BIỆN PHÁP GIÚP, HỌC SINH LỚP 5 ,PHÂN BIỆT NGHĨA GỐC, NGHĨA CHUYỂN CỦA TỪ NHIỀU NGHĨA, TRONG PHÂN MÔN, LUYỆN TỪ VÀ CÂU
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 PHÂN BIỆT
NGHĨA GỐC, NGHĨA CHUYỂN CỦA TỪ NHIỀU NGHĨA
TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU (Nghiên cứu tại trường Tiểu học Tô Hiệu, TP Buôn Ma Thuột)
Sinh viên: Đàm Thị Liệu Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học Khóa học: 2011-2015
Đắk Lắk, tháng 05 năm 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
(Nghiên cứu tại trường Tiểu học Tô Hiệu, TP Buôn Ma Thuột)
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành được chuyên đề tốt nghiệp của mình, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo và các em học sinh trường tiểu học
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Thạc sĩ Lưu Thị Dịu – người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện chuyên đề
Tôi xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo trong bộ môn Giáo dục Tiểu học – Mầm non của trường Đại học Tây Nguyên đã quan tâm, khích lệ, giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để chuyên đề của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy giáo,cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học Tô Hiệu đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, nghiên cứu thu thập thông tin cho chuyên đề
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã luôn giúp đỡ, động viên tôi về cả vật chất lẫn tinh thần để tôi thực hiện tốt chuyên đề của mình
Đây là lần đầu tiên tôi làm quen với nghiên cứu khoa học, chuyên đề sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn!
Đắk Lắk, tháng 4 năm 2015
Sinh viên
Đàm Thị Liệu
Trang 4ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC VIẾT TẮT iv
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
3.3 Nội dung nghiên cứu 5
3.4 Phương pháp nghiên cứu 5
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Một số khái niệm 6
1.1.2 Khái quát nội dung chương trình Luyện từ và câu lớp 5 8
1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 5 14
1.2 Cơ sở thực tiễn 16
1.2.1 Giới thiệu địa bàn và khách thể nghiên cứu 16
1.2.2 Khảo sát thực trạng dạy học nội dung từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 19
1.2.3 Nhận xét 20
1.3 Tiểu kết 21
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 PHÂN BIỆT 23
NGHĨA GỐC, NGHĨA CHUYỂN CỦA TỪ NHIỀU NGHĨA 23
2.1 Nguyên nhân của thực trạng 23
Trang 5iii
2.2 Các biện pháp giúp học sinh lớp 5 phân biệt 23
2.2.1 Hướng dẫn HS hiểu rõ khái niệm từ nhiều nghĩa 23
2.2.2 Giúp học sinh phân biệt khái niệm từ nhiều nghĩa với từ đồng âm 27
2.2.3 Giúp học sinh nhận biết từ một nghĩa và từ nhiều nghĩa 31
2.2.4 Hướng dẫn học sinh phân biệt nghĩa gốc, nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa 33 2.3 Vận dụng các biện pháp vào dạy học từ nhiều nghĩa 40
2.4 Tiểu kết 42
CHƯƠNG 3:THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 43
3.1 Mục đích, yêu cầu của thực nghiệm 43
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 43
3.2.1 Đối tượng 43
3.2.2 Địa bàn 44
3.3 Kế hoạch thực nghiệm 44
3.3.1 Tiến trình thực nghiệm 44
3.3.2 Nội dung thực nghiệm 44
3.4 Tổ chức thực nghiệm 44
3.4.1 Giới thiệu về lớp tham gia thực nghiệm 44
3.4.2 Tiến hành thực nghiệm 45
3.4.3 Thời gian thực nghiệm 46
3.5 Đánh giá thực nghiệm 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
1 Kết luận 48
2 Kiến nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 6Cán Bộ CB Thực nghiệm TN Đối chứng ĐC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong thư gửi học sinh (HS)nhân ngày khai trường đầu tiên của nước
Việt Nam độc lập (năm 1945) Bác Hồ tha thiết căn dặn “Non sông Việt Nam
có trở nên tươi đẹp hay không, đất nước Việt Nam có bước tới đài vinh quang
để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn công học tập của các em” Lời dạy của Người đã đi sâu vào lòng
dân, tạo thành động lực thúc đẩy mạnh mẽ cho hàng triệu giáo viên(GV) và
HS thi đua dạy tốt – học tốt Bức thư Người viết đã trở thành chân lí của thời đại, hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển của các nước đi từ lạc hậu đến tiên tiến và hiện đại, từ nông nghiệp đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vai trò của tuổi trẻ với tương lai đất nước
Giáo dục tiểu học được coi là cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân Vì vậy, mục tiêu giáo dục tiểu học đã được xác định trong điều
27, luật Giáo dục năm 2011: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình
thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở”.
Phong trào đổi mới về phương pháp dạy học đã điễn ra từ nhiều năm qua với những tư tưởng chủ đạo là “lấy hoạt động của người học làm trung tâm” và “tích cực hóa hoạt động của người học” Do vậy để thực hiện tốt mục tiêu dạy học thì người giáo viên (GV) phải thực hiện đổi mới các phương pháp dạy học theo hướng “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với từng đặc điểm của lớp học, môn học, bồi dưỡng phươngpháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” để các em chiếm lĩnh nội dung bài học mới
Trang 8Lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp cho mỗi môn học, mỗi bài học
là hoạt động sáng tạo, thường xuyên của GV Cùng một môn học, cùng một nội dung bài học như nhau nhưng HS học tập có hứng thú, tích cực, chủ động và tiếp thu được nội dung hay không phần lớn phụ thuộc vào phương pháp dạy học của người thầy Một trong những cách để thu hút sự hứng thú, cũng như phát triển khả năng chủ động, tích cực học tập của HS là việc tổ chức dạy học bằng những phương pháp dạy học đặc trưng của môn học và bài học
Môn Tiếng Việt ở tiểu học là môn học đóng vai trò quan trọng trong Giáo dục Tiểu học điều đó thể hiện ở thời lượng giảng dạy ở từng khối lớp và
nó làm công cụ để học tốt các môn học khác Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở tiểu học là: Hình thànhvà phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác tư duy; cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản ban đầu về xã hội,
tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài; bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong trường Tiểu học nói riêng và nền giáo dục nói chung, môn Tiếng Việt là môn chủ đạo Bởi dạy tiếng Việt là dạy tiếng mẹ đẻ, là dạy các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Môn Tiếng Việt trong trường tiểu học được giảng dạy thông qua các phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Tập viết, Luyện từ và câu, Học vần (chỉ có ở lớp 1), Chính tả, Tập làm văn
Trong môn Tiếng Việt, Luyện từ và câu là một phân môn không kém phần quan trọng so với các phân môn khác Bởi vì dạy luyện từ và câu là dạy cho các em những kĩ năng ban đầu về cách dùng từ, đặt câu, diễn đạt nội dung cần chuyển tải trong giao tiếp, cũng có nghĩa là luyện cho HS kĩ năng nói, một trong những kĩ năng quan trọng trong 5 kĩ năng cơ bản mà các em cần đạt được khi đi học ở bậc tiểu học (nghe, nói, đọc, viết, tính toán) Phân môn Luyện từ và câu góp phần hình thành cho học sinh tình yêu tiếng Việt, giữ gìn
Trang 9sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, hình thành nhân cách con người Việt Nam, biết trân trọng giá trị văn hóa dân tộc
Chương trình Luyện từ và câu được phân bố từ khối lớp 2 đến khối lớp
5 ở bậc tiểu học Ở khối lớp 5, Luyện từ và câu là phân môn giữ vị trí khá quan trọng, có nhiệm vụ giúp HS hiểu được nghĩa của từ, mở rộng vốn từ,…
từ đó biết sử dụng từ ngữ trong các hoạt động nói, viết và giao tiếp Ở khối lớp này, lần đầu tiên các em được học các khái niệm về từ nhiều nghĩa, nghĩa gốc, nghĩa chuyển Trong nhiều trường hợp ranh giới giữa nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa không thật rõ rệt, sau một thời gian sử dụng nghĩa chuyển có thể dần dần trở thành một nghĩa khác của từ Vì vậy, xác định nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ là một vấn đề khiến nhiều HS băn khoăn,
nhầm lẫn Trăn trở về vấn đề này, chúng tôi chọn đề tài: “Biện pháp giúp học
sinh lớp 5 phân biệt nghĩa gốc, nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu” để nghiên cứu
1.2.Mục tiêu nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này, mục tiêu lớn nhất là tạo được sự hứng thú, tích cực cho HS tiếp thu kiến thức, đạt được hiệu qủa cao trong dạy học phân môn Luyện từ và câu nói chung và nội dung từ nhiều nghĩa nói riêng thông qua các biện pháp phù hợp với nội dung bài học, khắc phục tình trạng hiểu không rõ nghĩa, không biết sử dụng từ ngữ sao cho phù hợp
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Việc giảng dạy tiếng Việt nói chung và Luyện từ và câu nói riêng ở Tiểu học nhằm cung cấp cho HS kiến thức về tiếng mẹ đẻ và giáo dục tình cảm, tình yêu quê hương, đất nước cũng như giúp các em biết giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc Bàn về vấn đề phương pháp dạy học tiếng Việt nói chung và dạy học phân môn Luyện từ và câu nói riêng, đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến nhưng riêng về hiện tượng từ nhiều nghĩa và các biện pháp giúp HS nhận dạng các nghĩa của từ nhiều nghĩa, ta có thể nhắc đến một số tác giả, cụ thể:
Tác giả Đỗ Hữu Châu trong công trình nghiên cứu Từ vựng ngữ nghĩa
tiếng Việt (gồm năm phần) đề cập đến “ý nghĩa của từ” (thuộc phần thứ hai)
Trang 10trong đó có nhắc đến hiện tượng từ nhiều nghĩa, sự chuyển biến ý nghĩa của từ,… Những nghiên cứu của tác giả chỉ mang tính lý thuyếthàn lâm,khái quát chưa đề ra cụ thể các biện pháp giúp học sinh phân biệt nghĩa gốc, nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa
Công trình của tác giả Lê Đình Tư “Sự biến đổi ý nghĩa của từ” (trích
từ Lê Đình Tư và Vũ Ngọc Cân - Nhập môn ngôn ngữ học Hà Nội 2009) có
nói đến: sự biến đổi ý nghĩa của từ; các loại nghĩa trong từ nhiều nghĩa;…
Trong thư viện tài liệu, ebook, đồ án, luận văn, giáo trình tham khảo
cho HS, sinh viên có đề tài Dạy từ nhiều nghĩa ở lớp 5(Người báo cáo
Nguyễn Thị Mỹ Hoàn), trong tài liệu này nêu rõ vai trò và nhiệm vụ của GV:
GV cần củng cố cho HS về khái niệm từ nhiều nghĩa, nghĩa gốc và nghĩa chuyển Mối liên hệ về nghĩa của từ nhiều nghĩa; đối với bài tập tìm nghĩa giáo viên nên tổ chức các trò chơi học tập như: “Nhà giải nghĩa giỏi”, “Ai nhanh hơn”, “Ai giỏi hơn”; đối với bài tập đặt câu để phân biệt từ nhiều nghĩa
là động từ hay tính từ, GV nên hướng dẫn HS tìm từ ứng với từng nghĩa rồi đặt câu với những từ tìm được Như thế HS sẽ nắm vững nghĩa hơn sau khi được nghe giải thích từ GV
Các công trình nghiên cứu trên chưa đi vào vận dụng theo từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng trường, cũng như vị trí và vai trò của từng biện pháp trong việc áp dụng vào quá trình giảng dạy Vì vậy, với việc tổng hợp các tài liệu, các bài viết và thông qua sự tham khảo, tìm hiểu và nghiên cứu về đề tài này chúng tôi hi vọng có thể góp phần nhỏ vào sự hoàn thiện thêm vấn đề nghiên cứu mà các tác giả trước đó đã nghiên cứu nhưng chưa đầy đủ
3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp giúp học sinh lớp 5 phân biệt nghĩa gốc, nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 11Khảo sát khối lớp 5 tại trường Tiểu học Tô Hiệu, phường Etam, thành phố Buôn Ma Thuột năm học 2014 - 2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến đề tài
Xây dựng nội dung bài học vận dụng biện pháp dạy học trong bài từ nhiều nghĩa (sách giáo khoa (SGK) lớp 5)
Thực trạng việc vận dụng các biện pháp tích cực trong dạy học nội dung từ nhiều nghĩa trong phân môn luyện từ và câu
Tổ chức vận dụng một số giờ dạy để kiểm định phương án đề tài đề xuất
3.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Nghiên cứu, tham khảo các văn bản, tài liệu có liên quan đến đề tài nhằm tìm hiểu, tổng hợp cơ sở lí luận cho
đề tài
-Phương pháp điều tra: Điều tra, trưng cầu ý kiến của giáo viên Tiểu học về thực trạng sử dụng các biện pháp dạy học của bài từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu
- Phương pháp quan sát: Dự giờ một số tiết dạy của GV, quan sát hoạt động của HS trong tiết học
- Phương pháp thực nghiệm: Vận dụng vào một số tiết dạy trong bài
“Từ nhiều nghĩa” trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5, trên cơ sở đó kiểm định phương án đề xuất của đề tài
- Phương pháp thống kê: Sử dụng phần mềm toán học nhằm xử lí số liệu điều tra và kết quả thực nghiệm
Trang 12
Theo SGK Tiếng Việt 5: từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau (Bài: Từ nhiều nghĩa,trang 66)
Như vậy, khái niệm về từ nhiều nghĩa phổ biến và khá đầy đủ là khái niệm được trình bày ở SGK lớp 5, bài Từ nhiều nghĩa, trang 66: “Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển Các nghĩa của
từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau.”
Theo cách phân chia này nghĩa của từ nhiều nghĩa được chia làm hai loại: nghĩa gốc và nghĩa chuyển
1.1.1.2 Nghĩa gốc
Nghĩa gốc là nghĩa có trước, từ đó mà xuất hiện nghĩa chuyển (theo kiểu “móc xích”) Nghĩa gốc đầu tiên được gọi là nghĩa từ nguyên [2,trang152, Đỗ Hữu Châu, từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt]
Ví dụ 1: nghĩa gốc của từ vố là “búa để điều khiển voi” Nghĩa này lại
là nghĩa gốc của nghĩa hiện dùng: “một sự tổn thất, thiệt hại phải chịu đựng” trong cách nói “nó vừa bị một vố”, “lừa cho một vố” … của từ này
Ví dụ 2: Từ răng dùng để chỉ bộ phận cơ thể người hoặc động vật thì đây là nghĩa gốc (răng người, răng chuột,…, sún răng, mọc răng) Từ răng chỉ
bộ phận giống với răng người ở một số đồ vật thì đó là nghĩa chuyển (răng bừa, răng lược, răng cưa,…)
1.1.1.3 Nghĩa chuyển
Trang 13Nghĩa chuyển (có các tên gọi khác là nghĩa nhánh, nghĩa phụ) là nghĩa được suy ra từ nghĩa gốc [2, trang152, Đỗ Hữu Châu, Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt]
Ví dụ 1: “Mắt” trog mắt người và các loài động vật khác là nghĩa gốc còn các trường hợp: mắt kính, mắt lưới, mắt tre, mắt xích, là nghĩa chuyển
Ví dụ 2: Các từ tay áo, tay ghế,…là nghĩa chuyển được suy ra từ nghĩa gốc của từ tay (là một bộ phận của cơ thể người (động vật)
Các từ lưng áo, lưng quần, lưng ghế là nghĩa chuyển được suy ra từ nghĩa gốc của từ lưng (là một bộ phận của cơ thể người (động vật))…
1.1.1.4 Quy luật chuyển nghĩa của từ
Hiện tượng nhiều nghĩa là kết quả của sự chuyển biến ý nghĩa của từ Từ (đơn hoặc phức) lúc mới xuất hiện chỉ có một nghĩa biểu vật Sau một thời gian
sử dụng, nó có thể có thêm những nghĩa biểu vật mới Các nghĩa biểu vật mới xuất hiện ngày càng nhiều thì nghĩa biểu niệm của nó càng có khả năng biến đổi
Sự chuyển nghĩa của từ thể hiện ở hai quy luật:
Quy luật nhận thức của con người: quá trình nhận thức của con người bao gồm có hai mặt: cảm tính và lí tính Trong đó nhận thức cảm tính là nhận thức đầu tiên Điều này có nghĩa là tư duy của con người bao giờ cũng đi từ
cụ thể, trực quan, cảm tính đến trừu tượng, lí tính Dựa vào quy luật trên, ta có thể rút ra thủ pháp nhận diện, phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển của một từ như sau: trong hai nghĩa của từ, nếu nghĩa nào cụ thể hơn (tức là với nghĩa này, từ chỉ có hiện tượng trực quan, cảm tính) thì đó là nghĩa gốc Nghĩa nào
có tính chất trừu tượng hơn (chỉ hiện tượng trừu tượng thuộc nhận thức lí tính) thì đó là nghĩa chuyển
Ví dụ: Nghĩa của từ “chín” khi nói về quả đã đến thời kì phát triển cao nhất (quả chín); nấu thức ăn đến lúc ăn được (cơm chín, thịt chín) là nghĩa chính Còn khi nói về sự suy nghĩ (nghĩ đã chín mới nói) của con người; sự thành thục (tài năng đã chín); sự việc phát triển đến cao độ cần giải quyết (tình hình xung đột đã chín lắm rồi); trạng thái hổ thẹn cao độ làm da mặt đỏ rực (ngượng chín cả người) thì đó là nghĩa chuyển
Trang 14Quy luật chuyển nghĩa của từ: tất cả các sự chuyển nghĩa có tính chất ẩn dụ trong ngôn ngữ đều xuất phát từ những thuộc tính của con người và từ hiện thực gần gũi và từ hiện thực gần gũi nhất đến với con người đến toàn bộ thế giới còn lại
Chẳng hạn, phương pháp ẩn dụ: Ẩn dụ là một phương thức chuyển tên gọi dựa trên sự liên tưởng, so sánh những mặt, những thuộc tính, giống nhau giữa các đối tượng được gọi tên
Ví dụ: Từ "lá" được dùng theo nghĩa gốc là chỉ bộ phận của cây, thường ở trên cành cây, ngọn cây, đa phần có bề mặt mỏng Từ nghĩa gốc
đó “lá” đã mở rộng nghĩa của nó trong các từ ghép như: lá gan, lá lách, lá
cờ Sự chuyển nghĩa ở trên có lý do tương đồng, như lá cờ là vật làm bằng vải, có bề mặt mỏng như lá cây
Dựa vào quy luật này có thể thấy: trong hai ý nghĩa của từ, nghĩa nào nói đến bản thân con người, động vật hoặc nói về các hành động, tính chất của con người thì thường là nghĩa có trước (nghĩa gốc) còn nghĩa nói về các hiện tượng khác còn lại thường là nghĩa chuyển
Ví dụ: Từ“răng” trong răng người và các loài động vật khác là nghĩa chính Còn răng trong răng bừa, răng cào là nghĩa chuyển
1.1.2 Khái quát nội dung chương trình Luyện từ và câu lớp 5
1.1.2.1 Nội dung chương trình Luyện từ và câu lớp 5
Nội dung chương trình phân môn Luyện từ và câu lớp 5 quy định các kiến thức cần học, kĩ năng cần hình thành và rèn luyện như sau:
Cấu trúc chung: phân môn Luyện từ và câu gồm 64 bài bắt đầu từ tuần thứ nhất của học kì I (có 32 tuần dạy Luyện từ và câu, mỗi tuần 2 bài, mỗi bài dạy trong 1 tiết)
Bài Luyện từ và câu lớp 5 gồm có 2 kiểu bài:
+ Kiểu bài lí thuyết (gồm có phần: nhận xét, ghi nhớ, bài tập)
+ Kiểu bài thực hành (gồm các bài tập Qua thực hiện bài tập mà hình thành nên kiến thức cần ghi nhớ)
Cụ thể trong 64 bài thì có:
Trang 15HỌC KÌ TUẦN KIỂU BÀI LÍ
THUYẾT KIỂU BÀI THỰC HÀNH
Dùng từ đồng âm để chơi chữ
Trang 16Luyện tập về quan hệ từ
13
Mở rộng vốn từ: Bảo vệ môi trường
16
Tổng kết vốn từ Tổng kết vốn từ
Trang 17ghép
20
Mở rộng vốn từ: Công dân Nối các vế câu ghép
bằng quan hệ từ
21
Mở rộng vốn từ: Công dân Nối các vế câu ghép
Nối các vế câu ghép
bằng quan hệ từ
24
Mở rộng vốn từ: Trật tự - An ninh
Trang 1826
Mở rộng vốn từ: Truyền thống Luyện tập thay thế từ ngữ để liên kết câu
27
Mở rộng vốn từ: Truyền thống Liên kết các câu trong
Ôn tập về dấu câu (dấu phẩy)
Ôn tập về dấu câu (dấu hai chấm)
Trang 19phận
Ôn tập về dấu câu (dấu gạch ngang)
1.1.2.2 Về nội dung Từ nhiều nghĩa
Mục tiêu dạy học bài từ nhiều nghĩa
- Mục tiêu về tri thức: Giúp học sinh nắm được khái niệm về từ nhiều nghĩa, phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ
- Mục tiêu về kĩ năng, hành vi: Xác định được nghĩa gốc nghĩa chuyển của tư nhiều nghĩa Tìm được nghĩa chuyển của một số danh từ chỉ bộ phận
cơ thể người, động vật
- Mục tiêu về thái độ: HS thêm yêu thích môn học, có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Nội dung chương trình
Trong SGK Tiếng Việt 5,nội dung từ nhiều nghĩa được dạy trong chủ đề
“Con người với thiên nhiên” trước nội dung “Mở rộng vốn từ: Thiên nhiên nhiên”, “Đại từ” và sau nội dung “Mở rộng vốn từ: Hữu nghị - Hợp tác”, “Dùng
từ đồng âm để chơi chữ” Nội dung từ nhiều nghĩa được giảng dạy ở tuần 7 (2 bài:bài Từ nhiều nghĩa và bài Luyện tập về từ nhiều nghĩa) và tuần 8(1 bài: Luyện tập về từ nhiều nghĩa (tiếp theo)),mỗi bài được dạy trong 1 tiết
Nội dung của mỗi bài được trình bày cụ thể như sau:
+ Bài “Từ nhiều nghĩa” gồm: phần nhận xét để hình thành nên tri thức
lí thuyết, 2 bài tập để củng cố lí thuyết
+ Bài “Luyện tập về từ nhiều nghĩa” gồm: 4 bài tập giúp HS củng cố lí thuyết được học ở tiết trước nhằm khắc sâu kiến thức, qua các bài tập các em phần nào có thể có cái nhìn hiểu biết hơn về từ nhiều nghĩa
+ Bài “Luyện tập về từ nhiều nghĩa (tiếp theo)” gồm: 3 bài tập Bài tập
1 giúp các em phân biệt giữa từ đồng âm (các em được học ở tuần 5,6 trong
Trang 20chủ đề “Cánh chim hòa bình”) và từ nhiều nghĩa để HS có cái nhìn rộng hơn
về 2 loại từ này Bài tập 2, 3 giúp HS khắc sâu về lí thuyết từ nhiều nghĩa
(nghĩa gốc, nghĩa chuyển)
1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 5
1.1.3.1 Đặc điểm sinh lý
- Đặc điểm về cơ thể: hệ cơ đang trong thời kì phát triển mạnh nên các
em rất thích các trò chơi như chạy, nhảy, nô đùa Vì vậy các nhà giáo dục nên khuyên các em chơi những trò chơi vận động từ mức đơn giản đến phức tạp
và đảm bảo an toàn cho trẻ
- Hệ thần kinh cấp cao dang hoàn thiện về chức năng do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, trừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ (đó vui trí tuệ, cuộc thi trí tuệ) Vì vậy, GV nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển
tư duy của các em
- Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4 cm; trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2kg Tuy nhiên con số này chỉ là trung bình, chiều cao có thể xê dịch từ 4 – 5
cm, cân nặng có thể xê dịc từ 1- 2 kg Tim của trẻ đập tương đối nhanh 80 –
85 lần/phút, mạch máu tương đối mở rộng, huyết áp ở động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh
- Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống:
Nếu như ở bậc Mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã biến đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập
Song song với hoạt động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như: + Hoạt động vui chơi (chơi các trò chơi vận động là chính)
+ Hoạt động lao động (trẻ bắt đầu tham gia lao động để tự phục vụ bản thân và gia đình như: tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa,… Ngoài ra trẻ còn tham gia các hoạt động ở trường lớp như: trực nhật, trồng cây, hoa,…
+ Hoạt động xã hội (tham gia vào các phong trào của trường lớp và cộng đồng dân cư, của Đội Thiếu niên Tiền phong,…)
Trang 21Biết được những đặc điểm nêu trên thì những bậc giáo dục phải tạo điều kiện giúp đỡ trẻ để trẻ phát huy những khả năng tích cực của các em trong công việc gia đình, quan hệ xã hội và đặc biệt là trong học tập
1.1.3.2 Đặc điểm tâm lý
Sự phát triển của quá trình nhận thức
- Nhận thức cảm tính: các cơ quan cảm giác (thị giác, thính giác,…) phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện Tri giác của HS cuối tuổi tiểu học bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật, hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó)
Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác
- Nhận thức lí tính
Tư duy: Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng, khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi HS lớp 5 bắt đầu biết khái quát hóa lí luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức với sơ đẳng ở phần đông tiểu học
Tưởng tượng: ở cuối tiểu học tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ đã bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, văn, vẽ,… và bị chi phối bởi các xúc cảm, tình cảm của các em Qua đây chúng ta phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức “khô khan” thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lí tính của mình một cách hoàn thiện
Trang 22- Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của HS tiểu học: ngôn ngữ viết của
HS lớp 5 đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ
âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng vậy nên chúng ta phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho HS thông qua các môn học mà đặc biệt là môn Tiếng Việt, trong đó có phân môn Luyện từ và câu Từ việc học tập đó các em có thể có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng
- Chú ý và sự phát triển nhận thức của HS: ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành những kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển và chiếm ưu thế Ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một công việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định + Trí nhớ: lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển nhưng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lí tình cảm hay hứng thú của các em,…
Nắm được điều này, chúng ta phải giúp các em biết cách khái quát hóa
và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đau là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, nội dung ghi nhớ cần phải ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thuộc Từ đó hình thành ở các em tâm lí hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức
+ Ý chí: các em có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình Tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững chưa thể trở thành nét tính cách của các em
Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho các emđòi hỏi chúng ta phải có sự kiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, trước hết chúng ta phải là một tấm gương
về nghị lực trong mắt trẻ
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Giới thiệu địa bàn và khách thể nghiên cứu
Trang 23 Giới thiệu chung
- Trường tiểu học Tô Hiệu được thành lập theo quyết định số:40/QĐ- SGDĐT,ngày 20 tháng 7 năm 1993 của giám đốc Sở Gíao dục và Đào tạo Đăk Lăk Trường có diện tích 11328m2, nằm trên quốc lộ 14 thuộc thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk Nhà trường đóng trên địa bàn có môi trường giáo dục đa dạng có đủ các cấp học từ mầm non , tiểu học , trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học.Đại bộ phận phụ huynh HS quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi đến việc học tập của con cái
Trường tiểu học Tô Hiệu nằm ở số 502 Lê Duẩn – Phường EaTam – Thành phố Buôn Ma Thuột, đạt trường chuẩn quốc gia Từ khi thành lập đến nay, nhà trường nhiều năm liên tục đạt danh hiệu tập thể lao động xuất sắc cấp tỉnh và vinh dự được đón nhận nhiều bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo và chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk Phần lớn nhà trường có cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị dạy học phù hợp với cả GV và HS Tại trường, việc đẩy mạnh và nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng việt rất được coi trọng
Trường tiểu học Tô Hiệu có đội ngũ cán bộ (CB), GV có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kĩ năng quản lý, kĩ năng giảng dạy tốt, tâm huyết và có trách nhiệm trong giảng dạy GV có lòng nhiệt tình , ham học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn, luôn tìm tòi nghiên cứu tài liệu, đáp ứng kịp thời nhiệm vụ dạy học
GV quan tâm đến HS, động viên khích lệ HS tham gia vào quá trình học tập
- Từ ngày thành lập đến nay nhà trường nhiều năm liên tục đạt danh hiệu xuất sắc cấp tỉnh và vinh dự được đón nhận nhiều bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào tạo, bằng khen của Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk
Thuận lợi
- Nhà trường nằm trên một địa bàn thuận lợi về giáo dục và giao thông
Cơ sở vật chất, khung cảnh sư phạm tương đối đẹp; trang thiết bị phục vụ công tác giảng dạy và giáo dục tương đối đầy đủ Nhà trường đảm bảo sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất và các thiết bị được trang bị
Trang 24- Đội ngũ CB, GV có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kĩ năng quản lý,
kĩ năng giảng dạy tốt và yên tâm công tác lâu dài tại địa phương
- Lãnh đạo nhà trường có tâm huyết, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm với đồng nghiệp và nhân dân Công tác tổ chức quản lí khá khoa học Các kế hoạch đề ra đều bám sát thực tiễn, có tính khả thi và thực tế đã chứng minh được tính hiệu quả
HS một phần còn nhếch nhác, chưa có kinh phí để nâng cấp
- Khu vực sân dành riêng cho HS học giờ thể dục chưa đáp ứng được yêu cầu tối thiểu về cơ sở hạ tầng nên các em phải mượn sân trường để học, gây ảnh hưởng không ít đến các lớp học bên trong, nhà trường chưa có giải pháp để khắc phục
- Đa số bàn ghế HS chưa đạt chuẩn về quy cách theo độ tuổi
- Một bộ phận HS chưa tự giác học tập, thiếu sự quan tâm giúp đỡ của gia đình nên học còn yếu
* Đội ngũ
- Chưa có GV biên chế dạy môn tin học;
- GV trẻ ít, một số GV nhiều tuổi, trình độ không đồng đều
Quy mô phát triển giáo dục của nhà trường ổn định, số lượng HS tăng đều hàng năm; không có HS thất học, bỏ học, bị bỏ mặc Nhà trường đã thu hút được nhiều HS từ nhiều phường (xã) trong thành phố và các địa phương trong và ngoài tỉnh đến nhập học
Nhà trường đứng chân trên địa bàn có môi trường giáo dục đa dạng, có hội đủ các cấp học, bậc học từ mầm non đến Đại học Mặt bằng dân trí khá
Trang 25tốt, đại bộ phận cha mẹ HS quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc học tập của con cái; nhận thức về bậc học và công tác xã hội hóa giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực
Nhà trường tiếp tục vận động thực hiện có hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục, huy động được sự đóng góp tài chính của cha mẹ HS để tăng cường cơ
sở vật chất và phục vụ tốt công tác dạy học, sinh hoạt của CB, GV, NV và HS
Thư viện nhà trường đáp ứng đầy đủ sách, tài liệu tham khảo, thí nghiệm thực hành để phục vụ công tác giảng dạy của giáo viên và học tập của
HS
1.2.2 Khảo sát thực trạng dạy học nội dung từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5
Quan điểm của giáo viên về giờ Luyện từ và câu
Trong quá trình thực tập tại trường từ ngày 02/03/2015 - 18/04/2015 và qua quá trình khảo sát tôi nhận thấy:
Nhìn chung GV trường tiểu học Tô Hiệu đều rất coi trọng giờ Luyện từ
và câu GV ở các lớp 2,3,4,5 đềucho rằng phầnluyện từ và luyện câulà quan trọng như nhau Nhưng nhìn chung 50% GV khẳng định việc luyện từ quan trọng hơn còn thời gian phân bổ để luyện câu thì 30% GV cho rằng thời gian luyện câu là nhiều hơn, còn 20% GV cho rằng thời gian của 2 phần này là như nhau Đượctìm hiểu các tiết Luyện từ và câu của trường, tôi nhận thấy phần lớn giáo viên đều chú ý sửa lỗi dùng từ, đặt câucho HS, song do thời gian bị hạn chế nên việc sửa lỗi đó chỉ được thực hiện ở một số HS trong 1 tiết dạy chứ không thể sửa lỗi ở tất cả các HS
Những phương pháp giáo viên thường sử dụng trong nội dung từ nhiều nghĩa
Hiện nay ở tiểu học, cụ thể là giáo viên trường Tiểu học Tô Hiệu thường sử dụng các phương pháp dạy học sau: phân tích ngôn ngữ,rèn luyện theo mẫu, hỏi đáp,…
Trang 26Qua tìm hiểu về các tiết và dự giờ ở lớp 5 tôi thấy hiện nay nhìn chung giờ Luyện từ và câu (kiểu bài lí thuyết và kiểu bài thực hành) được tiến hành theo trình tự sau:
+ Kiểu bài lí thuyết:
Bước 1: GV hướng dẫn HS phân tích từng hiện tượng ngôn ngữ ở phần Nhận xét để các em tự tìm kiếm thông tin,khám phá và chiếm lĩnh tri thức
Bước 2: Từ việc phân tích trên GV cùng HS hướng đến rút ra các kết lận tương ứng với phần ghi nhớ
Bước 3: Để vận dụng và khắc sâu hơn kiến thức vừa mới hình thành
GV hướng dẫn HS thực hiện các bài tập ở phần Luyện tập
+ Kiểu bài thực hành:
GV hướng dẫn HS thực hiện các bài tập một cách cẩn thận, đầy đủ Sau
đó, yêu cầu các em làm bài theo cá nhân hoặc theo nhóm tùy vào độ khó của bài tập
Từ những bài tập vừa thực hiện, GV hướng dẫn các em hình thành kiến thức cần ghi nhớ bằng các câu hỏi
1.2.3 Nhận xét
Về phía giáo viên
+ Hầu hết GV đều vận dụng được việc tổ chức cho HS được luyện từ
và luyện câu theo cá nhân, nhóm, tổ,… Trong hoạt động dạy học, GV luôn chú ý giúp HS nhận xét, sửa lỗi dùng từ đặt câu Trong mỗi tiết học GV luôn lồng ghép các hình thức thi đua, trò chơi nhằm cụ thể hóa, truyền thụ kiến thức nhẹ nhàng đến HS
+ Còn một số GV kĩ năng đặt câu chưa tốt, việc dạy của GV vẫn bám vào phương pháp dạy rập khuôn HS theo phương pháp mới cũng là lấy HS làm trung tâm, độc lập, tích cực,…nhưng hầu hết HS chưakiểm soát được sự tập trung của HS vào bài học Đây là nguyên nhân làm cho HS hoạt động thiếu tập trung chú ý vào bài học, sinh ra nhàm chán, ỷ lại khi học Luyện từ
và câu nói riêng, các phân môn khác nói chung
Trang 27+ Đôi lúc GV chưa có sự phối hợp nhuần nhuyễn các phương pháp, còn lúng túng khi sử dụng đồ dùng dạy học Hình thức tổ chức lớp chưa phù hợp ở một số tiết dạy, còn mất nhiều thời gian, chưa phát triển năng lực tư duy của các em
Về phía HS
+ Như chúng ta đã biết một số HS chưa yêu môn Tiếng Việt nói chung
và phân môn Luyện tư và câu nói riêng, về nhà hoặc khi ở lớp các em chỉ thích làm mônToán, ít chú ý đến phân môn Luyện từ và câu (chỉ lúc nào đến tiết thì các em mới chịu học)
+ Một sốHS còn hạn chế trong việc dùng từ đặt câu do các em đó đọc
và phát âm chưa chuẩn
+ HS tích cực tham gia các hoạt động nhưng thao tác còn chậm làm ảnh hưởngđến thời gian tiết học Trình độ của HS trong lớp không đồng đều nên khó khăn cho GV trong việc truyền thụ kiến thức
Nhìnchung GV và HS đã cố gắng để dạy và học tốt mặc dù còn có những hạn chế nhưng không đáng kể
Nội dung từ nhiều nghĩa là một nội dung tương đối khó, vì vậy hầu hết các em chỉ mới hình thành được một “kiến thức mờ ảo” mà chưa xây dựng được những khái niệm vững chắc và kĩ năng thuần thục.Điều đó cũng không thể trách các em mà phần nhiều cũng phụ thuộc vào nội dung chương trình và thời lượng dành cho nội dung đó.Vấn đề đặt ra ở đây là chúng ta cần có những giải pháp phù hợp và đặc trưng dành cho nội dung này
1.3 Tiểu kết
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học, tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết Chúng ta không chỉ cần biết đọc, biết viết mà còn cần thấy được cái hay cái đẹp cái “phong phú” ẩn sâu trong những từ ngữ ấy Từ đó, ta có thể tiếp thu nền văn minh của loài người một cách trọn vẹn
Trang 28Từ không đơn thuần chỉ có một nghĩa nào đó mà khi tìm hiểu chúng
ta sẽ biết thêm được những điều kì thú ẩn sau từ ngữ ấy Việc nhận ra nhưng điều kì thú ấy trở thành một đòi hỏi cơ bản đối với mỗi người chúng ta.Nó tạo điều kiện để HS có ý thức tự học và tinh thần khám phá tri thức cả đời
Việc phân biệt được nghĩa gốc, nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng như tư duy của người học Việc dạy nội dung từ nhiều nghĩa sẽ giúp HS hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện, cái đẹp và ham học hỏi, tìm tòi Dạy cho các em biết suy nghĩ một cách logic cũng như tư duy có hình ảnh Như vậy, luyện từ và luyện câu có một ý nghĩa to lớn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục
và phát triển
Rèn kĩ năng phân biệt nghĩa gốc, nghĩa chuyển cho HS lớp 5 quan trọng nhất là các em nhận dạng được đâu là nghĩa gốc đâu là nghĩa chuyển, phân biệt được từ nhiều nghĩa với các loại từ khác (từ đồng âm) Hiểu biết sâu sắc về nghĩa của từ là chiếc cầu nối để các em làm chủ ngôn ngữ, vì vậy người GV phải xác định được mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể, phải nắm được mặt mạnh, mặt yếu
và có biện pháp phù hợp để kịp thời khắc phục thì chắc chắn kết quả sẽ cao hơn