bỏ sự áp bức, bóc lột giai cấp, xoá bỏ sự thống trị của bọn địa chủ đối với giaicấp nông dân, nhưng cũng chính điều kiện đó lại giúp cho người nông dân thiết lập
cơ sở để trở thành tiểu chủ
Thứ tư, giai cấp nông dân tất yếu sẽ đi theo giai cấp vô sản, ủng hộ giai cấp
vô sản tiến hành thắng lợi cách mạng xã hội chủ nghĩa.Trong xã hội có áp bức, bóclột, nông dân là giai cấp bị áp bức, bóc lột một cách nặng nề, bị giam hãm và phảisống trong những điều kiện thấp kém Vì vậy, để thay đổi cuộc sống của mình, giai
Trang 7cấp nông dân chỉ có thể ủng hộ và đi theo con đường cách mạng do giai cấp vô sảnlãnh đạo nhằm xoá bỏ tầng lớp địa chủ và giai cấp tư sản V.I.Lênin khẳng định:
“Do địa vị kinh tế của mình trong xã hội tư sản, nông dân nhất định phải đi theohoặc công nhân, hoặc giai cấp tư sản Không có con đường trung gian” Do vậy,trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân để giải phóng mình khỏi ách áp bức,bóc lột của giai cấp tư sản thì giai cấp công nhân phải cần và có đủ điều kiện đểliên minh với đông đảo quần chúng nhân dân lao động, ở các nước kinh tế lạc hậu,quần chúng lao động chủ yếu là nông dân Đồng thời, nhân dân lao động và nôngdân chỉ có thể được giải phóng thực sự khi liên minh với giai cấp công nhân vàchấp nhận sự lãnh đạo của giai cấp công nhân “Người nông dân thấy rằng giai cấp
vô sản thành thị, giai cấp có sứ mệnh lật đổ chế độ tư sản là người bạn đồng minh,
là người lãnh đạo tự nhiên của mình” Bằng con đường “Hợp tác hóa nôngnghiệp”, thông qua hệ thống các hợp tác xã nông nghiệp mà từng bước đưa nôngdân đi tới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
Như vậy, theo V.I.Lênin, nông dân là giai cấp được hình thành từ rất lâutrong lịch sử Họ là những người sinh sống và lao động ở nông thôn gắn với các tưliệu sản xuất nhỏ lẻ, phân tán mà mình sở hữu Trong các xã hội có áp bức, bóc lột,cùng với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân là những người bị áp bức, bóc lộtnặng nề nhất; do vậy, con đường giải phóng của nông dân chỉ có thể là đi theo giaicấp vô sản tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa
3 Quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về nông dân và công tác vận động nông dân
Vận dụng chủ nghĩa Mác về giai cấp nông dân vào điều kiện của Việt Nam,Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta rất quan tâm vấn đề nông nghiệp, nông thôn vànông dân Xem đây vừa là vấn đề cấp bách trước mắt vừa cơ bản lâu dài Đảng vàNhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách để tăng cường khối liên minhcông - nông, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Ngay từ khi rađời, Đảng ta đã đặt ra vấn đề, xây dựng ngay tổ chức của giai cấp nông dân để tậphợp nông dân Trong Sách lược vắn tắt của Đảng đã ghi “Đảng phải thu phục chođược đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo”, “phải làm cho các
Trang 8đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công Hội hợp tác xã) khỏi ở dưới quyền lực vàảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia” Trong Chương trình tóm tắt của Đảng cũng
đề ra nhiệm vụ “Đảng phải tập hợp đa số quần chúng nông dân chuẩn bị cáchmạng thổ địa và lật đổ bọn địa chủ và phong kiến” Đảng ta và Hồ Chí Minh đãnhìn nhận đánh giá đúng bản chất cách mạng của giai cấp nông dân Việt Nam vàvai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng Đảng, Bác Hồ khẳng định vai trò tolớn của nông dân trong kháng chiến nông dân là lực lượng chủ lực, trong xây dựngnông dân là cơ bản, ngày nay nông dân là trung tâm nòng cốt trong xây dựng nôngthôn mới Đảng, Bác Hồ luôn coi trong công tác vận động nông dân xây dựng khốiliên minh Công – Nông –Trí thức Ngay từ khi mới thành lập, Đảng đã ra đườnglối Cách mạng đúng đắn với mục tiêu đầu tiên của Cách mạng là “Độc lập dân tộc,người cày có ruộng”, đáp ứng đúng yêu cầu tha thiết, nguyện vọng của người nôngdân nên đã dấy lên cao trào cách mạng của công nhân, nông dân
Trong suốt quá trình cách mạng, đường lối, chủ trương của Đảng đã đáp ứngđược yêu cầu nguyện vọng và lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của giai cấp nôngdân nên họ đã một lòng một dạ theo Đảng, liên minh chặt chẽ với giai cấp côngnhân, đấu tranh cách mạng kiên cường dũng cảm Thực tiễn lãnh đạo cách mạngcho rằng, khi nào đường lối chủ trương của Đảng đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng,lợi ích thiết thực của nông dân thì khi đó phong trào nông dân phát triển mạnh mẽ,cách mạng dành được nhiều thắng lợi ví dụ như chủ trương “Phá kho thóc củaNhật để cứu đói”, giảm tô, giảm thuế, cải cách ruộng đất, chuyển đổi cơ chế quảnlý nông nghiệp theo nghị quyết X của Đảng Ngược lại chủ trương nào, nơi nào,lúc nào lợi ích nguyện vọng của nông dân không được giải quyết tốt thì nơi đó, lúc
đó tinh thần cách mạng của nông dân bị giảm mà phong trào cách mạng cũng khókhăn, Bác Hồ đã tổng kết “kinh nghiệm của Đảng ta trong quá trình cách mạng đãghi rõ, lúc nào cán bộ ta giải quyết tốt lợi ích thiết thực của nông dân nắm vữngnguyên tắc liên minh công - nông thì nơi đó cách mạng đều tiến mạnh”
Trong công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đấtnước, Đảng ta đã xác định trước hết là phải công nghiệp hóa – hiện đại hóa nôngnghiệp nông thôn, mục tiêu của công tác vận động nông dân là: Xây dựng giai cấp
Trang 9nông dân có trình độ nhất định về văn hóa, khoa học kỹ thuật phù hợp với nền sảnxuất theo định hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa công nhân hóa, mọi ngườinông dân đều có việc làm với năng xuất chất lượng hiệu quả ngày càng cao, có đờisống vật chất, tinh thần đáp ứng yêu cầu phát triển về thể lực và trí lực với lối sốngvăn minh tiến bộ, hạnh phúc gia đình gắn liền với tình làng nghĩa xóm, quyền lợiích đi đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ, dân chủ đi đôi với kỷ cương phép nước, cóý thức xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch vững mạnh, xây dựng chínhquyền của dân, do dân, vì dân, có tinh thần đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế
Ngày nay trong công cuộc đổi mới đất nước Đảng ta tiếp tục phát huy tinhthần đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới và điều đó được thể hiện trongnhiều Nghị quyết của Đảng về giai cấp nông dân, về sản xuất nông nghiệp và nôngthôn Biểu hiện tập trung nhất tại Hội nghị Trung ương 7 khóa X (2008), Đảng ta
đã ban hành Nghị quyết số 26 NQ/T.Ư "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”.Dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, Nghị quyết T.Ư 7 (khoá X) đã đưa ra nhiềuquan điểm chỉ đạo phù hợp với tình hình thực tế của đất nước thúc đẩy “nôngnghiệp, nông dân và nông thôn” phát triển một cách toàn diện Đại hội XII tiếp tụckhẳng định: phát triển sản xuất nông nghiệp là then chốt, xây dựng nông thôn mới
là căn bản, nông dân giữ vai trò chủ thể Đây là một trong những định hướng lớn
để sớm đạt được mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theohướng hiện đại là phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn gắn với xây dựngnông thôn mới Đây là chủ trương đúng đắn, phù hợp nhằm nâng cao năng lực sảnxuất cũng như đời sống của người dân nông thôn, nhất là trong điều kiện nền nôngnghiệp nước ta đang đứng trước nhiều thách thức của quá trình hội nhập
II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
1 Đặc điểm tình hình địa phương (cơ quan, đơn vị):
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội xã Yên Đồng
+ Điều kiện tự nhiên
Trang 10Yên Đồng là xã nằm phía Tây Nam huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình PhíaBắc giáp xã Yên Thành, phía Nam giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Tây giáp xã ĐôngSơn, thành phố Tam Điệp, phía Đông giáp xã Yên Thái
Tổng diện tích đất tự nhiên 2.849,36 ha
Dân số 2.424 hộ, 9.004 khẩu trong đó có 69 hộ với 250 khẩu theo đạo thiênchúa giáo
Về sản xuất nông nghiệp.
* Giá trị sản xuất (GDP) 260.203 triệu đồng
- Nông nghiệp: 193.903 triệu đồng
- Gia súc, gia cầm 140.878 con
Trong đó: Gia súc 16.463 con
Gia cầm 124.415 con
Trang 11* Cơ cấu lao động:
- Tổng số lao động trong độ tuổi: 4.680 người
+ Số lao động nông nghiệp 3.537 người chiếm 74,6%
+ Số lao động phi nông nghiệp 1.143 người chiếm 25,4 %
Toàn xã có 17 thôn xóm, với 399 đảng viên
1.2 Khái quát về Hội Nông dân xã Yên Đồng hiện nay
Hội Nông dân xã Yên Đồng trải qua 6 kỳ Đại hội đại biểu, là một trongnhững tổ chức chính trị đông đảo hội viên nhất trong xã
Hiện nay tổng số uỷ viên BCH HND xã là 19 đồng chí trong đó có 15 đồngchí là đảng viên, 03 đồng chí tham gia cấp ủy xóm, 07 đồng chí là nữ; uỷ viên BanThường vụ là 05 đồng chí Về trình độ chuyên môn: có 02 đồng chí có trình độ đạihọc, 02 đồng chí có trình độ Trung cấp; 02 đồng chí có trình độ Trung cấp lý luậnchính trị, 01 đồng chí có trình độ sơ cấp lý luận chính trị
Tổ chức Hội: Toàn xã có 17/17 Chi hội/17 thôn, xã trong toàn xã
Tổng số Hội viên là 1.430 hội viên
2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
2.1 Những Kết quả đạt được (những ưu điểm):
a Công tác xây dựng tổ chức Hội
- Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng:
Công tác tuyên truyền giáo dục chính trị, tư tưởng được BCH Hội Nông dân
xã xác định là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng hàng đầu Trong giai đoạn từnăm 2012-2018, BCH Hội Nông dân xã đến các Chi Hội chú trọng tuyên truyềnđường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, Điều lệ Hội Nông dân ViệtNam, các sự kiện trọng đại của đất nước, của tỉnh, của huyện, của xã tới cán bộ,hội viên nông dân Tuyên truyền vận động nâng cao nhận thức cho cán bộ, hộiviên, nông dân Tập trung triển khai học tập và thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảngcác cấp, các chính sách của địa phương liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nôngthôn Trong giai đoạn từ năm 2012-2018 BCH HND xã đến các Chi Hội đã phốihợp với các ban, ngành đoàn thể tổ chức tuyên truyền phổ biến chủ trương, Nghịquyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết của Hội được
Trang 12106 buổi, thu hút 13.872 lượt người tham dự Với phương trâm hướng mạnh cáchoạt động về chi hội, tuyên truyền gắn với vận động, hướng dẫn nông dân thôngqua các mô hình cụ thể, các gương điển hình Nhằm nâng cao hiệu quả công táctuyên truyền, BCH Hội Nông dân xã đến các Chi Hội đã chú trọng đổi mới cáchình thức tuyên truyền như: Tổ chức sinh hoạt chuyên đề; sinh hoạt chi hội, liênchi hội gắn với chuyển giao khoa học kỹ thuật …
Bên cạnh đó BCH Hội đã chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng nông dân đểtham mưu kịp thời cho BCH Đảng ủy xã, UBND xã có chủ trương, biện pháp giảiquyết những đề xuất, kiến nghị của nông dân Thông qua công tác tuyên truyền,giáo dục chính trị, tư tưởng góp phần quan trọng nâng cao nhận thức cho cán bộ,hội viên, nông dân, khơi dậy truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và tinhthần sáng tạo trong lao động sản xuất, đồng thời phát động hội viên nông dân tíchcực hưởng ứng các phong trào thi đua hành động cách mạng, xây dựng đời sốngvăn hoá ở nông thôn, tham gia xây dựng đảng, chính quyền, xây dựng tổ chức Hộivững mạnh
- Công tác củng cố, xây dựng tổ chức Hội :
BCH Hội Nông dân xã xác định công tác xây dựng tổ chức hội vững mạnh
là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa then chốt quyết định đến hoạt động và phongtrào nông dân Với mục tiêu nâng cao chất lượng tổ chức hội, tích cực phát triểnhội viên mới, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ hội, lấy lợi ích thiết thực của nôngdân làm động lực thu hút, tập hợp hội viên Coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡngchuyên môn nghiệp vụ, Hàng năm, BTV Hội Nông dân xã triệu tập đầy đủ 19 đồngchí là uỷ viên Ban chấp hành xã và chi hội trưởng tham dự tập huấn bồi dưỡngnghiệp vụ công tác Hội do tỉnh Hội, huyện Hội tổ chức đảm bảo yêu cầu Thôngqua tập huấn nghiệp vụ, năng lực cán bộ Hội được nâng lên rõ rệt
Hiện nay tổng số uỷ viên BCH Hội Nông dân xã là 19 đồng chí trong đó có
15 đồng chí là đảng viên, 03 đồng chí tham gia cấp ủy xóm, 07 đồng chí là nữ; uỷviên Ban Thường vụ là 05 đồng chí Về trình độ chuyên môn: có 02 đồng chí cótrình độ đại học, 02 đồng chí có trình độ Trung cấp; 02 đồng chí có trình độ Trungcấp lý luận chính trị, 01 đồng chí có trình độ sơ cấp lý luận chính trị Trong nhiệm
Trang 13kỳ đồng chí Chủ tịch Hội chuyển công tác khác và có 08 đồng chí chi hội trưởngchuyển công tác khác
Trong quá trình hoạt động, Ban chấp hành Hội Nông dân xã được củng cốkiện toàn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Trong nhiệm kỳ (2012-2017) đã kiện toànchức danh Chủ tịch Hội Nông dân xã Ban chấp hành Hội Nông dân xã kiện toàn
bổ sung 04 đồng chí uỷ viên BCH, 01 đồng chí ủy viên Ban Thường vụ
Phát triển và nâng cao chất lượng hội viên luôn được khẳng định là nhiệm
vụ trọng tâm hàng đầu trong công tác xây dựng Hội vững mạnh, là tiêu chí cơ bảnđánh giá chất lượng chi hội Trong nhiệm kỳ (2012-2017), 100% chi hội đều chăm
lo, làm tốt công tác phát triển hội viên Kết quả đã phát triển được 216 hội viên,nâng tổng số hội viên nông dân toàn xã đến tháng 10 năm 2017 là: 1.430 hội viên;Chất lượng hoạt động từ Hội Nông dân xã đến các Chi Hội được nâng lên rõ rệtTrong nhiệm kỳ, Hội Nông dân xã được Ban chấp hành Hội Nông dân huyện Yên
Mô đánh giá xếp loại là đơn vị vững mạnh, xuất sắc Trong cả nhiệm kỳ có 15/17Chi hội vững mạnh, đạt tỷ lệ 88,2%, 2 cơ sở đạt loại khá, không còn cơ sở trungbình và yếu kém
- Công tác kiểm tra, giám sát.
Công tác kiểm tra, giám sát của Hội được tăng cường, đi vào nề nếp, hiệuquả được nâng lên, góp phần giữ gìn sự đoàn kết trong tổ chức Hội, nâng cao hiệuquả lãnh đạo của Ban Chấp hành Hội Nông dân xã, thúc đẩy thực hiện nhiệm vụcông tác Hội và phong trào nông dân Thi hành Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam,BCH Hội Nông dân xã chủ động xây dựng kế hoạch kiểm tra cụ thể cho từngtháng, từng quí và cả năm Trong nhiệm kỳ đã tổ chức 205 cuộc kiểm tra tới cácChi hội và các Tổ vay vốn với các nội dung: Kiểm tra việc thực hiện đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiểm tra việc thực hiệnĐiều lệ, Chỉ thị, Nghị quyết của Chi Hội, việc quản lý tài chính, các chương trình
dự án, sử dụng các nguồn vốn, Quỹ chi hội, việc sử dụng, thanh toán vốn vay Quỹ
hỗ trợ nông dân, vốn vay ngân hàng chính sách xã hội, vốn vay Ngân hàng NN &PTNT huyện Qua công tác kiểm tra, giám sát đã chỉ ra những thiếu sót, ngăn chặn
Trang 14và hạn chế tiêu cực, sai phạm, chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả côngtác.
- Công tác thi đua – khen thưởng
Công tác thi đua khen thưởng có tác động lớn tới phong trào nông dân vàhoạt động của Hội Hàng năm bám sát vào nhiệm vụ chính trị của xã, chỉ tiêu thiđua của Hội Nông dân huyện giao Ban Thường vụ Hội Nông dân xã đã xây dựngnội dung, chỉ tiêu thi đua, tổ chức phát động và ký giao ước thi đua giữa các Chihội, cuối năm tổ chức kiểm tra, xét duyệt và đề nghị khen thưởng cho tập thể - cánhân hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu thi đua Để kịp thời khuyến khích, động viên,nhân rộng các điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực, Ban Thường vụ Hội Nông dân
xã tổ chức Hội nghị tổng kết và biểu dương nông dân sản xuất kinh doanh giỏi giaiđoạn 2011 – 2016 Việc làm trên có tác dụng khích lệ nhân rộng điển hình tiêntiến, mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác thi đua – khen thưởng
Trong nhiệm kỳ (2012-2017) có 01 cá nhân được Trung ương Hội Nông dânViệt Nam tặng Bằng khen; 01 cá nhân được Chủ tịch UBND huyện tặng giấykhen; 01 cá nhân được BCH Hội Nông dân huyện tặng giấy khen; BCH Hội Nôngdân xã được Tỉnh hội tặng Bằng khen năm 2017, được BCH Hội Nông dân huyệntặng giấy khen năm 2016; 11 cá nhân được Trung ương Hội tặng Kỷ niệm chương
vì giai cấp nông dân Việt Nam, năm 2018 BCH Hội Nông dân xã được Chủ tịchUBND tỉnh, UBND huyện tặng Bằng khen có nhiều thành tích xuất sắc trongphong trào dân vận khéo giai đoạn 2016-2018 và nhiều hình thức khen thưởngkhác Những thành tích trên đã cổ vũ, động viên, khích lệ, là động lực thúc đấycông tác Hội và phong trào nông dân xã nhà tiếp tục phát triển
Năm 2018, Hội Nông dân xã được Huyện ủy, Hội Nông dân huyện chọn là
xã làm điểm Đại hội Đại biểu Hội Nông dân xã nhiệm kỳ 2018-2023
- Xây dựng tài chính và cơ sở vật chất của Hội
Trong nhiệm kỳ (2012-2017), các chi Hội trong xã đã tăng cường công tácxây dựng tài chính và cơ sở vật chất của Hội Các chi hội đều thu, nộp và sử dụng
có hiệu quả hội phí đúng qui định Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam Hàng năm các
Trang 15chi Hội đã đóng hội phí về Hội Nông dân xã theo đúng kế hoạch giao Hội Nôngdân xã luôn hoàn thành chỉ tiêu hội phí với Hội Nông dân huyện
Xây dựng phát triển Quỹ chi hội, Quỹ Ban chấp hành, Quỹ chính là chất keogắn kết phong trào, là điều kiện quan trọng để tổ chức các hoạt động của Hội.Nguồn xây dựng chủ yếu do hội viên tự đóng góp, trích tỷ lệ thu hội phí Trongnhiệm kỳ, 100% chi Hội có quỹ hoạt động, bình quân 83.000 đồng/hội viên, nhiềuchi hội có số dư quỹ từ 100.000 - 150.000 đồng/hội viên như: Chi hội nông dân cácxóm: Yên Lạc, Phong Lẫm Bắc, Thừa Tiên, Khê Trung, Khê Hạ, Khê Thượng, ĐồiKhê Hạ, Đông Xá
b Vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân tham gia phát triển nông nghiệp
- Phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững.
Phong trào nông dân thi đua sản xuất - kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhaulàm giàu và giảm nghèo bền vững được các các Chi hội và hội viên nông dânhưởng ứng mạnh mẽ, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con nuôi có giá trị kinh tếcao đang là việc làm thường xuyên ở các các Chi Hội và từng hội viên Trong cảnhiệm kỳ toàn xã có 7.224 lượt hộ đăng ký tham gia Qua bình xét đã có 2.111 lượt
hộ đạt danh hiệu hộ sản xuất kinh doanh giỏi các cấp Hội Nông dân xã đã tổ chứcHội nghị tổng kết 5 năm phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, xâydựng nông thôn mới giai đoạn 2012- 2016, xây dựng phương hướng nhiệm vụ giaiđoạn 2016-2021 Từ phong trào đã xuất hiện nhiều tấm gương nông dân tiêu biểutrong sản xuất, kinh doanh giỏi, dám nghĩ, dám làm, mạnh dạn áp dụng khoa học,
kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao Tiêu biểunhư: hộ ông Đào Xuân Tuấn (xóm Dân Mới), hộ ông Nguyễn Văn Đông (xómThừa Tiên), ông Đào Xuân Quang (xóm Tràng Yên); ông Phạm Như Bồn (xómThái Bình); ông Phạm Văn Nhu (xóm Đồi Yên Tế); ông Phạm Đăng Tập (xómYên Lạc); ông Nguyễn Văn Nhanh (xóm Khê Thượng) … BCH Hội Nông dân xãphối hợp với phòng giao dịch của ngân hàng CSXH huyện; Ngân hàng Nôngnghiệp và PTNT huyện tạo điều kiện cho vay giải ngân kịp thời, tăng cường kiểm